Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Ảnh hưởng của độ mặn đến sự sinh trưởng, phát triển của cỏ mồm mỡ (Hymenachne acutigluma)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (791.28 KB, 7 trang )

293
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN CỦA CỎ MỒM MỠ (Hymenachne acutigluma)
SV. Trần Văn Tốt
SV. Nguyễn Thanh Nam
SV. Nguyễn Thị Ánh Hừng
SV. Ngô Thị Tuyết Minh
SV. Thái Thị Cẩm Nhung
SV. Nguyễn Văn Út Nhứt
ThS. Lê Diễm Kiều
Tóm tắt. Nghiên cứu xác định độ mặn ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát
triển của cỏ mồm mỡ, được bố trí theo thể thức hồn tồn ngẫu nhiên với 14 nghiệm
thức là cỏ mồm mỡ trồng trong nước thải ao nuôi cá tra ở điều kiện thủy canh và có
bùn với các độ mặn: 0, 5, 10, 15, 20, 25, 30‰, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần trong 5
tuần. Kết quả ghi nhận được độ mặn từ 15-35‰ trở lên bắt đầu gây chết cỏ mồm
mỡtrong 6 ngày và độ mặn 10‰ bắt đầu gây chết cây sau 12 ngày. Cỏ mồm mỡ có thể
sinh trưởng ở độ mặn ở độ mặn 5‰,sau 5 tuần chiều cao cây là 80cm thấp hơn ĐC,
dài rễ 20cm, số chồi đạt được là 6 và khác biệt so với ĐC (p>0,05). Cỏ mồm mỡ trồng
ở điều kiện có bùn và thủy canh hầu như không khác biệt về tỉ lệ sống, chiều cao cây,
chiều dài rễ và số chồi, tuy nhiên ở điều kiện có bùn thì sinh khối tươi và sinh khối khô
là 200 g và 33g cao hơn so với điều kiện thủy canh.
1. Giới thiệu
Cỏ mồm mỡ là loài thực vật thủy sinh phân bố rộng rãi ở ĐBSCLcó khả năng
chịu được điều kiện ngặp nước liên tục [8], thân xốp, có khả năng hấp thu các chất ơ
nhiễm có giá trị trong xử lý nước thải [6]. Bên cạnh đó, lồi cỏ này lồi có khả năng
sinh trưởng nhanh và cho năng suất chất xanh cao (252,99-294,12 tấn/ha/năm), cao
hơn cả cỏ paspalum, lông para, ruzi, voi, sả và có hàm lượng protein thơ là 10,31% [4]
vì vậy được trồng tương đối phổ biến ở vùng ĐBSCL để ni trâu, bị, thỏ [4]. Tuy
nhiên, ĐBSCL là một trong những vùng chịu ảnh hưởng nhiều tình trạng xâm nhập
mặn vào thời điểm mùa khơ,nhấtlàkhi tình trạng biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày
càng phức tạp. Do đó, để có thể canh tác cỏ mồm mỡ ở các vùng bị xâm nhập mặn hay


có thể xử lý nước thải ni trồng thủy sản nước lợ thì đánh giá về ảnh hưởng của độ
mặn đến sinh trưởng và phát triển của thực vật là rất cần thiết. Mặc dù vậy,hiện nay
vẫn cịn rất ít nghiên cứu về vấn đề này, do đónghiên cứu về “Ảnh hưởng của độ mặn
đến sự sinh trưởng và phát triển của cỏ mồm mỡ” được thực hiện nhằm khảo sát ảnh
hưởng của độ mặn đến sự sinh trưởng và phát triển của cỏ mồm.
2. Phương pháp nghiên cứu
- Thời gian và địa điểm:
Nghiên cứu được thực hiện trong 5 tuần từ tháng 9-10/2015 tại xãTân Mỹ,
huyện Lấp Vị, tỉnh Đồng Tháp.
- Bố trí và theo dõi thí nghiệm:
Thí nghiệm được bố trí trong nhà lưới,gồm 14 nghiệm thức cỏ mồm mỡ trồng
trong nước thải ao ni cá tra trong điều kiện có bùn và khơng có bùnvới các độ mặn
0, 5, 10, 15, 20, 25, 30‰, mỗi nghiệm thứclặp lại 3 lần.Bố trí trong thùng nhựa có thể
tích nước5 lít/thùng, nước được thay 1 lần/tuần.


294
Bố trí 3 cây cỏ mồm/thùng, cỏ đượcchọn bố trí tương đồng về kích thước với
chiều cao cây và dài rễ trung bình là 73 và 14,5cm. Theo dõi ảnh hưởng của độ mặn
đến tình trạng cây chết mỗi ngày, ghi nhậnchiều cao cây và dài rễ sau mỗi tuần; chiều
dài rễ, sinh khối tươi và khô của cỏ được đánh giá khi bắt đầu và kết thúc thí nghiệm.
- Phương pháp xử lý số liệu:
Các số liệu được tổng hợp, xử lý và phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel
2010 và SPSS 22 với phương pháp One way ANOVA dạng kiểm định Ducan với mức
ý nghĩa thống kê 5% để so sánh sự sinh trưởng của thực vật giữa các nghiệm thức.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của cỏ mồm mỡ
Kết quả khảo sát ảnh hưởng độ mặn đến tỉ lệ sống của cỏ mồm mỡ sau 5 tuần
thí nghiệm cho thấy, sau 1 tuần bố trí thí nghiệm, thực vật ở các nghiệm thức có độ
mặn 15-35‰đều chết (tỉ lệ sống là 0%),các nghiệm thức cịn lại có tỉ lệ sống của cỏ

mồmlà 100%, trừ NT 1-3 chỉ với 89%. Ở các tuần sau đó, hai nghiệm thức ĐC và NT
1-1 khơng có sự thay đổi tỉ lệ sống so với tuần 1 (tỉ lệ sống là 100%). Ở nghiệm NT 12 vàNT 2-2 (độ mặn10‰), tỉ lệ sống của cỏ có sự thay đổi ở tuần thứ 3 là 89% và
giảm dần ở tuần 4 và chết hoàn toàn ở tuần 5 (tỉ lệ sống đạt 0%)(Bảng 1).
Bảng 1. Tỷ lệ sống của cỏ mồm mỡ sau 5 tuần thí nghiệm
Nghiệm Điều kiện trồng và độ
mặn (‰)
thức

Tỉ lệ sống của cỏ mồm (%) qua các tuần
1

2

3

4

5

ĐC1

Nước thải + 0

100

100

100

100


100

NT1-1

Nước thải + 5

100

100

100

100

100

NT1-2

Nước thải + 10

0,89

0,33

0,22

0,11

-


NT1-3

Nước thải + 15

0

-

-

-

-

NT1-4

Nước thải + 20

0

-

-

-

-

NT1-5


Nước thải + 25

0

-

-

-

-

NT1-6

Nước thải + 30

0

-

-

-

-

NT1-7

Nước thải + 35


0

-

-

-

-

ĐC2

Nước thải+Bùn+ 0

100

100

100

100

100

NT2-1

Nước thải+bùn+5

100


100

0,89

0,89

0,89

NT2-2

Nước thải+bùn+10

100

0,89

0,44

-

NT2-3

Nước thải+bùn+15

-

-

-


-

-

NT2-4

Nước thải+bùn + 20

-

-

-

-

-

NT2-5

Nước thải+bùn +25

-

-

-

-


-

NT2-6

Nước thải+bùn +30

-

-

-

-

-

NT2-7

Nước thải+bùn+ 35

-

-

-

-

-



295
3.2. Sự sinh trưởng chiều cao của cỏ mồm mỡ
Chiều cao trung bình cỏ mồm mỡ của các nghiệm thức đều có sự khác nhau ở
hầu hết các tuần. Trong đó, chiều cao trung bình của cỏ ở độ mặn 10‰ thấp hơn
nghiệm thức 5‰ (NT11 và NT12) và đối chứng(ĐC1 và ĐC2) ở thời điểm tuần 1, 2
và 3. Tuần 4, chiều cao cây trung bình của cỏ ở nghiệm thức có độ mặn 5‰ (68cm)
thấp hơn nghiệm thức đối chứng (80cm) (p<0,05). Chiều cao của cỏ mồm của các
nghiệm thức trồng ở điều kiện thủy canh và có bùn đáy ở độ mặn 5‰ đều khơng có sự
khác nhau (p>0,05). Qua 5 tuần thí nghiệm, chiều cao của cây ở nghiệm thức có độ
mặn 5‰ và nghiệm thức ĐC khơng có sự khác biệt so với lúc bắt đầu thí nghiệm. Như
vậy, chiều cao của cỏ mồm mỡ bắt đầu bị ảnh hưởng ở độ mặn 10‰ và hầu như khơng
có sự khác biệt ở hai điều kiện trồng đến chiều cao cây (Hình 1).
Khả năng chịu mặn của cỏ mồm mỡ tốt hơn giống lúa OM4900. Một trong
những giống lúa chịu mặn tốt vẫn bị ảnh hưởng đến chiều cao cây ở độ mặn 4‰ [5].

Hình 1. Sự tăng trưởng chiều cao thân cỏ mồm mỡ
Ghi chú:
Những giá trị giữa các nghiệm thức trong cùng một thời điểm (tuần)có ký tự (A,
B)
giống nhau thì khơng khác biệt nhau về mặt thống kê (p<0,05; theo kiểm định
Duncan) và ngược lại.
Những giá trị giữa các thời điểm trong cùng một nghiệm thức có ký tự (a,b)
giống nhau thì khơng khác biệt nhau về mặt thống kê (p<0,05; theo kiểm định
Duncan) và ngược lại.
3.3. Sự sinh tăng trưởng rễ của cỏ mồm mỡ
Kết quả trình bày ở Hình 2 cho thấy, sau 5 tuần thí nghiệm chiều dài trung bình
của rễ cỏ mồm ở nghiệm thức ĐC và ở độ mặn 5‰ đều cao hơn so với thời điểm bắt
đầu thí nghiệm (p<0,05). Trong đó,cỏ mồm ở các nghiệm thức ĐC1 và ĐC2 cóchiều dài

rễ tăng khoảng 20 cm cao hơn gần gấp đôi so với thời điểm lúc bắt đầu bố trí, nghiệm
thức 5‰ thì chiều dài rễ tăng ít hơn (khoảng 5 cm, p<0,05). Khi bắt đầu thí nghiệm
chiều dài rễ của cỏ ở các nghiệm thức này khơng khác biệt (p>0,05) nhưng sau tuần 5
thì chiều dài rễ ở nghiệm thức ĐC cao hơn so với nghiệm thức có độ mặn 5‰ là khoảng
15 cm (p<0,05).Đối với nghiệm thức bùn thì chiều dài rễ tăng 5cm so với lúc bắt đầu thí
nghiệm nhưng vẫn thấp hơn so với nghiệm thức đối chứng bùn (35cm) (Hình 2). Ở độ


296
mặn 5‰ đã ảnh hưởng đến chiều dài rễ nhưng khơng có sự khác biệt ở điều kiện có và
khơng có bùn. Kết quả này tương tự như nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn đến
chiều dài rễ của giống lúa OM4900 là 4‰ [5] và ở đậu nành Nhật là 4‰ [2], [9].
Hình 2. Sự tăng trưởng rễ của cỏ mồm mỡ

Ghi chú:
Những giá trị giữa các nghiệm thức trong cùng một thời điểm tuần có ký tự (A, B)
giống nhau thì khơng khác biệt nhau về mặt thống kê (p<0,05; theo kiểm định
Duncan) và ngược lại.
Những giá trị giữa các thời điểm tuần trong cùng một nghiệm thức có ký tự (a-b)
giống nhau thì khơng khác biệt nhau về mặt thống kê (p<0,05; qua phép thử T-Test)
và ngược lại.
3.4. Sự sinh tăng trưởng chồi của cỏ mồm mỡ
Số chồi trung bình của cỏ mồm mỡ ở nghiệm thức 5‰ có bùn và ĐClà 7 chồi ở
tuần 5cao hơn so với khi bố trí thí nghiệm (p<0,05), nhưng số chồi trung bình của cỏ ở
nghiệm thức 5 và 10‰ đều khơng có sự khác biệt khi bắt đầu thí nghiệm(p>0,05).
Trong cùng một thời điểm khảo sát, giữa các nghiệm thức 5‰ khơng bùn có số chồi
thấp hơn ĐC và 5‰ có bùn ở tuần 1,4,5. Điều này cho thấy, khi được trồng trong điều
kiện có bùn và được bổ sung hàm lượng dinh dưỡng trong nước thải ao ni cá tra thì
cỏ mồm mỡ sẽ phát triển tốt hơn và cùng với đó là sự phát triển về số chồi. Như vậy, ở
độ mặn 5 và 10‰ trong điều kiện thủy canh đã có sự ảnh hưởng đến sự sinh trưởng

của chồi. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn đến chiều cao
chồi, tỷ lệ rễ/chồi ở giai đoạn sinh trưởng sớm của cây lúa gia đoạn mạ [7].


297

Hình 3. Sự gia tăng số chồi cỏ mồm mỡ
Ghi chú:
Những giá trị giữa các nghiệm thức trong cùng một thời điểm tuần có ký tự (A, B)
giống nhau thì không khác biệt nhau về mặt thống kê (p<0,005; theo kiểm định
Duncan) và ngược lại.
Những giá trị giữa các thời điểm tuần trong cùng một nghiệm thức có ký tự (a,b)
giống nhau thì khơng khác biệt nhau về mặt thống kê (p<0,005; theo kiểm định
Duncan) và ngược lại.
3.5. Sự tăng trưởng sinh khối của cỏ mồm mỡ
Sinh khối tươi và sinh khối khơ trung bình của cỏ mồn ở các nghiệm thức khi
bắt đầu thí nghiệm khơng có khác biệt (p>0,05), nhưng sau 5 tuần thí nghiệm thì
nghiệm thức ở độ mặn 5‰ thủy canh thấp các nghiệm thức còn lại (p<0,05). Đối với
nghiệm thức bùn ở độ mặn 5‰ và ĐC do có sự phát triển của chiều cao cây và chiều
dài rễ nên dẫn đến sinh khối tăng cao hơn các nghiệm thức trồng trong điều kiện thủy
canh. Sau 5 tuần nghiệm thức đối chứng bùn và nghiệm thức bùn có sinh khối15.51
gcao hơn các nghiệm thức cịn lại 6.89g nhưng khơng có sự khác biệt về mặt thống kê.
Nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức 1 đầu vào và đầu ra có sự khác biệt. Như vậy
ở độ mặn 5‰ ảnh hưởng đến sự phát triển của cỏ mồm mỡ trong điều kiện thủy canh,
trong cùng điều kiện trồng sinh khối khô của cỏ mồn mỡ ở nghiêm thức có độ mặn
5‰ khơng khác biệt so với ĐC, tuy nhiên ở điều kiện trồng có bùn cỏ mồm mỡ có
sinh khối cao hơn so với điều kiện thủy canh. Nguyên nhân là dotrong bùn ao nuôi cá
tra có một số hàm lượng N, P, Lân lần lượt là 0,33± 0,02%N, 0,79±0,04%P [3] nên đã
giúp cỏ sinh trưởng tốt hơn.



298

Hình 4: Sinh khối khơ và sinh khối tươi khi bắt đầu và kết thúc thí nghiệm
Ghi chú:
Những giá trị giữa các nghiệm thức trong cùng một thời điểm (tuần) có ký tự (A,
B)
giống nhau thì khơng khác biệt nhau về mặt thống kê (p<0,005; theo kiểm định
Duncan) và ngược lại.
Những giá trị giữa các thời điểm tuần trong cùng một nghiệm thức có ký tự (a,b)
giống nhau thì khơng khác biệt nhau về mặt thống kê (p<0,005; theo kiểm định
Duncan) và ngược lại.
4. Kết luận và kiến nghị
4.1. Kết luận
Kết quả thí nghiệm ảnh hưởng độ mặn 0-35‰ đến sinh trưởng của cỏ mồm mỡ
trong 5 tuần cho thấy:
-Độ mặn 15-35‰ ảnh hưởng đến tỉ lệ sống sót của cỏ mồm sau 6 ngày, ở độ
mặn 10‰ là sau tuần 2. Nồng độ muối 0-5‰ hầu như không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống
của cỏ. Ở độ mặn 5‰ hầu như không ảnh hưởng đến chiều cao cây nhưng đã bắt đầu
ảnh hưởng đến số chồi và sinh khối của cỏ.
- Cỏ mồm mỡ trồng ở điều kiện với bùn và thủy canh hầu như không khác biệt
về tỉ lệ sống chiều cao cây chiều dài rễ và số chồinhưng cỏ mồm mỡ sinh trưởng tốt
hơn trong điều kiện trồng trong bùn.
4.2. Đề xuất
Đánh giá khả năng chịu mặn của cỏ mồm mỡ trong điều kiện dinh dưỡng tối ưu
của loài thực vật này để định hướng trong canh tác ở những vùng nhiễm mặn hay xử lý
nước thải ở vùng nuôi trồng thủy sản nước lợ.


299

Tài liệu tham khảo
[1].

Lê Văn Căn (1978). Giáo trình nơng hóa nhà xuất bản Khoa hoc – Kỹ thuật Hà
Nội. Phạm Hoàng Hộ, 2003, Cây cỏ Việt Nam – tập 3, NXB trẻ.

[2].

Lê Hồng Giang và Nguyễn Bảo Toàn. Đánh giá khả năng chống chịu mặn của
một số giống đậu nành.

[3].

Phạm Quốc Nguyên (2014). Xác định số lượng, chất lượng bùn đáy ao nuôi cá
tra (Pangasianodon Hypophthalmus) và sử dụng trong canh tác rau.
35(2014):78-89

[4].

Nguyễn Thị Hồng Nhân và ctv(2010) Nghiên cứu xác định bộ giống cỏ hòa
thảo năng suất, chất lượng cao phù hợp với vùng sinh thái Tây nam bộ.

[5].

Phạm Phước Nhẫn và Phạm Minh Thùy (2011). Ảnh hưởng của mặn và vai trò
của Natri silicate trên lúa ở giai đoạn mạ.

[6].

Bùi Trường Thọ (2010) “Đặc điểm sinh học, khả năng hấp thu dinh dưỡng của

Môn nước (Colocasia esculenta), Lục bình (Eichhoria crassipes), Cỏ mồm
(Hymenachneacutigluma) trong nước thải sinh hoạt”.

[7].

Kondetti, P., N. Jawali, S. K. Apte and M. G.Shitole. 2012. Salt tolerance in
Indian soybean(Glycine max (L.) Merill) varieties atgermination and early
seedling growth. Annals of Biological Research, 3 (3): 1489-1498.

[8].

Suk Jin Koo và cvt., 2005. Cỏ Dại Phổ Biến Ở Việt Nam.

[9].

Valencia, R., P. Chen, T. Ishibashi, and M. Conatser. 2008. A rapid and effective
method for screening salt tolerance in soybean. Crop Sci. 48: 1773-1779.



×