Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHỮ HÁN CHO NGƯỜI VIỆT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (810.11 KB, 10 trang )

(1)


(2)

T¹p chÝ Khoa häc và Công nghệ





CHUYấN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ



Mơc lơc

Trang



Bùi Hồng Tân - Tình hình sở hữu ruộng đất công ở huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên qua nghiên cứu tư liệu địa bạ


năm Minh Mạng thứ 17 (1836) 3


Đoàn Thị Yến - Vua Tự Đức với vấn đề Công giáo trước và sau năm 1862 9
Trần Minh Thuận - Vấn đề ruộng đất và các cuộc đấu tranh tự phát của nông dân ở tỉnh Bạc Liêu thời


Pháp thuộc 15


Đồng Văn Quân - Các kiểu chế độ dân chủ trong lịch sử và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 21
Lê Thị Giang, Lê Thị Hương - Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng


con người 27
Cao Thị Phương Nhung, Ngô Thị Quang - Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về cơng tác học tập lí luận trong tác


phẩm “Diễn văn khai mạc lớp học lí luận khóa I trường Nguyễn Ái Quốc” 33
Lưu Thu Trang - Bi kịch của nhân vật Grigori Melekhov qua mối quan hệ với hai nhân vật nữ Aksinia và


Natalia trong tác phẩm Sông Đông êm đềm (M. Sholokhov) 39


Hoàng Thị Tuyết Mai - Thế giới trăng trong thơ Nguyễn Huy Oánh 45


Nguyễn Diệu Linh - Cá sỉnh trong văn hóa ẩm thực của người Thái trắng ở xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh



Yên Bái 49


Nguyễn Thị Tân Tiến, Hà Thị Hằng - Sự khác biệt về kết quả chuẩn đầu ra tin học của sinh viên học học phần


Tin học đại cương với sinh viên đạt chứng chỉ IC3 ở trường Đại học Y – Dược, Đại học Thái Nguyên 55
Đầu Thị Thu - Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên thông qua hoạt động trải nghiệm thực tế nghề nghiệp 61
Nguyễn Ngọc Bính, Dương Tố Quỳnh - Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn bóng


chuyền cho sinh viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên 67


Lưu Quang Sáng - Một số phương pháp dạy học chữ Hán cho người Việt 73


Hoàng Thị Hải Yến - Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong việc xây dựng đạo đức, lối sống cho


sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên hiện nay 79
Phùng Thị Tuyết, Nông Hồng Hạnh - Đánh giá trong dạy học qua đề án ở bộ môn tiếng Trung Quốc - Khoa


Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên 85
Trần Hoàng Tinh - Thực trạng và biện pháp xây dựng kế hoạch, chỉ đạo thực hiện giáo dục tính kỷ luật cho


sinh viên tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh 91


Hồng Thị Lý - Vai trị của hoạt động giàn giáo trong việc làm tăng khả năng đọc hiểu tiếng Anh của sinh viên


năm nhất 97


Dương Thị Hồng An, Đặng Phương Mai - Đánh giá phần mềm hỗ trợ học tập và giảng dạy tiếng Anh tại


trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên 103


Tạ Thị Mai Hương, Nguyễn Vân Thịnh, Nguyễn Thị Hạnh Hồng - Tác động của việc sử dụng hồ sơ bài tập


lên sự phát triển kĩ năng nghe hiểu của sinh viên: nghiên cứu trường hợp tại trường Đại học Kinh tế và Quản trị


Kinh doanh – Đại học Thái Nguyên 109


Trần Tuấn Anh, Đỗ Văn Hải, Trần Thị Thu Thủy, Hoàng Văn Hùng - Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu


đất đai đa mục tiêu phục vụ công tác quản lý tại phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai 115
Nguyễn Thị Gấm, Đào Thị Hương - Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ ngân hàng tới sự thỏa mãn của khách


hàng tại Vietinbank - chi nhánh Thái Nguyên 121


Nguyễn Thị Thanh Thủy - Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 129


Journal of Science and Technology



175

(15)




(3)

Chu Thị Hà, Đỗ Thị Hà Phương, Nguyễn Thị Giang, Lin Xiao Wu - Nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm


việc của người lao động tri thức tại Việt Nam 135


Trần Viết Khanh, Đỗ Thúy Mùi - Một số giải pháp phát triển nông nghiệp vùng Tây Bắc 141
Nguyễn Thị Lan Anh - Tăng cường quản lý sử dụng kinh phí cho hoạt động y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung


ương Thái Nguyên 147


Nguyễn Thị Giang, Đỗ Thị Hà Phương, Chu Thị Hà, Hồ Lương Xinh - Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nấm



ăn của các hộ gia đình ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 153


Đỗ Thị Vân Hương - Phân tích hiệu quả mơ hình trồng cây cà phê chè (Arabica), cây mắc ca (Macadamia) tại


xã Ẳng Tở, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên 159


Đặng Ngọc Huyền Trang, Dương Thị Thùy Linh - Xác định mối quan hệ giữa nguồn đầu tư trực tiếp nước


ngoài và cán cân thương mại ở Việt Nam 165


Dương Thị Tình - Thực trạng tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước năm 2016 và giải pháp cho những năm tiếp theo 171
Phạm Thị Thanh Mai, Nghiêm Thị Ngoan - Đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm chè mang chỉ dẫn


địa lý “Tân Cương” của tỉnh Thái Nguyên 177


Nguyễn Thị Thảo - Kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 183
Nguyễn Thị Lan Anh, Đào Thị Hương - Phát triển mối liên kết các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành hàng chè


tỉnh Thái Nguyên 189


Trần Thùy Linh, Đỗ Hoàng Yến - Hoàn thiện các quy định về xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị


trường theo Luật Cạnh tranh 2004 195


Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Ngô Thị Quỳnh Trang, Phạm Thị Thu Phương, Hoàng Thị Lan Hương - Các rào


cản trong việc áp dụng tiêu chuẩn khách sạn xanh ASEAN tại Hà Nội 201


Phan Thị Vân Giang, Phạm Bảo Dương - Một số vấn đề lý luận và bài học kinh nghiệm liên kết kinh tế trong




(4)

Lưu Quang Sáng Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 73 - 77


73


MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHỮ HÁN CHO NGƯỜI VIỆT



Lưu Quang Sáng*
Khoa Ngoại ngữ - ĐH Thái Nguyên


TĨM TẮT


Với vị trí địa lý nằm trong vịng văn hóa Hán, Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung
Quốc, trong đó ngơn ngữ Trung Quốc và chữ viết của loại ngôn ngữ này- chữ Hán có ảnh hưởng
tương đối sâu đậm đến văn hóa, ngôn ngữ nước ta. Ngày nay do nhu cầu thực tế, số lượng người
Việt Nam học tiếng Trung Quốc ngày một tăng lên, một trong những rào cản lớn của người Việt
khi học tiếng Trung Quốc chính là chữ Hán. Chữ Hán là loại văn tự tượng hình biểu ý, xét về hình
dạng, nó hồn tồn khác biệt với hệ thống chữ viết hiện hành của chúng ta. Tuy nhiên, do nhiều
yếu tố về văn hóa và ngơn ngữ, người Việt Nam khi học tiếng Trung Quốc nói chung, học chữ
Hán nói riêng cũng có những nhân tố tích cực tác động đến quá trình dạy học loại văn tự này. Bài
viết đề cập đến những nhân tố chuyển di tích cực và một số phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả
dạy- học chữ Hán cho người Việt.


Từ khóa: Chữ Hán, âm Hán Việt, giảng dạy tiếng Trung Quốc, người Việt, ngữ tố gốc Hán


ĐẶT VẤN ĐỀ *


Chữ Hán là loại văn tự biểu ý, về cơ bản mỗi
chữ Hán tương đương với một ngữ tố trong
tiếng Trung Quốc, do vậy chữ Hán còn được
gọi là loại văn tự ngữ tố. Do các nguyên nhân


về lịch sử và địa lý, văn hóa và ngơn ngữ của
người Hán có ảnh hưởng tương đối sâu đậm
đối với nước ta. Hiện tại trong tiếng Việt vẫn
có một hệ thống các từ ngữ có nguồn gốc từ
tiếng Hán. Trong tiếng Hán cổ đại các từ đa
phần là từ đơn âm tiết, có thể nói là mỗi chữ
Hán một từ và từ đó cũng là một ngữ tố. Khi
truyền bá vào Việt Nam thì các từ ngữ này
cũng dễ dàng hòa nhập vào hệ thống từ vựng
của tiếng Việt vì hai ngơn ngữ này dù khơng
cùng ngữ hệ nhưng có chung đặc điểm là các
âm tiết đơn lập. Do có một lượng lớn từ ngữ
gốc Hán trong ngơn ngữ mẹ đẻ của mình nên
người Việt Nam khi học tiếng Hán nói chung,
chữ Hán nói riêng có những ưu thế nhất định.


MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHỮ
HÁN CHO NGƯỜI VIỆT


Chữ Hán được cấu thành bởi 3 yếu tố: Âm
(âm đọc), Hình (hình dạng) và Nghĩa (ý
nghĩa). Khi dạy học mỗi chữ Hán đều cần
làm cho người học nắm vững 3 yếu tố cấu
thành này.




*


Tel: 0912.258159, Email: luuquangsang.sfl@tnu.edu.vn



Dạy học âm đọc chữ Hán


Dạy âm đọc chữ Hán là tương đối khó khăn
so với dạy học âm đọc các loại văn tự biểu
âm, vì tính năng biểu âm của chữ Hán hết sức
mờ nhạt, trong giai đoạn sơ cấp có thể nói sau
khi học xong chữ nào người học mới có thể
đọc được chữ đó. Dạy âm đọc chữ Hán cho
người Việt ngoài việc dạy phiên âm và cách
đọc thơng thường cịn có thể áp dụng những
lợi thế nội tại của người Việt để tiến hành
giảng dạy.


Sử dụng âm Hán Việt



(5)

Lưu Quang Sáng Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ 175(15): 73 - 77


74


âm Hán Việt là “nhĩ”. Ta có thể nhận thấy đặc
điểm này ở nhiều chữ hình thanh khác trong hệ
thống chữ Hán.


Sử dụng bộ phận biểu thị âm của chữ trong
dạy âm đọc chữ Hán


Ngày nay khi định lượng chữ Hán trong giảng
dạy, hầu hết các nhà giáo dục Trung Quốc và
nước ngoài đều sử dụng “Bảng Đại cương từ


mới và phân cấp chữ Hán”. Trong bảng này
có tổng cộng 2905 chữ Hán thông dụng.
Trong 2905 chữ Hán thơng dụng này có tổng
cộng 2001 chữ được cấu tạo theo lối chữ hình
thanh [1]. Để khảo sát mối liên quan giữa bộ
phận biểu thị âm đọc (thanh phù) và âm đọc
của chữ, chúng tôi đã tiến hành thống kê, kết
quả cho thấy trong 2001 chữ Hán này có 453
thanh phù, trong đó số lượng thanh phù đồng
thời là chữ Hán là 426, chiếm tỷ lệ 94.04%,
số thanh phù không phải là chữ Hán chỉ có
27, chiếm tỷ lệ 5.06%. Trong số 453 thanh
phù nêu trên, có 299 thanh phù chỉ biểu thị
một âm đọc duy nhất, chiếm tỷ lệ 66%, số
thanh phù biểu thị nhiều âm đọc là 154, chiếm
tỷ lệ 34%.


Có thể nhận thấy rằng nắm vững âm đọc của
một bộ phận không lớn thanh phù, chúng ta
có thể dạy học có hiệu quả hơn về âm đọc của
chữ Hán.


Dạy nghĩa của chữ Hán


Chữ Hán không giống như những văn tự biểu
âm, mỗi chữ Hán ngoài âm đọc chúng cịn là
một nghĩa tố. Thơng thường một chữ Hán đều
có một nghĩa gốc, theo sự phát triển của ngôn
ngữ, ngày nay một chữ Hán ngồi nghĩa gốc
cịn có thể có một số nghĩa phái sinh. Tùy


theo từng trình độ của người học mà lựa chọn
những ý nghĩa cần giảng dạy của chữ cho phù
hợp. Dựa vào đặc điểm ngôn ngữ, khi tiến
hành giảng dạy ý nghĩa của chữ Hán cho
người Việt chúng ta có thể tiến thành theo
một số phương pháp sau.


Sử dụng ý nghĩa của ngữ tố gốc Hán trong
tiếng Việt


Ý nghĩa của ngữ tố gốc Hán trong tiếng Việt
và ý nghĩa của chữ Hán hiện đại có tương
quan trên ba phương diện: Thứ nhất là ý
nghĩa giống nhau hồn tồn, ví dụ: từ 渴 âm


Hán Việt “khát”, nghĩa tiếng Việt và tiếng
Trung Quốc hiện đại đều là “khát, khát nước”
hoặc các từ khác như 湖(hồ) , 学 (học), 塔
(tháp), 笔(bút), 增(tăng), 减(giảm), 高(cao)…
có ý nghĩa giống hệt nhau. Thứ hai là ý nghĩa
vừa có điểm giống vừa có điểm khác khác
nhau, ví dụ: từ 才(tài), trong “Từ điển tiếng
Hán hiện đại” có tới 9 nét nghĩa[2], nhưng
trong tiếng Việt chỉ chủ yếu biểu thị “tài
năng, tài cán”, hoặc từ 大 (đại) trong tiếng
Trung Quốc hiện đại có tới 8 nét nghĩa[2],
nhưng tiếng Việt chỉ chủ yếu biểu thị ý nghĩa
“to lớn”. Thứ ba là ý nghĩa khác nhau, ví dụ:
từ 轻 (khinh) trong tiếng Trung Quốc hiện đại
biểu thị trọng lượng nhẹ, nhưng trong tiếng


Việt lại biểu thị sự coi thường, hoặc từ 算
(toán) trong tiếng Trung Quốc có nghĩa là
“tính tốn” cịn tiếng Việt lại chỉ một môn
học “mơn Tốn”…


Trong ba phương diện này thì phần giống
nhau chiếm đa số. Ngữ tố gốc Hán trong tiếng
Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ nên rất dễ
dàng được ghi nhớ, khi giảng dạy ý nghĩa của
chữ Hán, giảng viên chỉ cần nêu ra âm Hán
Việt và ý nghĩa của nó là người học có thể dễ
dàng tiếp nhận và ghi nhớ.


Tuy nhiên, do cũng có sự khác biệt ý nghĩa
giữa ngữ tố gốc Hán và ý nghĩa của chữ Hán
hiện đại, nên khi tiến hành giảng dạy, giảng
viên cũng cần nhấn mạnh những điểm khác
biệt này.


Sử dụng bộ phận biểu ý của chữ Hán



(6)

Lưu Quang Sáng Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 73 - 77


75
Trong mỗi chữ Hán đều có mối quan hệ giữa


hình dạng và ý nghĩa, thông qua mối quan hệ
này, chúng ta có thể hiểu rằng chữ Hán đó tại
sao lại được viết như vậy, đây chính là đặc
trưng của chữ tượng hình. Nhiều chữ Hán


hiện đại do sự biến đổi nên có hình dạng khác
với khi chúng được sáng tạo ra, khi giảng dạy
giáo viên cũng cần nhấn mạnh yếu tố này. Ví
dụ chữ 出 (xuất) “đi ra ngồi” gồm có hai bộ
phận: 屮 (bàn chân) và 凵 (cửa hang): bàn
chân vừa ra khỏi cửa hang, biểu thị đi từ trong
ra ngoài [3], tuy nhiên nhiều sinh viên lại viết
thành 2 bộ 山 (sơn-núi) chồng lên nhau, về
hình dạng thì gần giống nhưng thực tế là viết
sai chữ này.


Giảng dạy hình dạng chữ Hán


Có thể nói trong ba thành tố cấu thành chữ
Hán thì hình dạng chữ là khó học, khó nhớ
nhất, vì số lượng chữ Hán rất nhiều, mỗi chữ
lại có hình dạng riêng. Để nâng cao hiệu quả
dạy học chữ Hán, có thể phân loại theo cấu
tạo chữ để tiến hành giảng dạy. Căn cứ vào
kết cấu của chữ Hán thì có thể phân làm hai
loại lớn là chữ đơn thể (chữ Hán chỉ có 1 bộ
chữ) và chữ hợp thể (chữ Hán có từ 2 bộ chữ
trở lên).


Giảng dạy chữ đơn thể


Xét theo cách cấu tạo chữ thì chữ đơn thể
gồm chữ tượng hình và chữ chỉ sự. Hai loại
chữ này có số lượng khơng nhiều, đặc biệt là
chữ chỉ sự, trong 2905 chữ Hán thơng dụng


chỉ có 20 chữ chỉ sự, chiếm 0.69%, do đó có
thể nói rằng dạy chữ đơn thể chủ yếu là dạy
chữ tượng hình.


Trong số chữ Hán thơng dụng thì số lượng
chữ tượng hình cũng khơng nhiều, chỉ có hơn
200 chữ, nhưng nó lại là cơ sở để tạo ra các
loại chữ: chỉ sự, hội ý và hình thanh. Nắm
vững được chữ tượng hình là tiền đề và cơ sở
để học tốt chữ Hán.


Khi tiến hành dạy chữ tượng hình, giảng viên
cần giảng giải ý nghĩa gốc của chữ, có thể
minh họa bằng hình ảnh gốc và sự biến đổi
của nó [4]. Như vậy, thông qua liên tưởng


giữa hình dạng sự vật và hình dạng của chữ,
việc học và ghi nhớ chữ tượng hình khơng
cịn q khó khăn nữa.


Giảng dạy chữ hợp thể


Chữ hợp thể là loại chữ có từ hai bộ chữ trở
lên, xét về cách thức cấu tạo thì lại được chia
làm hai loại là chữ hội ý và chữ hình thanh.
Khi tiến hành giảng dạy hai loại chữ này cũng
có thể áp dụng một số phương pháp khác
nhau để việc dạy học đạt hiệu quả tốt.


Chữ hội ý



Chữ hội ý là loại chữ có từ hai bộ chữ đều
biểu thị nghĩa trở lên cấu thành, các bộ chữ
trong loại chữ này có thể giống hoặc khác
nhau, ví dụ như 林 (lâm), 从 (tòng), 休 (hưu),
看(khán)… Đáng lưu ý là hầu hết các bộ chữ
này đều có nguồn gốc từ các chữ tượng hình.
Khi giảng dạy chữ hội ý, giảng viên nên nêu
ra ý nghĩa của từng bộ chữ và nói rõ mối quan
hệ của chúng vì các bộ chữ này tại sao lại
được kết hợp với nhau đều có lý do chứ
khơng phải là kết hợp một cách tự do, tùy ý.
Ví dụ chữ 看(khán) “nhìn” được kết hợp bởi
手 (thủ) “tay” và 目 (mục) “mắt”, dùng bàn
tay che lên trên mắt, biểu thị đang nhìn.


Vì có sự biến đổi trong hình dạng nên một số
chữ Hán hiện đại thoạt nhìn thì giống như chữ
đơn thể, nhưng thực chất chúng lại là chữ hội
ý. Ví dụ chữ 友 (hữu) “bạn bè” thực chất là
được kết hợp bởi hai chữ 手 (thủ) “bàn tay”
(hai người bắt tay nhau) biểu thị hữu hảo.


Đối với sinh viên Việt Nam, việc học chữ hội
ý là không quá khó khăn, bởi các bộ chữ để
cấu tạo nên chữ hội ý là không nhiều, mà
phần lớn các bộ chữ này sinh viên đã nắm
vững ngay từ giai đoạn sơ cấp, giảng viên chỉ
cần giảng giải mối quan hệ nội tại của chúng.



Chữ hình thanh



(7)

Lưu Quang Sáng Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175(15): 73 - 77


76


Bảng 1. Mối quan hệ giữa bộ phận biểu âm và âm đọc của chữ Hán
Mối quan hệ giữa bộ phận biểu âm và âm đọc


của chữ Hán


Ví dụ Số chữ Tỷ lệ


Cùng thanh mẫu, vận mẫu, thanh điệu 园、洋 621 31.03%
Cùng thanh mẫu, vận mẫu; khác thanh điệu 简、姑 349 17.44%
Cùng thanh mẫu, thanh điệu; khác vận mẫu 例、徊 62 3.1%
Cùng vận mẫu, thanh điệu; khác thanh mẫu 现、冲 162 8.1%
Cùng thanh mẫu; khác vận mẫu và thanh điệu 选、怜 72 3.6%
Cùng vận mẫu; khác thanh mẫu, thanh điệu 拍、红 306 15.29%
Cùng thanh điệu; khác thanh mẫu, vận mẫu 你、颁 103 5.15%
Khác toàn bộ thanh mẫu, vận mẫu, thanh điệu 怕、仇 326 16.29%
Một âm đọc của chữ Hán (tương đương với


một âm tiết) gồm ba phần: Phụ âm đầu (thanh
mẫu), phần vần (vận mẫu) và thanh điệu. Mối
quan hệ giữa bộ phận biểu âm của loại chữ
này và âm đọc của nó thể hiện trên tám
phương diện, gồm có: (1) Cùng thanh mẫu,
vận mẫu, thanh điệu; (2) Cùng thanh mẫu,
vận mẫu; khác thanh điệu; (3) Cùng thanh


mẫu, thanh điệu; khác vận mẫu; (4) Cùng vận
mẫu, thanh điệu; khác thanh mẫu; (5) Cùng
thanh mẫu; khác vận mẫu và thanh điệu; (6)
Cùng vận mẫu; khác thanh mẫu, thanh điệu;
(7) Cùng thanh điệu; khác thanh mẫu, vận
mẫu; (8) Khác toàn bộ thanh mẫu, vận mẫu,
thanh điệu.


Để khảo sát tỷ lệ của mối quan hệ này trên
các phương diện, chúng tôi đã tiến hành thống
kê 2001 chữ hình thanh trong “Bảng Đại
cương từ mới và phân cấp chữ Hán”. Trong
số này thì số chữ Hán có phần âm đọc hồn
tồn giống với âm đọc của chữ chiếm tỷ lệ
cao nhất, tiếp sau đó là phần vần (vận mẫu)
tương đồng lần lượt chiếm các tỷ lệ từ thấp
đến cao (Bảng 1).


Như vậy bộ phận biểu thị âm đọc của chữ
hình thanh là một bộ phận quan trọng trong
cấu tạo hình dạng của chữ. Khi tiến hành
giảng dạy chữ hình thanh, giảng viên cần
phân tích rõ bộ phận biểu thị nghĩa và bộ
phận biểu thị âm cũng như bố cục của các bộ
phận này.


KẾT LUẬN


Thông qua nghiên cứu các yếu tố cấu thành
chữ Hán, cũng như mối tương quan của các


yếu tố này với tiếng Việt, chúng ta nhận thấy
rằng: chữ viết hiện hành của Việt Nam và
Trung Quốc là thuộc hai hệ thống văn tự khác
nhau, chữ viết tiếng Việt là chữ biểu âm, chữ
Hán là chữ biểu ý. Nếu chỉ xét về mặt hình
dạng (dưới góc độ thị giác) thì chúng hoàn
toàn khác biệt. Một chữ Hán gồm có ba yếu
tố cấu thành: Hình dạng, âm đọc và ý nghĩa.
Ngoài yếu tố hình dạng, âm đọc và ý nghĩa
của chữ Hán có khá nhiều điểm tương quan
với tiếng Việt. Tuy nhiên những mối tương
quan này ln tồn tại tính hai mặt, chúng vừa
chuyển di tích cực, vừa chuyển di tiêu cực.
Đối với người Việt thì những điểm tương
quan này phát huy yếu tố tích cực là chủ đạo,
đây chính là một lợi thế của người Việt Nam
học tiếng Trung Quốc nói chung và học chữ
Hán nói riêng. Biết kết hợp một cách hợp lý
các phương pháp giảng dạy, phát huy tính tích
cực, giảm thiểu những chuyển di tiêu cực sẽ
góp phần nâng cao hiệu quả dạy học, giảm
bớt áp lực học tập chữ Hán cho người Việt.


TÀI LIỆU THAM KHẢO


1.刘光创(2012),《利用汉源语素提高对越汉字
教学效率的研究》,华东师范大学博士论文.
2. 中国 社会 科学 院语 言研 究所 词典 编辑 室编
(2006), 《现代汉语词典-第五版》.商务印书馆
3.李乐毅(2000),《汉字演变五百例》,北京语


言文化大学出版社



(8)

Lưu Quang Sáng Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ 175(15): 73 - 77


77
SUMMARY


SOME SUGGESTIONS OF TEACHING CHINESE CHARACTERS
FOR VIETNAMESE STUDENTS


Luu Quang Sang*
School of Foreign Languages – TNU


Geographically situated in the Chinese culture circle, Vietnam is under great influence of Chinese
culture. Especially, Vietnamese language is dramatically affected by Chinese language and
Chinese characters. The number of Vietnamese learners is currently increasing because of the
social needs. However, one of the hindrances for Vietnamese learners in learning Chinese is the
Chinese characters themselves. Chinese is a pictographic language, which is different from
Vietnamese language system. However, because of cultural and linguistic influences, Vietnamese
learners also have certain advantages in learning Chinese in general and Chinese characters in
particular. This paper will discuss some positive transferring factors and give some suggestions to
improve the quality of Chinese teaching and learning for Vietnamese people.


Key words: Chinese characters, Chinese teaching, Sino-Vietnamese syllables, Chinese language


radical, Vietnamese students


Ngày nhận bài: 30/10 /2017; Ngày phản biện: 13/11/2017; Ngày duyệt đăng: 29/12/2017





*



(9)

soT

Tạp chí Khoa học và C«ng nghƯ





SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS



Content

Page


Bui Hoang Tan - Ownership situation public field-land in Ha Chau district, Ha Tien province through studying


cadastral registers of Minh Mang dynasty 17 (1836) 3


Doan Thi Yen - Tu Duc king’s attitude towards Catholicism before and after 1962 9
Tran Minh Thuan - The land problems and spontaneous fights of farmers in Bac Lieu province under the


French domination 15
Dong Van Quan - Types of democratic regime in the history and the present socialist democratic regime in our


country 21


Le Thi Giang, Le Thi Huong - The original of formation of Ho Chi Minh thought on human beings, human


development 27


Cao Thi Phuong Nhung, Ngo Thi Quang - Ho Chi Minh’s talk about the study of theoretics in “the orientation


speech at the opening ceremony of the first theoretics class at Nguyen Ai Quoc Institute” 33


Luu Thu Trang - The tragedy of Grigori Melekhov reflected in the relationship between Aksinia and Natalia in


Quietly Flows the Don (M. Sholokhov) 39


Hoang Thi Tuyet Mai - The moon in Nguyen Huy Oanh’s poetry 45


Nguyen Dieu Linh - Onychostoma laticeps in culinary culture of white Thai people in Son A commune, Van


Chan district, Yen Bai province 49


Nguyen Thi Tan Tien, Ha Thi Hang - The diffrences of learning outcomes of students having taken the
general informatics course with students obtaining the IC3 certicate at Thai Nguyen University of Medicine and


Pharmacy 55


Dau Thi Thu - Training pedagogical profession for students through real professional activity experience 61
Nguyen Ngoc Binh, Duong To Quynh - Testing and assessing the learning outcome of the volleyball subject


for students at Thai Nguyen University of Economics and Business Administration 67
Luu Quang Sang - Some suggestions of teaching Chinese characters for Vietnamese students 73
Hoang Thi Hai Yen - Applying Ho Chi Minh’ ideology about morality in building morals, lifestyle of students


in Thai Nguyen University of Technology currently 79
Phung Thi Tuyet, Nong Hong Hanh - Assessment of the project-based teaching and learning of the students


major in Chinese at School of Foreign Languages, Thai Nguyen University 85
Tran Hoang Tinh - Situation and measures for planning and directing the implementation of disciplined


education for students at centers for national defense and security education 91
Hoang Thi Ly - role of scaffolding activities in enhancing english reading skills among first year college



students 97
Duong Thi Hong An, Dang Phuong Mai - Evaluating the EFL courseware at Thai Nguyen University of


Information and Communication Technology 103


Ta Thi Mai Huong, Nguyen Van Thinh, Nguyen Thi Hanh Hong - Effects of portforlios on improving listening
comprehension skill for students: a case study at Thai Nguyen University of Economics and Business


Administration 109


Tran Tuan Anh, Do Van Hai, Tran Thi Thu Thuy, Hoang Van Hung - Research building multipurpose


database to service land mangement in Coc Leu ward, Lao Cai city 115


Nguyen Thi Gam, Dao Thi Huong - Influence of service quality on customer satisfaction at Vietinbank- Thai


Nguyen branch 121


Nguyen Thi Thanh Thuy - Foreign direct investment with the socio-economic development of Vietnam 129


Journal of Science and Technology



175

(15)




(10)

Chu Thi Ha, Do Thi Ha Phuong, Nguyen Thi Giang, XiaoLi Wu - Factors affecting knowledge workers’ job


motivation in vietnamese enterprises 135


Tran Viet Khanh, Do Thuy Mui - Some agricultural development solutions in Tay Bac 141


Nguyen Thi Lan Anh - Enhanced management in use expense resources of health care activities in Thai


Nguyen National General Hospital 147


Nguyen Thi Giang, Do Thi Ha Phuong, Chu Thi Ha, Ho Luong Xinh - Solution to improve economic


efficiency of mushroom production at households in Dai Tu district, Thai Nguyen province 153
Do Thi Van Huong - Analyse efficiency of Arabica and Macadamia crops at Ang To commune, Muong Ang


district, Dien Bien province 159


Dang Ngoc Huyen Trang, Duong Thi Thuy Linh - Determining relationship between foreign direct


investment inflow and trade balance in Vietnam 165


Duong Thi Tinh - Status of restructuring state-owned enterprises in 2016 and solutions for next years 171
Pham Thi Thanh Mai, Nghiem Thi Ngoan - Guarantee for intellectual property rights on the "Tan Cuong" tea


geographical indications of Thai Nguyen province 177


Nguyen Thi Thao - Implementation results of the poverty reduction program in Thai Nguyen province in


2011-2015 183


Nguyen Thi Lan Anh, Dao Thi Huong - The development of the relationship between workers in the value


brand only chain in Thai Nguyen province 189


Tran Thuy Linh, Do Hoang Yen - Improving regulations on defining dominant abusive practices under



Vietnemese Competition Law 2004 195


Nguyen Thi My Hanh, Ngo Thi Quynh Trang, Pham Thi Thu Phuong, Hoang Thi Lan Huong - Barriers to


ASEAN green hotel standard in the hotel industry: a case study in Ha Noi 201
Phan Thi Van Giang, Pham Bao Duong - Some theoretical issues and experience lessons of integration in pig


raising and pork consumption 207





×