Tải bản đầy đủ (.docx) (19 trang)

SKKN: Chỉ đạo phong trào "Nét chữ -nết người"

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (244.41 KB, 19 trang )

(1)



MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO PHONG TRÀO:


“NÉT CHỮ NẾT NGƯỜI” Ở TỔ CHUYÊN MÔN 2-3
Năm học 2012-2013.


PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
"


Viết chữ đẹp là cần thiết đối với mỗi con người trong thời đại công nghệ thông tin”.


Phong trào giữ vở sạch, viết chữ đẹp là một hoạt động trọng tâm trong công tác
dạy và học của nhà trường tiểu học. Ngành giáo dục đã tổ chức nhiều hoạt động,
nhiều hội thi để thúc đẩy và đánh giá phong trào vở sạch chữ đẹp của các trường cũng
như chất lượng chữ viết của học sinh qua từng năm học. Hướng dẫn nhiệm vụ qua
các năm học của Sở GD&ĐT Nghệ An, phòng GD&ĐT Anh Sơn đều nêu rõ phong
trào “Luyện nét chữ , rèn nết người”. cùng với giải pháp đột phá mới “Nét chữ- Nết
người, kiểm định chất lượng”là một yêu cầu quan trọng trong nhà trường tiểu


học. Chữ viết của học sinh thể hiện chất lượng dạy học của giáo viên và kết quả học
tập của học sinh. Chữ viết thể hiện rất rõ ý thức học tập, tính cẩn thận, óc thẩm mỹ,
tính khoa học và kiên trì của học sinh.


Nguyên thủ tướng Phạm Văn Đồng có nói : “ Nét chữ là nết người”. Thật vậy
trong q trình cơng tác chúng ta nhận thấy chữ viết sẽ góp phần rèn luyện đạo đức
và tính cách con người. Ta dạy cho các em viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp
phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, thận trọng trong cơng việc, lòng tự tin của
bản thân. Đồng thời chữ viết chính là cơ sở, là nền tảng để học tốt các môn học. Mục
tiêu của chúng ta là giúp cho trẻ “ Đọc thông - Viết thạo”. Trẻ đọc thông viết thạo sẽ
giúp trẻ tiếp thu bài nhanh hơn , học tốt hơn.



Nhận thức được tổ chuyên môn là pháo đài để nâng cao chất lượng toàn diện cho
học sinh và việc “Rèn chữ cũng là rèn người “. Rèn luyện nề nếp học tập cho học
sinh là khâu quan trọng để nâng cao chất lượng toàn diện học sinh, vì thế là tổ trưởng
tơi cũng rất chú trọng đến việc tổ chức chỉ đạo phong trào “Giữ vở sạch ,viết chữ
đẹp” trong tổ chuyên môn 2-3 .Từ những năm học trước nhận được công văn chỉ đạo
của Sở giáo dục ,Phòng giáo dục ,tôi đã tổ chức triển khai đến giáo viên ,yêu cầu giáo
viên thực hiện tốt các các hướng dẫn của cấp trên .Thế nhưng qua mỗi lần kiểm tra
lớp hoặc mỗi đợt thi” vỡ sạch chữ đẹp “vòng trường (nhất là ở học kì II),nề nếp vở
sạch chữ đẹp của các lớp chưa cao, phong trào thi đua giữa các lớp, cá nhân học sinh
chưa mạnh.


Đó chính là vấn đề khiến cho Trường Tiểu học Khai Sơn nói chung tổ 2-3 chúng tơi
nói riêng hết sức quan tâm và chỉ đạo cho giáo viên trong nhà trường, trong tổ tích
cực thực hiện cơng tác “rèn chữ giữ vở” cho học sinh.



(2)

PHẦN II. NỘI DUNG
. 1. THỰC TRẠNG:


Sau nhiều năm giảng dạy và làm nhiệm vụ tổ trưởng chuyên môn tôi nhận thấy
rằng : Trong những năm trước đây phụ huynh, học sinh kể cả giáo viên cũng chưa
mấy mặn mà, tâm huyết vào việc rèn luyện chữ viết cho học sinh mà chủ yếu là dạy
kiến thức nhất là từ khối lớp 2 trở lên, tất cả chúng ta từ xưa đến nay đều quan niệm
rằng “ Chữ đep hay xấu là do hoa tay”.


Qua thực tế khảo sát đầu năm cho thấy gần nửa số học sinh chữ viết không đúng ô
li, đúng mẫu, đúng khoảng cách…Viết tùy tiện, cẩu thả, viết chữ khơng đều, vở thì
bơi bẩn, góc vở quăn trông rất xấu, Thông qua việc khảo sát chất lượng mơn Tốn,
Tiếng Việt và chữ viết các em trong các lớp, cho thấy chữ viết các em chưa đẹp, tỷ lệ
chữ lọai A+ và loại A còn thấp, học sinh chưa nắm vững tên gọi các dòng kẻ ngang


trong vở, chưa nắm rõ điểm đặt bút, dừng bút, cách lia bút của các nét, các con chữ.
Chữ viết còn rời rạc chưa liền mạch sai quy trình. Chữ viết hoa chưa đúng mẫu.
Thường giờ chính tả hay tiếng việt các em mới có ý thức viết đẹp, cịn các mơn học
khác thì chữ viết ẩu, tẩy xóa lem nhem. Một số chỉ nhìn chép, chưa nghe viết được,
sai nhiều lỗi chính tả, chưa có ý thức giữ gìn vở


Mỗi lớp chỉ có 1/3 số lượng học sinh là có ý thức giữ vở sạch viết chữ tương đối
,số cịn lại thì vở rách bìa ,viết chữ tuỳ tiện ,tẩy xóa lung tung ,thậm chí cịn viết vẽ
bậy trong vở .Khi đưa học sinh thi vở sạch chữ đẹp vòng huyện chỉ chọn được số ít.
. Khảo sát chất lượng vở sạch chữ đẹp các lớp đầu năm:


( ngày 10 tháng 9 năm 2012)
Kết quả như sau:


STT LỚP SốHS


KẾT QUẢ


Loại A+ Loại A Loại B


XT


Số HS % Số HS % Số HS %


1 2A 32 5 15,6 17 53,2 10 31,2 4


2 2B 31 6 19,3 14 45,2 11 35,5 3


3 3A 26 5 19,2 14 53,9 7 26,9 2



4 3B 26 7 26,9 12 46,2 7 26,9 1



(3)

2. NHỮNG NGUYÊN NHÂN:


- Việc chỉ đạo phong trào “ Nét chữ - nết người” của nhà trường, của tổ chuyên
môn chưa mạnh. Chưa xác định được tổ chuyên môn là pháo đài để nâng cao chất
lượng toàn diện cho học sinh.


- Kế hoạch chỉ đạo của các tổ chưa cụ thể còn lệ thuộc kế hoạch chỉ đạo chung của
nhà trường.


- Chưa chủ động, sáng tạo trong quá trình theo dõi, kiểm tra, đánh giá vở sạch chữ
đẹp của học sinh, của lớp,


- Giáo viên và học sinh đều chưa thực sự chăm lo, đầu tư thời gian rèn luyện viết
chữ đẹp, giữ vở sạch.


- Phong trào thi đua “ Vở sạch - chữ đẹp” những năm trước đây chưa được chú
trọng và chưa mạnh.


- Giấy, vở không đúng quy định chung của nhà trường, của phòng
- Các em chưa có ý thức ngồi học nghiêm túc.


- Chưa có thói quen giữ vở sạch, viết chữ đẹp.
- Khi viết sai các em có thói quen xóa nhiều lần.
- Tay cầm bút chưa đúng quy định.


- Đa số học sinh có hồn cảnh khó khăn, bố mẹ đi làm ăn xa, vi vậy bố mẹ ít quan
tâm đến sách vở cũng như các loại bút viết đúng tiêu chuẩn cho học sinh, nhiều em
không đủ vở để viết.



- Các em chưa hiểu rõ mục đích và tầm quan trọng của việc giữ vở sạch viết chữ
đẹp, Đa số các em ngại viết, khơng có hứng thú và lòng say mê khi viết chữ mà chủ
yếu chỉ dừng lại ở mức độ viết đúng. Một số em khác không nắm được cấu tạo các
con chữ và kỹ năng viết đúng dẫn đến sai ngay từ những giờ Tiếng Việt đầu tiên của
cấp học.


3. CÁC BIỆN PHÁP:


a) Chỉ đao giáo viên trong tổ nắm vững các công văn, hướng dẫn của cấp trên:
Vào buổi sinh hoạt tổ chuyên môn đầu tháng 9 năm 2012 tôi triển khai các công
văn, hướng dẫn cấp trên và phô tô cho mỗi giáo viên trong tổ một bộ và luôn kèm
trong cặp hồ sơ cá nhân:


- Công văn số 1733/ SGD&ĐT-GDTH ngày 25/9/2008 về việc hướng dẫn đánh giá
xếp loại “Vở sạch- Chữ đẹp” cấp Tiểu học.
- Công văn số 207/PGD&ĐT- GDTH Anh Sơn, ngày 05 tháng 9 năm 2012 “Hướng
dẫn kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2012-2013 cấp Tiểu học” cùng với giải
pháp mới “Nét chữ- Nết người, kiểm định chất lượng”


- Công văn PDG&ĐT ngày 9/8/2012 về việc hướng dẫn đánh giá xếp loại “Vở
sạch-Chữ đẹp” cấp Tiểu học trong toàn huyện:


* Hồ sơ giáo viên: Tổng điểm 40 và quy định điểm từng tiêu chí như sau:


TT Các tiêu chí Điểm Điểm trừ


1 Số lượng hồ sơ: Đầy đủ theo
quy định



10 Thiếu một loại trừ 1 điểm
2 - Về hình thức:


+ Bảo quản tốt, có bìa có nhãn,
khơng để nhàu nát, không để


10



(4)

quãn góc, khơng để bẩn, khơng
tẩy xố tuỳ tiện.


+ Nếu văn bản đánh máy phải
trình bày đúng thể thức văn
bản.


+ Chữ viết: Viết đúng chính tả,
rõ ràng, thẳng hàng, đều và đẹp.


+ Sai phông chữ, sai thể thức mỗi trang
trừ 0,5 điểm


+ Viết sai chính tả, mỗi lỗi trừ 1 điểm
3 - Về nội dung:


+ Ghi đầy đủ, đúng nội dung
của các loại hồ sơ.


10 - Ghi sai hoặc không đầy đủ mỗi loại hồ
sơ trừ 2 điểm



4 - Giáo án: có chất lượng, đảm
bảo các quy định chuyên môn.


10 - Vi phạm lỗi qui định trừ 5 điểm
Tổng 40


Cách xếp loại:


Loại A: Từ 35 đến 40 điểm (II.3; II.5 phải đạt tối đa); Loại B: Từ 25 đến dưới 35
điểm; (II.3 phải đạt tối đa); Loại C: Từ 20 đến dưới 25 điểm; Loại D: Dưới 20 điểm.
*Tiêu chuẩn đánh giá, xếp loại “Vở sạch - Chữ đẹp ” của học sinh.


A. GIỮ VỞ SẠCH : 4,0 điểm.


1. Bảo quản tốt (1,0 điểm): Vở có bìa có nhãn, khơng để nhàu nát, khơng để
qn góc, khơng để bẩn, khơng tẩy xố tuỳ tiện.


2. Trình bày đúng (1,0 điểm): Bài viết, bài làm đúng theo đặc trưng bộ mơn, có
ngày tháng, đầu bài, có để lề, kẻ hết bài, hết ngày, hết tuần một cách hợp lý.


3. Vở đủ nội dung (2,0 điểm): Ghi đủ nội dung bài học, bài làm theo quy định
khơng bỏ phí giấy.


B.VIẾT CHỮ ĐẸP:5,0 điểm.


1.Viết đúng mẫu (3,0 điểm): chữ viết đúng mẫu theo quy định cho từng khối
lớp; đúng khoảng cách giữa các chữ cái, tiếng; chữ viết rõ ràng, thẳng hàng, đều và
đẹp.


2.Viết đúng chính tả (2,0 điểm).



C. SỐ LƯỢNG: đủ các loại theo bảng thống kê sách, vở ghi, BT (1,0 điểm).


(Riêng phần thi “Viết chữ đẹp” của học sinh ở các cuộc thi trường, huyện nội
dung này thay bằng tốc độ viết của học sinh theo quy định của từng khối lớp).


* Cách xếp loại:


Loại A+ : Vở và chữ viết đạt từ 9 – 10 điểm


Loại A: Vở và chữ viết đạt 5 điểm trở lên(Trong đó: A.3, B.1 phải đạt tối đa)
Loại B: Vở và chữ viết dưới 5 điểm.


- Học sinh được xếp loại A, các bài kiểm tra được giữ gìn đầy đủ, sạch sẽ
được công nhận “ Vở sạch - Chữ đẹp” tạo thời điểm kiểm tra.


b) Tổ chức triển khai phát động phong trào thi đua “vở sạch chữ đẹp” trong tổ:
* Thành lập ban chỉ đạo:


TT Họ và tên Chức vụ Nhiệm vụ được giao


1 Nguyễn Thị Bích Ng T.Trưởng Chỉ đạo khối 3 và XDPT lớp 3B


2 Nguyễn Thị Tâm H T.Phó Chỉ đạo khối 2 và XDPT lớp 2A


3 Nguyễn Thị Thúy Ng Giáo viên Chỉ đạo và xây dựng phong trào lớp 2A
4 Nguyễn Thị Kim H Giáo viên Chỉ đạo và xây dựng phong trào lớp 2B



(5)

6 Trần Thị H Giáo viên Chỉ đạo và xây dựng phong trào lớp 3A



7 Võ Thị Ng Giáo viên Chỉ đạo và xây dựng phong trào lớp 3A


8 Nguyễn Thị Hoài L Giáo viên Chỉ đạo và xây dựng phong trào lớp 3B
* Mục tiêu:


Đối với giáo viên:


- Nhận thức được cái đẹp để từ đó có khái niệm về viết chữ đẹp và có thể khẳng định: Viết "
chữ đẹp là cần thiết đối với mỗi con người trong thời đại công nghệ thông tin”.


- Nâng cao nhận thức cho giáo viên về tầm quan trọng của việc luyện viết chữ đẹp. Bản thân tự
rèn luyện viết chữ đúng, đẹp thì học sinh mới viết chữ đúng, đẹp, giữ vở cẩn thận, sạch sẽ.
- Tích cực nghiên cứu, học tập qua các tài liệu: Thông tin Giáo dục Tiểu học, báo
Giáo dục và Thời đại, Tạp chí Thế giới trong ta, bảng chữ cái trong trường Tiểu học,
các thông tin trên mạng Internet....


Đối với học sinh:


- Chấp hành tốt nề nếp, yêu cầu của người dạy.


- Nâng cao chất lượng chữ viết của bản thân, có ý thức, niềm say mê luyện viết.
- Rèn tính cẩn thận trong khi trình bày bài viết, bài kiểm tra.


- Kiên nhẫn, tỉ mỉ tập viết từng nét chữ, con chữ, từ, câu..
- Tạo thói quen khi ngồi viết là phải cẩn thận, nắn nót...
- Tự mình thường xun luyện viết ....


Đối với tổ chuyên môn:


- Phong trào “Giữ vở sạch- Viết chữ đẹp” của tổ chuyên môn được chú trọng và được


sự hưởng ứng của đại đa số học sinh và giáo viên tham gia. Phấn đấu chất lượng vở sạch
- chữ đẹp của nhà trường, của tổ ngày càng được nâng cao. Nhiều giáo viên và học sinh
đạt giải trong các kì thi viết chữ đẹp cấp trường, cấp huyện, cấp tỉnh và là một trong
những trường Tiểu học trong huyện dẫn đầu về phong trào "Giữ vở sạch - Viết chữ
đẹp".


* Yêu cầu:


- Tập trung các nguồn lực để giải quyết dứt điểm những yếu kém về cơ sở vật chất,
thiết bị dạy học, bàn ghế, bảng, bút viết phải đúng tiêu chuẩn, phịng học phải có đầy
đủ ánh sáng cần thiết cho việc học tập của học sinh.
- Tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của học sinh trong việc phát động
phong trào “Nét chữ-Nét người” trong các hoạt động giáo dục của nhà trường và tại
cộng đồng, với thái độ tự giác, chủ động.
- Giáo viên thường xuyên trau dồi chữ viết theo đúng tiêu chuẩn, trình bày bảng mẫu
mực. Tổ chức cho giáo viên thi viết chữ đẹp, luyện chữ đẹp.
- Phát huy sự chủ động, sáng tạo của thầy, cô giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới phương
pháp giáo dục.
- Phong trào thi đua đảm bảo tính tự giác, thường xuyên và liên tục và đựơc tuyên
truyền rộng rãi trong toàn thể phụ huynh học sinh.


* Nội dung chỉ đạo:



(6)

trường phổ thông, bộ mẫu chữ, số ( yêu cầu các lớp phóng to treo lên trước, ở vị trí
học sinh dễ nhìn thấy)


- Tích cực luyện chữ, phát động phong trào giáo án chữ đẹp. Thường xuyên chăm lo,
đôn đốc học sinh viết đúng mẫu chữ hiện hành, khuyến khích học sinh viết chữ sáng
tạo.



- Rèn luyện kỹ năng viết chữ đẹp cho học sinh:
- Điều chỉnh tư thế ngồi, cách để vở, cầm bút. Luyện các nét cơ bản, chữ thường, chữ
hoa, chữ số.Luyện kĩ thuật viết chữ: đánh dấu, nối chữ, khoảng cách...


- Để vở không bị quăn mép, giáo viên thường xuyên nhắc nhở các em cách đặt vở
sao cho phù hợp. Vở viết cần đặt nghiêng so với mép bàn một góc khoảng 300


nghiêng về bên phải( Trích phần hướng dẫn ở vở luyện viết chữ đẹp do BGD&ĐT
phát hành năm 2012). Sở dĩ phải đặt vở như vậy, vì chiều thuận của vận động tay khi
viết chữ Việt là vận động từ trái sang phải. trong khi viết, nhắc học sinh thường
xuyên kiểm tra xem tay có đè gấp mép vở hay khơng, nếu có phải điều chỉnh lại cách
đặt tay để cho vở khỏi quăn mép.


- Một việc làm quan trọng nữa góp phần làm cho vở sạch đẹp là viết một màu mực
trong vở và nên viết bằng bút lá tre (bút mực). Không nên dùng nhiều loại mực khác
nhau và không viết chữ bằng bút bi. Muốn được như vậy, giáo viên cần vận động phụ
huynh trang bị đầy đủ bút cho học sinh. Bên cạnh đó, giáo viên cần có những cây bút
dự phịng (nhớ là những cây bút dự phòng phải cùng màu mực với bút của học sinh
đang dùng) để cho học sinh mượn lúc cần thiết (các em hay quên bút, làm mất bút
hoặc bút hết mực).


Rèn chữ đẹp:


- Việc làm quan trọng nhất để giúp học sinh rèn chữ đẹp, đó là: Ngay từ đầu năm
học, giáo viên cần phân loại chữ viết của học sinh trong lớp thông qua việc kiểm tra
vở luyện viết, vở chính tả theo từng nhóm A, B, C, D để có kế hoạch rèn chữ phù hợp
với từng em.


- Những học sinh nhỏ, kém mắt, nặng tai xếp ngồi trên đầu. Những học sinh hay
viết cẩu thả, viết sai, xếp ngồi đầu bàn, tùy theo cao thấp mà xếp ngồi bàn trên hay


ngồi bàn dưới.


- Việc rèn chữ cho học sinh phải được chú trọng ở tất cả các môn học nhưng mấu
chốt của việc rèn chữ phải bắt đầu từ phân mơn Tập viết. Vì u cầu của phân môn
này là rèn kĩ năng viết chữ. Mỗi tuần, ngồi giờ chính tả và ghi các bài học khác, giáo
viên tổ chức cho học sinh rèn chữ một tiết học với thời gian khoảng 30 phút (ở tiết
tăng cường). Đối với giờ rèn chữ này, giáo viên tổ chức cho HS viết vở “Thực hành
viết đúng viết đẹp” các em nắm chắc hình dáng đặc điểm của từng chữ cái, các thao
tác viết các nhóm chữ cái → từng chữ (Thao tác viết nhóm chữ nét cong khác với
nhóm chữ nét khuyết...) và phải luyện tập nhiều lần trên bảng con, bảng lớp, vở luyện
viết.


Ví dụ:


+ Kiểu chữ thường: Nhóm rèn luyện trọng tâm là nét móc: u, ư, m, n...; nét khuyết:
b, h, k, y...; nét cong: o, ô, ơ, c...


+ Kiểu chữ hoa: Chia nhóm tương tự theo cấu tạo nét giống nhau.



(7)

- Giáo viên thường xuyên gọi những em viết chữ xấu, thiếu nét, ngồi học không
chú ý lên bảng lớn để luyện viết chữ, đồng thời các học sinh còn lại được luyện viết
vào bảng con. Trên cơ sở đó giáo viên phát hiện được những sai sót của học sinh để
kịp thời sửa chữa cho các em về hình dáng, độ cao, các nét nối, khoảng cách các con
chữ


- Khi học sinh đã viết tương đối chuẩn giáo viên có thể viết mẫu một đoạn văn
hoặc một khổ thơ ngắn lên bảng, nhắc nhở lại cách trình bày, gọi học sinh nêu lại độ
cao các con chữ, giáo viên hướng dẫn thêm về đặc điểm của mẫu chữ hiện hành
nhằm giúp học sinh ghi nhớ, khắc sâu để vận dụng vào quá trình viết chữ sao cho
đúng, chuẩn.



Độ cao các con chữ cụ thể là:


* Mẫu chữ viết thường:


+ Các chữ cái : b, g, h, k, l, y được viết với chiều cao 2,5 đơn vị.
+ Các chữ cái: d, đ, p, q được viết với chiều cao 2 đơn vị.


+ Chữ cái t được viết với chiều cao 1,5 đơn vị.


+ Các chữ cái r, s được viết với chiều cao 1,25 đơn vị.


+ Các chữ cái cịn lại o, ơ, ơ, a, ă, â, c, e, ê, i, u, ư, m, n, v, x được viết với chiều
cao 1 đơn vị.


+ Các dấu thanh được viết trong phạm vi 1 ơ vng có cạnh là 0,5 đơn vị.


* Mẫu chữ cái viết hoa


+ Chiều cao của các chữ cái viết hoa là 2,5 đơn vị; riêng 2 chữ cái viết hoa Y,G
được viết với chiều cao 4 đơn vị.


+ Ngoài 29 chữ cái viết hoa theo kiểu 1 bảng mẫu chữ còn cung cấp thêm 5 mẫu
chữ cái viết hoa theo kiểu 2 là các chữ (A, M, N, Q, V) để HS lựa chọn sử dụng.


*Mẫu chữ số:


- Các chữ số đều được viết với độ cao 2 đơn vị.


- Ngoài 10 chữ số viết theo kiểu 1, bảng mẫu số còn cung cấp thêm 4 mẫu chữ số


viết theo kiểu 2 là các số (2, 3, 4, 7) để học sinh lựa chọn.


- Giáo viên nắm vững đặc điểm của mẫu chữ nêu trên sẽ rất thuận lợi trong quá
trình hướng dẫn học sinh viết chữ.


- Giáo viên treo các mẫu chữ trước lớp cho học sinh quan sát hàng ngày để các em
ghi nhớ được cụ thể hơn.


- Khi học sinh viết bài vào vở việc đầu tiên giáo viên phải nhắc nhở hướng dẫn
(chú trọng HS yếu) về tư thế ngồi viết, cách cầm bút, cụ thể như sau:


+ Tư thế ngồi viết : Lưng thẳng, khơng tì ngực xuống bàn, đầu hơi cúi, mắt cách
vở khoảng 20-25 cm, tay phải cầm bút, tay trái tì nhẹ lên mép vở để giữ, hai chân để
song song thoải mái. Bài viết đẹp phải đi kèm với tư thế đúng, rèn cho trẻ viết đẹp mà
quên mất việc uốn nắn cách ngồi viết là một thiếu sót lớn của giáo viên


( Trích vở luyện viết chữ đẹp do BGD& ĐT phát hành năm 2012).


+ Cách cầm bút: Cầm bút bằng 3 ngón tay: ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa. Khi
viết dùng 3 ngón tay di chuyển bút từ trái sang phải, cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử
động theo mềm mại, thoải mái. Cầm bút vào khoảng 2cm tính từ ngịi bút lên (nếu
cầm bút thấp quá tốc độ viết sẽ chậm, chữ to. Nếu cầm bút quá cao thì chữ viết sẽ
gầy, nhỏ, không đẹp). Nhắc nhở học sinh không nên cầm bút tay trái



(8)

- Giáo viên khảo sát chữ viết của học sinh, thống kê các lỗi sai; tìm các lỗi thường
mắc và tìm nguyên nhân, cách khắc phục.


- Rèn kỹ năng viết chữ đẹp, nhanh, đúng tốc độ của từng lớp học.
- Rèn luyện tư thế ngồi viết, cách cầm bút và để vở theo đúng quy định.



-Tổ chức các cuộc thi viết chữ đẹp theo lớp học và trong nhà trường:
- Tổ chức các cuộc thi viết chữ đẹp, trưng bày các bộ hồ sơ đẹp, mẫu chữ đẹp, bộ vở
đẹp để cho học sinh, giáo viên và phụ huynh cùng tham quan, học hỏi. Qua đó phát
huy khuyến khích con em mình học tập.
- Học sinh tham gia các cuộc thi “Giữ vở sạch- viết chữ đẹp” các cấp


Thông qua cuộc họp phụ huynh đầu năm, các giáo viên chủ nhiệm càn phổ biến
cho phụ huynh biết được tầm quan trọng và sự cần thiết của việc rèn chữ, giữ vở đối
với HS. Từ đó phối hợp với phụ huynh chuẩn bị đầy đủ sách, vở, đồ dùng học tập cho
các em:


- Sách giáo khoa có dán nhãn, có bọc.


- Vở viết phải có ơ ly rõ ràng, giấy phải trắng, đẹp ( vở có Logo phịng GD & ĐT
Anh Sơn) theo quy định chung. Mỗi quyển vở đều có bọc, nhãn tên và một tờ giấy lót
tay để tránh khỏi bẩn khi viết cũng như giữ vở khỏi quăn góc.


- Sắp xếp những em viết chữ chưa đẹp ra ngồi đầu bàn để tiện theo dõi, uốn sửa kịp
thời.


- Lấy một số bài viết của anh chị lớp trên hoặc những bài thi viết chữ đẹp đạt giải…
®ể cho các em xem và học tập tấm gương của các anh chị.


- Hướng dẫn các em cách kẻ vở khi hết bài, hết ngày, hết tuần để thống nhất trong
cả lớp.


- Trong các giờ chính tả trên lớp, giáo viên luôn luôn nhắc các em phải viết đúng
mẫu chữ, kích cỡ, độ cao các chữ, vị trí dấu thanh… để hình thành cho các em kỹ
năng viết đúng, rõ ràng tính thẩm mỹ của chữ viết.



Để phong trào “Vở sạch chữ đẹp” thực sự mang lại hiệu quả cao, ngay từ đầu
năm học, đội ngũ cán bộ giáo viên, học sinh và phụ huynh toàn trường cần nắm được
mục đích và tầm quan trọng của phong trào “Vở sạch chữ đẹp” để có sự phối hợp
đồng bộ. Ban chỉ đạo phong trào của nhà trường, của tổ đã xây dựng được một kế
hoạch thực hiện xuyên suốt cả năm học.


Với vai trò là tổ trưởng chuyên môn, tôi đã tổ chức cho các thành viên trong tổ,
khối thảo luận xây dựng kế hoạch rèn chữ giữ vở cho cả năm học: kế hoạch từng
tháng, từng tuần. Điều quan trọng là vấn đề rèn chữ giữ vở cho học sinh được đặc
biệt quan tâm và nó là một mảng chính trong kế hoạch hoạt động của khối.:


+Cụ thể hoá kế hoạch bằng quy trình hoạt động qua từng tháng, kỳ, thực hiện
nghiêm túc quy trình, có đánh giá, rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện.


Tổ chuyên môn chúng tôi xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện trong năm học
2012-2013 và những năm tiếp theo như sau:


c) Xây dựng kế hoạch


* Thành lập ban chỉ đạo phong trào thi đua của nhà trường.


Tổ chuyên môn, khối chuyên môn và các giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh học sinh
hưởng ứng phong trào “Vở sạch-Chữ đẹp” có trách nhiệm:



(9)

+ Phối hợp tổ chuyên môn, khối chuyên môn và các giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh
học sinh thực hiện phong trào “Vở sạch-Chữ đẹp” triển khai thực hiện phong trào thi
đua nhằm huy động mọi lực lượng xã hội tích cực tham gia và hưởng ứng.
+ Tổ chuyên môn tổ chức thực hiện một cách cụ thể các hoạt động giáo dục trong và
ngoài giờ lên lớp, tạo điều kiện để thực hiện tốt phong trào “ Vở sạch – Chữ đẹp”
+ Chỉ đạo tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá kết quả, định kỳ sơ kết, tổng kết,


nhân rộng các điển hình về việc thực hiện phong trào “ Vở sạch- Chữ đẹp”


* Xây dựng kế hoạch thực hiện:


+ Tổ xây dựng kế hoạch thực hiện và triển khai sâu rộng trong giáo viên chủ nhiệm,
học sinh và phụ huynh phong trào “ Vở sạch-Chữ đẹp”. Hướng dẫn, chỉ đạo các đơn
vị lớp xây dựng kế hoạch cụ thể về phong trào “Vở sạch- Chữ đẹp” cho lớp mình.
* Tổ chức phổ biến, quán triệt và phát động phong trào thi đua:


- Tổ chức phổ biến mục tiêu, yêu cầu., nội dung của phong trào “ Vở sạch-Chữ đẹp”
theo công văn số 1733/SDG&ĐT-GDTH ngày 25/9/2008 và công văn số /PGD&ĐT
ngày 9/8/2012 về việc hướng dẫn đánh giá xếp loại “Vở sạch-Chữ đẹp” đến tất cả
cán bộ giáo viên, nhân viên, học sinh và phụ huynh trong nhà trường.


- Tham mưu với các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương, hội phụ huynh, phụ
huynh xây dựng cơ sở vật chất phục vụ tốt cho việc dạy và học: bàn ghế đúng quy
cách, lắp đặt bốn bóng đèn trong lớp...
- Cuối năm học trước nhà trường phát động và yêu cầu toàn thể phụ huynh học sinh
đăng ký mua các loại vở theo quy định tại nhà trường cho năm học sau.
- Đầu năm học nhà trường tiến hành kiểm tra số lượng vở của học sinh. Sách vở phải
được đóng bọc, có nhãn vở, quy định cách dán nhãn vở, cách ngang kẻ khi viết hết
bài, hết ngày, hết tuần, cách viết thứ ngày, cách trình bày bài viết…..mua bút đúng
theo quy định (bút kim).
- Phong trào “Vở sạch- Chữ đẹp” được đưa vào nhiệm vụ của năm học, các lớp đăng
ký thi đua đạt “Vở sạch-Chữ đẹp” các cấp, tự nhận loại “Vở sạch-Chữ đẹp” của lớp
mình, đăng ký các danh hiệu thi đua của cá nhân giáo viên, của lớp mình phụ trách.
d) Kế hoạch cụ thể - Tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá:


*Kế hoạch cụ thể từng tháng.



Thời gian Nội dung công việc Kiểm tra và đánhgiá


8/ 2012


- Nghiên cứu các văn bản, hướng dẫn xây dựng kế
hoạch.


- Thống nhất loại vở, bút, màu mực,đồ dùng học


tập( từng khối lớp) cho HS.


- Quy định bút viết, cách trình bày bài viết, thứ ngày,
ngang kẻ khi hết bài, hết ngày, hết tuần.


- Tiến hành kiểm tra sách, vở, đồ dùng học tập của HS
để có kế hoạch bổ sung.(Lần 1)


BGH,TTCM,
GVCN, HS


9/ 2012


- Thành lập ban chỉ đạo.


- Chỉ đạo bồi dưỡng HS viết chữ đẹp và nâng cao chất
lượng chữ viết đại trà trong toàn trường.


- Tự kiểm tra vở của học sinh


BGH,TTCM,


GVCN, HS


10/ 2012 - Nhà trường kiểm tra giữ VS viết chữ đẹp toàn trường


lần thứ nhất.


- Đánh giá rút kinh nghiệm sau kiểm tra.



(10)

- Tiếp tục chỉ đạo bồi dưỡng HS viết chữ đẹp và phong
trào Vở sạch - chữ đẹp.


11/2012


- Tự kiểm tra vở của học sinh


- Tổ chức thi Vở sạch- Chữ đẹp cấp trường(Từ khối 1
đến khối 5).
- Tiếp tục bồi dưỡng chỉ đạo nâng cao chất lượng chữ
viết và phong trào VSCĐ.


BGH,TTCM,
GVCN, HS


12/2012


- Kiểm tra Vở sạch chữ đẹp lần thứ 2, làm bài viết vào
giấy
- Đánh giá rút kinh nghiệm sau kiểm tra.


- Nạp báo cáo tổng hợp về phòng.



BGH,TTCM,
GVCN,HS


1/2013 - Tiếp tục bồi dưỡng chỉ đạo nâng cao chất lượng phong trào VSCĐ. BGH, TTCM, GVCN
2/2013 - Kiểm tra vở sạch chữ đẹp lần thứ 3.- Đánh giá rút kinh nghiệm sau kiểm tra. BGH, TTCM, GVCN, HS


3/2013


- Tự kiểm tra vở của học sinh


- Tiếp tục bồi dưỡng chỉ đạo nâng cao chất lượng phong
trào VSCĐ


TTCM, GVCN,
HS


4/2013 - Tự kiểm tra vở của học sinh


- Tham gia thi VSCĐ các cấp.


TTCM, GVCN,
HS


5/2013


- Kiểm tra Vở sạch chữ đẹp đợt 4.


- Đánh giá rút kinh nghiệm sau kiểm tra.
- Ban chỉ đạo đề xuất phương án xây dựng phong trào


VSCĐ cho năm học tới


BGH, TTCM,
GVCN, HS


*Tổ chức thực hiện


- Tổ trưởng chuyên môn chịu trách nhiệm lên kế hoạch chỉ đạo, theo dõi thực hiện
phong trào “Vở sạch-Chữ đẹp”, tổ chức sơ kết, tổng kết đúc rút kinh nghiệm, và
hoàn thành các báo cáo.


- Ngay từ đầu năm học lập kế hoạch cụ thể và coi đây là một tiêu chí quan trọng
trong hoạt động dạy và học của nhà trường đồng thời có chỉ tiêu cụ thể để giao cho
các khối lớp và các giáo viên chủ nhiệm lớp.
- Nhà trường kết hợp với tổ chuyên mơn phát động phong trào “Nét chữ-Nét người
trong tồn trường .



(11)

- Lưu giữ các bài kiểm tra viết của học sinh, các loại hồ sơ về “Vở sạch-Chữ đẹp”.
- Hàng tháng tổ chức đánh giá xếp loại vở sạch chữ đẹp của học sinh chính xác, cơng
khai.
- Tổ chức cho học sinh thi viết chữ đẹp một học kì hai lần, sau mỗi lần như vậy cần
động viên khen thưởng để khích lệ phong trào.


- Sau mỗi học kì nhà trường tổ chức họp phụ huynh học sinh, giáo viên chủ nhiệm
báo cáo tình hình rèn luyện chữ viết của học sinh trong từng tháng, từng kì để cho
phụ huynh biết .


* Giáo viên chủ nhiệm chịu trách nhiệm về chất lượng “Vở sạch-Chữ đẹp” của lớp.
Thường xuyên theo dõi, đôn đốc học sinh thực hiện tốt phong trào và nhân rộng
phong trào ngày càng phát triển mạnh mẽ.



- Qua cuộc họp phụ huynh, giáo viên chủ nhiệm đưa ra một số cá nhân học sinh điển
hình có ý thức trong việc giữ vở sạch viết chữ đẹp để khen ngợi và khích lệ phong
trào mà học sinh đã làm được như các bài thi viết chữ đẹp, các bộ sách vở tiêu biểu
để cho các em, các bậc phụ huynh cùng xem và thấy được những thành quả của con
em mình đã ý thức rèn luyện để học sinh và các lớp có sự thi đua học tập lẫn nhau.
- Có sự động viên khen thưởng thích đáng và kịp thời đối với những cá nhân học sinh
và các lớp trong phong trào “ Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp” sau các đợt thi đua.


+ Mặt khác , từ cuối năm học trước cần có định hướng về phong trào “Vở sạch chữ
đẹp” cho năm học sau bằng cách tổ chức hội nghị phụ huynh toàn trường, tuyên
truyền để phụ huynh hiểu rõ ý nghĩa của phong trào và quy định cho HS mua đồng
bộ loại vở lơ gơ của phịng giáo dục, loại bút, màu mực, giấy bao và kể cả dây ghim .
+ Nhà trường chú trọng đầu tư các điều kiện về cơ sở vật chất: Mỗi phịng học
ngồi 3 cửa sổ lớn và cửa ra vào để lấy đủ ánh sáng tự nhiên, có 4 bóng đèn để lấy
ánh sáng nhân tạo giúp học sinh có đủ ánh sáng khi viết bài.


+ Bảng lớp đảm bảo tiêu chuẩn chống lóa ( màu xanh thẫm ). Bàn ghế học sinh có
kích thước phù hợp với độ cao trung bình của từng đối tượng học sinh khối 2-3. .
+Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên hướng dẫn học sinh thực hiện nghiêm túc các
quy định về cách đặt vở, tư thế ngồi viết, cách cầm bút.


+ Khi cất và lấy sách vở ra khỏi cặp phải nhẹ nhàng và để phần gáy xuống trước để
tránh quăn góc, nhàu nát.


+ Khi viết phải có giấy kê tay, đôi bàn tay phải thường xuyên sạch sẽ.


+ Vở tuyệt đối khơng được tẩy xố, khơng bỏ trống giấy, không xé vở. Thực hiện
nghiêm túc và thống nhất cách gạch hết bài, hết ngày, hết tuần.



+ Để giúp học sinh luyện viết đúng, đẹp trong các tiết Tập viết, giáo viên phải hướng
dẫn tỉ mỉ nội dung và yêu cầu về kỹ năng viết của từng bài viết, yêu cầu học sinh viết
đủ, viết đúng bài viết. Xếp những em viết chữ chưa đúng, chưa đẹp lên ngồi bàn đầu
hoặc đầu bàn để GV tiện quan tâm giúp đỡ.


+ Hai bên tường lớp phía trên GV treo mẫu chữ tập viết: chữ thường và chữ hoa để
học sinh tiện quan sát hàng ngày, viết đúng mẫu.


+ Ngoài tiết tập viết, trong các tiết học của các môn học khác, đặc biệt trong các tiết
buổi chiều ( học 2 buổi/ngày), giáo viên cũng phải luôn quan tâm đến việc rèn chữ
viết cho học sinh. Giáo viên phải thường xuyên chấm chữa, giúp HS viết đúng mẫu
chữ, cỡ chữ, nét viết phải mềm mại.



(12)

thực hành viết bài theo hướng dẫn của chuyên môn.. Khi chấm chữa bài cho học sinh,
lời phê của giáo viên phải ngắn gọn, chữ viết đẹp, đúng mẫu.


+ Những bài viết đuợc giải của học sinh và giáo viên, những bộ vở tiêu biểu được
trưng bày và lưu trữ tại lớp và thư viện cho học sinh toàn trường tham quan học
tập.


+ Sau khi kế hoạch đã được lãnh đạo nhà trường phê duyệt, tôi về khối tổ chức
hướng dẫn giáo viên trong khối xây dựng kế hoạch cá nhân; đặc biệt tập trung vào kế
hoạch năm, kế hoạch tháng của phong trào rèn chữ giữ vở, xem đây là mảng cốt yếu
thứ hai cần đạt trong năm học.( Tùy tình hình từng lớp, giáo viên chủ nhiệm tự đề ra
kế hoạch của lớp mình nhưng phải hướng đến mục tiêu mà khối đã đề ra.)


Để hồn thành kế hoạch đề ra, trong q trình quản lý tổ khối tôi cùng tập thể giáo
viên trong khối tham mưu với nhà trường và các lực lượng giáo dục trong và ngồi
nhà trường tích cực tham gia hỗ trợ phong trào rèn chữ giữ vở cho học sinh. Cụ thể
như sau:



+ Trong sinh hoạt tổ chuyên môn:Như thường lệ, cứ đầu năm học khi giáo viên
vừa nhận lớp xong, tôi yêu cầu giáo viên tiến hành khảo sát chữ viết của học sinh lớp
mình phụ trách .


Bên cạnh đó tơi cịn phân cơng giáo viên có nhiều kinh nghiệm trực tiếp hướng dẫn
giáo viên chưa có kinh nghiệm, ít kinh nghiệm.


- Ngồi việc tổ chức hội thảo trong sinh hoạt tổ chuyên môn; tơi cịn tiến hành tổ
chức cho giáo viên có nhiều kinh nghiệm thực hiện việc rèn chữ cho lớp mình Thực
tế chúng ta khơng có tiết học dành cho việc rèn chữ. Vì vậy cơng tác rèn chữ giữ vở
được thực hiện ngay trong quá trình giảng dạy.Trong q trình rèn chữ, tơi vận động
giáo viên vận dụng một cách linh hoạt các sáng kiến kinh nghiệm về rèn chữ giữ vở
đã triển khai kết hợp với kinh nghiệm của bản thân mà mình tích lũy được. Bên cạnh
đó, tơi thường xun nhắc nhở giáo viên thực hiện việc rèn chữ viết cho học sinh mọi
lúc mọi nơi:


+ Thời gian học sinh viết bài là lúc mà giáo viên phải theo sát các em, theo dõi và
uốn nắn các em từng nét chữ, từng con số. Công việc này nếu được giáo viên tiến
hành thường xuyên thì ta sẽ tạo cho học sinh thói quen và ý thức rèn chữ.


+ Lúc học sinh làm bảng con hay trình bày bảng lớp cũng là lúc giáo viên động viên
khuyến khích học sinh, sửa chữa và uốn nắn từng nét chữ, từng con số cho học sinh.
+ Phối hợp với tổng phụ trách Đội tổ chức các phong trào nhằm kích thích việc rèn
chữ viết như: Phong trào văn hay chữ đẹp ( tổng kết hàng tháng có phát thưởng );
phong trào nét chữ đẹp tặng thầy cô ( tổ chức viết lời cảm ơn thầy cô nhân ngày
20/11); Phong trào viết thư gửi các chú bộ đội; phong trào viết thư vẽ thiệp nhân
ngày 8/3; viết bài tuyên truyền phòng chống HIV…


+ Phối hợp với Ban chấp hành hội Cha mẹ học sinh: Đề xuất hỗ trợ kinh phí phát


thưởng cho giáo viên và học sinh có thành tích tốt trong phong trào rèn chữ giữ vở.
+ Phối hợp với phụ huynh học sinh hưởng ứng và đơn đốc học sinh tích cực rèn chữ
ở nhà


* Kiểm tra đánh giá :



(13)

+ GV Xây dựng kế hoạch cụ thể cho lớp, phụ huynh học sinh hỗ trợ tích cực:trang bị
sách vở,, đồ dùng học tập, nhắc nhở học sinh. . .


+ Giáo viên nắm được quy trình, đúc kết thêm một số kinh nghiệm. Đạt được đúng
tiến độ đề ra..Nắm tình hình, tư vấn thúc đẩy, . . . .


+ Giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm thực hiện tốt việc đánh gía xếp loại “Vở sạch
chữ đẹp” của lớp mình hàng tháng theo quy định, ban chỉ đạo của tổ có sự kiểm tra,
thẩm định, cơng nhận.


+ Tổ chuyên môn tổ chức đánh giá xếp loại “Vở sạch chữ đẹp” của học sinh các lớp
ít nhất 2 lần/học kỳ và xếp thứ tự chất lượng các lớp, cá nhân học sinh.


+ Tổ chức thi viết chữ đẹp cho cả giáo viên và học sinh (có khen thưởng động viên
kịp thời).


+Tổ chức các cuộc triển lãm nhỏ về viết chữ đẹp để học sinh học tập lẫn nhau.
+Chất lượng “Vở sạch chữ đẹp” của các lớp là một trong những tiêu chí để xếp loại
thi đua cho giáo viên và lớp vào cuối kỳ, cuối năm.


4. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:


Với những gì đạt được qua phong trào rèn chữ giữ vở của tập thể tổ khối chúng
tôi đã gặt hái được nhiều thành công. Thành công mà chúng tôi thấy rõ nhất là 100%


giáo viên trong khối đã có đủ kiến thức và kĩ năng trong công tác rèn chữ giữ vở cho
lớp mình. Bên cạnh đó chúng tơi đã nhận được sự tín nhiệm, quan tâm và hỗ trợ rất
lớn từ phía Ban giám hiệu nhà trường, từ phía phụ huynh học sinh Đó là động lực
giúp cho thầy trò khối 2-3 bước đầu đã gặt hái được những kết quả nhất định.


Kết quả đạt được trong năm học 2012- 2013:
* Giáo viên:


- Kết quả hồ sơ chuyên môn của giáo viên: 8/8 bộ hồ sơ đạt yêu cầu
Trong đó có 5 bộ đạt xuất sắc, 2 bộ tốt, 1 bộ khá.


- Kết quả thi “Văn hay – chữ tốt” của giáo viên: 6 đ/c đạt điểm tốt ( điểm 9, điểm 10)
2 đ/c đạt diểm khá


* Học sinh:


- Kết quả chấm vở sạch chữ đẹp – lần 1


Chấm mỗi lớp 1/2 số học sinh.



Thứ 6 ngày 5 tháng 10 năm 2012.


Lớp 2A.


TT Họ Và Tên


Điểm vở Chữ viết Chung


Bảo
quản
(1 đ)



Trình
bày
(1đ)


Nội
dung


(2đ)


Đúng
chuẩn
(3đ)


Đúng
chính
tả (2đ)


Số
lượng
bài 1đ)


Tổng XL


1 Võ Thị Ngọc Vinh 1 1 2 2.5 1.5 1 9 A+


2 Trần Đăng Dương 0,5 0.5 1 1,5 0,5 0,5 4,5 B


3 Lê Thị Kiên Giang 1 1 1.5 2.5 1.5 1 8.5 A



4 Nguyễn Văn Hoàng 0,5 0.5 1 1 0.5 0,5 4 B



(14)

6 Phùng Thị Thúy Nga 1 1 2 2 1 1 8 A


7 Lương Thị Yến Nhi 1 0.5 1 1.5 1 1 7 A


8 Nguyễn Văn Nhật 1 1 1.5 2 1.5 1 8 A


9 Nguyễn Thị Hà Sang 1 1 1.5 2.5 1.5 1 8.5 A


10 Nguyễn Hữu Sáng 1 0.5 1 2 1 1 7.5 A


11 Phạm Văn Sáng Tật Tật


12 Đặng Thị Sinh 1 0.5 1 2 1.5 1 8 A


13 Nguyễn Hữu Tích 1 0.5 1.5 2 1 1 8 A


14 Trần Văn Tư 1 1 2 3 2 1 10 A+


15 Nguyễn Thị Thảo 1 0.5 0,5 1 0,5 0,5 4 B


16 Nguyễn Văn Đức 1 1 2 3 2 1 10 A+


Danh sách này gồm có: 16 học sinh


Điểm trung bình của lớp: 7,53 điểm


Xếp vị thứ nhất
Lớp 2B.



TT Họ Và Tên


Điểm vở Chữ viết Chung


Bảo
quản
(1 đ)
Trình
bày
(1đ)
Nội
dung
(2đ)
Đúng
chuẩn
(3đ)
Đúng
chính
tả (2đ)
Số
lượng
bài 1đ)
Tổng XL


1 Nguyễn Hữu Châu 1 0.5 1 0,5 0.5 0,5 4 B


2 Thái Đình Chinh 1 0.5 1 1.5 1.5 1 6.5 A


3 Lê Thị Quỳnh Diệp 1 1 1 1.5 1.5 1 7 A



4 Nguyễn Văn Đức 1 0.5 1 2 1.5 1 7 A


5 Lê Thị Trà Giang 1 0.5 0.5 1.5 1.5 1 6 A


6 Lê Thị Thanh Huyền 1 1 1.5 2 1.5 1 8 A


7 Nguyễn Thị Khánh Linh 1 1 1.5 2 1.5 1 8 A


8 Nguyễn Hữu Mạnh 1 0.5 1 2 1 1 6.5 A


9 Nguyễn Hữu Nhất 1 1 1.5 2.5 1.5 1 8.5 A


10 Nguyễn Văn Quang 1 1 1 2 1.5 1 7.5 A


11 Trần Thị Hoài Thắm 1 0.5 1 1.5 1.5 1 6.5 A


12 Bùi Nguyễn Anh Thư 1 1 2 2.5 2 0.5 9 A+


13 Nguyễn Văn Trình 0,5 0.5 1 1 0,5 0,5 4 B


14 Nguyễn Thị Quỳnh Trang 1 0.5 0.5 2 1.5 05 6 A


15 Nguyễn Khắc Tuyên 1 0.5 1 1.5 1 1 6 A


Danh sách này gồm có: 15 học sinh Điểm trung bình của lớp: 6,7 điểm
Xếp vị thứ 4
Lớp 3A.


TT Họ Và Tên



Điểm vở Chữ viết Chung


Bảo
quản
(1 đ)
Trình
bày
(1đ)
Nội
dung
(2đ)
Đúng
chuẩn
(3đ)
Đúng
chính
tả (2đ)
Số
lượng
bài 1đ)
Tổng XL


1 Lê Văn Anh 1 1 2 2 1.5 1 8 A


2 Nguyễn Văn Công 1 1 1.5 2 2 1 8.5 A


3 Nguyễn Viết Chiến 1 1 2 3 2 1 10 A+



(15)

5 Trần Duy Đức 1 1 1 1.5 1 0.5 6 A



6 Võ Thị Hoài 1 0,5 0,5 1 0.5 0.5 4 B


7 Nguyễn Văn Hùng 1 1 1 1 1 1 6 A


8 Nguyễn Đình Khiêm 1 0.5 1.5 1,5 1 1 6.5 A


9 Trần Thị Yến Linh 1 1 1.5 2 1 1 7.5 A


10 Đặng Đình Nhiệm 1 0.5 1 2 1 1 6.5 A


11 Nguyễn Đình Sáng 1 0,5 0.5 1 0.5 0,5 4 B


12 Nguyễn Thị Thương 1 1 1.5 1 1 1 6.5 A


13 Nguyễn Thị Yến 1 1 1 1 1 1 6 A


Danh sách này gồm có: 13 học sinh


Điểm trung bình của lớp: 6,88 điểm
Xếp vị thứ 3
Lớp 3B.


TT Họ Và Tên


Điểm vở Chữ viết Chung


Bảo
quản
(1 đ)



Trình
bày
(1đ)


Nội
dung


(2đ)


Đúng
chuẩn
(3đ)


Đúng
chính
tả (2đ)


Số
lượng


bài 1đ) Tổng XL


1 Nguyễn Mạnh Cường 1 1 1,5 2 1.5 1 8 A


2 Nguyễn Như Mai Đan 1 1 2 3 2 1 10 A+


3 Nguyễn Văn Giáp 1 1 1.5 1 1 1 6.5 A


4 Nguyễn Văn Hoa 0,5 0,5 0.5 1 1 0.5 4 B



5 Trịnh Văn Hoàng 1 0.5 1.5 1 1 1 6 A


6 Nguyễn Hữu Bảo Lâm 1 1 2 2 2 1 9 A+


7 Lưu Thị Thùy Linh 1 1 2 1.5 1 1 7.5 A


8 Thái Thị Ngân 1 1 1 2 1.5 1 7.5 A


9 Nguyễn Trọng Quang 1 1 1,5 1,5 1.5 1 7,5 A


10 Nguyễn Hữu Toàn 1 1 2 2 1.5 0.5 8 A


11 Nguyễn Văn Thắng 0,5 0,5 0,5 1 1 0,5 4 B


12 Trần Thị Hà Thương 1 1 2 2 1.5 1 8.5 A


13 Nguyễn Thảo Vân 1 1 2 3 2 1 10 A+


Danh sách này gồm có: 13 học sinh


Điểm trung bình cả lớp: 7,42 điểm


Xếp vị thứ 2


* Kết quả thi vở sạch chữ đẹp cấp trường: Ngày 16 tháng 11 năm 2012.


STT LỚP SốHS


KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC


LỚP VSCĐ




VSCĐ. CN(cấp
trường)


VSCĐ. Dự
thi


(Cấp huyệnl)


Xếp
Thứ


1 2A 32 81,2% 8 em 1 em 3


2 2B 31 80,6% 9 em 1 em 4


3 3A 26 84,6% 10 em 1 em 2



(16)



Kết quả chấm vở sạch chữ đẹp cuối học kỳ I:


( chấm cả lớp)


Ngày 21 tháng 12 năm 2012.



STT LỚP SốHS


KẾT QUẢ


Loại A+ Loại A Loại B


XT


Số HS % Số HS % Số HS %


1 2A 32 8 25 20 62,5 4 12,5 3


2 2B 31 9 29 18 58 4 13 4


3 3A 26 8 30,8 15 57,7 3 11,5 2


4 3B 26 9 34,7 14 53,8 3 11,5 1


* Kết quả chấm vở sạch chữ đẹp lần 3:


Ngày 25 tháng 2 năm 2013.


STT LỚP SốHS


KẾT QUẢ


Loại A+ Loại A Loại B


XT



Số HS % Số HS % Số HS %


1 2A 32 10 31,2 22 68,8 0 0 4


2 2B 31 11 35,5 20 64,5 0 0 3


3 3A 26 11 42,3 15 57,7 0 0 2


4 3B 26 12 46,2 14 53,8 0 0 1




- 4 lớp đều đạt lớp “Vở sạch – chữ đẹp”


*Kết quả tham gia thi “Vở sạch- chữ đẹp” cấp Huyện
- Dự thi : Khối 2 : 2 em Đạt 2/ 2 em


Khối 3 : 2 em Đạt 2/ 2 em (Trong đó 1 em giải nhì; 1 em giải ba)
Bằng các biện pháp nêu trên, với sự cố gắng của cả cơ và trị, đến nay chất lượng
về chữ viết của các em học sinh khối 2-3 tiến bộ rõ rệt. Số HS viết chữ đẹp ngày càng
nhiều, số HS viết xấu, viết sai ngày càng giảm, đặc biệt khơng có học sinh xếp loại B.


5.. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:


Trong quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện phong trào “ Nét chữ- nết người” tôi đã
rút ra được nhiều bài học cho bản thân:



(17)

- Trong công tác kiểm tra đánh giá, chúng ta hãy xem kiểm tra đánh giá việc rèn
chữ giữ vở là nhằm tìm ra khiếm khuyết và tìm hướng tư vấn cho giáo viên. Phải biết


kịp thời động viên khuyến khích học sinh và giáo viên. Phải kịp thời tư vấn Ban
giám hiệu nhà trường khen thưởng tập thể và cá nhân có ý thức tốt trong cơng tác rèn
chữ giữ vở. Phải xem thành công của từng thành cơng trong khối là thành cơng của
bản thân mình.


* Đối với giáo viên:


Giáo viên phải nắm vững quy trình của các con chữ, coi vai trị mẫu mực của
mình trong viết chữ và rèn luyện cho học sinh chữ viết đẹp là mục tiêu phấn đấu hàng
đầu.


Thường xuyên quan tâm hướng dẫn, uốn nắn tư thế ngồi, cách cầm bútem có thói
quen xấu.


Tăng cường quản lí lớp trong từng tiết dạy, đặc biệt quan tâm đến những đối
tượng học sinh yếu. Chấm chữa bài chính xác, cho điểm và nhận xét đúng, chỉ ra
những chỗ cần sửa chữa để học sinh biết cách khắc phục. Phải có tính kiên trì, chịu
khó và có tình thương u đối với học sinh.


Giáo viên là người trực tiếp rèn luyện cho học sinh nề nếp và kỹ thuật viết chữ,
giúp học sinh có những hiểu biết về dòng kẻ, đường kẻ, độ cao từng con chữ, cỡ chữ,
hình dáng và tên gọi các con chữ, cấu tạo các chữ, khoảng cách giữa các nét chữ và
giữa các chữ cái, giữa các tiếng, cách viết các chữ viết thường, dấu thanh và chữ số.
Viết đúng quy trình viết các nét chữ cái và liên kết chữ cái, tạo chữ ghi tiếng theo yêu
cầu liền mạch, viết thẳng hàng các dịng chữ trên dịng kẻ. Ngồi ra học sinh còn
được rèn luyện các kỹ năng như: tư thế ngồi viết, cách cầm bút, cách đặt vở,...


* Đối với học sinh:


Giúp cho các em biết được chữ viết đẹp có ý nghĩa quan trong thế nào, để viết


chữ đẹp thì phải rèn luyện và nắm vững cách viết từng con chữ trong bảng chữ cái.
* Đối với gia đình học sinh:


Giáo viên phải định hướng cho phụ huynh thấy rõ tầm quan trọng của việc rèn
chữ viết trong nhà trường và thường xuyên tạo điều kiện để con em của mình viết
được những nét chữ ngày càng đúng, đẹp và hoàn hảo.


PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận


Sau một thời gian nghiên cứu thực hiện, tôi thấy rằng:


- Phong trào “ Nét chữ - nết người” đạt được kết quả cao là nhờ sự ủng hộ nhiệt
tình, sự đồn kết nhất trí cao của tập thể giáo viên, học sinh, hội cha mẹ học sinh, phụ
huynh và kế hoạch chỉ đạo sát sao của nhà trường, của tổ chuyên môn.


- Xác định được tổ chuyên môn là pháo đài để nâng cao chất lượng toàn diện cho
học sinh. Tổ chuyên môn vạch kế hoạch kịp thời, chỉ đạo xuyên suốt cả năm học.
. - Chất lượng chữ viết của học sinh nói chung được nâng lên rất nhiều, đa số các em
có ý thức trong việc luyện chữ ở lớp và ở nhà.


- Học sinh viết đúng mẫu, đảm bảo tốc độ, đúng kỹ thuật viết và nhiều em có nét
chữ đẹp và sáng tạo.



(18)

Đạt được kết quả trên là nhờ:
Giáo viên


- Giáo viên thấy được tâm quan trọng của việc rèn chữ đẹp và giữ vở sạch. Đây là
một nhiệm vụ cần thiết trong việc nâng cao chất lượng dạy và học của bậc Tiểu học
từ đó có quyết tâm thực hiện tốt việc rèn luyện cho học sinh có nề nếp, là điều kiện


để học tập tốt.


- Giáo viên chủ nhiệm trực tiếp giảng dạy nhiệt tình, chăm lo, tâm huyết với nghề,
đầu tư thời gian và rèn luyện thường xuyên trong từng tiết học, ngoài giờ lên lớp
- Giáo viên chủ nhiệm có kế hoạch nâng cao nắm vững yêu cầu khả năng rèn luyện
học sinh có nề nếp vở sạch chữ đẹp, tổ chức thực hiện thường xuyên việc khảo sát,
chấm vở về rèn chữ và giữ vở một cách cụ thể. Đồng thời tiến hành phân loại chữ
viết của học sinh để có kế hoạch, biện pháp rèn luyện học sinh có kết quả.


- Trong cách trình bày bảng và ghi vào vở cho học sinh, giáo viên ln viết nắn nót
vì đây chính là trang viết mẫu mực đầu tiên của mình cho HS nhìn thấy.


- Phối hợp với phụ huynh rèn luyện và tổ chức thi đua khen thưởng đối với những
học sinh viết đẹp. Đồng thời uốn nắn tư thế ngồi của học sinh qua từng tiết học, từng
môn học.


Tuy nhiên viết chữ đẹp cũng cần một chút nhỏ sự tài hoa và không phải ai cũng
viết được thật đẹp, cho nên giáo viên là người luôn phải luyện viết thường xun.
Ngồi ra thì giáo viên cũng có vở luyện viết để tập viết các bài viết luyện chữ đẹp và
sáng tạo theo đúng quy định.


Về phụ huynh


- Phụ huynh sắm vở, đồ dùng học tập đúng quy định: Vở 4 ô ly rõ, giấy trắng, bút
viết tốt ra mực đều.


- Thường xuyên theo dõi, kiểm tra vở của con em.


- Chú ý nhắc nhở con em thực hiện tốt những bài tập viết do cơ giáo dặn dị các em
viết ở nhà.



Về học sinh


- Phải có lịng say mê và tinh thần quyết tâm thực hiện phong trào “viết chữ đẹp”.
- Phải thực hiện đúng và tốt những lời cô giáo và phụ huynh dạy bảo.


- Học sinh đã xác định được sự cần thiết của việc rèn chữ viết nên các em rất hăng
say, lo lắng.


Tôi nghĩ rằng việc giữ vở và rèn chữ viết không những thực hiện trong tiết tập viết
mà cịn thực hiện trong các giờ học mơn khác và cả trong việc học.


2. Kiến nghị


Để giúp các em học sinh nỗ lực phấn đấu và phong trào “vở sạch, chữ đẹp” được phát
triển rộng rãi và duy trì tốt trong những năm học tới tơi xin đề nghị:


* Nhà trường cần:


- Tham mưu với các cấp lãnh đạo quan tâm đầu tư trang bị về bàn ghế ngồi của
học sinh cho đúng quy cách và phù hợp với từng lứa tuổi các em.


- Vận động phụ huynh thường xuyên quan tâm đến việc học tập của con em mình
( trang bị bút lá tre và bút chì đầy đủ cho các em; nhắc nhở các em giữ gìn sách vở
và đồ dùng học tập, khơng để đánh mất; sắp xếp cho các em có góc học tập phù hợp).
Thường xuyên kiểm tra vở học của con em mình.



(19)

- Tổ chức cho giáo viên trao đổi kinh nghiệm trong sinh hoạt chuyên môn tổ để học
tập lẫn nhau trong việc rèn chữ, giữ vở cho học sinh.



Xây dựng thành công phong trào “Viết ch÷ đẹp” Trong tổ chun mơn, trong nhà
trường là một việc làm thường xuyên, hết sức cần thiết và quan trọng, không thể thiếu
trong việc tổ chức các hoạt động tồn diện trong trường Tiểu học. Bởi vì nó sẽ giúp
học sinh biết giữ cẩn thận sách vở của mình, có ý thức luyện viết chữ đẹp làm cho
việc học tập của các em được dễ dàng, thuận lợi và hiệu quả cao hơn. Để có được nét
chữ đẹp, ngoài năng khiếu bẩm sinh, mỗi người phải trải qua q trình rèn luyện. Bên
cạnh đó cịn thĨ hiện được ý thức của con người trong quá trình học tập v rốn luyn.
ú l tớnh cn thận, tính kiên trì.


Trờn đõy là một số kinh nghiệm nhỏ bộ của bản thõn tụi trong cụng tỏc chỉ đạo và
thực hiện “rốn chữ đẹp” cho học sinh song khụng khỏi cú những hạn chế. Tụi rất
mong nhận được sự đúng gúp, bổ sung của chuyờn mụn nhà trường, của hội đồng
khoa học để sỏng kiến của tụi được ỏp dụng trong thực tế phự hợp hơn!





×