Tải bản đầy đủ (.pdf) (26 trang)

Hoàn thiện phân tích tình hình tài chính của các Công ty chứng khoán Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (650.21 KB, 26 trang )

(1)

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO


TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

------



NGUYỄN THỊ CẨM THÚY



HỒN THIỆN PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH



CỦA CÁC CƠNG TY CHỨNG KHỐN VIỆT NAM



Chuyên ngành : Kế toán (Kế toán, Kiểm toán và Phân tích)


Mã số : 62.34.30.01



TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ




(2)

Cơng trình đƣợc hồn thành tại

:

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân


Ngƣời hƣớng dẫn: GS.TS. Nguyễn Văn Công


Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Trọng Cơ


Phản biện 2: PGS.TS.Nguyễn Năng Phúc


Phản biện 3: PGS.TS.Ngơ Trí Tuệ


Luận án sẽ đƣợc bảo vệ tại

:

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân


Vào lúc 09 giờ 00 ngày 25 tháng 07 năm 2013



Có thể tham khảo luận án tại các thƣ viện: Thư viện Quốc gia



và Thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.



(3)

MỞ ĐẦU


1. Tính cấp thiết của đề tài luận án


Phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa vơ cùng quan trọng trong việc cung
cấp thông tin cho các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp.
Kể từ tháng 01/2012, CTCK, công ty quản lý quĩ 100% vốn nước ngoài, chi
nhánh của CTCK nước ngồi sẽ chính thức được phép đặt chân vào Việt Nam.
Để các CTCK trong nước có thể chủ động hội nhập thành công, CTCK Việt
Nam phải thường xuyên phân tích tình hình tài chính, bởi lẽ thơng tin từ phân
tích tài chính là nền tảng của mọi quyết định, và xem đây là công việc tất yếu
trong quản trị cơng ty; nó phải được thực hiện với một thái độ, nhận thức nghiêm
túc và phong cách chuyên nghiệp. Việc hồn thiện phân tích tình hình tài chính
trong các CTCK Việt Nam có ảnh hưởng trực tiếp đến các CTCK, đồng thời ảnh
hưởng gián tiếp đến sự phát triển của thị trường chứng khoán, thị trường tài
chính và xa hơn nữa là ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế.


2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án


Các mục tiêu nghiên cứu chính được xác định là:


- Làm rõ bản chất và vai trò của tài chính, hoạt động tài chính và tình hình
tài chính;


- Phân tích và đánh giá thực trạng phân tích tình hình tài chính của các
cơng ty chứng khốn nhằm khẳng định những thành cơng và hạn chế về phân
tích tình hình tài chính trong các cơng ty chứng khốn;



- Đề xuất các giải pháp cơ bản để hoàn thiện phân tích tình hình tài chính
nhằm nâng cao chất lượng thơng tin tài chính cơng bố của các cơng ty chứng
khốn.


3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án


- Đối tượng nghiên cứu:


Luận án nghiên cứu phân tích tình hình tài chính của các cơng ty chứng khốn
Việt Nam.


- Phạm vi nghiên cứu:


+ Về mặt nội dung: Luận án nghiên cứu những vấn đề liên quan đến phân


tích tình hình tài chính của các cơng ty chứng khốn (cơ sở lý luận của phân tích
tình hình tài chính, thực trạng phân tích tình hình tài chính và đề xuất các giải
pháp hồn thiện phân tích tình hình tài chính).


+ Về mặt không gian: Luận án giới hạn nghiên cứu thực trạng phân tích



(4)

+ Thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng phân tích tình hình


tài chính tại các cơng ty chứng khốn Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 đến
tháng 06/2012.


4. Câu hỏi nghiên cứu


Luận án phải giải đáp được các câu hỏi cụ thể sau:



- Những đặc trưng của cơng ty chứng khốn ảnh hưởng đến phân tích tình
hình tài chính?


- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến tổ chức, nội dung và phương pháp
phân tích tình hình tài chính trong các cơng ty chứng khốn?


- Những giải pháp và đề xuất nào thích hợp để hồn thiện phân tích tình
hình tài chính của các cơng ty chứng khoán Việt Nam?


5. Phƣơng pháp nghiên cứu luận án
5.1. Cơ sở phƣơng pháp luận


Cơ sở phương pháp luận của đề tài luận án là phương pháp luận duy vật
biện chứng; trong đó việc áp dụng các phương pháp thu thập, xử lý và phân tích
số liệu được dựa trên nền tảng nhận thức các vấn đề nghiên cứu từ cơ sở lý luận
đến hiện thực khách quan về phân tích tình hình tài chính của các cơng ty chứng
khốn Việt Nam.


5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu


Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận án sử dụng kết hợp cả phương
pháp định lượng và phương pháp định tính trong nghiên cứu.


5.3. Q trình điều tra và thu thập dữ liệu


Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra và trả lời được các câu hỏi nghiên
cứu, địi hỏi phải có đủ dữ liệu cần thiết. Nguồn dữ liệu phục vụ cho quá trình
nghiên cứu luận án gồm dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp.



6. Những đóng góp mới của đề tài


- Hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về tình hình tài
chính và phân tích tình hình tài chính trong các doanh nghiệp nói chung và trong
cơng ty chứng khốn nói riêng.


- Phân tích và đánh giá một cách khách quan những tồn tại của các cơng ty
chứng khốn Việt Nam trong phân tích tình hình tài chính và chất lượng thơng
tin tài chính do cơng ty cơng bố.


- Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan và khách quan tác động
tới tổ chức, nội dung và phương pháp phân tích tình hình tài chính trong các
cơng ty chứng khốn Việt Nam.


- Đề xuất các giải pháp và điều kiện thực hiện giải pháp hồn thiện phân
tích tình hình tài chính trong các cơng ty chứng khốn Việt Nam.


7. Kết cấu của đề tài



(5)

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu về phân tích tình hình tài chính của các
cơng ty chứng khốn.


Chương 2: Cơ sở lý luận về phân tích tình hình tài chính của các cơng ty
chứng khốn.


Chương 3: Kết quả nghiên cứu về thực trạng phân tích tình hình tài chính
của các cơng ty chứng khốn Việt Nam.



(6)

CHƢƠNG 1



GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
TÀI CHÍNH CỦA CÁC CƠNG TY CHỨNG KHỐN


Các nghiên cứu về phân tích tài chính đã được nhiều nhà khoa học đề cập
thơng qua các cơng trình khoa học như các sách chun khảo, các bài viết trên
các tạp chí, luận án, luận văn. Nhìn chung, có nhiều quan điểm khác nhau về tình
hình tài chính. Một số tác giả đồng nhất giữa tình hình tài chính với hoạt động tài
chính và tài chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, có một số tác giả lại có sự phân định
giữa tình hình tài chính doanh nghiệp với tài chính doanh nghiệp và hoạt động tài
chính.


Tác giả Trần Quý Liên cho rằng tài chính doanh nghiệp và tình hình tài
chính doanh nghiệp là cùng một nội dung, do vậy, phân tích tài chính doanh
nghiệp cũng chính là phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp. Điều này được
tác giả Trần Quý Liên thể hiện trong bài báo với tựa đề “Xây dựng hệ thống chỉ
tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp nhằm tăng cường cơng tác kiểm tốn” (Tạp
chí Nghiên cứu Khoa học Kiểm toán, năm 2011) cũng tập trung chủ yếu xây
dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp nhằm tăng cường chất
lượng kiểm toán, giúp tăng độ tin cậy của thơng tin góp phần cho nền kinh tế
phát triển ổn định và bền vững. Bài báo cũng đề cập đến một số quan điểm để
thông tin phân tích tài chính có độ tin cậy cao.


Với quan điểm đồng nhất giữa tình hình tài chính với hoạt động tài chính
và tài chính doanh nghiệp, có một số tác giả điển hình như các tác giả Ngơ Thế
Chi và Nguyễn Trọng Cơ. Các tác giả này quan niệm rằng tài chính doanh
nghiệp cũng chính là tình hình tài chính, phân tích tài chính doanh nghiệp cũng là
phân tích tình hình tài chính.


Có cùng quan điểm với các tác giả Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ là
tác giả Ngô Kim Phượng và cộng sự trong tác phẩm “Phân tích tài chính doanh


nghiệp” (2010).


Một số tác giả nước ngoài theo quan điểm đồng nhất giữa tình hình tài
chính với tài chính doanh nghiệp hay hoạt động tài chính doanh nghiệp như
nhóm tác giả Cheng F. Lee , Joan C. Junkus (1983) với bài báo có tựa đề
“Financial analysis and planning: an overview”.


Năm 2008, nhóm tác giả Yiming Hu, Thomas W.Lin, Siqi Li với bài báo
có tựa đề “An examination of factors affecting Chinese financial analyst’s
information comprehension, analyzing ability, and job quality” đã đề cập đến
những nhân tố ảnh hưởng đến sự hiểu biết thông tin, khả năng phân tích và chất
lượng cơng việc của nhà phân tích.



(7)

chính là phân tích tình hình tài chính.


Khác với quan điểm đồng nhất giữa tình hình tài chính với tài chính doanh
nghiệp và hoạt động tài chính, các tác giả Nguyễn Thu Hằng và Nguyễn Năng
Phúc trong bài báo với tựa đề “Đánh giá khái qt tình hình tài chính trong các
Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (Tạp chí Kinh tế & Phát triển, năm
2011) đã trình bày một nội dung nhỏ của phân tích tình hình tài chính trong lĩnh
vực Ngân hàng thương mại cổ phần.


Tác giả Nguyễn Ngọc Quang thể hiện quan điểm trên trong luận án với đề
tài “Hồn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các doanh nghiệp xây
dựng của Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang (năm 2002).


Quan điểm trên cũng được tác giả Trần Thị Minh Hương thể hiện trong
luận án với đề tài “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại Tổng cơng
ty Hàng không Việt Nam” thể hiện sự khác nhau giữa tình tình tài chính với tài
chính doanh nghiệp hay hoạt động tài chính.



Bên cạnh các bài báo khoa học, các luận án tiến sĩ cịn có các giáo trình đề
cập đến quan điểm phân định giữa tình hình tài chính với tài chính doanh nghiệp
và hoạt động tài chính. PGS. TS. Nguyễn Văn Cơng cho rằng: “Tình hình tài
chính của doanh nghiệp thể hiện tình trạng hay thực trạng tài chính của doanh
nghiệp tại một thời điểm. Tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu, khả
quan hay bi đát thể hiện rõ nét chất lượng của toàn bộ hoạt động mà doanh
nghiệp đã tiến hành” [5, tr.233], [6, tr.91]. Tác giả đã làm rõ điểm khác nhau
giữa hoạt động tài chính và tình hình tài chính, theo đó, hoạt động tài chính là
những hoạt động liên quan đến việc thay đổi quy mô và kết cấu vốn chủ sở hữu
và vốn vay, cịn tình hình tài chính thể hiện tình trạng hay thực trạng tài chính
của doanh nghiệp tại một thời điểm và nó phản ánh kết quả của tất cả các hoạt
động mà doanh nghiệp tiến hành.


Tác giả Nguyễn Năng Phúc cũng cho rằng tình hình tài chính doanh
nghiệp và tài chính doanh nghiệp hay hoạt động tài chính doanh nghiệp là những
phạm trù khác nhau. Tác giả này cho rằng những thơng tin tình hình tài chính của
doanh nghiệp được cung cấp trong q trình phân tích báo cáo tài chính.


Cùng quan điểm với tác giả Nguyễn Năng Phúc, tác giả Nguyễn Ngọc
Quang cũng cho rằng thơng tin tình hình tài chính của doanh nghiệp là kết quả
của q trình phân tích báo cáo tài chính [22].


Bên cạnh những tác giả trong nước, cịn có một số tác giả điển hình của
nước ngồi có cùng quan điểm về sự khơng đồng nhất giữa tình hình tài chính
với tài chính doanh nghiệp. Các tác giả cũng đã thể hiện qua các cơng trình khoa
học dưới dạng sách, các bài báo trên các tạp chí chun ngành quốc tế.


Nhóm tác giả John J. Wild, K.R. Subramanyam, Robert F. Halsey đã xuất
bản cuốn sách “Financial statement analysis – 9th




(8)

một doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể dự báo những rủi ro tài chính có thể
xảy ra.


Năm 2004, tác giả Stephen H. Penman cho ra đời tác phẩm “Financial
statement analysis and security valuation – second edition” [31]. Nội dung chính
của tác phẩm cũng có những điểm tương đồng với những tác phẩm của tác giả
Bernstein A. Leopold và nhóm tác giả giả John J. Wild, K.R. Subramanyam,
Robert F. Halsey.


Vào năm 1995, một tổ chức có tên Latin America Training and
Development Center đã cho ra đời tác phẩm có tên “Financial statement
analysis” [30]. Tác phẩm trình bày những phân loại kế tốn trong phân tích tài
chính như kế tốn quản trị, kế tốn thuế, kế tốn tài chính.


Từ những phân tích trên, tác giả luận án cho rằng: Tình hình tài chính hồn
tồn khác với hoạt động tài chính. Hoạt động tài chính cùng với hoạt động kinh
doanh và hoạt động đầu tư là 3 hoạt động cơ bản của bất kỳ một doanh nghiệp
nào.


Theo quan điểm của tác giả luận án, phân tích tình hình tài chính là sử


dụng các phương pháp kỹ thuật để đánh giá trạng thái tài chính của doanh nghiệp
tại một thời điểm hoặc một thời kỳ đã qua cũng như đề ra những chỉ tiêu dự báo
tài chính trong tương lai, gắn liền với một khơng gian xác định, sử dụng báo cáo
tài chính làm cơ sở dữ liệu chính để phân tích.



(9)

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1


Trong Chương này, tác giả luận án đã nghiên cứu một số công trình khoa


học tiêu biểu liên quan đến phân tích tình hình tài chính cả trong nước lẫn nước
ngồi. Các cơng trình khoa học đó bao gồm sách chun khảo, giáo trình, luận án
và bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành uy tín trong nước và quốc tế.


Tác giả luận án nhận thấy có hai quan điểm chủ yếu về phân tích tình hình
tài chính doanh nghiệp là: (1) Đồng nhất giữa tình hình tài chính với hoạt động
tài chính và tài chính doanh nghiệp, (2) Phân định giữa tình hình tài chính với tài
chính doanh nghiệp và hoạt động tài chính Theo quan điểm của tác giả luận án
thì tình hình tài chính khác với tài chính doanh nghiệp và hoạt động tài chính.



(10)

CHƢƠNG 2


CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
CỦA CÁC CƠNG TY CHỨNG KHỐN


2.1. Tài chính doanh nghiệp và phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp


2.1.1. Bản chất và vai trò của tài chính doanh nghiệp


Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thái
giá trị hợp thành các quan hệ tài chính, phát sinh trong quá trình sản xuất kinh
doanh, gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh
nghiệp. Bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các
quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị tạo thành các quan hệ tài chính của doanh
nghiệp và bao hàm một số quan hệ tài chính.


Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng với hoạt động của doanh
nghiệp, được thể hiện ở một số mặt như: Đảm bảo vốn cho doanh nghiệp, nâng
cao hiệu quả kinh doanh, kiểm sốt tình hình kinh doanh.



2.1.2. Mối quan hệ giữa tài chính và tình hình tài chính doanh nghiệp


Tài chính doanh nghiệp và tình hình tài chính doanh nghiệp có mối quan
hệ biện chứng với nhau. Tài chính doanh nghiệp liên quan đến những hoạt động
về thay đổi quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay như phát hành hay
mua lại cổ phiếu, trái phiếu; vay và trả nợ vay; chi trả cổ tức và các hoạt động
khác làm thay đổi cấu trúc tài chính của doanh nghiệp; liên quan đến việc xác
định nhu cầu; tạo lập, tìm kiếm, huy động và sử dụng số vốn đã huy động một
cách có hiệu quả. Tình hình tài chính của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của tồn
bộ các hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành, bao gồm: hoạt động kinh doanh,
hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính, nó là bức tranh phản ánh kết quả của tất
cả các hoạt động trong doanh nghiệp. Hoạt động tài chính tốt sẽ góp phần làm
lành mạnh tình hình tài chính doanh nghiệp, ngược lại, tình hình tài chính doanh
nghiệp khả quan sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động tài chính có hiệu quả cao.


2.1.3. Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp


Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là một q trình được tổ chức
khoa học, có hệ thống, sử dụng kết hợp các phương pháp kỹ thuật trong phân
tích tài chính để đánh giá thực trạng tài chính, tiềm năng và hiệu quả kinh doanh
cũng như dự báo nhu cầu tài chính và những rủi ro trong tương lai, giúp các đối
tượng sử dụng thông tin đưa ra quyết định đúng đắn.


2.2. Phân tích tình hình tài chính của các cơng ty chứng khốn


2.2.1. Đặc điểm hoạt động của cơng ty chứng khốn có ảnh hưởng đến phân
tích tình hình tài chính



(11)

động của các loại hình doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác. CTCK có một số
đă ̣c thù chủ yếu như đặc thù về tổ chức, đặc thù về chế độ tài chính, đặc thù về


hoạt động, đặc thù về hàng hóa kinh doanh. Những đặc thù này có ảnh hưởng
đến nơ ̣i dung phân tích tình hình tài chính của CTCK.


2.2.2. Nội dung phân tích tình hình tài chính của cơng ty chứng khốn


2.2.2.1. Đánh giá khái qt tình hình tài chính


Đánh giá khái quát tình hình tài chính với mục đích chủ yếu là đưa ra
những nhận định về bức tranh tài chính của doanh nghiệp dưới dạng chung nhất,
tổng quát nhất. Thông tin của đánh giá khái qt tình hình tài chính sẽ giúp người
sử dụng biết được thực trạng tài chính của doanh nghiệp, mức độ độc lập và tự
chủ tài chính, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời cũng như những khó khăn
tài chính mà doanh nghiệp gặp phải; từ đó, người sử dụng thơng tin sẽ có đưa ra
những quyết định hợp lý


2.2.2.2. Phân tích cấu trúc tài chính


Cấu trúc tài chính phản ánh kết cấu của nguồn vốn, kết cấu của tài sản và
cả mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn. Qua đó cho thấy rằng tính hợp lý
trong cơ cấu nguồn vốn, chính sách huy động vốn và chính sách sử dụng vốn của
doanh nghiệp. Những chính sách này ảnh hưởng đến an ninh tài chính, đến hiệu
quả sử dụng vốn, đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.


2.2.2.3. Phân tích cân bằng tài chính


Cân bằng tài chính thể hiện mối quan hệ cân đối giữa tài sản với nguồn
hình thành tài sản theo mức độ ổn định của nguồn tài trợ.


Trạng thái cân bằng tài chính tốt, an tồn và bền vững là khi vốn hoạt động
thuần lớn hơn 0, khi đó nguồn tài trợ thường xuyên vừa tài trợ cho cả tài sản dài


hạn vừa cho cả tài sản ngắn hạn. Khi vốn hoạt động thuần bằng 0 thì tính ổn định
chưa cao, nguy cơ cân bằng xấu vẫn tiềm tàng. Ngược lại, nếu vốn hoạt động
thuần nhỏ hơn 0 thì cán cân tài chính mất cân bằng, khó khăn trong thanh tốn và
nguy cơ phá sản dễ xảy ra.


2.2.2.4. Phân tích tình hình và khả năng thanh toán theo thời gian


Phân tích tình hình thanh tốn theo thời gian cho biết trong từng giai đoạn
(ngắn hạn, dài hạn) CTCK bị chiếm dụng hay đi chiếm dụng trong hoạt động
thanh tốn.


Phân tích khả năng thanh tốn theo thời gian sẽ đối chiếu giữa khả năng
thanh toán và nhu cầu thanh toán, tiến hành trong một khoảng thời gian xác định
hoặc trong từng giai đoạn cụ thể.


2.2.2.5. Phân tích hiệu quả kinh doanh



(12)

vụ với Nhà nước, mở rộng sản xuất cả về chiều rộng và chiều sâu cũng như tăng
thu nhập cho người lao động.


2.2.2.6. Phân tích rủi ro


Bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng gặp phải rủi ro. Đặc điểm rủi ro
trong kinh doanh chứng khốn là rủi ro mang tính hệ thống khá cao. Do vậy,
kiểm soát rủi ro, đảm bảo an tồn tài chính các CTCK ln là vấn đề được cơ
quan quản lý Nhà nước quy định khắt khe. Những loại rủi ro được xem là đặc
thù của CTCK như: rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường và rủi ro thanh toán.


2.2.2.7. Phân tích vốn khả dụng



Vốn khả dụng là vốn chủ sở hữu có thể chuyển đổi thành tiền trong vịng
chín mươi (90) ngày. Để phân tích vốn khả dụng, CTCK cần lập Bảng tính vốn
khả dụng. Bảng được thiết kế cần thể hiện cả vốn chủ sở hữu, các khoản tăng
thêm và các khoản giảm trừ; đồng thời, liệt kê đầy đủ những bộ phận chi tiết. Từ
đó, các CTCK có thể thấy được cụ thể những nội dung của vốn khả dụng.


2.2.2.8. Dự báo nhu cầu tài chính


Dự báo nhu cầu tài chính là một nội dung quan trọng trong khi lập kế
hoạch kinh doanh, thực chất của dự báo nhu cầu tài chính là dự báo nhu cầu về
vốn. Dự báo nhu cầu tài chính là một cơng cụ để đảm bảo cho CTCK có thể hoạt
động thành cơng, là một chức năng không thể thiếu với nhà quản lý, là cơng cụ
để kiểm tra và theo dõi tình hình kinh doanh.


2.2.3. Phương pháp nghiệp vụ - kỹ thuật phân tích tình hình tài chính của
cơng ty chứng khốn


Phân tích tình hình tài chính của CTCK thường sử dụng một số phương
pháp nghiệp vụ - kỹ thuật chủ yếu như: Phương pháp so sánh, phương pháp chi
tiết, phương pháp loại trừ, phương pháp Dupont, phương pháp liên hệ cân đối.
Ngoài ra, phân tích tình hình tài chính cịn sử dụng một số phương pháp khác
như: Phương pháp hồi quy, phương pháp quy hoạch tuyến tính, phương pháp sử
dụng mơ hình kinh tế lượng, phương pháp phân tích tác nghiệp, phương pháp đồ
thị, ...


2.2.4. Tổ chức phân tích tình hình tài chính của cơng ty chứng khốn


Tổ chức phân tích tình hình tài chính của CTCK được tiến hành với một số
cơng đoạn mang tính trình tự như: Cơng tác chuẩn bị, tiến hành phân tích và kết
thúc phân tích. Các cơng đoạn này nếu được thực hiện nghiêm túc, khoa học và


chuyên nghiệp thì phân tích tình hình tài chính của CTCK sẽ mang lại những
thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng.


2.3. Kinh nghiệm phân tích tình hình tài chính của cơng ty chứng khoán tại
một số nƣớc trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam


2.3.1. Kinh nghiệm phân tích tình hình tài chính của các cơng ty chứng khoán
tại một số nước trên thế giới



(13)

Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông.. Trong những nước có thị trường chứng
khốn phát triển thì Mỹ là quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển số một
thế giới. Luận án nghiên cứu việc phân tích tình hình tài chính của một số CTCK
thuộc top 5 ở nước Mỹ.


Bên cạnh sự nổi tiếng của Sở giao dịch chứng khoán New York, sự nổi
tiếng của nước Mỹ; ở Châu Á có Sở giao dịch chứng khốn Tokyo, thành lập
năm 1949, trụ sở chính tại Tokyo- Nhật Bản. Đây là nước có thị trường chứng
khốn phát triển nhất Châu Á. Luận án chọn một số CTCK thuộc top 3 của Nhật
Bản để nghiên cứu vấn đề phân tích tình hình tài chính, Nhật Bản và Việt Nam
cùng là nước thuộc khu vực Châu Á nên có nhiều nét tương đồng.


2.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam


Trên cơ sở tham khảo phân tích tình hình tài chính của các CTCK ở Mỹ -
một quốc gia có thị trường chứng khốn phát triển và hiện đại nhất thế giới, và
các CTCK ở Nhật Bản – một quốc gia ở cùng khu vực Châu Á với Việt Nam và
có thị trường chứng khốn đứng số một Châu Á, Việt Nam có thể học tập kinh
nghiệm ở những quốc gia này, nhất là trong bối cảnh mở cửa thị trường tài chính
của Việt Nam bắt đầu từ ngày 01/01/2012.



KẾT LUẬN CHƢƠNG 2


Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp ln là vấn đề thời sự. Phân tích
tình hình tài chính của các CTCK là một vấn đề có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn
thực tiễn. Chương 2 của luận án đã làm rõ những nội dung như:


- Tài chính doanh nghiệp và phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp;


- Phân tích tình hình tài chính của các CTCK;


- Phương pháp phân tích tình hình tài chính của CTCK;
- Tổ chức phân tích tình hình tài chính;


- Kinh nghiệm phân tích tình hình tài chính của các CTCK ở Mỹ và Nhật
Bản, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.



(14)

CHƢƠNG 3


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
TÀI CHÍNH CỦA CÁC CƠNG TY CHỨNG KHỐN VIỆT NAM


3.1. Tổng quan về hệ thống cơng ty chứng khốn Việt Nam


3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển


Ở Việt Nam, thị trường chứng khoán thực hiện phiên giao dịch đầu tiên
vào ngày 20/07/2000 với việc vận hành sàn giao dịch chứng khốn Tp. Hồ Chí
Minh vào ngày 20/7/2000 và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội vào ngày
8/3/2005, lúc đó chỉ có 2 công ty niêm yết là Công ty Cổ phần Cáp & Vật liệu
viễn thông (SACOM) và Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh (REE). Theo thời gian,


thị trường chứng khốn Việt Nam đã có sự phát triển nhất định về số lượng hàng
hóa niêm yết, về sự tham gia của nhà đầu tư cũng như sự phát triển của các
CTCK.


3.1.2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh và phân cấp
quản lý tài chính


Ở Việt Nam, CTCK được phép tổ chức dưới hình thức cơng ty cổ phần
hoặc cơng ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) theo quy định của Luật Doanh
nghiệp và được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép thực hiện một,
một số hoặc tồn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng khốn.


Hầu hết các CTCK Việt Nam được tổ chức theo hình thức cơng ty cổ
phần, chỉ có rất ít CTCK tổ chức theo hình thức công ty TNHH.


Tổ chức bộ máy quản lý và phân cấp quản lý tài chính của CTCK có thể
được xây dựng từ mức độ đơn giản đến phức tạp, điều này tùy thuộc vào quy mô
của thị trường, vào khách hàng, vào các nghiệp vụ được phép hoạt động, vào tính
chất sở hữu, vào phương thức kinh doanh của chủ sở hữu, vào loại hình doanh
nghiệp.


3.1.3. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và bộ sổ kế toán


Bộ máy kế toán của các CTCK Việt Nam là phòng tài chính kế tốn.
Phịng này có nhiệm vụ tổ chức cơng tác kế tốn trong tồn CTCK và thực hiện
các công việc về tài chính kế tốn liên quan đến hoạt động kinh doanh của
CTCK. Bộ máy kế toán chủ yếu được tổ chức theo mơ hình kế tốn tập trung, do
đó mọi cơng việc kế tốn đều tập trung giải quyết ở phịng này.


Hình thức sổ kế toán quy định áp dụng thống nhất đối với CTCK là hình


thức kế tốn nhật ký chung và hình thức kế tốn trên máy vi tính.


3.1.4. Vai trị của cơng ty chứng khốn



(15)

hiện tính thanh khoản của chứng khốn; thúc đẩy vịng quay của chứng khoá;
cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính; giúp cơ quan quản lý thị trường chứng khốn
một cách có hiệu quả; thúc đẩy các sản phẩm đầu tư.


3.2. Thực trạng phân tích tình hình tài chính của các cơng ty chứng khốn
Việt Nam


3.2.1. Khái quát thực trạng phân tích tình hình tài chính của các cơng ty
chứng khốn Việt Nam


- Về tổ chức phân tích tình hình tài chính:


Hầu hết các CTCK được khảo sát là công ty cổ phần (27/30 công ty cổ
phần, chiếm 90% trong tổng số 30 CTCK), niêm yết trên thị trường chứng khoán
và là lĩnh vực kinh doanh đặc thù nên cơng tác phân tích tình hình tài chính được
quan tâm rõ rệt. Tuy nhiên, phần lớn các CTCK vẫn chưa có bộ phận phân tích
tình hình tài chính chun trách độc lập, 90% CTCK thực hiện phân tích tình
hình tài chính tại phịng tài chính kế tốn, 10% CTCK cho rằng cơng tác phân
tích tình hình tài chính của CTCK được tiến hành bởi phịng phân tích và đầu tư.
50% CTCK có cơng tác phân tích tình hình tài chính được tiến hành chủ yếu
theo kế hoạch lập từ năm trước.


- Về phương pháp phân tích tình hình tài chính:


Có nhiều phương pháp khác nhau mà nhà phân tích có thể sử dụng, sự kết



hợp đa dạng các phương pháp sẽ mang lại những kết quả đáng tin cậy và toàn
diện. Tuy nhiên, các CTCK mới chỉ áp dụng phương pháp so sánh theo thời gian,
so sánh bằng số tuyệt đối và số tương đối, các chỉ tiêu được tính tốn và tiến
hành so sánh giữa kỳ này với kỳ trước.


- Về nội dung và chỉ tiêu phân tích tình hình tài chính:


Qua nghiên cứu thực tế thì nội dung phân tích tình hình tài chính tại 100%
CTCK khảo sát có một số đặc điểm như: hệ thống chỉ tiêu sử dụng rất ít, nội
dung phân tích sơ sài (chỉ bao gồm: phân tích cơ cấu tài sản; phân tích cơ cấu
nguồn vốn; phân tích khả năng thanh toán qua một số chỉ tiêu như hệ số khả
năng thanh toán tổng quát, hệ số khả năng thanh toán nhanh, hệ số khả năng
thanh toán tức thời; phân tích tỷ lệ vốn khả dụng; phân tích hiệu quả kinh doanh
qua một số chỉ tiêu cơ bản như sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu, sức sinh lợi của
doanh thu thuần, sức sinh lợi của tài sản, số vịng quay), các thơng tin cơng bố
khơng phản ánh được nhịp điệu tăng trưởng và xu hướng tăng trưởng của các chỉ
tiêu theo thời gian.


3.2.2. Thực trạng phân tích tình hình tài chính của các cơng ty chứng khốn
Việt Nam


3.2.2.1. Phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn


Qua khảo sát thực tế, có 90% CTCK thực hiện phân tích cơ cấu tài sản và
cơ cấu nguồn vốn, có 03 CTCK (chiếm 10%) là CTCK ACB (ACBS), CTCK VIT



(16)

sản và cơ cấu nguồn vốn. Việc phân tích này được các CTCK tiến hành theo
quý, theo năm. Số liệu chủ yếu tính cho năm báo cáo và năm liền trước. Các
CTCK đều nhận thấy phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn là nội dung
phân tích quan trọng trong phân tích tình hình tài chính. Khoảng 80% CTCK


được khảo sát sử dụng chỉ tiêu tỷ trọng của từng bộ phận tài sản trong tổng số tài
sản và chỉ tiêu tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn trong tổng số nguồn vốn, cơ
sở số liệu để tính chỉ tiêu được lấy từ bảng cân đối kế toán của CTCK.


Khảo sát thực tế cũng cho thấy một số đặc điểm về phân tích cơ cấu tài sản
và cơ cấu nguồn vốn của các CTCK như: (1) tên gọi của cùng một chỉ tiêu phân
tích có sự khơng thống nhất giữa các CTCK với nhau, (2) chỉ tiêu phân tích sử
dụng không phản ánh đúng bản chất của nội dung phân tích, (3) khác nhau về số
lượng chỉ tiêu phân tích được sử dụng trong cùng một nội dung phân tích giữa
các CTCK với nhau, (4) sử dụng đơn vị tính của chỉ tiêu phân tích khơng phản
ánh đúng nội dung phân tích (gọi là phân tích cơ cấu nhưng đơn vị tính của chỉ
tiêu là lần), (5) thời gian của số liệu chỉ tiêu phân tích giữa các CTCK có khác
biệt lớn (có CTCK thì chỉ tính cho năm báo cáo, có CTCK thì tính cho hai năm:
năm báo cáo và năm liền trước, có CTCK thì tính cho ba năm liền kề, có CTCK
thì tính trong chín năm liên tiếp), (6) khơng đồng nhất về phương pháp phân tích
sử dụng. Phần trình bày tiếp sau đây sẽ minh họa rõ nét cho những đặc điểm về
phân tích cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn của các CTCK.


3.2.2.2. Phân tích khả năng thanh tốn


Qua khảo sát thực tế, luận án nhận thấy việc phân tích khả năng thanh tốn
của các CTCK có một số đặc điểm chính như: (1) khơng thống nhất về tên gọi
chỉ tiêu phân tích giữa các CTCK với nhau (chẳng hạn, cùng là khả năng thanh
toán hiện hành nhưng có CTCK gọi là khả năng thanh tốn ngắn hạn, có CTCK
gọi là khả năng thanh tốn hiện thời), (2) không giống nhau về số lượng chỉ tiêu
phân tích sử dụng giữa các CTCK với nhau (có CTCK sử dụng 02 chỉ tiêu, cũng
có CTCK sử dụng 03 chỉ tiêu), (3) không thống nhất về đơn vị tính của chỉ tiêu
phân tích (có CTCK sử dụng đơn vị tính của chỉ tiêu là lần, có CTCK khác sử
dụng đơn vị tính của chỉ tiêu là %), (4) khơng thống nhất về cách thức trình bày
chỉ tiêu phân tích giữa các CTCK với nhau (chẳng hạn, có CTCK trình bày cơng


thức tính cho từng chỉ tiêu phân tích khả năng thanh tốn, có CTCK thì khơng
thực hiện việc này), (5) khác nhau về thời gian của số liệu chỉ tiêu phân tích giữa
các CTCK (có CTCK thì chỉ tính cho năm báo cáo, có CTCK thì tính cho hai
năm: năm báo cáo và năm liền trước, có CTCK thì tính cho ba năm liền kề), (6)
khơng sử dụng phương pháp so sánh để phân tích.


3.2.2.3. Phân tích năng lực hoạt động và khả năng sinh lời



(17)

lợi nhuận, có CTCK gọi là tỷ số doanh lợi, có CTCK gọi là hệ số lợi nhuận/tổng
tài sản), (2) không thống nhất về số liệu dùng để tính tốn chỉ tiêu phân tích
(chẳng hạn, cùng là chỉ tiêu ROA nhưng có CTCK dùng lợi nhuận trước thuế để
tính, có CTCK dùng lợi nhuận sau thuế), (3) khơng thống nhất về cách thức trình
bày chỉ tiêu phân tích giữa các CTCK với nhau (chẳng hạn, có CTCK trình bày
cơng thức tính cho từng chỉ tiêu phân tích khả năng sinh lợi, có CTCK thì khơng
thực hiện việc này), (4) khác nhau về thời gian của số liệu chỉ tiêu phân tích giữa
các CTCK (có CTCK thì chỉ tính cho năm báo cáo, có CTCK thì tính cho hai
năm: năm báo cáo và năm liền trước, có CTCK thì tính cho ba năm liền kề), (5)
số liệu của chỉ tiêu phân tích chỉ mang tính liệt kê theo thời gian mà khơng có sự
so sánh, (6) khơng thơng nhất về cách thức phân tích (có CTCK thực hiện phân
tích những thay đổi lớn và nguyên nhân dẫn đến thay đổi của khả năng sinh lời,
có CTCK chỉ nêu các chỉ tiêu mà khơng có bất kỳ lời nhận xét hay phân tích
nào).


3.2.2.4. Phân tích tỷ lệ vốn khả dụng


Theo kết quả khảo sát, có 100% CTCK thực hiện phân tích tỷ lệ vốn khả
dụng. Báo cáo tỷ lệ vốn khả dụng phản ánh mức an tồn tài chính của CTCK.
Ban Tổng Giám đốc chịu trách nhiệm lập Báo cáo tỷ lệ vốn khả dụng và đảm
bảo Báo cáo này đã phản ánh một cách trung thực và hợp lý về tình hình tài
chính của CTCK.



Khi phân tích vốn khả dụng, 100% CTCK đều tính và thể hiện sáu chỉ tiêu
là tổng giá trị rủi ro thị trường, tổng giá trị rủi ro thanh toán, tổng giá trị rủi ro
hoạt động, tổng giá trị rủi ro, vốn khả dụng và tỷ lệ an tồn vốn khả dụng.


3.2.2.5. Phân tích các hệ số phù hợp trong khu vực kinh doanh


Ngoài những nội dung về phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn, khả
năng thanh toán, năng lực hoạt động, khả năng sinh lời, tỷ lệ vốn khả dụng, một
số CTCK cịn phân tích các hệ số phù hợp trong khu vực kinh doanh. Phân tích
các hệ số phù hợp trong khu vực kinh doanh nhằm giúp CTCK biết được một số
chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính của cơng ty đang ở mức nào so với quy định
chung trong lĩnh vực kinh doanh của mình.


3.3. Đánh giá thực trạng phân tích tình hình tài chính của các cơng ty chứng
khốn Việt Nam


3.3.1. Về tổ chức phân tích



(18)

3.3.2. Về phương pháp phân tích


Các CTCK chủ yếu và thường xuyên dùng phương pháp so sánh khi phân
tích tình hình tài chính. Đây là phương pháp đơn giản, dễ sử dụng và cũng cho
phép đánh giá những khía cạnh cơ bản của tình hình tài chính. Tuy nhiên, một số
CTCK khảo sát mới chỉ vận dụng tối đa phương pháp so sánh tương đối và so
sánh tuyệt đối, số liệu so sánh chỉ giới hạn ở hai năm liền kề, các chỉ tiêu được
tính tốn và sau đó tiến hành so sánh với năm liền trước để xem mức độ biến
động và tốc độ biến động. Do vậy đã không phản ánh được xu hướng và nhịp
điệu tăng trưởng của các chỉ tiêu tài chính trong một khoảng thời gian nhất định.



3.3.3. Về nội dung và chỉ tiêu phân tích


Có 93,33% CTCK khảo sát mới chỉ tính tốn một số chỉ tiêu phân tích như
cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn, hệ số khả năng thanh toán nhanh, hệ số khả
năng thanh toán bằng tiền, hệ số khả năng thanh toán hiện hành, sức sinh lợi của
tổng tài sản, sức sinh lợi của doanh thu, sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu, tỷ lệ
vốn khả dụng. Nhìn chung, hệ thống chỉ tiêu phân tích của các CTCK cịn đơn
giản, chưa tồn diện, khơng thể hiện được tồn cảnh tình hình tài chính.


Q trình phân tích chỉ dừng lại ở việc so sánh các chỉ tiêu ở cuối kỳ và
đầu kỳ, đưa ra những nhận xét về mức độ biến động của chỉ tiêu. Điều này mới
chỉ phản ánh biểu hiện bề ngồi và có tính qui mô, chưa xem xét các nhân tố ảnh
hưởng và nguyên nhân của sự biến động đó. Do đó, chỉ đưa ra những nhận xét
đơn giản chứ chưa có khả năng đề ra các giải pháp phát huy nhân tố tích cực, hạn
chế nguyên nhân tiêu cực.



(19)

KẾT LUẬN CHƢƠNG 3


Chương 3 đã trình bày những nội dung sau:


- Tổng quan về hệ thống cơng ty chứng khốn Việt Nam: Gồm những vấn
đề cụ thể như lịch sử hình thành và phát triển, đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán
và bộ sổ kế toán, đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh và
phân cấp quản lý tài chính, vai trị của cơng ty chứng khốn đối với thị trường
chứng khốn Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung;


- Thực trạng phân tích tình hình tài chính của các công ty chứng khốn
Việt Nam: Khảo sát thực trạng tại 30 cơng ty chứng khoán niêm yết trên hai Sở
Giao dịch chứng khoán, đại diện cho mơ hình cơng ty chứng khốn chun
doanh và mơ hình cơng ty chứng khoán đa năng;



- Đánh giá thực trạng phân tích tình hình tài chính của các cơng ty chứng
khốn: Căn cứ vào thực trạng phân tích tình hình tài chính của các cơng ty chứng
khốn được khảo sát để đưa ra những nhận xét, đánh giá, những ưu điểm, những
tồn tại trên các mặt như tổ chức phân tích, phương pháp phân tích và nội dung
phân tích.



(20)

CHƢƠNG 4


QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HỒN THIỆN PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
TÀI CHÍNH CỦA CÁC CƠNG TY CHỨNG KHỐN VIỆT NAM


4.1. Chiến lƣợc phát triển thị trƣờng chứng khoán và các cơng ty chứng
khốn Việt Nam


4.1.1. Quan điểm chủ đạo và mục tiêu chiến lược


Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán giai đoạn sắp tới sẽ hướng
tới mục tiêu: tăng quy mô, củng cố tính thanh khoản cho thị trường chứng khốn,
phấn đấu đưa tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt từ 70% đến 100% GDP
vào năm 2020, tăng tính hiệu quả cho thị trường trên cơ sở tái cấu trúc tổ chức thị
trường chứng khoán, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, chuyên nghiệp hóa việc tổ chức
và vận hành hạ tầng công nghệ thông tin, nâng cao sức cạnh tranh của các định
chế trung gian thị trường, các tổ chức phụ trợ thị trường và của thị trường chứng
khoán Việt Nam, tăng cường năng lực quản lý, giám sát, thanh tra, xử lý vi
phạm, củng cố lòng tin của nhà đầu tư...


- Mục tiêu tổng quát: Phát triển nhanh, đồng bộ, vững chắc thị trường
vốn Việt Nam, trong đó thị trường chứng khốn đóng vai trị chủ đạo; từng bước
đưa thị trường vốn trở thành một cấu thành quan trọng của thị trường tài chính,


góp phần đắc lực trong việc huy động vốn cho đầu tư phát triển và cải cách nền
kinh tế; đảm bảo tính cơng khai, minh bạch, duy trì trật tự, an tồn, hiệu quả, tăng
cường quản lý, giám sát thị trường; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
đầu tư; từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường
tài chính quốc tế. Phấn đấu đến năm 2020, thị trường vốn Việt Nam phát triển
tương đương thị trường các nước trong khu vực.


- Mục tiêu cụ thể: Phát triển thị trường vốn đa dạng để đáp ứng nhu cầu
huy động vốn và đầu tư của mọi đối tượng trong nền kinh tế. Phấn đấu đến năm
2020 đạt 70% GDP.


4.1.2. Định hướng phát triển đến năm 2020


Một là, phát triển thị trường chứng khoán phải dựa trên chuẩn mực chung


của thị trường và các thông lệ quốc tế tốt nhất, phù hợp với điều kiện thực tế và
định hướng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, tích cực hội nhập với thị
trường tài chính khu vực và quốc tế.


Hai là, phát triển thị trường chứng khốn đồng bộ, tồn diện, hoạt động


hiệu quả, vận hành an toàn, lành mạnh, vừa góp phần huy động vốn cho đầu tư
phát triển của xã hội vừa tạo ra những cơ hội đầu tư sinh lợi, góp phần nâng cao
mức sống và an sinh xã hội.


Ba là, phát triển thị trường chứng khoán nhiều cấp độ, bảo đảm chứng



(21)

các chủ thể tham gia thị trường chứng khốn.


Bốn là, đa dạng hóa các sản phẩm, nghiệp vụ của thị trường, đảm bảo cho



các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán hoạt động an toàn, hiệu quả dựa
trên nền tảng quản trị rủi ro và phù hợp với các chuẩn mực chung và thông lệ
quốc tế. Từng bước tái cơ cấu hệ thống các trung gian thị trường trên nguyên tắc
không gây xáo trộn lớn và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên
thị trường.


Năm là, phát triển thị trường chứng khoán trong mối tương quan với việc


phát triển thị trường tiền tệ, thị trường bảo hiểm, nhằm tạo ra một hệ thống thị
trường tài chính thống nhất, đồng bộ có sự quản lý, giám sát của nhà nước. Hoạt
động quản lý, giám sát, điều hành và phát triển của các cơ quan quản lý nhà nước
phải thống nhất về mục tiêu, mục đích, định hướng và giải pháp thực hiện.


Sáu là, chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế, nâng cao khả năng


cạnh tranh, từng bước thu hẹp về khoảng cách phát triển giữa thị trường chứng
khoán Việt Nam so với các thị trường khác trong khu vực và trên thế giới.


4.2. Sự cần thiết và quan điểm hồn thiện phân tích tình hình tài chính của
các cơng ty chứng khốn Việt Nam


4.2.1. Sự cần thiết hồn thiện phân tích tình hình tài chính của các cơng ty
chứng khốn Việt Nam


Từ thực trạng phân tích tình hình tài chính của các CTCK Việt Nam cho
thấy việc hồn thiện phân tích tình hình tài chính là thực sự cần thiết. Đây là mối
quan tâm không chỉ của bản thân CTCK mà còn là của cơ quan quản lý Nhà
nước, của nhà đầu tư, rộng hơn nữa là của toàn thị trường chứng khốn.



Hồn thiện phân tích tình hình tài chính của CTCK là cần thiết vì một số
mục đích quan trọng và thiết thực như: bảo đảm lợi ích cho chính các CTCK,
đáp ứng nhu cầu thơng tin của các đối tượng sử dụng và góp phần ổn định, củng
cố thị trường chứng khoán, phát triển nền kinh tế.


4.2.2. Quan điểm hoàn thiện phân tích tình hình tài chính của các cơng ty
chứng khốn Việt Nam


Hồn thiện phân tích tình hình tài chính của các CTCK Việt Nam cần dựa
trên một số quan điểm chủ yếu như quan điểm toàn diện, quan điểm phù hợp,
quan điểm hội nhập và phát triển.


4.3. Giải pháp hoàn thiện phân tích tình hình tài chính của các cơng ty
chứng khốn Việt Nam


4.3.1. Hồn thiện tổ chức phân tích tình hình tài chính



(22)

xã hội.


Cơng tác tổ chức phân tích tình hình tài chính của các CTCK thời gian tới
phải được tổ chức khoa học, hợp lý và chuyên nghiệp hơn, phù hợp với đặc điểm
kinh doanh, đặc thù hoạt động của CTCK, phù hợp với các đối tượng quan tâm
của từng đối tượng sử dung thông tin. Khi phân tích tình hình tài chính, CTCK
cần phải tiến hành theo trình tự 3 bước: lập kế hoạch phân tích, tiến hành phân
tích, kết thúc phân tích.


4.3.2. Hồn thiện phương pháp phân tích tình hình tài chính


Phương pháp phân tích là yếu tố quan trọng để phân tích tình hình tài chính
có chất lượng. Có nhiều phương pháp phân tích tình hình tài chính khác nhau,


mỗi phương pháp có những ưu điểm, nhược điểm, nội dung và điều kiện áp dụng
khác nhau nhưng ta có thể kết hợp chúng với nhau.


Vận dụng các phương pháp phân tích khác nhau sẽ giúp các nhà phân tích
làm rõ mức độ ảnh hưởng và xu hướng tác động của các nhân tố đến sự biến
động của kết quả tài chính. Từ đó, có căn cứ tin cậy để đề ra các giải pháp cần
thiết, hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Do vậy, ngoài việc hoàn thiện
thêm các phương pháp hiện dùng như phương pháp so sánh, phương pháp thống
kê, cần phải bổ sung các phương pháp mới được áp dụng rộng rãi ở các nước
phát triển như phương pháp hồi qui, phương pháp thay thế liên hoàn, phương
pháp Dupont,…Như vậy, phải đa dạng hóa phương pháp phân tích.


4.3.3. Hồn thiện nội dung và chỉ tiêu phân tích tình hình tài chính


4.3.3.1. Phân tích tình hình bảo đảm vốn điều lệ so với vốn pháp định


Để phân tích tình bảo đảm vốn điều lệ so với vốn pháp định, nhà phân tích
sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ vốn điều lệ so với vốn pháp định. Tỷ lệ vốn điều lệ so với
vốn pháp định càng cao càng tốt. Chỉ tiêu này cho biết số vốn điều lệ của CTCK
tại thời điểm xem xét lớn hơn mức vốn pháp định như thế nào, đồng thời cho biết
quá trình gia tăng vốn điều lệ của CTCK trong quá trình phát triển của hoạt động
kinh doanh. Chỉ tiêu này càng tăng chứng tỏ vốn đầu tư của chủ sở hữu tăng
trưởng khơng ngừng, góp phần phản ánh sự tăng trưởng và phát triển của CTCK,
tạo sự an tâm cho nhà đầu tư.


4.3.3.2. Phân tích tình hình biến động về tỷ suất đầu tư tài sản cố định


Mặc dù CTCK hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ nhưng cơ sở vật
chất kỹ thuật và công nghệ, phần mềm giao dịch giữ vai trị vơ cùng quan trọng
đối với sự tồn tại và phát triển của CTCK nói riêng và thị trường chứng khốn


nói chung, bởi lẽ CTCK hoạt động trong lĩnh vực chịu sự tác động rất lớn về
mức độ ứng dụng công nghệ thông tin, thông tin CTCK cung cấp phải nhanh
chóng, chính xác, đầy đủ, kịp thời.



(23)

trang bị công nghệ cho hoạt động kinh doanh chứng khoán theo thời gian. Đồng
thời, qua chỉ tiêu này sẽ đánh giá được mức độ đầu tư và đổi mới tài sản cố định
đến đâu so với hệ thống cơ sở hạ tầng và công nghệ giao dịch hiện đại của các
cơng ty chứng khốn quốc tế.


4.3.3.3. Phân tích khoản dự phịng bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư


Viê ̣c hình thành và sử du ̣ng khoản dự phòng bồi thường thiê ̣t ha ̣i cho nhà
đầu tư phản ánh tình tra ̣ng và mức đô ̣ gây thiê ̣t ha ̣i đến nhà đầu tư cũng như mức
đô ̣ bồi thường của CTCK cho nhà đầu tư. Từ đó, các nhà đầu tư có thể đánh giá
được trình đô ̣ quản lý và chất lượng hoa ̣t đô ̣ng của CTCK để có quyết đi ̣nh đầu
tư đúng đắn. Phân tích dự phịng bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư nên được
CTCK xem xét cả về mức dự phòng đã lâ ̣p , mức dự phòng đã sử du ̣ng trong
từng kỳ. CTCK cần sử dụng phương pháp so sánh số tương đối định gốc và so
sánh số tương đối liên hoàn để biết được xu hướng và nhịp điệu biến động của
chỉ tiêu về số dự phòng bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư được trích lập, số dự
phịng bồi thường thiệt hại cho nhà đầu tư đã được sử dụng và số dự phòng bồi
thường thiệt hại cho nhà đầu tư được chuyển sang năm sau sử dụng tiếp hoặc số
dự phịng trích lập bổ sung.


4.3.3.4. Phân tích các chỉ tiêu ngồi Bảng cân đối kế toán


CTCK vừa thực hiện nghiệp vụ cho chính mình như nghiệp vụ tự doanh
chứng khốn, vừa thực hiện một số nghiệp vụ khác như: môi giới chứng khoán,
quản lý danh mục đầu tư, lưu ký chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán,
quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. Đặc thù của những hoạt động này là giao dịch


những tài sản, hàng hóa khơng phải của chính CTCK. Vì vậy, tài sản ngồi Bảng
cân đối kế tốn của CTCK khá nhiều. Chính vì vậy, CTCK cần phân tích chỉ tiêu
ngồi Bảng cân đối kế tốn để thấy rõ hơn về tồn bộ các hoạt động nghiệp vụ
mà CTCK thực hiện.


4.3.3.5. Phân tích mức độ bảo đảm an tồn trong hoạt động


Trong bối cảnh sức khỏe tài chính của CTCK chưa minh bạch và tồn tại
những hình thái kinh doanh mới nằm ngồi tầm kiểm sốt, các CTCK cần phải
đảm bảo an tồn tài chính, cơ quan quản lý Nhà nước cũng cần mạnh tay buộc
các CTCK đảm bảo an tồn tài chính.


Để phân tích mức độ bảo đảm an toàn trong hoạt động, các CTCK cần
phải tiến hành tính tốn và phân tích chỉ tiêu tỷ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro và chỉ
tiêu tỷ lệ lỗ lũy kế/vốn điều lệ bên cạnh các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh
tốn thơng thường. Việc tính toán các chỉ tiêu này phải tuân thủ theo đúng những
nội dung được quy định trong các văn bản của cơ quan quản lý Nhà nước.


4.4. Điều kiện để thực hiện giải pháp hồn thiện phân tích tình hình tài
chính của các cơng ty chứng khốn Việt Nam


4.4.1. Về phía Nhà nước



(24)

Việt Nam được thực hiện hiệu quả, cần đảm một số điều kiện từ phía các cơ
quan quản lý Nhà nước như: hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng mơ hình tổ
chức cơ quan quản lý thị trường chứng khốn, hình thành thị trường định mức tín
nhiệm, nâng cao năng lực đội ngũ nhân sự, công khai số liệu các chỉ tiêu giám
sát tài chính.


4.4.2. Về phía các cơng ty chứng khốn



Trong bối cảnh hội nhập, các CTCK Việt Nam đặt mục tiêu vươn xa ra thị
trường quốc tế là điều tất yếu, hoặc ít ra cũng đứng vững trên sân nhà trước lộ
trình mở cửa dịch vụ tài chính từ năm 2012 theo cam kết của WTO. Để có thể
nhanh chóng hồn thành mục tiêu này, các cơng ty ln phải có chiến lược kinh
doanh đúng đắn, hiệu quả, kịp thời.


Để có thể thực thi được các giải pháp hoàn thiện phân tích tình hình tài
chính, các CTCK cần đáp ứng một số điều kiện như: nhận thức về phân tích tình
hình tài chính; bồi dưỡng, đào tạo nhân sự phân tích tình hình tài chính; đầu tư,
trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ phân tích tình hình tài chính.


KẾT LUẬN CHƢƠNG 4


Chương này nghiên cứu việc hồn thiện phân tích tình hình tài chính của
các CTCK Việt Nam. Nội dung của Chương trình bày những vấn đề sau:


- Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán và các CTCK Việt Nam:
Tập trung vào quan điểm chủ đạo và mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ và định
hướng phát triển đến năm 2020;


- Sự cần thiết và quan điểm hồn thiện phân tích tình hình tài chính của các
CTCK Việt Nam: Chương này nêu một số quan đểm như quan điểm hội nhập và
phát triển, quan điểm toàn diện, quan điểm phù hợp.


- Giải pháp hồn thiện phân tích tình hình tài chính: Chương 4 đưa ra một
số giải pháp cho những khía cạnh như giải pháp hồn thiện tổ chức phân tích,
giải pháp hồn thiện phương pháp phân tích, giải pháp hồn thiện nội dung phân
tích.




(25)

KẾT LUẬN


Nền kinh tế thị trường ngày nay, khi doanh nghiệp tham gia kinh doanh
trong một “thế giới phẳng”, sự cạnh tranh sẽ rất gay gắt. Các doanh nghiệp phải
vươn lên để khẳng định vị trí, thương hiệu của mình khơng chỉ với thị trường
trong nước mà còn với thị trường quốc tế. Đây là một bài tốn khơng dễ có lời
giải đối với các doanh nghiệp nói chung và CTCK nói riêng, khi mà thị trường
chứng khoán Việt Nam vẫn còn rất non trẻ, nhỏ bé so với thị trường chứng
khốn thế giới. Muốn góp phần giải quyết vấn đề này, các CTCK phải nhận thức
đúng đắn tầm quan trọng và vai trò to lớn của phân tích tình hình tài chính, phải
nghiêm túc xem phân tích tình hình tài chính là một khâu khơng thể thiếu trong
q trình hoạt động của CTCK. Có làm được điều này CTCK mới phát triển bền
vững được.


Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phân tích tình hình tài
chính của CTCK, nghiên cứu thực trạng phân tích tình hình tài chính của các
CTCK Việt Nam để có những đánh giá thực trạng phân tích tình hình tài chính,
từ đó đưa ra những quan điểm và cũng như giải pháp để hoàn thiện phân tích tình
hình tài chính của các CTCK Việt Nam, nhằm giúp các đối tượng sử dụng thông
tin như nhà quản lý, nhà đầu tư, cơ quan quản lý Nhà nước,… có những quyết
định đúng đắn cho riêng mình.



(26)

DANH MỤC CƠNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ


1. Nguyễn Thị Cẩm Thúy (2012), “Trao đổi về giảng dạy một số nội dung phân
tích tài chính đặc thù của cơng ty chứng khoán”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Kế


toán, Kiểm tốn trong q trình cải cách và hội nhập, Trường Đại học Kinh tế
Đà Nẵng, Tháng 08/2012, Trang 322-345.



2. Nguyễn Thị Cẩm Thúy (2010), “Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu tại Công
ty Cổ phần Chứng khốn Sài Gịn từ sau khi niêm yết đến nay”, Tạp chí NCKH


Kiểm tốn, Số 29, Tháng 03/2010, Trang 37-39.


3. Nguyễn Thị Cẩm Thúy (2010), “Hoàn thiện cơ sở dữ liệu phân tích báo cáo
tài chính tại các cơng ty chứng khốn Việt Nam”, Nội san NCKH, Trường Đại


học Tài chính Kế tốn, Số 58, Tháng 11/2010, Trang 80-83.


4. Nguyễn Thị Cẩm Thúy (2010), “Hồn thiện dữ liệu và nội dung phân tích
báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại các công ty chứng khốn Việt Nam”,


Tạp chí NCKH Kiểm tốn, Số 36, Tháng 10/2010, Trang 35-37.


5. Nguyễn Thị Cẩm Thúy (2011), “Một số nội dung khác biệt giữa chế độ kế
toán doanh nghiệp và chế độ kế tốn cơng ty chứng khoán”, Nội san NCKH,


Trường Đại học Tài chính Kế tốn, Số 59, Tháng 01/2011, Trang 50-56.


6. Nguyễn Thị Cẩm Thúy (2011) “Đặc điểm tổ chức và hoạt động của các công
ty chứng khốn có ảnh hưởng đến nội dung phân tích tình hình tài chính”, Tạp


chí Kinh tế và phát triển, Số 165 (II), Tháng 03/2011, Trang 63-65,71.


7. Nguyễn Thị Cẩm Thúy (2012), “Một số trường hợp về xác định và ghi nhận
tài sản thuế thu nhập hoãn lại”, Nội san NCKH, Trường Đại học Tài chính Kế


tốn, Số 63, Tháng 01/2012, Trang 48-52.



8. Nguyễn Thị Cẩm Thúy (2012), “Đánh giá khái quát tình hình tài chính của
các cơng ty chứng khốn”, Nội san NCKH, Trường Đại học Tài chính Kế tốn,
Số 64, Tháng 04/2012.


9. Nguyễn Thị Cẩm Thúy (2012), “Phân tích tình hình tài chính của cơng ty
chứng khoán tại một số nước trên thế giới”, Nội san NCKH, Trường Đại học Tài





×