Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

Mở rộng dịch vụ đối với doanh nghiệp FDI tại ngân hàng TMCP ngoại thương việt nam (tt)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (282.71 KB, 10 trang )

TĨM TẮT LUẬN VĂN
Đầu tư trực tiếp nước ngồi (FDI)“đang ngày càng đóng vai trị quan trọng trong
sự phát triển của Việt Nam.”Với vốn đầu tư thực hiện khoảng 12,2 triệu USD/năm và vẫn
tiếp tục tăng mỗi năm, khu vực FDI hiện đang đóng góp ~ 20% GDP, ~ 20% thu NSNN,
tạo 2,2 triệu việc làm, đặc biệt, khu vực này đang đóng góp ~70% giá trị XK của Việt
Nam. Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam với xuất phát điểm là ngân hàng đối
ngoại, đội ngũ nhân viên có trình độ ngoại ngữ tốt, được đánh giá là có lợi thế trong việc
mở rộng dịch vụ đối với nhóm khách hàng FDI. Thực tế, những năm gần đây, giao dịch
của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đối với nhóm khách hàng FDI đã có mức
tăng trưởng đáng kể, đóng góp vào kết quả hoạt động chung của tồn ngân hàng. Tuy
vậy, bên cạnh những thành công đạt được, giao dịch của VCB đối với nhóm khách hàng
này vẫn còn nhiều điểm hạn chế như số lượng khách hàng FDI còn thấp hơn so với kế
hoạch (chỉ đạt 51% kế hoạch), mức độ tăng trưởng số dư tiền gửi thấp hơn ngân hàng
khác (thấp hơn Vietinbank ~2%); mức độ tăng trưởng dư nợ cho vay có xu hướng giảm
(năm 2016 chỉ đạt 19%, so với mức 54% của 2015) và hiện thấp hơn mức độ tăng trưởng
chung của cả khối KHBB (22,8%); mức độ tăng trưởng doanh số thanh tốn có xu hướng
giảm (năm 2016 chỉ đạt 13,7% so với mức 46% của năm 2015).... Với những lý do trên,
đề tài nghiên cứu: “Mở rộng dịch vụ đối với doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP
Ngoại thƣơng Việt Nam” được tác giả lựa chọn làm luận văn tốt nghiệp.
Luận văn được thực hiện nhằm“hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan”đến mở rộng
dịch vụ ngân hàng đối với doanh nghiệp; phân tích, đánh giá thực trạng giao dịch của
các“khách hàng doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam giai đoạn
2014-2016 và từ đó đề xuất các giải pháp nhằm mở rộng dịch vụ đối với doanh nghiệp FDI tại
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.”Do đặc thù quy định về định danh khách hàng
FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (chỉ các khách hàng FDI bán buôn là
thuộc danh mục khách hàng do Ban khách hàng FDI của Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam quản lý và có các số liệu được tổng hợp báo cáo), trong phạm vi luận
văn này, các thơng tin phân tích, đánh giá liên quan đến khách hàng doanh nghiệp FDI tại


Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam là các khách hàng FDI bán buôn, thuộc danh


mục khách hàng do Ban khách hàng FDI của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
quản lý.
Về“phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ
các tài liệu, báo cáo nội bộ của Ban khách hàng FDI và của Trụ sở chính Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt”Nam, website của một số ngân hàng và cơ quan nhà nước…
Dữ liệu sau khi thu thập được phân loại, sắp xếp, phân tích, so sánh, tổng hợp, sử dụng sơ
đồ, biểu bảng để phân tích và xử lý.
Về nội dung luận văn, ngoài Mục lục, Lời mở đầu, Danh mục tài liệu tham
khảo…, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP
Trong Chương 1,“luận văn trình bày cơ sở lý luận về mở rộng dịch vụ ngân hàng
đối với doanh nghiệp bao gồm các nội dung khái quát về doanh nghiệp (trong đó có
doanh nghiệp FDI) và ngân hàng thương”mại, khái niệm mở rộng dịch vụ ngân hàng“đối
với doanh nghiệp và các chi tiêu đánh giá cũng như các nhân tố ảnh hưởng tới việc mở
rộng dịch vụ ngân hàng”đối với doanh nghiệp.
Trọng tâm của chương 1 là lý luận về về mở rộng dịch vụ ngân hàng đối với
doanh nghiệp. Luận văn trình bày quan điểm “mở rộng dịch vụ ngân hàng đối với doanh
nghiệp” tức là làm cho các dịch vụ ngân hàng (tiền gửi, tín dụng, thanh toán…) cung cấp cho
khách hàng doanh nghiệp tăng lên về số lượng, giá trị so với trước. Để đánh giá kết quả của
việc mở rộng dịch vụ ngân hàng đối với doanh nghiệp, luận văn đưa ra một số chỉ tiêu về
tăng trưởng số lượng khách hàng doanh nghiệp giao dịch với ngân hàng và chỉ tiêu về
tăng trưởng giá trị giao dịch với các khách hàng doanh nghiệp. Về giá trị giao dịch, tác
giả tập trung vào ba loại giao dịch chính của khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng bao
gồm dịch vụ tiền gửi, dịch vụ cho vay và dịch vụ thanh toán với giá trị giao dịch tương
ứng bao gồm số dư tiền gửi, dư nợ cho vay và doanh số thanh toán. Các chỉ tiêu được
đánh giá cả về mức độ tăng trưởng tuyệt đối và mức độ tăng trưởng tương đối.


Về các nhân tố ảnh hưởng tới việc mở rộng dịch vụ ngân hàng đối với doanh

nghiệp, tác giả tập trung nghiên cứu các nhân tố chủ quan mà ngân hàng có thể áp dụng
các giải pháp để tác động, điều chỉnh và khắc phục được, bao gồm: phương pháp quản
lý;“số lượng và chất lượng nguồn nhân lực; đặc điểm và sự đa dạng của sản phẩm;”sự
phát triển mạng lưới và trình độ cơng nghệ. Ngồi ra, tác giả cũng nghiên cứu các nhân tố
khách quan như sự ổn định về chính trị và“các quy định pháp lý về hoạt động của ngân
hàng.”
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG MỞ RỘNG DỊCH VỤ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
FDI TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM
Ngồi phần tóm lược“tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và giới
thiệu khái quát về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt”Nam, trọng tâm của Chương 2
là phân tích thực trạng mở rộng dịch vụ đối với doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam và đánh giá những mặt thành công, những điểm hạn chế cũng
như phân tích, tìm ra ngun nhân của những hạn chế này.
Thứ nhất, về thực trạng mở rộng dịch vụ đối với doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam. Sau phần trình bày về tiêu chí định danh khách hàng
doanh nghiệp FDI của VCB và các sản phẩm dịch vụ VCB thiết kế riêng cho khách hàng
doanh nghiệp FDI, tác giả tập trung nghiên cứu sự thay đổi số lượng khách hàng FDI bán
buôn tại VCB và sự thay đổi giá trị giao dịch của các khách hàng FDI bán buôn tại VCB
chủ yếu trong giai đoạn 2014-2016.
- Sự thay đổi số lượng khách hàng FDI bán buôn tại VCB: Tổng số lượng khách
hàng FDI của VCB chiếm khoảng 40%-50% số lượng doanh nghiệp FDI của cả nước. Về
số tuyệt đối, số lượng khách hàng FDI bán buôn của VCB tăng lên qua từng năm, phù
hợp với mức tăng hàng năm của cả nước. Về mức độ tăng trưởng tương đối, số lượng
khách hàng FDI bán buôn của VCB năm 2015 so với 2014 ở mức 7,8%. Tuy nhiên, năm
2016 so với 2015, số lượng khách hàng FDI bán buôn của VCB tăng mạnh ở mức 27%.
Tuy có mức tăng trưởng cao so với năm 2015, số lượng khách hàng FDI bán buôn mới
của VCB năm 2016 chỉ đạt ~51% kế hoạch theo chỉ tiêu của hội đồng quản trị VCB giao.
So với Vietinbank, số lượng khách hàng FDI của Vietinbank tại thời điểm cuối năm 2016
khoảng 2920 khách hàng, lớn hơn gần 1000 khách hàng so với VCB.



- Sự thay đổi giá trị giao dịch của các khách hàng FDI bán buôn tại VCB:
Về dịch vụ tiền gửi, huy động vốn từ khách hàng FDI bán buôn có mức tăng
trưởng trong 3 năm qua cả về giá trị tuyệt đối và mức độ tăng trưởng. So với các ngân
hàng nước ngoài, hoạt động huy động vốn từ khách hàng FDI của VCB vẫn gặp khá
nhiều khó khăn do các ngân hàng nước ngồi thường có xếp hạng tín nhiệm từ mức A trở
lên, trong khi VCB vướng trần quốc gia nên thường chỉ được xếp hạng ở mức B+ hoặc
BB-. So với các ngân hàng nội địa khác, VCB vẫn có lợi thế khá lớn trong thu hút tiền
gửi từ các doanh nghiệp FDI do có mức xếp hạng tín nhiệm tốt nhất so với các ngân hàng
khác. Theo số liệu từ CIC, thị phần tiền gửi của khách hàng FDI tại VCB năm 2016
chiếm 50%, trong khi Vietinbank và BIDV chiếm lần lượt là 32% và 18%. Tuy nhiên,
theo số liệu trên website của Vietinbank, tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn từ khách hàng
FDI của Vietinbank đạt 33%. Với mức độ tăng trưởng của Vietinbank cao như hiện nay,
nếu VCB khơng có tích cực tăng cường các giải pháp thu hút tiền gửi từ khách hàng FDI
thì Vietinbank có khả năng sẽ đuổi kịp VCB trong một vài năm tới.
Về dịch vụ cho vay, giá trị tuyệt đối dư nợ vay của khách hàng FDI tại VCB tăng qua
các năm. Mức độ tăng trưởng dư nợ năm 2016 chỉ đạt 19%, thấp hơn mức độ tăng trưởng của
2015 và thấp hơn mức độ tăng trưởng dư nợ vay chung của tồn khối bán bn (22,8%). Tỷ
trọng dư nợ tín dụng khách hàng FDI chỉ ở mức khoảng 10% tổng dư nợ của khối bán buôn
(thấp hơn so với chỉ tiêu kế hoạch 2016 là 15%). Đối“với tiền vay, các doanh nghiệp FDI
thường vay tại các ngân hàng nước ngoài do các ngân hàng nước ngoài” có lợi thế tuyệt đối so
với VCB và các ngân hàng bản địa về lãi suất cho vay và các điều kiện về tín dụng. Do đánh giá
ngân hàng nước ngồi có lợi thế cạnh tranh vượt trội so với ngân hàng trong nước trong nước về
cho vay khách hàng FDI, VCB hiện chỉ phân tích và đánh giá thị phần dư nợ cho vay khách
hàng FDI của VCB so với 2 ngân hàng trong nước lớn, cùng quy mô là Vietinbank và BIDV.
Theo số liệu từ CIC năm 2015, thị phần dư nợ cho vay khách hàng FDI của Vietinbank cao nhất,
chiếm 42%, VCB đứng thứ 2, chiếm 36%, thị phần của BIDV duy trì mức gần 20%.
Về dịch vụ thanh tốn, doanh số thanh tốn XNK của nhóm khách hàng FDI bán
buôn tại VCB tăng trưởng về giá trị tuyệt đối qua các năm. Tuy nhiên, mức độ tăng
trưởng của doanh số thanh tốn có xu hướng giảm (năm 2016 chỉ đạt 13,7% so với mức

46% của năm 2015). Khách hàng FDI chỉ chiếm 37% trong danh mục thanh tốn XNK
của khối bán bn, tương đương với 26% danh mục thanh tốn XNK của tồn hàng.


Trong khi đó, doanh nghiệp FDI chiếm tới 70% thanh toán XK cả nước. Điều này cho
thấy, phát triển dịch vụ thanh toán XNK cho đối tượng khách hàng FDI của VCB chưa
tương xứng với tiềm năng. Về các dịch vụ thanh tốn trong nước, hiện nay VCB chưa
bóc tách số liệu về thanh toán trong nước đối với khách hàng FDI để đánh giá mức độ mở
rộng dịch vụ. Tuy nhiên, thực tế giao dịch tại các chi nhánh cho thấy các ngân hàng nội
địa khác đang cạnh tranh rất mạnh để thu hút dịch vụ thanh toán trong nước của các
khách hàng FDI.
Về các dịch vụ khác, VCB hiện chưa phân tách và đánh giá mức độ và tiềm năng
của giao dịch mua bán ngoại tệ đối với nhóm khách hàng FDI để có chính sách mở rộng
dịch vụ mua bán ngoại tệ với nhóm khách hàng này. Ngoài ra, VCB đang nỗ lực để phát
triển các sản phẩm ngân hàng điện tử đáp ứng yêu cầu của các khách hàng FDI, tuy nhiên
do hệ thống công nghệ lạc hậu nên VCB đang gặp rất nhiều khó khăn.
Thứ hai,“đánh giá những mặt thành công và hạn chế trong việc mở rộng dịch vụ
đối với doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt”Nam. Trong giai
đoạn 2014-2016, số lượng khách hàng FDI của VCB có sự gia tăng cả về giá trị tuyệt đối
và giá trị tương đối. Về giá trị giao dịch, doanh số thanh toán XNK và dư nợ cho vay gia
tăng về giá trị tuyệt đối, dịch vụ huy động vốn tăng trưởng cả về“giá trị tuyệt đối và giá
trị tương đối.”Bên cạnh những thành cơng đó, cịn có những điểm hạn chế trong q trình
mở rộng dịch vụ với doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam:
(1) số lượng khách hàng FDI bán buôn mới đạt 51% kế hoạch và hiện chỉ gần bằng 70%
số lượng khách hàng FDI của Vietinbank; (2) mức độ tăng trưởng huy động vốn từ khách
hàng FDI của VCB hiện là 31% thấp hơn so với Vietinbank (33%); (3)“mức độ tăng
trưởng dư nợ vay của khách hàng FDI (19%) thấp hơn mức độ tăng trưởng dư nợ vay
chung của tồn khối bán bn”(22,8%), chưa đạt kế hoạch về tỷ trọng trong khối (chỉ
chiếm tỷ trọng 10% tổng dư nợ khối khách hàng bán buôn của VCB so với chỉ tiêu tỷ
trọng 15%), VCB đang thấp hơn Vietinbank cả về giá trị dư nợ vay và mức độ tăng

trưởng và rất khó cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài; (4) mức độ tăng trưởng
doanh số thanh tốn XNK của nhóm khách hàng FDI bán bn tại VCB có xu hướng
giảm, doanh số thanh tốn XNK của doanh nghiệp FDI qua VCB còn chiếm tỷ lệ thấp,
chưa tương xứng với tiềm năng.


Thứ ba, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế nêu trên bao gồm những nguyên
nhân chủ quan và những nguyên nhân khách quan. Về chủ quan, có những nguyên nhân
sau:
- Phương pháp quản lý còn một số điểm chưa phù hợp: (1) Tiêu chí định danh
khách hàng FDI thuộc quản lý của Ban khách hàng FDI hiện phức tạp hơn nhiều so với
tiêu chí định danh khách hàng FDI của một số cơ quan quản lý nhà nước cũng như của
các ngân hàng khác; (2) việc phân tích và đánh giá thị phần giao dịch về tiền gửi, tín
dụng, thanh tốn… đối với nhóm khách hàng FDI chỉ trên cơ sở so sánh với 2 ngân hàng
là Vietinbank và BIDV là chưa toàn diện; (3) các chi nhánh VCB thiếu tính chủ động
trong tiếp cận khách hàng FDI, đặc biệt là với các khách hàng FDI mới; (4) Thời hạn
phản hồi khách hàng của VCB quá lâu so với các ngân hàng khác.
- Nguồn nhân lực phụ trách khách hàng FDI còn thiếu cả về lượng và chất: (1) số
lượng cán bộ chuyên trách khách hàng FDI tại Trụ Sở chính ở khu vực phía Bắc và khu
vực phía Nam hiện quá mỏng; (2) trình độ nghiệp vụ của cán bộ phụ trách khách hàng
FDI chưa đáp ứng được yêu cầu công việc; (3) thiếu nhân sự thông thạo ngôn ngữ của
các khách hàng FDI chủ chốt, trình độ ngoại ngữ của các cán bộ phụ trách FDI chưa tốt.
- Đặc điểm và sự đa dạng của sản phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu giao dịch của
khách hàng FDI: (1) VCB chưa có một phịng ban chun trách về phát triển sản phẩm
cho nhóm khách hàng bán bn, đặc biệt đối với nhóm khách hàng FDI; (2) VCB chưa
có hệ thống bản chào và Hợp đồng bằng tiếng Anh để xúc tiến giao dịch với khách hàng
FDI; (3) hầu hết các sản phẩm dành riêng cho khách hàng FDI chưa đa dạng và chưa hiệu
quả; (4) VCB chưa phân tích và đặt mục tiêu về mua bán ngoại tệ với nhóm khách hàng
FDI mặc dù đây là sản phẩm rất tiềm năng đối với nhóm khách hàng này.
- Phát triển mạng lưới chưa phù hợp để mở rộng dịch vụ với KH FDI: Các khu

công nghiệp là nơi tập trung nhiều nhà máy khách hàng FDI lớn. Tuy vậy, hiện nhiều
khu cơng nghiệp khơng có phịng giao dịch của VCB, dẫn tới VCB mất lợi thế rõ rệt so
với các ngân hàng khác trong việc mở rộng dịch vụ đối với khách hàng FDI.
- Công nghệ lạc hậu chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển sản phẩm: Hiện nay, hệ
thống công nghệ thông tin của VCB đã trở nên lạc hậu ngay cả khi so sánh với các ngân


hàng nội địa khác. Điều này dẫn tới hệ thống cơng nghệ thơng tin rất khó khăn trong việc
phát triển các sản phẩm mới cho khách hàng FDI.
Ngoài những nguyên nhân chủ quan nêu trên, cịn có những ngun nhân khách
quan như mơi trường chính trị đơi khi có những biến động bất lợi cho việc mở rộng dịch
vụ với KH FDI, một số chính sách điều hành của NHNN chưa hợp lý (như chính sách áp
trần lãi suất huy động VND và USD, chính sách yêu cầu các ngân hàng thương mại trong đó
có VCB áp dụng Basel II dẫn tới ảnh hưởng tỷ lệ CAR mà chưa có chính sách hỗ trợ các ngân
hàng tăng vốn điều lệ, chính sách xử lý các ngân hàng yếu kém trong đó VCB phải hỗ trợ
Ngân hàng Xây dựng (VNCB)…)
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG DỊCH VỤ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP FDI
TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM
Trong Chương 3,“trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân của những hạn
chế trong việc mở rộng dịch vụ đối với khách hàng FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam”giai đoạn 2014-2016, đồng thời căn cứ định hướng phát triển khối bán
buôn của“Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (trong đó có khách hàng FDI), tác
giả đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng dịch vụ đối với khách hàng FDI”tại Ngân
hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam như sau:
Thứ nhất là điều chỉnh một số điểm trong phương pháp quản lý giao dịch với KH
FDI cho phù hợp, bao gồm:
- Xem xét lại tiêu chí định danh khách hàng FDI để thống nhất một cách tương đối
với tiêu chí định danh của các cơ quan quản lý và các ngân hàng khác: Tác giả đề xuất
VCB xem xét điều chỉnh tiêu chí định danh khách hàng FDI theo quy định của ngân
hàng BIDV “khách hàng FDI là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi từ 20% trở lên”

do phạm vi khách hàng FDI sẽ bao quát các tiêu chí chủ yếu của VCB, đồng thời lọc ra
những khách hàng có tỷ lệ vốn góp nhỏ, khơng có ảnh hưởng đáng kể tới điều hành
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tiêu chí đơn giản hơn cũng giúp các chi nhánh
thuận lợi hơn khi định danh khách hàng FDI và khai báo trên hệ thống, thuận lợi cho
công tác quản lý danh mục các khách hàng FDI.


- Phân tích và đánh giá“thị phần giao dịch với nhóm khách hàng FDI trên cơ sở so
sánh với các ngân hàng khác, bao gồm cả ngân hàng nước ngoài và ngân hàng nội địa.
Ngoài các ngân hàng nội địa, VCB cần thực hiện việc tổng hợp thông tin qua Trung tâm
thơng tin tín dụng Quốc gia (CIC) về số dư tiền gửi, dư nợ tín dụng của các khách hàng
FDI tại các ngân hàng nước ngồi để có cái nhìn tổng thể về thị phần hiện nay của VCB
trong giao dịch với khách hàng FDI, xác định và phân tích chính sách giao dịch của các
đối thủ cạnh”tranh chính.
- Tăng cường chính sách giám sát và khuyến khích việc phát triển khách hàng FDI
mới. Trụ Sở chính cần định kỳ bán niên rà soát, đánh giá kết quả phát triển khách hàng
mới cả về số lượng khách hàng FDI mới thiết lập được giao dịch và mức độ giao dịch của
các khách hàng mới tại VCB. Trụ Sở chính VCB cần tăng cường truyền thông đến các
chi nhánh để tăng cường sự chủ động của các chi nhánh trong việc xúc tiến giao dịch với
khách hàng FDI, có chính sách khuyến khích chi nhánh tiếp cận khách hàng mới là khách
hàng lớn của ngân hàng khác.
- Điều chỉnh quy trình tác nghiệp để rút ngắn thời hạn phản hồi khách hàng FDI.
Bổ sung thời hạn xử lý từng bước trong những quy trình tác nghiệp riêng của từng loại
giao dịch như tiền gửi, tín dụng, thanh tốn…. Trên cơ sở đó, cán bộ phụ trách khách
hàng FDI có thể dễ dàng cung cấp cho khách hàng thời hạn phản hồi đối với từng loại
giao dịch và xúc tiến thực hiện quy trình theo thời hạn quy định.
Thứ hai là tăng cường số lượng và chất lượng nhân sự phục vụ giao dịch với
khách hàng FDI: (1) Tăng số lượng cán bộ thuộc hai bộ phận phụ trách khách hàng FDI
miền Bắc và miền Nam lên tối thiểu 50%. Bổ sung cán bộ có trình độ tiếng Nhật, tiếng
Hàn Quốc và tiếng Trung Quốc; (2) Tăng cường đào tạo nâng cao chất lượng dịch vụ của

các cán bộ VCB phụ trách khách hàng FDI.
Thứ ba là tăng cường phát triển sản phẩm phù hợp với đặc thù của khách hàng
FDI, bao gồm:
- Thành lập“bộ phận chuyên trách về phát triển sản phẩm cho khối KH bán buôn:
VCB cần phải sớm thành lập một bộ phận chuyên trách về phát triển sản phẩm cho khối
khách hàng bán buôn nhằm phát triển các sản phẩm cho các khách hàng bán buôn, trong đó


có những sản phẩm”phù hợp với đặc thù của khách hàng FDI.
- Ban hành hệ thống bản chào và hợp đồng giao dịch bằng tiếng Anh: VCB cần
gấp rút hoàn thiện hệ thống mẫu chuẩn các bản chào và Hợp đồng bằng tiếng Anh để áp
dụng trên toàn hệ thống.
- Đa dạng“hóa sản phẩm dành riêng cho khách hàng FDI: VCB cần đánh giá lại
mức độ thành công của các sản phẩm dành riêng cho khách hàng FDI hiện hành để có
chính sách điều chỉnh phù hợp với nhu cầu của các khách hàng FDI cũng như phù hợp
với khả năng triển khai sản phẩm tại VCB, chú trọng xúc tiến dịch vụ mua bán ngoại tệ,
phát triển những sản phẩm transaction banking, nghiên cứu và phát triển sản phẩm cho khách
hàng FDI theo gói.”
Thứ tƣ là rà sốt và bố trí lại mạng lưới phù hợp để mở rộng dịch vụ với KH FDI:
VCB cần rà soát để thành lập phịng giao dịch tại các khu cơng nghiệp lớn tập trung số
lượng lớn các khách hàng FDI và xây dựng chính sách mở rộng dịch vụ với khách hàng
FDI phù hợp với từng loại khu công nghiệp.
Thứ năm là khẩn trương chuyển đổi, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin: Với
nhu cầu cấp bách như hiện nay, VCB cần gấp rút đầu tư nâng cấp hệ thống công nghệ
thông tin để theo kịp nhu cầu phát triển các sản phẩm/dịch vụ ngân hàng của thị trường,
giúp VCB tăng sức cạnh tranh trong việc mở rộng dịch vụ với khách hàng FDI.
Bên cạnh những giải pháp nêu trên, nhằm mở rộng dịch vụ với khách hàng FDI tại
Ngân hàng TMCP Ngoại thương, tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị:
- Đối với“Chính phủ, Chính phủ cần giữ vững mơi trường chính trị ổn định, tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp FDI.”

- Đối với NHNN, NHNN cần hoàn thiện khung pháp lý hỗ trợ các ngân hàng
TMCP tăng vốn điều lệ, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin quốc gia và xem xét điều
chỉnh một số chính sách điều hành như chính sách áp trần lãi suất huy động, chính sách
xử lý các ngân hàng yếu kém.
Qua ba chương của luận văn cho thấy“doanh nghiệp FDI đang ngày càng có vai trò
quan trọng với nền kinh tế Việt Nam. Trong bối cảnh đó, đối với ngành ngân hàng nói chung
và với Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam nói riêng, việc mở rộng dịch vụ với nhóm


khách hàng này là rất cần thiết. Hiện ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đã đạt được
những thành tựu nhất định, điển hình là danh mục khách hàng FDI tại Ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam đang dần được mở rộng, các dịch vụ tiền gửi, tín dụng, thanh tốn đều
đã có bước tăng trưởng hơn so với trước đây.”Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được, sự
mở rộng dịch vụ với khách hàng FDI hiện vẫn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và chưa có tính
bền vững. Các hạn chế chủ yếu xuất phát từ những thiếu sót của chính ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam trong Phương pháp quản lý; Nguồn nhân lực phụ trách KH FDI; Đặc
điểm và“sự đa dạng của sản phẩm; Phát triển mạng lưới; và Trình độ cơng nghệ. Trên cơ sở
những nguyên nhân đã được xác định, luận văn đã đề xuất một số giải pháp để mở rộng dịch
vụ ngân hàng đối với doanh nghiệp FDI tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, bao
gồm: (i) Điều chỉnh một số điểm trong phương pháp quản lý giao dịch với khách hàng FDI
cho phù hợp; (ii) Tăng cường số lượng và chất lượng nhân sự phục vụ giao dịch với khách
hàng FDI; (iii) Tăng cường phát triển sản phẩm phù hợp với đặc thù”của khách hàng FDI; (iv)
Rà soát và bố trí lại mạng lưới phù hợp để mở rộng dịch vụ với khách hàng FDI; và (v) Khẩn
trương chuyển đổi nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin.



×