Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

SỰ GIÀ HÓA-TRẺ HÓA DÂN SỐ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA QUỐC GIA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (91.44 KB, 15 trang )

ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ GIÀ HÓA DÂN SỐ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
MỘT QUÓC GIA. LIÊN HỆ VN.
Khái niệm về dân số

1.

Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa lý hoặc một
không gian nhất định, là nguồn lao động quý báu cho sự phát triển kinh tế – xã hội,
thường được đo bằng cuộc điều tra và biểu hiện bằng tháp dân số.
Dân số thế giới vào cuối năm 2018 đã đạt khoảng 7.7 tỷ người (ngày 1 tháng 11
năm 2018). Bình quân cứ mỗi giây đồng hồ trên toàn thế giới sẽ có 4,3 đứa trẻ ra
đời và 1,8 người qua đời trong Tháng Giêng của năm 2018.
2.

Khái niệm cơ cấu dân số già

Cơ cấu dân số già hay còn gọi là sự già hóa dân số được hiểu là một quá trình diễn
ra khi tỷ lệ người lớn và người cao tuổi tăng lên, còn tỷ lệ trẻ em và vị thành niên
giảm đi, cũng là mức sinh giảm xuống và tuổi thọ bình qn khơng thay đổi hoặc
tăng lên.
2.

Các yếu tố dẫn đến việc già hóa dân số ở một quốc gia

Do chất lượng cuộc sống được cải thiện: dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, an sinh
xã hội, được nâng cao nên làm tăng tuổi thọ trung bình, tỉ suất chết giảm.
Do tỷ lệ sinh giảm xuống trong khi tuổi thọ kéo dài ra …
Do lối sống thay đổi: Lối sống công nghiệp, chú trọng phát triển sự nghiệp hay
việc lối sống và văn hóa các nước tiên tiến du nhập khiến giới trẻ ngại kết hôn và
sinh con khiến tỉ suất sinh giảm.
Do chất lượng cuộc sống được cải thiện: dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, an sinh


xã hội, được nâng cao nên làm tăng tuổi thọ trung bình, tỉ suất chết giảm.


Do di cư lao động: Những người trong độ tuổi lao động di cư sang nước khác để
tìm kiếm việc làm mới có nhiều thu nhập khiến lực lượng lao động trong nước
giảm, tỉ lệ người cao tuổi tăng.
3.

Ảnh hưởng của sự già hóa dân số đến sự phát triển của một quốc gia
Đối với kinh tế :

1.
a.

Mặt tích cực:

Nhìn chung, già hóa khơng thực sự là gánh nặng, thậm chí có thể xem già hóa là
một tiến trình tất yếu, là một thành tựu của sự phát triển tiến bộ của kinh tế - xã
hội. Điều quan trọng là những thành tựu đó phải được phát huy.
Thu nhập bình quân đầu người tăng lên…Giảm bớt gánh nặng cho lực lượng lao
động trẻ.
Tỉ lệ lao động trẻ giảm bớt nên sức ép việc làm lên thị trường việc làm được giảm
bớt, số người thất nghiệp ít đi, góp phần giảm thiểu tệ nạn xã hội, giảm bớt gánh
nặng an ninh trật tự.
b.

Mặt tiêu cực:

Năng suất lao động của nhóm tuổi cao sẽ kém hơn so với các nhóm tuổi trẻ khác
trong lực lượng lao động, dẫn đến thu nhập của nền kinh tế nói chung và của từng

gia đình nói riêng bị ảnh hưởng. Điều này dẫn đến hệ lụy là những người trẻ tuổi
phải làm việc nhiều hơn để bù đắp thiếu hụt thu nhập của gia đình.
Chi phí chăm sóc y tế và các phúc lợi khác cho người cao tuổi tăng lên, ảnh hưởng
đến đầu tư cho phát triển. Về mặt xã hội, trong một xã hội dân số già, các vấn đề xã
hội sẽ phát sinh như quan hệ giữa các thế hệ, sự chăm sóc cho người già của từng
gia đình và xã hội… sẽ là những vấn đề các quốc gia phải quan tâm.


Vấn đề thiếu lực lượng lao động(LLLĐ):

Dân số đang lão hóa,thu hẹp và nhu

cầu cũng giảm xuống.Điều này làm giảm sự khao khát đẩu tư của các doanh
nghiệp ,nhà máy vì vậy tình trạng thất nghiệp của giới trẻ có nguy cơ tăng cao.
2.
a.

Đối với đời sống xã hội:
Mặt tích cực:

Sự gia tăng dân số già của một nước kéo theo buộc hệ thống phúc lợi xã hội ở nước
đó phải phát triển để theo kịp và đáp ứng nhu cầu do dân số già sinh ra.
Hệ thống an sinh xã hội cũng được phát triển hơn …
Trẻ em ít tỉ lể dân số phụ thuộc khơng cao,có điều kiện tốt cho giáo dục chăm sóc
trẻ em.
Chất lượng cuộc sống được đảm bảo.
Do chất lượng cuộc sống được cải thiện: dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, an sinh
xã hội, được nâng cao nên làm tăng tuổi thọ trung bình, tỉ suất chết giảm.
b.


Mặt tiêu cực:

Thách thức lớn nhất là thay đổi cơ cấu lao động, tỷ lệ người ở độ tuổi cao (từ 45-60
tuổi) sẽ tăng lên và tỷ lệ gia nhập thị trường lao động sẽ có xu hướng giảm đi và
như vậy, để đáp ứng nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế, các nước phải sử dụng lao
động già hơn (đồng nghĩa với việc tăng tuổi nghỉ hưu để có thêm nhân lực cho nền
kinh tế).
Số lượng lao đông đang giảm đang là gánh nặng lên hỗ trợ an sinh xã hội.
Tạo ra “gánh nặng” cho quỹ hưu trí quốc gia khi phải chi trả lương hưu nhiều hơn
và dài thời gian hơn, trong khi đó số người đóng góp có xu hướng giảm đi tương
đối so với số người thụ hưởng


2.

Liên hệ thực tiễn đến Việt Nam
Đối với kinh tế

1.
c.

Tích cực:

Hiện nay có một bộ phận NCT khỏe mạnh là nguồn nhân lực quý giá mà ta chưa
biết cách tận dụng tri thức và kinh nghiệm của họ. Nếu được hỗ trợ một cách phù
hợp thì NCT có thể tiếp tục đóng góp to lớn cho gia đình, cộng đồng và quốc gia.
Nhiều NCT cịn khỏe mạnh, có khả năng và có nhu cầu lao động khơng chỉ vì để
có thêm thu nhập mà cịn để cuộc sống tích cực hơn, người cao tuổi còn là lao
động cho xã hội, với khoảng 46% người cao tuổi Việt Nam vẫn đang làm các công
việc được trả lương.

Do số NCT ngày càng nhiều, cho nên nhu cầu của họ ngày càng lớn và phong phú,
đa dạng, từ ăn, mặc, ở, đi lại đến chăm sóc sức khỏe, vui chơi, giải trí, thể thao,
thông tin, giao tiếp, du lịch, đời sống tâm linh... Ðáp ứng những nhu cầu này, các
sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phải phù hợp đặc điểm của NCT. Ðiều này sẽ góp
phần nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo ra môi trường xã hội thân thiện với NCT,
đồng thời làm cho kinh tế phát triển nhờ tiêu thụ được hàng hóa và cung cấp được
dịch vụ
Hiện nay, chúng ta có khoảng 7-8 triệu người cao tuổi khi tham gia thị trường lao
động đã góp phần tạo ra kích cầu tốt hơn. Đặc biệt, khi chúng ta bước vào giai
đoạn già hóa dân số thì việc sử dụng người lao động là người cao tuổi rất cần thiết”
Như vậy, mỗi năm sẽ có khoảng 48.000 người trên tổng số 120.000 lao động nghỉ
hưu sẽ tiếp tục làm việc.
d.

Tiêu cực:


Sản xuất giảm: dân số già hoá làm giảm khả năng lao động sản xuất, nhất là các
ngành nghề đòi hỏi thể lực và trí lực
Tiết kiệm giảm do người già có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn là tiết kiệm
Tiêu dùng giảm đối với một số hàng hoá như giải trí, thời trang
Tăng chi tiêu y tế (chi phí điều trị mỗi năm dành cho NCT thường cao gấp tám đến
mười lần người trẻ).
Thiếu hụt lao động đòi hỏi cần phải nhập khẩu lao động
Gánh nặng phụ thuộc của người lao động tăng lên và nếu năng suất lao động khơng
tăng nhanh hơn, Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong tích lũy và đầu tư, khó bảo đảm
tăng trưởng kinh tế bền vững và tránh được "bẫy thu nhập trung bình"
NCT vẫn cịn bị phân biệt đối xử, hạn chế trong tiếp cận thơng tin, dịch vụ tài
chính, cơ hội tập huấn, đào tạo nghề, việc làm. Phần lớn NCT vẫn đang làm việc
nhưng chủ yếu là những công việc khơng được trả cơng. Ngồi ra, vẫn cịn tình

trạng NCT bị lạm dụng, bỏ rơi và bị bạo lực.
2.

Đối với xã hội
e.

Tích cực

Cùng với sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội, tuổi thọ của người Việt Nam ngày
càng được nâng cao và sức khỏe của NCT được cải thiện rõ rệt.
NCT là một bộ phận dân cư ngày càng đông đảo. Ðây là một lực lượng lao động,
một kho tàng kinh nghiệm đồng thời cũng có nhiều vấn đề về đời sống, sức khỏe,
tâm lý, xã hội ảnh hưởng mạnh mẽ tới tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội, chất
lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và tồn xã hội.


Trong số gần 9 triệu hội viên NCT cả nước có hàng ngàn cụ bà đã được Đảng, Nhà
nước phong tặng danh hiệu cao quý “Mẹ Việt Nam anh hùng”; hàng ngàn NCT là
Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Anh hùng lao động; hàng ngàn người
NCT là lão thành cách mạng, người có cơng với nước; nhiều NCT là già làng,
trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, tích cực tham gia trong hệ thống
chính trị ở cơ sở, là chỗ dựa tin cậy của cấp ủy, chính quyền.
f.

Tiêu cực:

Sự khác biệt giữa thế hệ trẻ và thế hệ NCT ở nước ta ngày nay rất lớn. Ðó là các
thế hệ sinh ra và lớn lên trong các khung cảnh kinh tế, xã hội hết sức khác nhau:
chiến tranh và hịa bình; kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp và kinh tế thị
trường; nghèo đói và khá giả; đóng cửa và hội nhập; nơng thơn và đơ thị… Từ đó,

nhận thức, thái độ, hành vi của các thế hệ cũng sẽ khác nhau. Nếu không có kiến
thức, kỹ năng giải quyết tốt những khác biệt sẽ nảy sinh mâu thuẫn thế hệ, NCT dễ
rơi vào tình trạng trắc trở về đời sống tinh thần, buồn chán, cơ đơn.
NCT Việt Nam gặp phải đó là có tỷ lệ khỏe mạnh cịn thấp. Điều đáng nói là tuổi
thọ bình quân của người Việt Nam đã tăng cao nhưng số năm sống khỏe mạnh lại
khá thấp, mỗi người dân có tới 12 năm ốm đau. Đặc biệt, trung bình mỗi người cao
tuổi có trên 2,6 bệnh. Bệnh tật ở NCT nước ta hiện nay với xu hướng bệnh tật kép,
xu hướng bệnh tật chuyển từ lây nhiễm sang khơng lây nhiễm và mãn tính, dẫn tới
chi phí chăm sóc cao. NCT mắc các nhóm bệnh khơng lây nhiễm chủ yếu như:
Bệnh tim mạch, ung thư, đái tháo đường, động kinh và trầm cảm ngày càng tăng.
Bên cạnh đó, họ cũng phải đối mặt với nguy cơ tàn phế do cơ chế “hao mịn” của
q trình lão hóa và tác động của các căn bệnh mãn tính.
Tình trạng bệnh tật đã ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm lý, các hoạt động sinh hoạt
hàng ngày và sự hòa nhập cộng đồng của NCT. Đa số NCT nước ta chưa có thói


quen khám bệnh định kỳ vì vậy khi phát hiện bệnh thường ở giai đoạn muộn khiến
việc chữa trị rất khó khăn. Hệ thống y tế – lão khoa chưa đầy đủ, trang thiết bị còn
thiếu thốn, đội ngũ cán bộ y tế chưa đáp ứng nhu cầu để giải quyết các bệnh đặc
trưng của NCT
Mặc dù tỷ lệ người cao tuổi ngày càng tăng nhưng mạng lưới y tế phục vụ người
cao tuổi ở Việt Nam còn rất yếu, trong đó số nhân viên y tế phục vụ tại cộng đồng
còn thiếu và nghiệp vụ kỹ năng phát hiện, điều trị và chăm sóc người cao tuổi cịn
thấp
Theo nhóm tuổi, người càng cao tuổi thì xác suất nghèo càng cao. Nam giới cao
tuổi có tỷ lệ nghèo thấp hơn nữ giới cao tuổi. NCT sống ở khu vực nông thôn dễ
tổn thương với nghèo hơn là NCT sống ở khu vực thành thị. NCT dân tộc Kinh có
tỷ lệ nghèo và mức độ dễ tổn thương với nghèo thấp hơn rất nhiều NCT thuộc
nhóm dân tộc khác. Khi NCT tăng lên về số lượng và tỷ lệ (trong dân số) thì chi
phí cho hệ thống an sinh xã hội cũng tăng lên: Chi phí cho quỹ lương hưu tăng, chi

phí cho bảo hiểm y tế tăng, chi phí cho xây dựng hệ thống lão khoa tăng... Tuy
nhiên, hiện nay, tỷ lệ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội đối với NCT còn rất hạn
chế và sự khác biệt giữa các nhóm NCT, các vùng miền ngày càng lớn.
3.
1.

Đề xuất ý kiến:
Phát huy mặt tích cực:

Nâng cao nhận thức của cá nhân, gia đình và tồn xã hội về trách nhiệm kính
trọng, giúp đỡ, chăm sóc và phát huy vai trị người cao tuổi; thực hiện tốt chính
sách của Nhà nước đối với người cao tuổi; ý thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân
trong việc chủ động chuẩn bị cho tuổi già ngay từ khi cịn trẻ.
Có thể khuyến khích bằng cách nâng mức khấu trừ tỉ lệ hưởng đối với những
người nghỉ hưu sớm hợp lý theo đúng tính tốn cơ học.


Cần khuyến khích phát triển các mơ hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại
cộng đồng và tại gia đình bên cạnh các mơ hình trung tâm dưỡng lão để đáp ứng
cho một bộ phận người cao tuổi có điều kiện về thu nhập. Tích cực tuyên truyền,
phổ biến kiến thức về chăm sóc sức khỏe, hướng dẫn người cao tuổi và người
chăm sóc về các kỹ năng phịng bệnh, chữa bệnh và tự chăm sóc sức khỏe để thực
hiện chiến lược “già tích cực/già khỏe mạnh”. Xây dựng chương trình và tổ chức
đào tạo nhân viên chăm sóc xã hội và chăm sóc y tế để đáp ứng nhu cầu chăm sóc
sức khỏe người cao tuổi; phát triển nguồn nhân lực y tế gắn với mơ hình bác sĩ gia
đình...
Tại các nước phát triển có thể áp dụng giải pháp tiềm năng đó là sách nhập cư mở
cửa. Có rất nhiều đàn ơng và phụ nữ trên tồn thế giới ở độ tuổi lao động nhưng
hiện khơng có việc làm. Nếu họ được khuyến khích đến các nước phát triển như
Thụy Điển, Đức,… thì lực lượng lao động ở quốc gia này sẽ tăng lên đáng kể. Điều

này có sẽ giúp giải quyết vấn đề thiếu tiền để vận hành quỹ chăm sóc sức khỏe và
trợ cấp người cao tuổi, đồng thời giải quyết khủng hoảng tài chính ở lĩnh vực dịch
vụ cho người cao tuổi
2.

Hạn chế mặt tiêu cực:

WB cũng khuyến nghị giải pháp gia tăng tỉ lệ tham gia lao động của phụ nữ, nhất
là số phụ nữ có trình độ tại khu vực thành thị. Đây là nhóm thường nghỉ hưu rất
sớm. Nhà nước cần tăng cường hỗ trợ kinh phí cho dịch vụ chăm sóc trẻ em và
chăm sóc người cao tuổi để phụ nữ có thêm thời gian làm việc.
Điều chỉnh chỗ làm việc sao cho phù hợp hơn với thể chất lao động cao tuổi. Ngoài
việc tăng cường số lượng lao động trong tương lai còn phải chú ý nâng cao chất
lượng người lao động thông qua nâng cao chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng
và dạy nghề, phát triển các kênh học tập suốt đời nhằm đảm bảo liên tục nâng cao


tay nghề; và thơng qua đổi mới chính sách lao động, ví dụ thay đổi chính sách hộ
khẩu nhằm khuyến khích di chuyển lao động từ các ngành năng suất thấp sang các
ngành năng suất cao hơn, và từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức.
Chính phủ cần phải đẩy nhanh quá trình thiết lập các kế hoạch cụ thể, nhằm tăng
mức hỗ trợ về điều kiện và thời gian làm việc, giúp người lao động đạt được sự cân
bằng trong công việc và cuộc sống, tạo điều kiện tốt để tăng tỷ lệ sinh. Cùng lúc
khẩn trương phổ cập kiến thức, thông tin về những lợi ích khi các cặp vợ chồng có
con sớm, cũng như cảnh báo hậu quả cả về kinh tế lẫn sức khỏe mà mẹ và bé có
thể gặp phải, trong trường hợp người mẹ mang thai muộn. Khuyến khích các cặp
vợ chồng trẻ sinh thêm con, có chính sách hỗ trợ cho họ.
Tăng cường truyền thông giáo dục thay đổi hành vi nâng cao nhận thức, tạo môi
trường xã hội đồng thuận tham gia chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; xây dựng,
phát triển phong trào chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; củng cố, hoàn thiện hệ

thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám chữa bệnh cho người
cao tuổi; xây dựng và phổ biến mơ hình chăm sóc sức khỏe dài hạn cho người cao
tuổi; hồn thiện chính sách pháp luật về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, khuyến
khích hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tạo việc làm đầy đủ, ổn định và nâng cao thu
nhập cho người lao động đặc biệt là nhóm đối tượng là lao động nông thôn, lao
động làm trong ngành nông-lâm-ngư nghiệp và lao động trong khu vực phi chính
thức.
Chú trọng đến chính sách việc làm cho người cao tuổi.
Tăng cường mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm xã hội và cải cách hệ thống hưu trí
và phát triển dịch vụ chăm sóc người cao tuổi.


Nâng cao nhận thức của cộng đồng và xã hội về giá trị của già hố dân số và sự
đóng góp quan trọng của người cao tuổi.
CƠ CẤU DÂN SỐ TRẺ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KTXH. LIÊN HỆ VN
Khái niệm cơ cấu tuổi dân số

4.

Cơ cấu dân số theo độ tuổi là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theo những
lứa tuổi nhất định. Đó là sự phân chia số dân theo từng nhóm tuổi nhằm phục vụ
cho việc nghiên cứu các quá trình dân số và các quá trình kinh tế xã hội. Thơng qua
mối tương quan của số dân ở các nhóm tuổi, ta có thể đánh giá, so sánh các nhóm
trong mối quan hệ qua lại với các đặc trưng dân số, xã hội và kinh tế của dân cư
trong quá trình phát triển của chúng.
Những ảnh hưởng của cơ cấu dân số trẻ đến PTKTXH

5.


Tích cực

g.


Có nguồn lao động dồi dào



Có nguồn dự trữ lao động dồi dào,đảm bảo lực lượng lao động để phát triển
kinh tế
Là tiềm năng lớn cho sự phát triển đất nước nếu như lực lượng này chuẩn bị



tốt cho thực thi vai trò phát triển kinh tế trong tương lai.
h.

Tiêu cực
Số trẻ em nhiều đặt ra một loạt vấn đề mà xã hội phải giải quyết như nhu cầu



về giáo dục, chăm sóc sức khỏe thế hệ trẻ, sức khỏe sinh sản vị thành niên...
Nhóm người trong độ tuổi lao động lớn gây sức ép tới vấn đề giải quyết việc



làm và đào tạo nguồn lao đơng có chất lượng.

Sức ép tới vấn đề nhà ở,môi trường,nâng cao chất lượng cuộc sống.



6.

Đối với kinh tế Việt Nam

a. Dân số trẻ tác động tới lao động và việc làm




Cơ hội:

- Lực lượng trẻ và dồi dào.
- Việt Nam có thể trở thành đối tác sản xuất của các nước phát triển trong một số
ngành chủ lực một khi lao động được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp. Cơ hội
‘vàng’ được tận dụng triệt để khi tỷ lệ lao động có việc làm cao.
- Dịch chuyển lao động thơng qua di cư, đặc biệt là lao động trẻ tuổi, sẽ tạo động
lực phát triển kinh tế, góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững.


Thách thức:

- Lực lượng lao động trẻ, dồi dào nhưng trình độ chun mơn kỹ thuật thấp và
thiếu kỹ năng.
- Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của thanh niên là một vấn đề chính sách nan
giải trong điều kiện thị trường lao động ngày càng cạnh tranh. Lao động di cư
trong thanh niên tăng nhanh, nhưng các chính sách lao động, việc làm và các dịch

vụ xã hội liên quan còn nhiều bất cập, đặc biệt các chính sách về thu nhập, nâng
cao kỹ năng tay nghề.
b. Gia tăng dân só trẻ ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế
- Phân tích tác động của thay đổi cơ cấu tuổi dân số và cơ cấu tuổi dân số trong
tuổi lao động cho thấy chúng có tác động tích cực tới tốc độ tăng GDP bình quân
đầu người.
- Tỷ lệ lao động trẻ tăng có tác động tích cực tới tăng trưởng ở hầu hết các ngành
quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Mơ hình ước lượng tác động của thay đổi cơ
cấu tuổi lao động tới tăng trưởng kinh tế ngành cho thấy, trong giai đoạn 20102012, tỷ lệ lao động trẻ tăng có tác động tích cực tới tăng trưởng ở hầu hết các


ngành được nghiên cứu.4 Ví dụ, trong ngành cơng nghiệp chế biến, nếu tỷ lệ lao
động ở các tuổi 15-34 và 35-55 cùng tăng 1% thì sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng
của ngành này tương ứng là 0.34% và 0.31%.
7.

Đối với xã hội Việt Nam

a. Về giáo dục đào tạo


Cơ hội:



Số lượng và tỷ lệ trẻ em sẽ giảm nên có điều kiện nâng cao chất lượng
giáo dục tiểu học và phổ thơng cơ sở.




Lực lượng lao động trẻ tăng cùng với yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế sẽ
tạo ra nhu cầu lớn về đào tạo nghề nhằmcung ứng lao động có chun
mơn, kỹ thuật cho thị trường lao động.




Thách thức:
Khả năng tiếp cận các dịch vụ giáo dục và đào tạo nghề rất khác biệt
giữa các nhóm dân số, trong đó người nghèo và thiểu số có khả năng tiếp
cận rất thấp.



Chất lượng giáo dục và đào tạo nghề chưa cao, chưa đáp ứng được yêu
cầu hiện nay của thị trường lao động và cịn có sự khác biệt giữa các
nhóm dân số.



Đầu tư cho giáo dục chưa thích đáng, chưa đúng trọng tâm và hiệu quả
cịn thấp.

b. Về y tế



Cơ hội:
Dân số trẻ em giảm nên có thể tập trung nhiều nguồn lực hơn cho việc
nâng cao chất lượng dịch vụ y tế góp phần tiếp tục giảm tỷ lệ tử vong sơ

sinh và trẻ em; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em.




Trình độ học vấn được nâng cao cùng với những hiểu biết về sức khoẻ
sinh sản và kế hoạch hóa gia đình sẽ tiếp tục góp phần ổn định mức sinh
xung quanh mức sinh thay thế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
ngay từ giai đoạn đầu đời.



Thách thức:



Tăng trưởng nhanh nhưng gây ô nhiễm môi trường đã và đang gây ra
những hệ lụy kinh tế và xã hội, đặc biệt biến đổi khí hậu có thể gây tác
động khơn lường.



Sức khỏe sinh sản đã có nhiều cải thiện song vẫn cịn nhiều thách thức,
đặc biệt là HIV/AIDS, tình dục khơng an tồn, có thai ngồi ý muốn và
nạo phá thai của vị thành niên và thanh niên.



Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em còn cao, nhất là khu vực miền núi, vùng
nghèo và dân tộc thiểu số. Ngược lại, tình trạng béo phì đang có xu

hướng tăng nhanh ở cả nơng thơn và thành thị.



Bạo lực gia đình, lao động trẻ em… tác động tiêu cực đến dân số trẻ và
dẫn đến nhiều tổn thương về mặt xã hội.



Di cư thanh niên và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhóm đối tượng này
ngày càng tăng nhưng các dịch vụ y tế chưa thực sự phát triển theo xu
hướng này để đáp ứng đầy đủ các nhu cầu. Nhóm nữ thanh niên di cư rất
dễ tổn thương về sức khỏe sinh sản.

8.

Các kiến nghị đề xuất biện pháp khắc phục

8.

Đối với giáo dục



Giảm bớt đào tạo giáo viên tiểu học và phổ thông cơ sở; giảm xây trường
lớp tiểu học và phổ thông cơ sở; tăng cường nguồn lực cho nâng cao chất
lượng.


Tăng cường hỗ trợ tiếp cận giáo dục và đào tạo nghề đối với các nhóm dân




số yếu thế, đặc biệt về vấn đề tài chính và tổ chức mạng lưới cơ sở đào tạo.
Mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường lao



động.
Đẩy mạnh giáo dục kỹ năng sống, hành vi và kiến thức xã hội, đặc biệt cho



thiếu niên, thanh niên và những người chuẩn bị bước tham gia lực lượng lao
động.
10.

Đối với lao động, việc làm, và nguồn nhân lực



Đa dạng hóa ngành nghề ở khu vực nơng thơn.



Thúc đẩy chất lượng lao động và sản phẩm của các ngành sử dụng nhiều lao
động.




Tăng cơ hội việc làm và hướng đến những việc làm tạo giá trị gia tăng cao
dựa trên tăng năng suất lao động, đặc biệt là cho thanh niên.



Tăng cường bình đẳng giới trên thị trường lao động, đặc biệt chú trọng đến
khả năng tiếp cận với cơ hội đào tạo nghề và việc làm cũng như điều kiện làm
việc cho nữ giới.



Xây dựng chiến lược và chính sách phát triển nguồn nhân lực, trong đó đào
tạo nghề đóng vai trị quan trọng.




Đảm bảo nguồn tài chính cho đầu tư và tăng trưởng.
Chính sách và chiến lược phát triển vùng và khu vực cần thích ứng với xu
thế di dân để đảm bảo đáp ứng các nhu cầu kinh tế và xã hội gắn liền với quá
trình di dân.



Chính sách xuất khẩu lao động đảm bảo tạo việc làm và thu nhập cho người
lao động một cách bền vững.



Tăng cường xây dựng và triển khai hệ thống thơng tin việc làm qua các

phương tiện thông tin đại chúng.


11.


Về dân số, gia đình và y tế
Chính sách kế hoạch hóa gia đình phải thực hiện linh hoạt, tùy vào điều kiện

kinh tế xã hội của từng vùng và khu vực.


Cần đầu tư sâu, rộng và có hiệu quả hơn cho các chương trình chăm sóc sức
khỏe bà mẹ và trẻ em.



Đẩy mạnh chính sách giáo dục, truyền thơng chuyển đổi hành vi và cung cấp
các dịch vụ sức khỏe sinh sản, đặc biệt cho vị thành niên và thanh niên.



Thúc đẩy cộng đồng, các tổ chức tham gia vào việc phịng, chống nạn bạo
lực gia đình và lao động trẻ em.



Chăm sóc sức khỏe và sức khỏe sinh sản, phòng chống lây nhiễm HIV và
các bênh lây nhiễm qua đường tình dục cho thanh niên di cư.




×