Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

QUAN ĐIỂM CỦA J.LOCKE VỀ NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (939.14 KB, 9 trang )

(1)

Tập 170, số 10, 2017



Tập 170


, Số


10



(2)

Tạp chí Khoa học và Công nghệ





CHUYÊN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ



Môc lôc

Trang



Lưu Bình Dương, Nguyễn Văn Tiến - “Thiêng hóa” - yếu tố cơ bản cấu thành luật tục 3
Nguyễn Thị Mai Chanh, Bùi Thuỳ Linh - Phương thức huyền thoại hoá nhân vật trong Tửu quốc của Mạc Ngôn 9
Phạm Văn Cường - Nghiên cứu sự thích ứng với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ của sinh viên dân


tộc thiểu số miền núi phía Bắc 15


Bùi Linh Phượng, Mai Thị Ngọc Hà - Phân tích, so sánh nội dung tốn học trong chương trình đào tạo ngành


nông lâm nghiệp của một số trường đại học trên thế giới 19
Trịnh Thị Kim Thoa - Thực trạng và giải pháp để nâng cao chất lượng học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh tại


Trường Đại học Cơng nghệ Thơng tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên 25
Thân Thị Thu Ngân - Kỷ niệm 90 năm ra đời tác phẩm “Đường Kách mệnh” (1927 – 2017) - Ý nghĩa lý luận


và thực tiễn việc nghiên cứu tác phẩm “Đường Kách mệnh” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh 31


Ma Thị Ngần - Một số đặc điểm cần lưu ý khi xây dựng chương trình mơn học giáo dục thể chất nhằm nâng


cao kết quả học tập của sinh viên 35
Dương Thị Hương Lan, Nguyễn Vũ Phong Vân, Nguyễn Hiền Lương - Ứng dụng các hoạt động học tập


trải nghiệm vào trong một giờ học nói tiếng Anh ở Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – Đại học


Thái Nguyên 41


Lê Ngọc Nương, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Hải Khanh - Xây dựng khung lý thuyết về sự hài lịng trong cơng việc


của người lao động tại Cơng ty Cổ phần Quản lý và Xây dựng giao thông Thái Nguyên 47
Đoàn Quang Thiệu - Xây dựng hệ thống nghiệp vụ kinh tế phát sinh và bộ chứng từ kế toán mẫu để thực hành


cho sinh viên 53


Đỗ Thị Hà Phương, Đoàn Thị Mai, Chu Thị Hà, Nguyễn Thị Giang - Các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng


chi trả của người tiêu dùng đối với thực phẩm an toàn trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 59
Nguyễn Thị Thanh Thủy - Phân tích tình hình tài chính của cơng ty cổ phần FPT 65
Vũ Hồng Vân, Lương Thị Mai Uyên - Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí trong q trình hội nhập


kinh tế quốc tế 71
Nguyễn Thị Linh Trang, Bùi Thị Ngân - Phát triển dịch vụ thanh tốn khơng dùng tiền mặt tại Ngân hàng


Thương mại Cổ phần quân đội – chi nhánh Thái Nguyên 77
Nguyễn Thị Lan Anh, Nông Thị Vân Thảo - Xây dựng hệ thống hỗ trợ quản lý chấm điểm cán bộ tại sở giao


dịch Vietcombank 85



Nguyễn Thu Nga, Kiều Thị Khánh, Hoàng Văn Dư - Hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng khi tính đến rủi


ro tín dụng 91


Nguyễn Thị Vân, Nguyễn Bích Hồng - Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Giang theo


hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2020, tầm nhìn 2030 97
Đàm Thị Phương Thảo, Nguyễn Tiến Mạnh - Đánh giá ảnh hưởng của một số nhân tố đến hiệu quả hoạt động


kinh doanh của các công ty bất động sản niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam 103
Phạm Thị Huyền - Án lệ và việc áp dụng án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam 109
Dương Thị Huyền - Mối quan hệ của thương điếm Anh ở Hirado (1613- 1623) với chính quyền Nhật Bản 115
Trần Nguyễn Sĩ Nguyên - Dân vận khéo là vấn đề cốt lõi trong nghệ thuật hoạt động chính trị Hồ Chí Minh 121


Đinh Thị Giang - Quan điểm của J.Locke về nguồn gốc và bản chất của nhà nước 127


Journal of Science and Technology



170

(10)




(3)

Trần Bảo Ngọc, Lê Thị Lựu, Bùi Thanh Thủy và cộng sự - Nhận thức của sinh viên Dược về môi trường giáo


dục tại trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên bằng bảng hỏi DREEM 131
Lương Ngọc Huyên - Thực trạng việc vận dụng toán học vào thực tiễn trong dạy học và kiểm tra, đánh giá kết


quả học tập mơn Tốn của học sinh lớp 10 ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tuyên


Quang, nguyên nhân và giải pháp 137
Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Xuân Trường, Hoàng Thị Giang - Tiếp cận địa lý trong nghiên cứu quan hệ



giữa phát triển kinh tế gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng khu vực các xã vùng cao biên giới (ví dụ tại tỉnh


Hà Giang) 143


Đỗ Thị Quyên, Nguyễn Thị Kim Tuyến - Nghiên cứu các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi mua trực tuyến của


người tiêu dùng tỉnh Thái Nguyên 149
Phương Hữu Khiêm, Nguyễn Đắc Dũng, Nguyễn Ngọc Lý - Phát triển thị trường sản phẩm đầu ra cho rừng


trồng sản xuất theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 155
Phan Thị Thanh Huyền, Hà Xuân Linh- Nghiên cứu giá đất ở trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 161
Nguyễn Thị Vân Anh - Thu hút đầu tư – động lực và cơ sở phát triển kinh tế bền vững tỉnh Thái Nguyên 167
Văn Thị Quỳnh Hoa, Nguyễn Lan Hương - Hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giảng


dạy tiếng Anh cho sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên 173
Mai Văn Cẩn - Sử dụng hình tượng nhân vật Thạch Sanh trong một số hoạt động dạy thực hành tiếng Anh bậc


trung học phổ thông 179


Đỗ Thị Hương Liên - Bàn thêm về cuộc khởi nghĩa của Hồng Đình Kinh (Cai Kinh) và mối liên hệ với các


cuộc khởi nghĩa đương thời 185


Phạm Văn Quang, Nguyễn Huy Ánh - Giải pháp tăng cường tính tích cực, chủ động trong học tập của sinh


viên khoa Thể dục thể thao trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 191
Nguyễn Thị Minh Thu, Bùi Thị Ngọc Anh - Ca dao, dân ca làng chài Vịnh Hạ Long - nét văn hóa mang đậm


yếu tố biển 197



Đặng Anh Tuấn, Ngô Thị Minh Hằng, Phạm Thị Trung Hà - Sự hồi phục của thị trường bất động sản và rủi


ro kinh doanh của các công ty bất động sản 203
Lê Văn Thơ, Vũ Anh Tuấn - Đánh giá tình hình sử dụng đất tại các khu đô thị trên địa bàn thành phố Việt Trì,



(4)

Đinh Thị Giang Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ 170(10): 127 - 130


127


QUAN ĐIỂM CỦA J.LOCKE VỀ NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC



Đinh Thị Giang*


Trường Đại học Y Dược – ĐH Thái Nguyên


TÓM TẮT


Triết gia người Anh, John Locke là một trong những tên tuổi nổi bật nhất trong lịch sử tư tưởng
phương Tây thế kỷ XVII và được xem là một trong những cội nguồn tri thức của phong trào Khai
sáng của Châu Âu.Những kiến giải của J.Locke dựa trên cái phương án chung của triết học chính
trị thế kỉ XVII và XVIII, là quan niệm về các quyền tự nhiên và khế ước xã hội,vừa tiếp nối dòng
chảy liên tục của tư tưởng nhân loại về phạm trù “nhà nước”, “quyền lực” từ thời Hy Lạp - La Mã
cổ đại đến thời Phục hưng, vừa góp phần tạo tiền đề trực tiếp cho trào lưu Khai sáng Pháp thế kỷ
XVIII và ghi dấu ấn rõ nét trong tư duy và hành động của các nhà lập quốc Mỹ sau này.


Từ khóa: Nhà nước, quyền lực, Triết học chính trị, John Locke, Xã hội công dân.


ĐẶT VẤN ĐỀ *


Triết gia người Anh John Locke (1632-1704)


là một trong những tên tuổi nổi bật nhất trong
lịch sử tư tưởng phương Tây thế kỷ XVII và
được xem là một trong những cội nguồn tri
thức của phong trào Khai sáng của Châu Âu.
Tư tưởng chính trị của J.Locke ảnh hưởng sâu
rộng đến tư tưởng chính trị Anh và Tây Âu.
Các nhà khai sáng Pháp, mà Montesquieu là
một trong những người mở đường, đón nhận
J.Locke, xem ơng như bậc tiền bối của lý luận
về nhà nước pháp quyền hiện đại.


GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Nguồn gốc của nhà nước


Luận giải về vấn đề này là giá trị bao trùm và
nổi bật trong tư tưởng chính trị của J.Locke.
Chính lý thuyết về quyền tự nhiên và khế ước
xã hội là cốt lõi cơ bản trong quan điểm của
J.Locke về nhà nước và tổ chức nhà
nước.Theo ông, sự kết hợp giữa con người về
tự nhiên có trước sự kết hợp giữa con người
với con người. Trong quan hệ tự nhiên đó,
luật tự nhiên hay các quyền tự nhiên chi phối
và thống trị. Ở đó, những quyền tự nhiên của
con người là tối cao và bất khả xâm phạm. Đó
là quyền được sống, quyền tự do, quyền sở
hữu. Quyền tự nhiên được J.Locke nhắc tới
trước hết là quyền mưu cầu sinh tồn của con
người. Ông quan niệm, “tài sản là quyền tự





*


Tel: 0987128483, Email: giangdhytn@gmail.com


nhiên và sinh ra do lao động. Chính lao động
sinh ra giá trị tài sản của một vật thể. Tài sản
là tính có trước cả nhà nước và do vậy, nhà
nước khơng có quyền can thiệp” [1].


Theo J.Locke, nhà nước ra đời xuất phát từ
nhu cầu kinh tế. Ông cho rằng, lao động tạo ra
của cải, nhưng việc tích lũy của cải cũng có
giới hạn vì khả năng sản xuất và tiêu thụ có
hạn của con người. Để giải quyết vấn đề này
cần có lưu thơng tiền tệ vì chính tiền tệ khiến
việc tích lũy là có thể mà tránh khơng bị lãng
phí hay hư hỏng như khi tích lũy hàng hóa.
Ơng cho rằng, bất bình đẳng sinh ra do sự
thỏa thuận ngầm trong việc sử dụng tiền tệ
chứ không phải từ khế ước xã hội trong xã hội
văn minh hay do các luật lệ điều chỉnh quyền
sở hữu đất đai” [1]. Ông cũng nhận thức được
vấn đề đặt ra từ việc tích lũy khơng có giới
hạn, nhưng mới chỉ ám chỉ rằng chính quyền
cần điều hịa mâu thuẫn giữa việc tích lũy của
cải khơng có giới hạn, với việc phân phối của
cải bình đẳng hơn, mà chưa hề đề cập đến
những nguyên tắc mà dựa vào đó, chính


quyền giải quyết được việc này.



(5)

Đinh Thị Giang Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ 170(10): 127 - 130


128


người tham khảo nó rằng, vì mọi người bình
đẳng với nhau, không ai được làm hại người
khác về sinh mạng, sức khoẻ, tự do hay của
cải” [1, tr. 377]. Một cách tích cực, luật tự
nhiên đòi hỏi người ta bảo tồn sự sống của
mình và của người khác. Trong trạng thái tự
nhiên, mọi người có quyền bảo vệ tài sản của
mình chống lại người khác – tài sản là từ
J.Locke dùng để chỉ chung “sự sống, tự do, và
của ai” [1, tr.377].


J.Locke hỏi tại sao có người muốn rời bỏ trạng
thái tự nhiên và nhiều tự do của nó, để chấp
nhận lệ thuộc một quyền bính chính trị. Câu trả
lời khá đơn giản, mặc dù một người trong
trạng thái tự nhiên sở hữu tài sản (sự sống, tự
do, của cải) nhưng việc “hướng nó trong trạng
thái này rất thiếu an toàn, rất bấp bênh”.
J.Locke nói rằng: mục đích lớn và chính của
việc con người kết hợp thành các quốc gia và
đặt mình dưới sự cai trị của chính quyền là
việc bảo vệ tài sản của họ. J.Locke liệt kê ba
sự “bất tiện” của trạng thái tự nhiên: không
phải mọi người đều biết luật tự nhiên; khơng


có người xét xử vô tư để giải quyết các tranh
chấp giữa các cá nhân và khơng có cách hiệu
quả để bắt buộc thi hành luật. Chính vì vậy
“người ta muốn có một bộ luật bằng chữ viết
và một trọng tài phân xử độc lập để giải quyết
tranh chấp. Để đạt những mục tiêu này, người
ta tạo ra một chính quyền dân sự” [2, tr. 221].


Như vậy, do ý thức các khiếm khuyết này của
trạng thái tự nhiên, để bảo vệ những quyền tự
nhiên thiêng liêng của mình mà mọi người,
mọi thành viên trong xã hội “ký kết” hình
thành chính quyền. Đó là cơ quan quyền lực
chung mà chức năng gốc của nó là bảo vệ
những quyền tự nhiên của mỗi con người.
Quyền lực chung đó khơng phải tự nó có mà
là tổng hợp của sự ủy quyền của mọi thành
viên xã hội – công dân.


Bản chất của nhà nước


Theo quan điểm của J.Locke, nhà nước ra đời
trên cơ sở khế ước xã hội. Theo khế ước xã
hội, nhà nước khơng cần có quá nhiều quyền


lực, vì như vậy chỉ khiến người dân bị đè
nén.Ông cũng nhận thấy “nguy cơ của quyền
lực tuyệt đối, quyền lực độc tài dù trao cho
một cá nhân hay một nhóm người. Dạng nhà
nước tốt nhất chính là quyền lực của hệ thống


chính quyền được hạn chế bằng cách chia
thành các nhánh và mỗi nhánh có quyền hạn
riêng cần thiết đủ để thực hiện chức năng của
mình. Theo ơng, một hệ thống nhà nước cần
có quyền xét xử độc lập mà việc ra quyết định
được thực hiện chỉ dựa trên duy nhất hiến
pháp của cả quốc gia” [1]. Ông cho rằng,
trách nhiệm của quốc hội là lập pháp và
nhiệm vụ của nhà vua là hành động như một
người chấp pháp tối cao.


Từ quan niệm này, ông đã dành cho thuyết
phân quyền trong quyền lực nhà nước một ý
nghĩa đặc biệt. Theo ơng, hai nhánh quyền lực
chính là quyền lập pháp và quyền hành pháp.
Theo J.Locke quyền hành pháp thuộc về nhà
vua. Nhà vua lãnh đạo việc thi hành pháp
luật, bổ nhiệm các bộ trưởng, chánh án, và
các quan chức khác. Hành động của nhà vua
phụ thuộc vào pháp luật và vua không có đặc
quyền nhất định nào đối với nghị viện (như
quyền phủ quyết, bãi miễn…) để nhằm không
cho phép nhà vua thâu tóm tồn bộ quyền lực
về tay mình và xâm phạm các quyền tự nhiên
của công dân. Nhà vua cũng thực hiện quyền
liên minh (liên bang) tức là giải quyết các vấn
đề chiến tranh, hồ bình và đối ngoại.



(6)

Đinh Thị Giang Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ 170(10): 127 - 130



129
hạnh phúc, để tự bảo tồn và liên kết với


những công dân khác trong một xã hội tự do
nhưng có kỉ cương.


Theo J. Locke, “quyền hành pháp có tính chất
phụ thuộc, song khơng nên hiểu tính chất phụ
thuộc này một cách đơn giản. Một mặt, người
nắm giữ quyền hành pháp phải dựa vào khung
pháp lí chung; mặt khác, không phải lúc nào
quyền lập pháp cũng quán xuyến mọi thứ. Do
vậy, quyền hành pháp không chỉ là điều hành
công việc, mà cịn là góp phần làm ra những
luật cụ thể và điều chỉnh những luật ấy. Luật
phải được cập nhập, mà muốn cập nhập phù
hợp với biến đổi thực tiễn thì lại phải cần đến
những chất liệu từ cơ quan hành pháp. Hơn
nữa, mặc dù quyền lập pháp được coi là
quyền tối cao và thiêng liêng, nhưng vẫn
không được phép vượt quá xa so với quyền
lợi của công dân. Mọi người dân đều phải tin
vào cơ quan lập pháp và hành pháp để thực
hiện hố quyền cơng dân của chính mình.
Khơng phải cơ quan lập pháp, mà nhân dân
mới là người nắm giữ quyền lực thực sự” [2].


Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phân
chia quyền lực chủ yếu để những người làm
luật tuân thủ, thích nghi các luật họ làm ra


trong việc làm luật và thi hành luật, cho phù
hợp với lợi ích riêng tư của họ. Vì vậy, cơ
quan hành pháp “ở dưới luật”. Cả cơ quan lập
pháp cũng không phải tuyệt đối, mặc dù nó là
“tối cao”, vì quyền lập pháp được coi là một
sự uỷ thác và vì thế chỉ là một quyền được
giao phó do sự tin tưởng. Rốt cuộc, “vẫn còn
trong tay nhân dân một quyền tối cao để loại
bỏ hay thay đổi cơ quan lập pháp khi họ thấy
cơ quan lập pháp đi ngược lại sự uỷ thác của
họ” [2, tr. 222]. J.Locke không bao giờ đồng ý
rằng dân chúng đã trao quyền cho nhà cầm
quyền (chúa tể) một cách không thể thu hồi.
Ông chấp nhận quyền nổi loạn, nhưng nó chỉ
được biện minh khi chính quyền bị giải thể.
Theo J.Locke, chính quyền tan rã không chỉ
khi nó bị kẻ thù ở bên ngồi lật đổ, mà cịn khi
trong nội bộ có sự thay đổi cơ quan lập pháp.
Ngành lập pháp có thể bị thay đổi, ví dụ nếu


hành pháp lấy luật của mình thay cho luật của
luật pháp, hay nếu hành pháp khơng chu tồn
việc thi hành các luật chính thức, trong những
trường hợp này, nổi loạn được biện minh.


J.Locke cũng phân biệt quyền hạn của nhà
nước do truyền ngôi với quyền hạn chính trị
và độc tài. Quyền hạn truyền ngôi là hạn chế,
cịn quyền hạn chính trị là lấy từ quyền của
mỗi cá nhân để đảm bảo việc thực hiện luật


của tự nhiên. Quyền độc tài thì ngược lại, nó
lấy quyền sống, tự do, sức khỏe và cả một
phần của cải của người khác để phục vụ cho
quyền lực của mình


Về bản chất của nhà nước, J.Locke có ba kết
luận quan trọng: Quyền lực nhà nước, về bản
chất là quyền của nhân dân.Quyền lực của
nhân dân là cơ sở, là nền tảng của quyền lực
nhà nước. Trong quan hệ với dân, về bản
chất, nhà nước khơng có quyền mà chỉ là
thực hiện sự uỷ quyền của dân.


Nhà nước - xã hội chính trị - xã hội công dân,
thực chất là một “khế ước xã hội”, trong đó,
các cơng dân nhượng một phần quyền của
mình để hình thành quyền lực chung đó điều
hành, quản lý xã hội nhằm bảo toàn những
quyền lực tự nhiên của mỗi cá nhân công dân.
Vì thế, một khi hợp đồng bị vi phạm, chính
quyền làm sai lạc mục đích của hợp đồng, khi
đó các cơng dân có quyền (kể cả đứng lên
cầm vũ khí) huỷ bỏ “những khế ước” đã ký.


Như J.Locke đã chỉ ra “sau khi có sự hợp nhất
đầu tiên của đa số người tạo thành xã hội, một
quyền lực toàn thể của cộng đồng trở thành
cái đương nhiên có ở họ, và đa số đó có thể
thường xuyên sử dụng tất cả quyền lực này
trong việc làm ra luật cho cộng đồng và thực


thi các luật đó bằng các quan chức do chính
họ bổ nhiệm, và như vậy hình thức của chính
quyền này là một nền dân chủ hoàn hảo”.



(7)

Đinh Thị Giang Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ 170(10): 127 - 130


130


nhiên”, theo J.Locke thích hợp nhất là chế độ
quân chủ lập hiến.


Như vậy, theo quan điểm của J.Locke, quyền
lực của nhà nước là có giới hạn và nhà nước
có nghĩa vụ đối với người dân. Ngồi ra,
quyền lực của nhà nước có thể bị thay đổi bởi
chính người dân, người bị trị, những người đã
trao quyền cho nhà nước. Đó là những giá trị
trong tư tưởng của J.Locke về Nhà nước.


KẾT LUẬN


Tóm lại, theo quan điểm của J.Locke, quyền
lực của nhà nước là có giới hạn và nhà nước
có nghĩa vụ đối với người dân. Ngoài ra,
quyền lực của nhà nước có thể bị thay đổi bởi
chính người dân, người bị trị, những người đã
trao quyền cho nhà nước. Để duy trì trật tự xã
hội, bất kì nhà nước nào cũng đều phải có sự
đồng thuận của những người bị trị. J.Locke
cũng nhận thấy rằng, khó có thể đạt được sự


đồng thuận cho một luật lệ cụ thể được đưa
ra, J.Locke chủ trương phải chấp nhận đặt sự
quyết định dựa trên ý kiến của đa số lên trên
hành vi của mỗi cá nhân.


J.Locke không chỉ là người cha của chủ nghĩa
tự do mà là trí tuệ của những cuộc cách mạng
đã thành công, ông đã phác hoạ, vạch ra
những u cầu có tính chất “tất yếu kỹ thuật”
cho việc thiết kế các thiết chế chính trị sau khi
lật đổ chuyên chế, coi tự do là giá trị chủ đạo.


Quan điểm của J.Locke về nhà nước, bên
cạnh những hạn chế thì vẫn cịn những giá trị
nhất định. Những giá trị này là tiền đề tư
tưởng cho Chủ nghĩa Mác kế thừa và hoàn
thiện học thuyết của mình và là mục tiêu phấn
đấu của nhiều dân tộc trong đó có Việt Nam
chúng ta.


TÀI LIỆU THAM KHẢO


1.https://vi.wikipedia.org/wiki/John_Locke

2.http://www.triethoc.info/2014/02/triet-hoc-xa-hoi-cua-john-locke.html


3.Samuel Enoch Stumpf, Donald C.Abel (2004),
người dịch Lưu Văn Hy, Nhập môn triết học


phương Tây, Nxb Tổng hợp TPHCM.



4.Samuel Enach Stumpf (2004), người dịch Đỗ Văn
Thuấn, Lưu Văn Hy, Lịch sử triết học và các luận


đề, Nxb Lao động, Hà Nội.


SUMMARY


J. LOCKE’S THOUGHTS OF THE ORIGIN
AND CHARACTERISTICS OF CIVIL SOCIETY


Dinh Thi Giang*


University of Medicine and Pharmacy - TNU


The English philosopher, John Locke was one of the most prominent in the history of Western
thought in the seventeenth century and is considered one of the sources of knowledge of the
Enlightenment movement of Europe.J. Locke’s explanations, based on the general ideas of the
political philosophy in the seventeenth and eighteenth centuries are the concepts of natural guides
and social contract, which either inherited the flow of the constant human’s ideas on “the state”,
“power” from the Greco – Roman period to Renaissance or made contribution to creating direct
premises to the French Enlightenment movement in the eighteenth century and making an
impression in American Founding Fathers’s mind and actions.


Key words: the state, power, political philosophy, John Locke, Civil society


Ngày nhận bài: 04/7/2017; Ngày phản biện: 01/8/2017; Ngày duyệt đăng: 28/9/2017





*



(8)

soT

T¹p chÝ Khoa häc và Công nghệ





SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS



Content

Page


Luu Binh Duong, Nguyen Van Tien - "Sacred" fundamental structure of customary law 3
Nguyen Thi Mai Chanh, Bui Thuy Linh - The characters of mythology in “The Republic of Wine” by


Guan Moye 9


Pham Van Cuong - Studying adaptation to the training menthod of the credit for northern mountainous ethnic


minority students 15
Bui Linh Phuong, Mai Thi Ngoc Ha - Analysis and comparison of mathematical content in the forestry


agricultural sector training program of a number of universities in the world 19
Trinh Thi Kim Thoa - The situation and the solutions to improve the quality of teaching and learning Ho Chi


Minh ideology at University of Information and Communication Technology – TNU 25
Than Thi Thu Ngan - The 90th anniversary of the publication of "Duong Kach menh" book (1927 – 2017)


Theoretical and practical meaning of the work “Duong Kach menh” of the leader Nguyen Ai Quoc - Ho Chi Minh 31
Ma Thi Ngan - Some features should be regarded when building a physical education program to increase the


learning result of students 35



Duong Thi Huong Lan, Nguyen Vu Phong Van, Nguyen Hien Luong - Applied experiential learning
activities in an English speaking lesson of University of Economics and Business Administration - Thai


Nguyen University 41


Le Ngoc Nuong, Nguyen Thi Ha, Nguyen Hai Khanh - Building the theory of integrity of satisfaction in the


work of laborers at Thai Nguyen Traffic Trading and Management Joint Stock Company 47
Doan Quang Thieu - Establishing the standard sample system of occurred economic operations and accounting


vouchers for students' practice 53
Do Thi Ha Phuong, Doan Thi Mai, Chu Thi Ha, Nguyen Thi Giang - Factors influencing willingness to pay


for safety food in Thai Nguyen city, Thai Nguyen province 59
Nguyen Thi Thanh Thuy - Analysis of FPT Joint Stock Company 's financial situation 65
Vu Hong Van, Luong Thi Mai Uyen - Strengthen competitive capability of mechanical industry in the process


of international economic integration 71
Nguyen Thi Linh Trang, Bui Thi Ngan - The development of non - cash payment service at military JSC Bank


– Thai Nguyen branch 77


Nguyen Thi Lan Anh, Nong Thi Van Thao - Building the system of management support in scoring staffs at


Vietcombank transaction deparment 85
Nguyen Thu Nga, Kieu Thi Khanh, Hoang Van Du - Investigation of commercial bank’s efficiency with


credit risk incorporated 91



Nguyen Thi Van, Nguyen Bich Hong - Solutions to promote the economic structural transformation in Bac


Giang province towards industrialization and modernization to 2020 with a vision to 2030 97
Dam Thi Phuong Thao, Nguyen Tien Manh - Estimating the effect of some factors on operational efficiency


of real estate companies posted up in Viet Nam stock market 103
Pham Thi Huyen - Precedent and the application of precedent in Vietnam law system 109
Duong Thi Huyen - The relationship of the English's factory in Hirado (1613- 1623) with Japan government 115
Tran Nguyen Si Nguyen - Subtle mass mobilization is core of political activism art of Ho Chi Minh 121


Journal of Science and Technology



170

(10)




(9)

Dinh Thi Giang - J. Locke’s thoughts of the origin and characteristics of civil society 127
Tran Bao Ngoc, Le Thi Luu, Bui Thanh Thuy et al - The pharmaceutical students’ perception of educational


environment at Thai Nguyen University of Medicine and Pharmacy by DREEM questionnare 131
Luong Ngoc Huyen - A current issue of applying mathemarics into teaching practice and assessing,


evaluating the result of learning mathemarics of 10th grade students in high schools in Tuyen Quang city,


causes and solutions 137
Nguyen Thi Hong, Nguyen Xuan Truong, Hoang Thi Giang - Geographical approaches in research of the


relationship between economic development and ensuring national defense and security for border communes,


Ha Giang province 143


Do Thi Quyen, Nguyen Thi Kim Tuyen - Study psychological factors which affect to the buy online behavior of



consumers in Thai Nguyen province 149
Phuong Huu Khiem, Nguyen Dac Dung, Nguyen Ngoc Ly - Developing the output product market for forest


plantations followed sustainable trend in Dong Hy district, Thai Nguyen province 155
Phan Thi Thanh Huyen, Ha Xuan Linh - Study on residental land price in Soc Son district, Ha Noi city 161
Nguyen Thi Van Anh - Attracting investment – motivation and foundation to develop sustainable economic in


Thai Nguyen province 167


Van Thi Quynh Hoa, Nguyen Lan Huong - The effects of information technology in teaching English to first


year students at University of Agriculture and Forestry - Thai Nguyen University 173
Mai Van Can - Using the character of Thach Sanh in teaching English practice at secondary school 179
Do Thi Huong Lien - Discussion on revolution of Hoang Dinh Kinh (Cai Kinh) and relationship with


contemporary revolutions 185


Pham Van Quang, Nguyen Huy Anh - Solutions to enhance the activeness of study of students physical


education and sport faculty at Thai Nguyen University of Education 191
Nguyen Thi Minh Thu, Bui Thi Ngoc Anh - Folk songs in fishing village of Ha Long Bay - characterristics of


sea culture 197


Dang Anh Tuan, Ngo Thi Minh Hang, Pham Thi Trung Ha - Recovering of real estate market and business


risk of real estate companies 203


Le Van Tho, Vu Anh Tuan - Assessment land use in urban areas in Viet Tri city – Phu Tho province from



2011 to 2016 209





×