Tải bản đầy đủ

Tiểu luận chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép

Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
CHƯƠNG 1
CUNG CẦU HÀNG HÓA VÀ GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG
1. KHÁI NIỆM CẦU VÀ SỐ CẦU
1.1 Khái niệm cầu
Cầu đối với một loại hàng hóa nào đó là số lượng của loại hàng hóa đó mà người mua
muốn mua tại mỗi mức giá chấp nhận được trong một thời gian nhất định nào đó tại một địa
điểm nhất định.
Số lượng của một loại hàng hóa nào đó mà người mua muốn mua ứng với một mức giá
nhất định được gọi là lượng cầu của hàng hóa đó tại mức giá đó.
1.2 Hàm số cầu và đường cầu
Khi giá tăng thì số cầu giảm đi và ngược lại. Vì vậy, với giả định là các yếu tố khác là
không đổi, ta có thể biểu diễn số cầu đối với một hàng hóa nào đó như là một hàm số của giá
của chính hàng hóa đó như sau:
QD = f(P
Hàm số biểu diễn mối quan hệ giữa số cầu của một mặt hàng và giá của nó, như hàm số
(2.1), được gọi là hàm số cầu. Hàm số cầu thường có dạng:
hay
Trong đó: Q
D
là số lượng cầu (hay còn gọi là số cầu); P là giá cả và a, b, và là các hằng

số.
Vì lượng cầu và giá có mối quan hệ nghịch biến với nhau nên hệ số b có giá trị âm
(b<0); tương tự, . Đồ thị của hàm số cầu (hay còn gọi là đường cầu) có thể được vẽ như
một đường thẳng (Hình 2.1).Các điểm nằm trên đường cầu sẽ cho biết lượng cầu của người
mua ở các mức giá nhất định.
Đường cầu thường có hướng dốc xuống từ trái sang phải vì khi giá cả tăng lên số cầu
giảm đi.
Đường cầu không nhất thiết là một đường thẳng. Trong hình 2.1, ta vẽ đường cầu có
dạng đường thẳng, điều này chỉ nhằm làm đơn giản hóa việc khảo sát của chúng ta về cầu.
Trong nhiều trường hợp, đường cầu có thể có dạng đường cong.
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -1- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu đối với hàng hóa
• Thu nhập của người tiêu dùng
• Giá cả của hàng hóa có liên quan
• Giá cả của chính loại hàng hóa đó trong tương lai
• Thị hiếu của người tiêu dùng
• Quy mô thị trường
• Các yếu tố khác
2. KHÁI NIỆM CUNG VÀ SỐ CUNG
2.1. Khái niệm cung
Cung của một loại hàng hóa nào đó chính là số lượng của loại hàng hóa đó mà người
bán muốn bán ra thị trường trong một khoảng thời gian nhất định ứng với mỗi mức giá tại một
địa điểm nhất định nào đó.
Giá càng cao lượng cung sẽ càng lớn và ngược lại giá càng thấp lượng cung sẽ
càng giảm.
2.2. Hàm số cung và đường cung
Số lượng cung của một hàng hóa, dịch vụ nào đó phụ thuộc vào giá của hàng hóa dịch
vụ đó. Số cung của một hàng hóa, dịch vụ nào đó cũng phụ thuộc vào một số các nhân tố khác.
Giả sử ta xem các nhân tố này là không đổi thì số cung cũng là một hàm số của giá, nhưng khác
với cầu số cung đồng biến với giá. Ta có thể thiết lập được hàm số cung như sau:

QS được gọi là hàm số cung. Hàm số cung thường có dạng:
hay
Trong đó: Q
S
= lượng cung; P = giá; a, b, và là các hằng số dương.
Đường cung cũng có thể được vẽ là một đường thẳng nhưng có độ dốc đi lên. Như vậy, độ dốc
của đường biểu diễn cung và cầu ngược chiều nhau.
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -2- GVHD: TS. Hay Sinh


Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
· Đường cung thường có hướng dốc lên từ trái sang phải; và
· Đường cung không nhất thiết là một đường thẳng.

2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến đường Cung
+Trình độ công nghệ được sử dụng
+ Giá cả của các yếu tố đầu vào
+Giá cả của mặt hàng đó trong tương lai (dự báo)
+Chính sách thuế và các quy định của chính phủ
+Điều kiện tự nhiên và các yếu tố khách quan khác
3. TRẠNG THÁI CÂN BẰNG CỦA THỊ TRƯỜNG
Giá cả và số lượng hàng hóa được mua bán trên thị trường được hình thành qua sự tác
động qua lại giữa cung và cầu.
Trên hình 2.6, đường cầu và đường cung cắt nhau tại điểm E. Điểm E được gọi là điểm
cân bằng của thị trường; tương ứng với điểm cân bằng E, ta có giá cả cân bằng và số
lượng cân bằng . Giá cân bằng là mức giá mà tại đó số cầu bằng số cung.
Thị trường có xu hướng tồn tại ở điểm cân bằng E. Nếu do một lý do nào đó, giá cả trên
thị trường cao hơn giá cân bằng PE, số lượng hàng hóa cung ra trên thị trường sẽ lớn hơn
số cầu đối với hàng hóa đó. Khi đó, trên thị trường xuất hiện tình trạng dư cung hay thừa hàng
hóa (cung lớn hơn cầu). Vì thế, để bán được hàng các nhà cung ứng sẽ có xu hướng giảm giá.
Giá cả giảm làm cho lượng cung cũng giảm theo và lượng cầu tăng lên. Kết quả là giá cả hàng
hóa sẽ giảm dần đến giá cân bằng PE và số lượng bán ra trên thị trường sẽ dịch chuyển về Q
E.
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -3- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
Ngược lại, nếu như giá cả thấp hơn giá cân bằng thì sẽ xảy ra hiện tượng
cầu lớn hơn cung hay thiếu hàng hóa. Như thế, giá cả sẽ tăng dần đến giá cân bằng PE và số
hàng hóa được bán ra trên thị trường sẽ dịch chuyển về QE. Sự hình thành giá cả của hàng hóa,
dịch vụ trên thị trường như được mô tả ở trên được gọi là cơ chế thị trường.
4. MỘT SỐ ỨNG DỤNG CỦA LÝ THUYẾT CUNG CẦU
4.1. Sản xuất ra cái gì, như thế nào và cho ai?
Thị trường quyết định bao nhiêu sản phẩm sẽ được sản xuất thông qua mức giá mà tại đó
lượng cầu bằng với lượng cung. Cầu đối với một loại hàng hóa càng cao (đường cầu càng xa về
phía phải) sẽ dẫn đến giá càng cao. Thị trường cũng cho chúng ta biết hàng hóa được sản xuất
cho ai. Hàng hóa được sản xuất cho những người có thể sẵn sàng trả một số tiền, ít nhất, bằng
với mức giá cân bằng trên thị trường. Qua đó, nó cũng cho chúng ta biết những nhà sản xuất
trên thị trường là những người có thể cung tại mức giá cân bằng.
Một hàng hóa sẽ không được sản xuất nếu cung và cầu của nó không đạt được sự cân bằng.
4.2. Tác động của thuế
Người (mua hay bán) có độ co giãn thấp hơn thì sẽ phải chịu thuế nhiều hơn.
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -4- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
4.3. Chính sách hạn chế cung
Đối với những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, cầu thường rất kém co giãn. Để bảo hộ
những ngành sản xuất này, chính phủ thường áp dụng chính sách hạn chế cung. Chính phủ có
thể khuyến khích các nhà sản xuất giảm sản lượng đến một mức nhất định vừa đủ đáp ứng nhu
cầu để giữ giá ở mức cao, có lợi cho nhà sản xuất. Bởi vì cầu kém co giãn, một sự thay đổi nhỏ
của cung sẽ dẫn đến một sự thay đổi lớn của giá cả.
4.4. Quy định giá cả bằng luật pháp
Trong cơ chế thị trường, hầu hết các hàng hóa đều được định giá dựa trên quan hệ cung
- cầu. Tuy nhiên, do những mục tiêu điều tiết vĩ mô nhất định, sự can thiệp của chính phủ vào
thị trường là điều không thể tránh khỏi. Bên cạnh việc trợ cấp, đánh thuế, các chính phủ còn
can thiệp trực tiếp vào thị trường bằng các biện pháp kiểm soát giá. Đó là những quy định và
luật lệ của chính phủ cản trở việc hàng hoá, dịch vụ được mua bán ở giá cân bằng trên thị
trường. Các biện pháp kiểm soát giá có thể là giá trần hay giá sàn.
Giá trần là mức giá cao nhất mà hàng hóa, dịch vụ được cho phép bán và giá sàn là
mức giá thấp nhất mà hàng hóa, dịch vụ được cho phép bán .
Việc ban hành chính sách giá trần cần phải đi kèm với những biện pháp giải quyết hậu
quả của nó bằng việc áp dụng các biện pháp sau:
Bán hàng theo tem phiếu: chỉ có những người có tem phiếu mới được mua hàng.
Hạn chế khẩu phần: mỗi người tiêu dùng chỉ được mua một số lượng hàng hóa nhất
định chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của mình.
Dùng quỹ dự trữ quốc gia hay nhập khẩu từ nước ngoài: chính phủ có thể mở quỹ dự
trữ hay nhập khẩu để bù đắp lượng thiếu hụt trên thị trường.
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -5- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
5. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ GIÁ CẢ:
5.1 Quản lý giá cả và ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế:
Quản lý giá cả (price control) là việc nhà nước đặt ra một số ràng buộc đối với doanh
nghiệp trong việc xác định mức giá bán hàng hóa, cụ thể các hình thức quản lý như sau:
+ Nhà nước ấn định mức giá thay cho doanh nghiệp
+ Nhà nước có thể xác định mức giá trần
+ Nhà nước ấn định mức lợi tức cao nhất mà doanh nghiệp đạt được. Cụ thể, nhà nước
dựa vào báo cáo của doanh nghiệp về chi phí sản xuất để xác định mức “giá thành”, từ đó Nhà
nước đặt điều kiện cho doanh nghiệp không được tính giá cao hơn mức giá thành cộng với một
tỉ lệ lợi tức hợp pháp.
Cụ thể ở Việt Nam, trong tình huống nền kinh tế lạm phát, Chính phủ thực hiện siết
chặt quản lý kinh doanh tín dụng của ngân hàng (thí dụ như nâng mức dự trữ bắt buộc, đặt ra
hạn mức tăng trưởng tín dụng hằng năm) và nâng lãi suất cơ bản. Nhà nước lại tiếp tục trợ cấp
cho một số mặt hàng như xăng dầu để giữ giá trong nước ổn định (trong khi giá xăng dầu thế
giới tăng đột biến).
5.2 Vai trò của các chính phủ đối với sự bình ổn giá
Khi nền kinh tế đang có sự bất ổn về cung cầu, giá cả tăng đột biến so với cầu hàng hóa
đặc biệt là các mặt hàng thiết yếu thì lúc này vai trò bình ổn giá của Chính phủ rất quan trọng.
Chính phủ sẽ ban hành và thực hiện các chính sách điều tiết nhanh chóng và kịp thời so với tình
hình thực tế. Các công cụ điều tiết của Chính phủ như: trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất
nhập khẩu, dự trữ quốc gia. Thị trường vốn sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu và chi
tiêu của chính phủ. Kiềm chế lạm phát: cùng với ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ
thích hợp, Chính phủ góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ.
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -6- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG BIẾN ĐỘNG GIÁ THÉP
1. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH THÉP:
Ngành thép Việt Nam bắt đầu được xây dựng từ đầu những năm 60. Khu liên hợp gang
thép Thái Nguyên do Trung Quốc giúp ta xây dựng, cho ra mẻ gang đầu tiên vào năm 1963.
Công suất thiết kế lúc đó của cả khu gang thép là 100 ngàn tấn/năm.
Giai đoạn từ 1976 đến 1989: Ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do kinh tế đất nước
lâm vào khủng hoảng, ngành thép không phát triển được và chỉ duy trì mức sản lượng từ 40
ngàn đến 85 ngàn tấn thép/năm.
Giai đoạn từ 1989 đến 1995: Thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà
nước, ngành thép bắt đầu có tăng trưởng, sản lượng thép trong nước đã vượt mức trên 100 ngàn
tấn/năm.
Thời kỳ 1996 - 2000: Ngành thép vẫn giữ được mức độ tăng trưởng khá cao, tiếp tục
được đầu tư đổi mới và đầu tư chiều sâu: Đã đưa vào hoạt động 13 liên doanh, trong đó có 12
liên doanh cán thép và gia công, chế biến sau cán. Sản lượng thép cán của cả nước đã đạt 1,57
triệu tấn, gấp 3 lần so với năm 1995 và gấp 14 lần so với năm 1990. Đây là giai đoạn có tốc độ
tăng trưởng cao nhất.Hiện nay, thành phần tham gia sản xuất và gia công, chế biến thép ở trong
nước rất đa dạng, bao gồm nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia. Ngoài Tổng công ty Thép
Việt Nam và các cơ sở quốc doanh thuộc địa phương và các ngành, còn có các liên doanh, các
công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài và các công ty tư nhân. Tính đến năm 2002,
Việt Nam có khoảng 50 doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng (chỉ tính các cơ sở có công suất
lớn hơn 5.000 tấn/năm), trong đó có 12 dây chuyền cán, công suất từ 100 ngàn đến 300 ngàn
tấn/năm.Sau 10 năm đổi mới và tăng trưởng, ngành thép Việt Nam đã đạt một số chỉ tiêu như
sau:- Luyện thép lò điện đạt 500 ngàn tấn/năm- Công suất cán thép đạt 2,6 triệu tấn/năm (kể cả
các đơn vị ngoài Tổng công ty Thép Việt Nam)- Riêng Tổng công ty Thép Việt Nam đã đạt
công suất cao và giữ vai trò quan trọng trong ngành thép Việt Nam, có công suất:- Luyện cán
thép đạt 470 ngàn tấn/năm:- Cán thép đạt 760 ngàn tấn/năm- Sản phẩm thép thô (phôi và thỏi)
huy động được 78% công suất thiết kế;- Thép cán dài (thép tròn, thép thanh, thép hình nhỏ và
vừa) đạt tỷ lệ huy động 50% công suất;- Sản phẩm gia công sau cán (ống hàn, tôn mạ các loại)
huy động 90% công suất.Tuy nhiên, ngành thép Việt Nam hiện vẫn trong tình trạng kém phát
triển so với một số nước trong khu vực và trình độ chung của thế giới. Sự yếu kém này thể hiện
qua các mặt sau:Năng lực sản xuất phôi thép (thép thô) quá nhỏ bé, chưa sử dụng có hiệu quả
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -7- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
các nguồn quặng sắt sẵn có trong nước để sản xuất phôi. Do đó các nhà máy cán thép và các cơ
sở gia công sau cán còn phụ thuộc chủ yếu vào phôi thép nhập khẩu và bán thành phẩm gia
công khác, nên sản xuất thiếu ổn định. Chi phí sản xuất lớn, năng suất lao động thấp, mức tiêu
hao nguyên liệu, năng lượng cao, chất lượng sản phẩm chưa ổn định. Điều đó dẫn tới khả năng
cạnh tranh thấp, khả năng xuất khẩu hạn chế. Hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, còn dựa
vào sự bảo hộ của Nhà nước.Trang thiết bị của Tổng công ty Thép Việt Nam phần lớn thuộc
thế hệ cũ, trình độ công nghệ ở mức độ thấp hoặc trung bình, lại thiếu đồng bộ, hiện đại mức
độ tự động hoá thấp, quy mô sản xuất nhỏ. Chỉ có một số ít cơ sở mới xây dựng (chủ yếu các
cơ sở liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài) đạt trình độ trang bị và công nghệ tương đối hiện
đại.Cơ cấu mặt hàng mất cân đối, mới chỉ tập trung sản xuất các sản phẩm dài (thanh và dây)
phục vụ chủ yếu cho xây dựng thông thường, chưa sản xuất được các sản phẩm dẹt (tấm, lá)
cán nóng, cán nguội. Sản phẩm gia công sau cán mới có ống hàn đen, mạ kẽm, tôn mạ kẽm, mạ
mầu. Hiện tại ngành thép chưa sản xuất được thép hợp kim, thép đặc phục vụ cho cơ khí quốc
phòng.Nguồn nhân lực của ngành thép hiện chỉ chiếm 2,8% tổng lực lượng lao động của ngành
công nghiệp. Nói cách khác mới thu hút được 0,8% lao động của cả nước.
Như vậy, nhìn chung ngành thép Việt Nam vẫn ở tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán,
thiếu bền vững, phụ thuộc vào lượng phôi thép và bán thành phẩm nhập khẩu. Chưa có các nhà
máy hiện đại như khu liên hợp luyện kim làm trụ cột, chủ động sản xuất phôi nên ngành thép
Việt Nam chưa đủ sức chi phối và điều tiết thị trường trong nước khi có biến động lớn về giá
phôi thép hoặc sản phẩm thép cán trên thị trường khu vự và thế giới.
2. THỰC TRẠNG BIẾN ĐỘNG GIÁ THÉP:
2.1. Năm 2009:
Khép lại năm 2009, ngành thép trở thành một trong số ít ngành công nghiệp nặng có tốc
độ tăng trưởng hai con số. Sản xuất tăng 25%, tiêu thụ tăng hơn 30% so với năm 2008 (đối với
thép xây dựng), một kỳ tích sau giai đoạn khủng hoảng tưởng chừng không dễ thoát. Xuất hiện
những dấu hiệu khó khăn đầu tiên từ nửa cuối năm 2008, nhưng phải đến quý 1/2009, các
doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thép trong nước mới bắt đầu thấy chao đảo. Trong ba tháng
đầu năm, tiêu thụ thép giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2008, có lúc chỉ còn một nửa. Với thép
xây dựng, sản phẩm có thị trường tiêu thụ lớn nhất, trong tháng 1/2009, tiêu thụ thép xây dựng
chỉ bằng 56,24% so với cùng kỳ. Trong khi đó, tình trạng còn ảm đạm hơn với thép cán nguội
(50,4%), ống thép hàn (44,29%) và tôn mạ kẽm, sơn phủ màu (41,87%). Đỉnh điểm là vào
tháng 4/2009, sự thu hẹp của thị trường tiêu thụ khiến các doanh nghiệp buộc phải giảm mạnh
giá bán, thậm chí chấp nhận bán dưới giá thành, tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt. Tháng 4/2009,
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -8- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
giá thép cuộn xây dựng dao động trong khoảng 10 nghìn đồng/kg tại Hà Nội. Trong khi đó tại
Tp.HCM, giá sản phẩm cùng loại nhiều thời điểm rơi xuống đáy với giá bán thấp nhất có lúc
chỉ 9.640 đồng/kg.
Diễn biến giá bán thép xây dựng (loại cuộn) năm 2009.
Một số doanh nghiệp sản xuất phôi thép và thép xây dựng đứng trước nguy cơ phá sản
nên đã phải sản xuất cầm chừng, gián đoạn, lao động phải nghỉ việc luận phiên, thu nhập giảm
đáng kể. Cung lớn hơn cầu, nhưng khả năng cạnh tranh không cao, các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh thép trong nước chịu thêm sức ép từ nhập khẩu thép xây dựng. Theo đánh giá của
Hiệp hội Thép, Việt Nam là một trong những nước bị thép ngoại cạnh tranh khốc liệt nhất.
Do có giá bán rẻ hơn thép sản xuất trong nước từ 500-700 nghìn đồng/tấn. Lượng thép
cuộn nhập khẩu năm 2009 từ các nước ASEAN và Trung Quốc vào Việt Nam tăng vọt lên
khoảng 500 nghìn tấn, tương đương khoảng 11% sản lượng sản xuất, tiêu thụ của năm 2009
(4,6 triệu tấn), đẩy thị phần tiêu thụ thép cuộn xây dựng trong nước giảm từ 25% xuống dưới
20%.
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -9- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
Diễn biến tiêu thụ thép xây dựng trong năm 2009.
Trong khi đó, thị trường Việt Nam ngày càng liên thông, ảnh hưởng nhanh và trực tiếp
của việc tăng giảm giá những nguyên liệu cơ bản sản xuất thép như quặng sắt, than mỡ, phôi
thép, thép phế và một số vật tư phụ kiện khác. Ở trong nước, thị trường thép còn chịu tác động
lớn từ biến động giá cả nguyên liệu đầu vào quan trọng như điện, than, xăng dầu. Thêm vào đó,
việc tăng lương cho cán bộ công nhân viên cũng làm tăng chi phí đầu vào…
Bước sang quý 2/2009 và tiếp đến cuối năm, thị trường có chiều hướng tốt hơn. Dù
không có đột biến, nhưng từ sau quý 1/2009, lượng thép tiêu thụ bắt đầu tăng lên, kéo theo giá
bán cũng tăng tương ứng. Trong 9 tháng cuối năm, lượng thép xây dựng tiêu thụ luôn đạt
khoảng 300 nghìn tấn đến trên 450 nghìn tần mỗi tháng. Trong khi đó, giá thép loại này cũng
liên tục duy trì mặt bằng giá cao hơn, nhiều lúc, giá bán thấp nhất cũng trên 11.500 đồng/kg.
Năm 2009, ngành thép Việt Nam đã được hưởng lợi từ các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính
phủ. Ngay trong giai đoạn khó khăn nhất, chính sách hỗ trợ lãi suất đã giúp các doanh nghiệp
ngành thép được tiếp cận nguồn vốn rẻ để duy trì sản xuất, triển khai các công trình đầu tư
trong ngành thép, tạo điều kiện phát triển ổn định. Chính sách miễn giảm 50% thuế VAT từ
mức 10% xuống 5%, có hiệu lực từ 1/2/2009 đến hết 31/12/2009 cũng giúp các doanh nghiệp
có điều kiện giảm giá bán sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
Trong khi đó, gói kích cầu trị giá khoảng 6 tỷ USD có tác động rất tốt đến sức tiêu thụ
sản phẩm thép, khiến thị trường thép trong nước mở rộng đáng kể. Nhiều dự án xây dựng hạ
tầng cơ sở, xây dựng nhà ở nông thôn, nhà ở cho công nhân khu công nghiệp, nhà ở cho người
thu nhập thấp và nhà ở cho sinh viên được tiếp thêm vốn đã được triển khai.
Các chính sách về thuế nhập khẩu cũng được điều chỉnh theo hướng có lợi cho sản xuất
thép trong nước, như tăng thuế nhập khẩu phôi thép từ 5% lên 8%; tăng thuế nhập khẩu thép
xây dựng từ 12% lên 15%, thép cuộn cán nguội từ 7% lên 8%, thép lá mạ kẽm và sơn phủ màu
từ 12% lên 13%; tăng thuế nhập khẩu thép cuộn hợp kim bora dùng trong xây dựng từ 0% lên
10%; tăng thuế nhập khẩu cáp thép từ 0% lên 3%…
Kết thúc năm 2009, ngành thép Việt Nam đã đạt được kết quả khá tốt. Sản xuất thép
xây dựng tăng trưởng 25%, tiêu thụ vượt trên 30% so với năm 2008. Sản xuất và tiêu thụ thép
cán nguội khoảng 500 nghìn tấn; ông thép hàn khoảng 570 nghìn tấn; và tôn mạ kẽm, sơn phủ
màu khoảng 850 nghìn tấn. Hiệp hội Thép Việt Nam hy vọng, sự phục hồi của thị trường thép
cuối năm 2009 sẽ tiếp tục trong năm 2010 này, với tốc độ tăng trưởng dự kiến từ 10-12%.
2.2. Năm 2010:
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -10- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
Ngành thép sôi động trong quý 1/2010, nhờ thời vụ, giá thép thế giới tăng cao và cả
yếu tố đầu cơ. Quý 1 hằng năm là khoảng thời gian cao điểm của ngành thép nhờ hoạt động xây
dựng thường được đẩy nhanh tiến độ trước mùa mưa bão.
Sự lạc quan về triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới giá phôi thép trên thị trường thế
giới liên tục tăng vào những tháng đầu năm 2010. Giá phôi thép giao dịch trên thị trường kim
loại London đã có lúc đạt đến mức đỉnh 580 USD/tấn trong quý 1/2010, kéo theo giá thép xây
dựng trong nước vượt mức 16 triệu đồng/tấn.
Ngoài các yếu tố trên, giá thép tăng mạnh trong quý 1 còn do yếu tố đầu cơ của các đại
lý, nhà phân phối. Việc đầu cơ tích trữ một lượng lớn thép thành phẩm khiến cho chênh lệch
giá thép thị trường và giá thép xuất xưởng khá lớn. Ngành thép thực sự sôi động từ đầu tháng
3/2010 và cơn sốt này đã kéo sản lượng tiêu thu tăng đột biến gần 559,000 tấn, tăng 88% so với
tháng trước và tăng 57.7% so với cùng kỳ 2009. Tính chung 3 tháng đầu năm 2010, tiêu thụ
thép của các thành viên Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) đạt hơn 1.2 triệu tấn, tăng 54.4% so
với năm trước. Đây là lượng thép tiêu thụ trong tháng lớn nhất từ trước tới nay.
Áp lực giải phóng hàng tồn kho trước mùa thấp điểm. Từ cuối tháng 4/2010, giá
phôi thép thế giới nhanh chóng sụt giảm trước các thông tin không mấy lạc quan về diễn biến
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -11- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
khủng hoảng nợ công ở châu Âu. Tình hình tiêu thụ thép ở các nước nhóm BRIC vẫn ổn định
đã không thể ngăn cản được đà lao dốc của giá phôi thép.
Ngoài ra, giới đầu cơ trong nước cũng bắt đầu bán tháo thép thành phẩm trước mùa thấp
điểm của ngành. Sản lượng tiêu thụ tăng đột biến trong tháng 3/2010 là dấu hiệu cho thấy thị
trường phát triển không bền vững. Trên thực tế, tính tổng thể các công trình xây dựng trên cả
nước không thể tiêu thụ được một khối lượng lớn như vậy.
Bên cạnh đó, sản lượng thép trong 4 tháng đầu năm tăng 5,1% so với cùng kỳ năm
ngoái, cùng với lượng thép xây dựng từ ASEAN và Trung Quốc được nhập khẩu vào Việt Nam
với giá rẻ hơn thép trong nước từ 500,000 – 700,000 đồng/tấn khiến cho các doanh nghiệp thép
gặp nhiều khó khăn. Giá thép trong nước sau khi đạt tới mức đỉnh vào giữa tháng 4/2010 cũng
nhanh chóng sụt giảm. Giới đầu cơ buộc phải hạ giá bán để đẩy nhanh tiêu thụ trước mùa mưa
bão. Ngoài ra, không ít doanh nghiệp đã vay ngân hàng để tích trữ thép thì nay cũng phải bán ra
để thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Sản lượng tiêu thụ tháng 4/2010 cũng chỉ bằng 50% so với tháng 3/2010. Tình hình tiêu
thụ thép trong tháng 5 cũng không mấy khả quan, ước đạt chỉ khoảng 260,000 tấn, tương
đương 86% so với mức tiêu thụ tháng 4. Điều đáng quan tâm là trong tháng 6, các đại lý, doanh
nghiệp trong ngành khó có thể giải phóng hết lượng hàng tồn kho đã dự trữ trong những tháng
đầu năm. Ước tính lượng tồn kho thép thành phẩm còn khoảng 300,000 tấn, tồn kho phôi thép
là 490,000 tấn. Do đó, giá thép liên tục sụt giảm nhưng vẫn không thể cải thiện được tình hình
tiêu thụ. Trong khi đó giá phôi thép thế giới vẫn chưa cho thấy dấu hiệu phục hồi. Hiện giá thép
bán ra tại các nhà máy chỉ còn 11.6 triệu - 11.7 triệu đồng/tấn, tức là giảm hơn 3 triệu đồng/tấn
so với mức đỉnh hồi tháng 4.
Giá sắt thép chỉ dao động nhẹ trong quý 3
Trong tháng 7, giá thép nguyên liệu trên thị trường thế giới đang có những diễn biến trái
chiều nhau. Giá thép phế liệu vẫn ổn định ở mức khoảng từ 330-340 USD/tấn, giá quặng sắt
đang giảm do các nhà máy sản xuất thép Trung Quốc giảm sản lượng.
Theo thông tin từ Hiệp hội Thép Việt Nam, sức tiêu thụ thép xây dựng trong tháng 6 đạt
350 nghìn tấn, trong khi dự báo nhu cầu thép trong tháng 7 sẽ từ 350-380 nghìn tấn. Nguyên
nhân là do giá thép giảm, thấp hơn giá thành sản xuất nên nhiều người xây nhà trở lại. Nhưng
từ đầu tháng 7 tới nay, giá bán thép thành phẩm tại các nhà máy thuộc Tổng Cty Thép Việt
Nam đã được điều chỉnh tăng 2 lần. Cụ thể thép cuộn tăng thêm 350.000 đồng/tấn ngày 7-7 và
500.000 đồng/tấn vào ngày 13-7. Lý do của các đợt tăng giá này, theo phía doanh nghiệp, là để
bù đắp những thiệt hại do bán dưới mức giá thành trong thời gian trước đó.
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -12- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
Dự kiến trong quý 3, nhu cầu về sắt thép trong nước sẽ chững lại do nhu cầu xây dựng
giảm trong mùa mưa bão, đặc biệt là thị trường miền Trung và miền Nam. Thị trường sắt thép
dự kiến sẽ được duy trì ổn định, giá dự kiến sẽ dao động nhẹ.
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP BÌNH ỔN GIÁ THÉP
1. CHÍNH SÁCH CAN THIỆP GIÁ CỦA CHÍNH PHỦ NHẰM BÌNH ỔN GIÁ THÉP:
Trước hết, về công tác bình ổn giá, thực hiện sự chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Chính
phủ ở Chỉ thị số 2008/CT-TTg về tăng cường thực hiện các giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh
doanh, bình ổn giá cả thị trường, Cục đã cử nhiều đoàn công tác đi nắm tình hình cũng như
thực hiện các biện pháp bình ổn giá ở các địa phương. Cục cũng phối kết hợp với đơn vị có liên
quan như Sở Tài Chính, Cục Thuế, Cục Hải Quan, Kho bạc Nhà nước tham mưu cho các cấp
có thẩm quyền quyết định công bố các biện pháp bình ổn giá, không để xẩy ra tình trạng tăng
đột biến về giá tại các địa phương, kiểm soát chặt chẽ các phương án giá và mức tăng hàng hóa,
dịch vụ do nhà nước đặt hàng, chi từ nguồn Ngân sách nhà nước.
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -13- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
Ngoài ra, xác định công tác điều hành bình ổn giá là nhiệm vụ lâu dài thường xuyên,
Cục đã chủ động trình Bộ định hướng điều hành giá cả năm 2010 phấn đấu góp phần thực hiện
kiểm soát chỉ số tăng giá tiêu dùng không quá 7%/năm. Cục cũng tham mưu cho Bộ có văn bản
gửi Bộ Y tế về tăng cường thanh kiểm tra về các mặt hàng giá thuốc. Giả định và xây dựng
nhiều kịch bản bình ổn giá, điều hành giá để có thể ứng phó nhanh kịp thời khi thị trường giá có
những động thái xấu.
1.1.Điều chỉnh thuế xuất khẩu sắt thép
Bộ Tài chính đã giảm thuế xuất khẩu đối với mặt hàng sắt, thép xuống còn 10%. Đây là
nội dung Quyết định số 81/2008/QĐ-BTC ngày 22/9/2008 của Bộ Tài chính.
Tính về thời gian, thì trong vòng chưa đầy 90 ngày, Bộ Tài chính đã có tới… 3 lần điều chỉnh
mức thuế xuất khẩu hàng sắt thép. Cụ thể, cuối tháng 6/2008, Bộ đã tăng thuế xuất khẩu mặt
hàng này từ 2% lên 10%, tăng tiếp lên mức 20% vào đầu tháng 8/2008 và sau đó lại giảm
xuống còn 10% như quyết định mới ban hành.
Rối rắm và không hiệu quả!
Hiếm quốc gia nào có sự thay đổi đến “chóng mặt” trong chính sách quản lý xuất khẩu
thép như Việt Nam. Trong chưa đầy 90 ngày, VN đã 3 lần thay đổi mức thuế xuất khẩu thép chỉ
nhằm mục đích góp phần bình ổn thị trường thép trong nước, tránh thất thoát tiền thuế cho Nhà
nước qua hoạt động xuất khẩu phôi thép.
Đáng tiếc, mục đích “tốt đẹp” ấy, biện pháp quản lý… nhanh chóng ấy, lại không phát
huy hiệu quả như ý muốn. Thậm chí là đang làm trầm trọng thêm những vấn đề hạn chế của thị
trường thép, ngành thép Việt Nam. Nếu không nói đó là thất bại, thì cũng phải thừa nhận đó là
thất vọng lớn xét từ góc độ quản lý Nhà nước.
Thời điểm đầu tháng 6/2008, giá phôi thép chào bán trên thế giới tăng cao tới mức hơn
1.000 USD/tấn. Khi đó, lượng phôi thép về Việt Nam do các DN ký hợp đồng nhập khẩu trước
đó vài tháng có giá thấp hơn nhiều. Tuy nhiên, do bị tác động bởi những biện pháp hạn chế lạm
phát, nhu cầu thép thị trường xây dựng trong nước đã giảm mạnh. Phương án nhập phôi tiêu thụ
trong nước đã không còn khả thi.
Giải pháp duy nhất khi ấy của các DN để tránh thiệt hại, đồng thời tranh thủ thu lợi
nhuận là nhanh chóng, ồ ạt tổ chức tái xuất phôi thép khỏi Việt Nam. Tháng 5/2006, các DN đã
xuất khẩu hơn 67.000 tấn phôi thép. Chỉ trong tháng 6/2008, các DN đã đẩy lượng phôi thép
xuất khẩu lên… trên 305.000 tấn.
Sự tăng vọt sản lượng phôi thép xuất khẩu đã không được tổng kết, đánh giá, dự báo
đúng mức. Có nhiều ý kiến lo ngại giá thép thị trường trong nước sẽ tăng cao vì khan hiếm phôi
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -14- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
(đã xuất khẩu hết). Do vậy, thuế xuất khẩu phôi thép đã được điều chỉnh tăng từ 2% lên 10%,
và sau đó là 20%. Sản lượng phôi xuất khẩu đã giảm mạnh trong tháng 8/2008. Các DN kinh
doanh phôi gặp khó khăn cực lớn về tài chính do bị tồn đọng phôi thép lên tới trên 45.000 tấn,
giá trị trên 1.000 tỷ VNĐ. Trong khi đó, giá phôi thép thế giới không những đã không tăng, mà
lại giảm xuống mức trên dưới 900 USD/tấn.
Có nghĩa là biện pháp tăng thuế đã không phát huy hiệu quả, vì nhu cầu thép trong trong
nước vẫn không tăng, còn DN thì thiệt hại nặng vì không còn lãi khi xuất khẩu phôi, nhưng vẫn
chịu đủ các chi phí tài chính phục vụ kinh doanh phôi.
Cần nhắc lại, công văn ngày 15/9/2008, Hiệp hội thép Việt Nam đã đề nghị giảm thuế
xuất khẩu phôi thép xuống mức 5%, nhưng Bộ Tài chính đã “quyết” ở mức 10%. Tính hợp lý,
hợp thời của các đề nghị, quyết định này đến đâu sẽ thể hiện trong thời gian tới. Tuy nhiên, lần
thay đổi mức thuế xuất khẩu thép lần này tiếp tục là thể hiện cụ thể những bất ổn trong phát
triển ngành thép Việt Nam.
Đó là các mục tiêu quy hoạch phát triển ngành thép tới năm 2020 đã lỗi thời sau khi ban
hành. Mà ngay thực tế trong thời gian gần đây, lượng đầu tư vào ngành thép tăng đột biến với
mức trên 20 tỷ USD vốn đăng ký đã đòi hỏi Nhà nước cần nhanh chóng thay đổi quan điểm
quản lý và xây dựng các cơ chế, chính sách mới đối với ngành này.
1.2.Triển khai các giải pháp bình ổn giá thép và kiềm chế lạm phát:
Trước tình trạng giá thép trong nước (đặc biệt là thép xây dựng) thời gian gần đây tăng
đáng kể, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về những giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô,
Bộ Công thương vừa ban hành văn bản số 3705/BCT-CNNg đề nghị UBND các tỉnh, thành phố
(TP) trực thuộc TƯ, Hiệp hội Thép và Tổng công ty Thép Việt Nam thực hiện các giải pháp
bảo đảm đủ thép cho nhu cầu xây dựng và bình ổn giá thép, kiềm chế lạm phát.
Trong đó, Bộ yêu cầu UBND các tỉnh, TP trực thuộc TƯ chỉ đạo các đơn vị sản xuất
kinh doanh (SXKD) thép trên địa bàn đẩy mạnh SXKD, không để xảy ra thiếu thép hoặc tăng
giá bán bất hợp lý, đồng thời rà soát cơ chế chính sách hiện hành để kịp thời điều chỉnh, bổ
sung, tháo gỡ khó khăn vướng mắc. Thực hiện tốt việc minh bạch thông tin thị trường, công
khai giá bán thép. Bên cạnh đó, cần chỉ đạo các chi cục quản lý thị trường địa phương tăng
cường kiểm tra, giám sát thị trường theo quy định của pháp luật, ngăn chặn xử lý kịp thời các
hiện tượng đầu cơ nâng giá thép, gian lận thương mại.
Đối với Hiệp hội Thép Việt Nam, Bộ yêu cầu chỉ đạo các đơn vị thành viên duy trì hoạt
động SXKD đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, dự báo tình hình SXKD thép, không để xảy ra tình
trạng thị trường thiếu thép xây dựng, trong khi vẫn phải giảm tồn đọng thép trong sản xuất và
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -15- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
lưu thông. Hiệp hội Thép cũng cần giúp đỡ các DN đang triển khai sản xuất phôi thép đẩy
nhanh tiến độ xây lắp để dự án luyện phôi sớm hoàn thành, góp phần giảm bớt phụ thuộc vào
nguồn phôi nhập khẩu.
Ngoài ra, Bộ Công thương yêu cầu Tổng công ty Thép Việt Nam chỉ đạo sát sao các
đơn vị trực thuộc cũng như liên doanh, quản lý tốt việc phân phối thép theo hướng tăng tỷ lệ
cung ứng trực tiếp đến người sử dụng, giảm chi phí trung gian, công bố công khai tỷ lệ chiết
khấu, chất lượng sản phẩm và giá bán. Đồng thời, Tổng công ty Thép phát huy vai trò nòng cốt
của DN nhà nước trong việc tham gia tích cực điều tiết giá cả thị trường, có những giải pháp
tích cực trong kiềm chế lạm phát và đảm bảo thị trường luôn đủ thép
Các chi cục quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, giám sát thị trường, xử lý kịp thời
các hiện tượng đầu cơ nâng giá thép, gian lận thương mại làm thất thu ngân sách của Nhà nước
và ảnh hưởng đến người tiêu dùng.
Bộ Công thương đã có văn bản đề nghị UBND các tỉnh, thành, Tổng Công ty Thép
Việt Nam và Hiệp hội Thép Việt Nam triển khai ngay một số giải pháp nhằm đảm bảo nhu cầu
thép cho xây dựng và kiềm chế lạm phát. Theo đó, UBND các tỉnh, thành chỉ đạo các đơn vị
sản xuất thép trên địa bàn đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, không để thiếu thép hoặc tăng giá bán
bất hợp lý xảy ra. Các tỉnh, thành cần tiếp tục rà soát các cơ chế, chính sách hiện hành, kịp thời
bổ sung, điều chỉnh nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh thép.
Hiệp hội Thép Việt Nam cần chỉ đạo các đơn vị thành viên duy trì hoạt động sản xuất
kinh doanh đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và có các dự báo tình hình sản xuất kinh doanh thép…
Hiệp hội cần phát huy vai trò tư vấn, giúp đỡ các doanh nghiệp đang triển khai các dự sản xuất
phôi thép đẩy nhanh tiến độ xây lắp để sớm đưa các dự án này đi vào hoạt động, góp phần giảm
bớt sự phụ thuộc vào phôi thép nhập khẩu. Đặc biệt, giải pháp thu mua nguyên nhiên vật liệu
phục vụ sản xuất phôi thép và thép cán; cũng như bảo dưỡng máy móc đảm bảo sản xuất ổn
định cần được đẩy mạnh.
Tổng Công ty Thép Việt Nam chỉ đạo sát sao các đơn vị, doanh nghiệp sản xuất và kinh
doanh thép trực thuộc và các đơn vị liên doanh quản lý tốt việc phân phối thép theo hướng tăng
tỷ lệ cung ứng trực tiếp đến người sử dụng, giảm các chi phí trung gian, công bố công khai tỷ lệ
chiết khấu, chất lượng sản phẩm và giá bán. Tổng Công ty cần phát huy vai trò nòng cốt của
doanh nghiệp Nhà nước, tham gia tích cực vào điều tiết thị trường và có những giải pháp tích
cực kiềm chế lạm phát. Ngoài ra, giải pháp đẩy nhanh tiến độ các dự án thép đã được phê
duyệt; đảm bảo việc sản xuất và cung ứng để thị trường không thiếu thép chính là một giải pháp
cần tập trung.
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -16- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
1.3. Thông tư số 22/2010/TT-BCT do Bộ Công Thương ban hành quy định chế độ cấp
phép nhập khẩu tự động đối với việc nhập khẩu thép.
Kể từ ngày 5/7/2010 đến ngày 31/12/2010, đối với một số sản phẩm thép nhất định quy
trình cấp phép nhập khẩu sẽ được đơn giản hóa theo quy định của Thông tư số 22/2010/TT-
BCT do Bộ Công Thương ban hành ngày 20/5/2010 sẽ được áp dụng chế độ cấp phép nhập
khẩu tự động đối với việc nhập khẩu thép. Riêng đối với sản phẩm thép nhập khẩu thuộc
trường hợp hàng tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh; hàng nhập khẩu
phi mậu dịch và hàng nhập khẩu để trực tiếp phục vụ sản xuất, gia công (kể cả hàng nhập khẩu
để lắp ráp, sửa chữa, bảo hành) vẫn được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành.
Để được cấp giấy phép nhập khẩu tự động, thương nhân tiến hành đăng ký hồ sơ
thương nhân tại cơ quan cấp phép (Phòng quản lý xuất nhập khẩu khu vực thành phố Hà Nội và
TPHCM trực thuộc Bộ Công Thương) hoặc thực hiện thủ tục đăng ký trên qua internet trước
khi gửi hồ sơ đến cơ quan cấp phép. Giấy phép nhập khẩu tự động sẽ được thể hiện dưới hình
thức xác nhận đơn đăng ký nhập khẩu cho mỗi lô hàng của Bộ Công Thương và có giá trị thực
hiện trong vòng 30 ngày kể từ ngày xác nhận.
Bộ Công Thương đã ban hành thông tư hướng dẫn áp dụng chế độ cấp phép nhập khẩu
tự động đối với một số sản phẩm thép như thép có đường kính dưới 14 mm, thép hoặc sắt
không hợp kim cán phẳng có chiều rộng dưới 600 mm chưa phủ, mạ hoặc tráng và một số loại
khác. Thông tư này sẽ có hiệu lực từ ngày 5-7 và hết hiệu lực vào ngày 31-12-2010. Việc áp
dụng giấy phép nhập khẩu tự động đối với các sản phẩm thép của Bộ Công Thương sẽ giúp
kiểm soát tình trạng thép kém chất lượng nhưng lại nhập ồ ạt vào Việt Nam.
Trước đó, VSA cũng đã đề nghị ngành hải quan kiểm tra chặt các thủ tục, quy định về
xuất xứ hàng hóa nhập khẩu, sản phẩm thép đạt chất lượng mới cho thông quan…
Theo một nhà quản lý giá của Bộ Công thương, trong đợt đoàn liên ngành kiểm tra thị trường
thép vừa qua, thực tế cho thấy các doanh nghiệp từ sản xuất đến kinh doanh thép hưởng lợi
không nhiều, nhưng việc mua, bán thép phải qua quá nhiều vòng, tầng, nấc khiến giá bị đẩy lên
cao.
Bộ Công thương đã có riêng văn bản hệ thống phân phối mặt hàng thép, tuy nhiên, cơ
sở pháp lý chưa chặt chẽ để kiểm soát các hệ thống phân phối đại lý thép. Giá mặt hàng thép
trên thị trường còn bị đẩy giá lên qua các khâu trung gian, các nhà máy thép chưa tổ chức khâu
bán hàng hiệu quả. Mặt hàng thép chưa được bán tới tận “chân” các công trình xây dựng, theo
nhu cầu sử dụng; ngoài việc bán buôn, các nhà máy chưa tăng cuờng hệ thống bán lẻ cho người
tiêu dùng.
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -17- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
Hiện nay, nếu thép cứ mua đứt, bán đoạn thì rất khó kiểm soát. Nhà máy sản xuất thép
tổ chức hệ thống bán lẻ, đại lý bán lẻ lại không thuộc hệ thống nên đã đẩy giá lên khiến cơ quan
quản lý nhà nước khó kiểm soát. Ví dụ đối với hệ thống đại lý xăng dầu, ngoài việc được nhận
tỷ lệ hoa hồng khi bán hàng nhưng doanh nghiệp xăng dầu đều yêu cầu các đại lý cam kết bán
mức giá định hướng tốt chứ không như mặt hàng thép.
1.4. Kiểm soát lượng thép nhập khẩu kém chất lượng:
Tình hình cạnh tranh sản phẩm thép trong nước sẽ càng gay gắt khi sắp tới sản lượng
thép tiếp tục tăng thêm trong khi nhu cầu tiêu thụ không tăng và thấp hơn nhiều so với nguồn
cung. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), từ đầu tháng 6/2010 thì 03 nhà máy sản xuất thép
lớn ở phía Bắc gồm Thép Thánh Lực (Thái Bình), Thép Hòa Phát (Hải Dương) và Thép Việt
Đức (Vĩnh Phúc) sẽ đi vào sản xuất với tổng sản lượng thép khoảng 1 triệu tấn/năm đã nâng
tổng công suất sản xuất thép của cả nước lên 8 triệu tấn/năm trong khi mức tiêu thụ thép cả
nước hiện chỉ đạt khoảng 05 triệu tấn/năm đã đẩy tình hình cạnh tranh sản phẩm thép xây dựng
trên thị trường trong nước thêm phần quyết liệt. Thêm vào đó là việc đối mặt với số lượng lớn
thép nhập khẩu, lượng thép nhập khẩu chủ yếu là thép xây dựng (loại phi 6, phi 8) được nhập từ
các nước ASEAN (chiếm 53%), Trung Quốc (trên 20%), còn lại từ các nước khác như Nhật
Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.
Đứng trước tình hình này, Bộ Công Thương đã ban hành thông tư số 22/2010/TT-BCT
ngày 20/5/2010 V/v hướng dẫn áp dụng chế độ cấp phép nhập khẩu tự động đối với một số sản
phẩm thép như thép có đường kính dưới 14 mm, thép hoặc sắt không hợp kim cán phẳng có
chiều rộng dưới 600 mm chưa phủ, mạ hoặc tráng và một số loại khác. Việc áp dụng giấy phép
nhập khẩu tự động đối với các sản phẩm thép của Bộ Công Thương sẽ giúp kiểm soát tình trạng
thép kém chất lượng nhưng lại nhập ồ ạt vào Việt Nam từ đó giúp điều hòa lượng cung lớn thép
nhập khẩu đang được hưởng ưu đãi về thuế suất nhằm giảm bớt sự cạnh tranh gay gắt về giá
bán so với hàng trong nước như hiện nay. Trước đó, Hiệp hội thép Việt Nam (VSA) cũng đã đề
nghị ngành Hải quan kiểm tra và kiểm soát chặt chẽ thủ tục, quy định về xuất xứ hàng hóa nhập
khẩu nhằm đảm bảo sản phẩm thép đạt chất lượng mới cho thông quan vào thị trường Việt
Nam.
1.5. Đẩy mạnh đầu tư mở rộng công suất sản xuất và tiết giảm các chi phí sản xuất đầu
vào:
+ Đẩy mạnh đầu tư mở rộng công suất sản xuất:
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -18- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
Blue Scope Steel (thuộc tập đoàn BHP-Úc) cũng đã có cuộc phân tích và đánh giá: giảm
thuế nhập khẩu không thay đổi được vấn đề nguồn cung và mức thép toàn cầu. Hiện tình trạng
đầu cơ chỉ ở mức hạn chế, nhưng với thuế nhập khẩu là 0% tình trạng đầu cơ sẽ tăng mạnh.
Các nhà đầu cơ sẽ mua thêm khi thuế 0%. Các công ty sản xuất thép trong nước sẽ bị ảnh
hưởng do đơn hàng bị hủy bỏ bởi nhập khẩu.
Nhiều năm nay Việt Nam đã theo đuổi chính sách nhất quán nhằm phát triển ngành
thép, đã tạo ra một môi trường tương đối ổn định, giúp thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào
sản xuất thép. Sự thay đổi chính sách đột ngột đã gây tác hại, bất ổn đối với ngành thép và các
nhà đầu tư, nếu không sớm được điều chỉnh sẽ gây khủng hoảng tài chính toàn ngành. Do vậy,
Ông Wilson Tổng giám đốc Blue Scope Steel đã kết luận: không thể sử dụng các giải pháp
ngắn hạn để đối phó với tăng giá thép, mà chỉ có thể giải quyết được bằng giải pháp dài hạn
như đẩy mạnh đầu tư mở rộng công suất cũng như sản xuất nguyên liệu, có như vậy mới chủ
động nguồn cung và chủ động được về giá.
Tính đến nay cả nước đã có 30 tỉnh, thành có dự án sản xuất gang thép. Trong đó, Bà
Rịa - Vũng Tàu có tới 15 dự án, Hải Phòng 9 dự án; Phú Thọ và Hà Tĩnh, 4 dự án; các tỉnh có 3
dự án là Thái Nguyên, Hải Dương, Đà Nẵng, Thanh Hoá, Hưng Yên
Nếu so với nhu cầu trong quy hoạch ngành thép, dự kiến đến 2015, cả nước cần khoảng
15 triệu tấn thép và năm 2020 là 20 triệu tấn thép, thì tổng công suất thiết kế của các dự án lên
tới 35,29 triệu tấn/năm, cung vượt cầu khoảng 1,5 - 1,8 lần. Trường hợp 3 dự án thép kể trên
không triển khai được thì sản lượng thép cũng vượt nhu cầu khoảng 1,2 - 1,3 lần (26 triệu
tấn/năm).
+ Tiết giảm các chi phí sản xuất đầu vào:
Thép cũng là mặt hàng trong diện bình ổn giá nên nếu có những biến động bất thường,
cơ quan nhà nước hoàn toàn có quyền áp dụng biện pháp bình ổn. Thanh tra tài chính đã cử
nhiều đoàn đi kiểm tra. Bước đầu kết quả cho thấy một số doanh nghiệp thép tăng giá nhưng
nhiều yếu tố cấu thành đầu vào chưa hợp lý, có thể tiết giảm được. Để sản xuất 1 tấn thép,
chúng ta đã có những định mức nhất định, ví dụ phải mất mấy tấn quặng, bao nhiêu tấn phôi,
mấy tấn than, hay mấy trăm kWh điện Định mức đã có, nhưng qua kiểm tra chúng tôi phát
hiện một số doanh nghiệp thép và cả ximăng sử dụng các nguyên vật liệu không đúng định mức
hoặc chưa thật phù hợp.
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -19- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
Việc sử dụng những nguyên vật liệu động lực ở mức cao đã đẩy giá thành lên cao,
nhiều doanh nghiệp thép còn có thể tiết kiệm thêm rất nhiều loại nguyên vật liệu khác nhau để
giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm thép.
Do vậy, Cục quản lý giá ban hành các văn bản yêu cầu doanh nghiệp thực hiện nghiêm
túc tiết giảm các chi phí, thực hiện đúng định mức để giảm giá thành, giảm chi phí đầu vào, từ
đó giảm giá thành sản phẩm.
1.6. Chống liên kết độc quyền về giá:
Theo quy định của Chính phủ, liên kết độc quyền về giá được hiểu là giữa các DN thỏa
thuận giá để chiếm lĩnh thị trường "vượt quá thị phần theo quy định của pháp luật", gây tổn hại
đến lợi ích của DN khác và người tiêu dùng. Cụ thể, biểu hiện liên kết độc quyền kể đến như
thỏa thuận giữa các Doanh nghiệp ấn định giá, khống chế giá nhằm hạn chế cạnh tranh. Hay tại
một thời điểm, một số cơ sở kinh doanh cùng loại hàng đột ngột bán thống nhất một giá. Thỏa
thuận tạo sự khan hiếm hàng hóa bằng cách hạn chế sản xuất, phân phối, vận chuyển, bán hàng
hóa, lợi dụng đầu cơ tăng giá cũng được coi là liên kết độc quyền về giá.
Khi có đơn tố cáo của đại diện Doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng, hoặc khi phát hiện
có dấu hiệu độc quyền, liên kết độc quyền, Bộ Tài chính (Sở Tài chính) có nhiệm vụ tổ chức
điều tra kiểm soát giá. Thời gian một lần điều tra tối đa là 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định
điều tra. Tùy vào mức độ vi phạm, Bộ Tài chính (Sở Tài chính) có thể xử lý bằng các hình
thức: đình chỉ giá liên kết độc quyền, yêu cầu bán đúng giá, bồi thường cho người bị thiệt hại
2. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT CỦA NHÓM:
2.1.Về các văn bản của Chính phủ, Bộ có liên quan trong việc chỉ đạo bình ổn giá cả
mặt hàng thép:
- Về việc ban hành Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06/04/2010:
Có thể thấy rằng Chính phủ đã đưa những chủ trương, chính sách kịp thời nhằm ngăn chặn
tình trạng lạm phát sẽ quay trở lại trong năm 2010 đặc biệt là trong 06 tháng cuối năm, cụ thể là
Chính phủ đã cho ban hành Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06/04/2010 về những giải pháp bảo
đảm ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao và đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng
6,5% trong năm 2010. Trong văn bản đã nêu rõ cũng như có sự chỉ đạo và phân công cụ thể
nhiệm vụ và công việc của từng Bộ, ngành có liên quan, trong việc tiến hành rà soát, đánh giá
tình hình cung - cầu các mặt hàng phục vụ sản xuất và đời sống, trước hết là các mặt hàng thiết
yếu trong đó có ngành thép…Theo dõi sát diễn biến thị trường trong và ngoài nước để kịp thời
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -20- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
áp dụng các giải pháp điều tiết, bình ổn thị trường, nhất là đối với những mặt hàng thiết yếu,
không để xảy ra thiếu hàng, sốt giá trong thời gian vừa qua. Ngoài ra, nội dung Nghị quyết
cũng đã nêu rõ vai trò và sự phối hợp giữa các Bộ ngành liên quan trong việc thực hiện nhiệm
vụ đã đề ra nên Nhóm tin tưởng rằng nhiệm vụ bình ổn giá cả các mặt hàng thiết yếu trong đó
có mặt hàng thép trong thời gian tới là khả thi.
- Về việc ban hành văn bản số 3705/BCT-CNNg:
Thực hiện ngay chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06/04/2010, Bộ
Công thương đã ban hành văn bản số 3705/BCT-CNNg đề nghị UBND các tỉnh, thành phố
(TP) trực thuộc TƯ, Hiệp hội Thép và Tổng công ty Thép Việt Nam thực hiện các giải pháp
bảo đảm đủ thép cho nhu cầu xây dựng và bình ổn giá thép, kiềm chế lạm phát trước tình trạng
giá thép trong nước (đặc biệt là thép xây dựng) thời gian gần đây tăng đáng kể, thực hiện chỉ
đạo của Chính phủ về những giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Từ đó, Nhóm nhận thấy
rằng đã có sự ứng dụng kịp thời và nắm bắt nhanh nhạy các nội dung trong Nghị quyết của
Chính phủ đã đề ra, đồng thời có sự triển khai cụ thể, rõ ràng theo ngành dọc từ trung ương đến
địa phương. Cụ thể, Bộ yêu cầu UBND các tỉnh, TP trực thuộc TƯ chỉ đạo các đơn vị sản xuất
kinh doanh (SXKD) thép trên địa bàn đẩy mạnh SXKD, không để xảy ra thiếu thép hoặc tăng
giá bán bất hợp lý, đồng thời rà soát cơ chế chính sách hiện hành để kịp thời điều chỉnh, bổ
sung, tháo gỡ khó khăn vướng mắc. Thực hiện tốt việc minh bạch thông tin thị trường, công
khai giá bán thép. Bên cạnh đó, cần chỉ đạo các chi cục quản lý thị trường địa phương tăng
cường kiểm tra, giám sát thị trường theo quy định của pháp luật, ngăn chặn xử lý kịp thời các
hiện tượng đầu cơ nâng giá thép, gian lận thương mại.
Với những giải pháp đã được vạch ra cụ thể như đã nêu trên, Nhóm có đề xuất sẽ bổ sung
thêm đối với các Bộ, cơ quan liên quan nên kiểm soát và quản lý tốt việc phân phối thép cụ thể
là hệ thống phân cấp bán hàng của các công ty ngành thép cũng nhằm không đảm bảo không
làm giá thép bị đội lên khá cao so với mặt bằng chung và thép đến được tay người tiêu dùng
một cách trực tiếp, điều này cũng phù hợp với mục tiêu bình ổn giá cả của Chính Phủ đã đề ra.
=> Tóm lại, việc ban hành Nghị quyết về chủ trương chính sách của Nhà nước, Chính phủ
là rất cần thiết trong giai đoạn kinh tế Việt Nam đang phục hồi như hiện nay. Do vậy Nhóm có
đề xuất Chính phủ nên có các giải pháp linh hoạt trong từng giai đoạn của nền kinh tế cũng như
các biện pháp chế tài đối với các đơn vị không thực hiện đúng các quy định của Nhà nước
nhằm trục lợi cho bản thân mà ảnh hưởng đến tình hình chung như đầu cơ sản phẩm thép, tự
động nâng giá quá cao so với mặt bằng chung, nhập khẩu ồ ạt không có kế hoạch cụ thể…
Ngòai ra các chủ trương, chính sách điều hành nền kinh tế của Chính phủ nên được phổ biến
rộng khắp trên các phương tiện truyền thông để mọi tầng lớp người dân có sự nhận định đúng
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -21- GVHD: TS. Hay Sinh
Tiểu luận: Chính sách can thiệp giá của chính phủ nhằm bình ổn giá thép
đắn về nền kinh tế của nước ta hiện nay như thế nào để cùng chung tay góp sức hòan thành
nhiệm vụ mà Chính phủ đã đặt ra.
2.2.Về tình hình nhập khẩu phôi thép và thép các loại:
Tình hình nhập khẩu trong 06 tháng đầu năm 2010 khá khả quan khi tổng lượng sắt thép
nhập khẩu của Việt Nam đạt 4,1 triệu tấn, trị giá 2,77 tỷ USD, tăng 3% về lượng và tăng 30%
về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2009, đạt 59,6% kế hoạch năm. Tuy nhiên trên thị trường
hiện vẫn còn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro về biến động nguồn cung và chịu ảnh hưởng bởi các nước
khác cùng ngành khi Việt Nam là nước phụ thuộc và nhập khẩu thép.
Đầu vào cho ngành thép là quặng sắt và thép phế. ở Việt Nam phần lớn sử dụng thép phế để
sản xuất phôi và hoàn toàn là phôi vuông để làm thép xây dựng. Hiện tại, ngành Thép trong
nước mới tự chủ được 30% lượng thép phế và 50% phôi, còn lại là từ nguồn nhập khẩu. Mặc
dù tự sản xuất khoảng 20% thép dẹt, nhưng chưa có doanh nghiệp nào ở Việt Nam sản xuất
được phôi dẹt mà phải nhập khẩu từ bên ngoài. Nguồn nhập khẩu thép, phôi thép các loại và
thép phế của Việt Nam hiện giờ là từ Trung Quốc (là chủ yếu) và một số nước khác trên thế
giới như Mỹ, Nhật, Nga …. Do vậy, Nhóm có đề xuất các Công ty sản xuất thép nên có sự cân
đối trong việc lựa chọn chủng loại thép, số lượng nhập và giá cả đầu vào để có thể tiết giảm
được chi phí nguyên vật liệu đầu vào nhằm không đẩy giá thành tăng cao cũng như không để
lượng tồn kho quá lớn trong kho gây ứ đọng vốn.
Nhóm 6- Kinh tế Vi mô Đêm 1 -22- GVHD: TS. Hay Sinh

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×