Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

CÁC KIỂU CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ TRONG LỊCH SỬ VÀ NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (802.42 KB, 11 trang )

(1)


(2)

T¹p chÝ Khoa häc và Công nghệ





CHUYấN SAN KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN – KINH TẾ



Mơc lơc

Trang



Bùi Hồng Tân - Tình hình sở hữu ruộng đất công ở huyện Hà Châu, tỉnh Hà Tiên qua nghiên cứu tư liệu địa bạ


năm Minh Mạng thứ 17 (1836) 3


Đoàn Thị Yến - Vua Tự Đức với vấn đề Công giáo trước và sau năm 1862 9


Trần Minh Thuận - Vấn đề ruộng đất và các cuộc đấu tranh tự phát của nông dân ở tỉnh Bạc Liêu thời


Pháp thuộc 15


Đồng Văn Quân - Các kiểu chế độ dân chủ trong lịch sử và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 21


Lê Thị Giang, Lê Thị Hương - Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng


con người 27


Cao Thị Phương Nhung, Ngô Thị Quang - Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về cơng tác học tập lí luận trong tác


phẩm “Diễn văn khai mạc lớp học lí luận khóa I trường Nguyễn Ái Quốc” 33


Lưu Thu Trang - Bi kịch của nhân vật Grigori Melekhov qua mối quan hệ với hai nhân vật nữ Aksinia và


Natalia trong tác phẩm Sông Đông êm đềm (M. Sholokhov) 39



Hoàng Thị Tuyết Mai - Thế giới trăng trong thơ Nguyễn Huy Oánh 45


Nguyễn Diệu Linh - Cá sỉnh trong văn hóa ẩm thực của người Thái trắng ở xã Sơn A, huyện Văn Chấn, tỉnh


Yên Bái 49


Nguyễn Thị Tân Tiến, Hà Thị Hằng - Sự khác biệt về kết quả chuẩn đầu ra tin học của sinh viên học học phần


Tin học đại cương với sinh viên đạt chứng chỉ IC3 ở trường Đại học Y – Dược, Đại học Thái Nguyên 55


Đầu Thị Thu - Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên thông qua hoạt động trải nghiệm thực tế nghề nghiệp 61


Nguyễn Ngọc Bính, Dương Tố Quỳnh - Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn bóng


chuyền cho sinh viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên 67


Lưu Quang Sáng - Một số phương pháp dạy học chữ Hán cho người Việt 73


Hoàng Thị Hải Yến - Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong việc xây dựng đạo đức, lối sống cho


sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp – Đại học Thái Nguyên hiện nay 79


Phùng Thị Tuyết, Nông Hồng Hạnh - Đánh giá trong dạy học qua đề án ở bộ môn tiếng Trung Quốc - Khoa


Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên 85


Trần Hoàng Tinh - Thực trạng và biện pháp xây dựng kế hoạch, chỉ đạo thực hiện giáo dục tính kỷ luật cho


sinh viên tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh 91



Hồng Thị Lý - Vai trị của hoạt động giàn giáo trong việc làm tăng khả năng đọc hiểu tiếng Anh của sinh viên


năm nhất 97


Dương Thị Hồng An, Đặng Phương Mai - Đánh giá phần mềm hỗ trợ học tập và giảng dạy tiếng Anh tại


trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên 103


Tạ Thị Mai Hương, Nguyễn Vân Thịnh, Nguyễn Thị Hạnh Hồng - Tác động của việc sử dụng hồ sơ bài tập
lên sự phát triển kĩ năng nghe hiểu của sinh viên: nghiên cứu trường hợp tại trường Đại học Kinh tế và Quản trị


Kinh doanh – Đại học Thái Nguyên 109


Trần Tuấn Anh, Đỗ Văn Hải, Trần Thị Thu Thủy, Hoàng Văn Hùng - Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu


đất đai đa mục tiêu phục vụ công tác quản lý tại phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai 115


Nguyễn Thị Gấm, Đào Thị Hương - Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ ngân hàng tới sự thỏa mãn của khách


hàng tại Vietinbank - chi nhánh Thái Nguyên 121


Nguyễn Thị Thanh Thủy - Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 129


Journal of Science and Technology



175

(15)




(3)

Chu Thị Hà, Đỗ Thị Hà Phương, Nguyễn Thị Giang, Lin Xiao Wu - Nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm



việc của người lao động tri thức tại Việt Nam 135


Trần Viết Khanh, Đỗ Thúy Mùi - Một số giải pháp phát triển nông nghiệp vùng Tây Bắc 141


Nguyễn Thị Lan Anh - Tăng cường quản lý sử dụng kinh phí cho hoạt động y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung


ương Thái Nguyên 147


Nguyễn Thị Giang, Đỗ Thị Hà Phương, Chu Thị Hà, Hồ Lương Xinh - Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nấm


ăn của các hộ gia đình ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 153


Đỗ Thị Vân Hương - Phân tích hiệu quả mơ hình trồng cây cà phê chè (Arabica), cây mắc ca (Macadamia) tại


xã Ẳng Tở, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên 159


Đặng Ngọc Huyền Trang, Dương Thị Thùy Linh - Xác định mối quan hệ giữa nguồn đầu tư trực tiếp nước


ngoài và cán cân thương mại ở Việt Nam 165


Dương Thị Tình - Thực trạng tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước năm 2016 và giải pháp cho những năm tiếp theo 171


Phạm Thị Thanh Mai, Nghiêm Thị Ngoan - Đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm chè mang chỉ dẫn


địa lý “Tân Cương” của tỉnh Thái Nguyên 177


Nguyễn Thị Thảo - Kết quả thực hiện chương trình giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 183


Nguyễn Thị Lan Anh, Đào Thị Hương - Phát triển mối liên kết các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành hàng chè



tỉnh Thái Nguyên 189


Trần Thùy Linh, Đỗ Hoàng Yến - Hoàn thiện các quy định về xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị


trường theo Luật Cạnh tranh 2004 195


Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Ngô Thị Quỳnh Trang, Phạm Thị Thu Phương, Hoàng Thị Lan Hương - Các rào


cản trong việc áp dụng tiêu chuẩn khách sạn xanh ASEAN tại Hà Nội 201


Phan Thị Vân Giang, Phạm Bảo Dương - Một số vấn đề lý luận và bài học kinh nghiệm liên kết kinh tế trong



(4)

Đồng Văn Quân Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175 (15): 21 - 26


21


CÁC KIỂU CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ TRONG LỊCH SỬ



VÀ NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY



Đồng Văn Quân*


Trường Đại học Sư phạm – ĐH Thái Nguyên


TÓM TẮT


Bài báo khái quát những nội dung chính về khái niệm dân chủ, sự hình thành chế độ dân chủ và
các kiểu chế độ dân chủ trong lịch sử. Manh nha của chế độ dân chủ đã xuất hiện từ thời nguyên
thuỷ dưới hình thức quyền tự quyết của các thị tộc, nhưng đó chưa phải là chế độ chính trị. Chế độ
dân chủ với tính cách là chế độ chính trị tồn tại dưới 3 kiểu là chế độ dân chủ chủ nô, chế độ dân


chủ tư sản và chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Bài báo khái quát những quan điểm, đường lối cơ
bản của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng nền dân chủ mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta, chỉ ra
những hạn chế và đưa ra những nguyên tắc, giải pháp cơ bản để xây dựng, hoàn thiện thể chế dân
chủ ở nước ta hiện nay.


Từ khóa: Dân chủ; Dân là gốc; chế độ dân chủ; chế độ chính trị; Việt Nam.


KHÁI NIỆM DÂN CHỦ *


Dân chủ là một chủ đề quan trọng của các
khoa học xã hội. Vấn đề dân chủ luôn luôn
gắn liền với quyền sống, quyền tự do của con
người. Tuy nhiên, dân chủ không phải là cái
tự nhiên sẵn có của xã hội, mà là một sản
phẩm phát triển của lịch sử, là kết quả của
cuộc đấu tranh chống độc quyền chuyên chế,
chống áp bức bóc lột của nhân dân. Vì vậy,
khái niệm dân chủ với tính cách là một khái
niệm chính trị, chỉ thực sự hình thành trong
các xã hội có giai cấp và luôn mang nội dung
giai cấp.


Theo từ điển bách khoa Việt Nam, “dân chủ,
hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã
hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn
gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình
đẳng và tự do” [9, tr. 653]. Như vậy, dân chủ
trước hết là một khái niệm chính trị dùng để
chỉ một chế độ chính trị mà trong đó có sự
tham gia của nhân dân vào quá trình quản lý


xã hội ở những mức độ khác nhau; thừa nhận
sức mạnh quyền lực của nhân dân như là một
tiêu chí để nhà nước dựa vào đó mà đề ra
những chủ trương, chính sách tương ứng;
thừa nhận quyền tự do, quyền bình đẳng của
nhân dân trong một khuôn khổ nhất định.
Theo Hồ Chí Minh dân chủ ln ln có hai
mặt, đó là: “dân là chủ” và “dân làm chủ”.
Quan niệm này vừa đảm bảo tính khoa học,




*


Tel: 0912.021.314; Email: dongvanquan@dhsptn.edu.vn


tính hiện đại, vừa kế thừa một cách sáng tạo
các quan điểm của nhân loại về dân chủ.
Khía cạnh thứ nhất của dân chủ: “dân là chủ”
nói lên dân là chủ thể của quyền lực, quyền
lực thuộc về nhân dân, bởi vì dân là sức
mạnh. Nếu được dân tin, dân theo, dân ủng hộ
thì chính quyền mới đứng vững. Ngược lại,
mất lòng tin của dân là mất tất cả.


Khía cạnh thứ hai của dân chủ: “dân làm chủ”
nói lên nội dung cơ bản của dân chủ, đó là
dân phải được làm chủ vận mệnh của mình,
làm chủ quyền lực của mình, làm chủ xã hội
nói chung.



Hai mặt của dân chủ khơng phải lúc nào cũng
thống nhất với nhau. Vấn đề “dân là chủ”,
“dân là gốc” khơng có gì là mới mẻ vì nó
được thừa nhận từ rất sớm trong lịch sử. Còn
vấn đề “dân làm chủ”, “dân làm gốc” thì chỉ
có chế độ dân chủ mới từng bước đảm bảo
quyền của người dân được tham gia vào các
công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội
với những mức độ và hình thức khác nhau.


Ngày nay, khái niệm dân chủ về cơ bản vẫn
hàm nghĩa là “Mọi quyền lực đều thuộc về


nhân dân”, nhưng có những thay đổi trong



(5)

Đồng Văn Qn Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ 175 (15): 21 - 26


22


chính trị (chế độ dân chủ); dân chủ là một
hiện thực kinh tế (thị trường tự do); dân chủ
là một hiện thực xã hội (xã hội công dân, tổ
chức xã hội, tổ chức phi chính phủ…); dân
chủ là một trạng thái quan hệ quốc tế (quyền
tự quyết dân tộc, bình đẳng dân tộc…); dân
chủ là một triết thuyết chính trị…


Về mặt triết học, dân chủ được thể hiện trên
các phương diện chủ yếu là: Thừa nhận quyền


tự do cá nhân, nhưng không vi phạm tính tất
yếu xã hội mà tự do phải là “cái tất yếu đã
được nhận thức và được vận dụng đúng đắn”;
quyền bình đẳng về điều kiện phát triển của
mọi chủ thể, của từng cá nhân và suy rộng ra
là quyền bình đẳng của mọi dân tộc; sự thống
nhất trong tính đa dạng, trong đó quyền tự do
cá nhân thể hiện tính đa dạng, cịn bình đẳng
về điều kiện nói lên cái chung, cái phổ biến
của dân chủ.


Về mặt nhận thức thì khái niệm là sự phản ánh
của hiện thực, cho nên nó hình thành và biến
đổi cùng với sự biến đổi của bản thân hiện
thực. Khái niệm dân chủ cũng tương tự như
vậy, có nhiệm vụ phản ánh lại quá trình hình
thành và phát triển của nền dân chủ trong xã
hội. Do đó, khơng có khái niệm “dân chủ nói
chung”, “dân chủ thuần t”, “dân chủ khơng
có tính từ”... mà khái niệm dân chủ phải vừa
phản ánh được những giá trị chung, toàn nhân
loại, phản ánh được xu hướng phát triển của
lịch sử, lại vừa phản ánh được tính giai cấp,
tính đặc thù dân tộc của các nền dân chủ.
CÁC HÌNH THỨC DÂN CHỦ TRONG
LỊCH SỬ


Dân chủ chủ nô


Khái niệm dân chủ lần đầu tiên xuất hiện ở


Hy Lạp cổ đại. Theo tiếng Hy Lạp: Démos
kratos (dân chủ) có nghĩa là quyền lực thuộc
về nhân dân. Khái niệm này ra đời trong cuộc
đấu tranh của phái chủ nô dân chủ chống lại
giới chủ nô quý tộc. Chế độ thành bang của
Hy Lạp cổ đại đã tạo ra hai thể chế chính trị
đối lập nhau là thể chế dân chủ chủ nô (được
thiết lập ở thành bang Aten) và thể chế quân
chủ (được thiết lập ở thành bang Spác). Nền
dân chủ chủ nơ tuy cịn rất hạn chế (chỉ dành
riêng cho những người tự do – khoảng 2 vạn
người ở thành bang Aten, mà không dành cho


nô lệ – chiếm số đông ở thành bang này),
nhưng đã thể hiện rõ tính tích cực, tiến bộ của
mình. Thơng qua hình thức bầu trực tiếp để
nhân dân cử ra đại diện quyền lực cho mình
trong các nghị viện; những việc lớn của thành
bang như chiến tranh, lễ hội... đều thông qua
đại hội toàn thể để quyết định. Ở Cộng hoà La
Mã, thông qua các đại hội toàn dân được tổ
chức ở quảng trường La Mã hoặc trên cánh
đồng thần Mars để quyết định về các đạo luật,
bầu các thủ lĩnh hay giải quyết các vấn đề có
liên quan đến châu Âu...


Kể từ khi xuất hiện đến nay, trải qua hơn hai
nghìn năm phát triển lịch sử, nền dân chủ đã
trải qua nhiều loại hình khác nhau với những
biểu hiện khác nhau về nội dung, hình thức,


với những tính chất và mức độ khác nhau.
Ngay trong chế độ chiếm hữu nô lệ, nền dân
chủ cổ đại đã dần dần bị biến dạng, khi mà
giai cấp thống trị từng bước thâu tóm quyền
lực vào tay mình, trở thành lực lượng đối lập
với nhân dân. Sau khi thành bang Spác thơn
tính thành bang Aten, thể chế quân chủ
chuyên chế dần dần thay thế cho thể chế dân
chủ chủ nô. Cho đến chế độ phong kiến thì
thể chế nhà nước chuyển hẳn sang chế độ độc
đoán chuyên quyền. Nhưng ngay trong lòng
xã hội phong kiến trung ương tập quyền vẫn
tồn tại một nền dân chủ đặc biệt – dân chủ
công xã nông thôn (tàn dư của chế độ tự quản
nguyên thuỷ). Trong các công xã nông thôn,
các làng - xã nông thôn, dân chủ biểu hiện
bằng chế độ tự quản. Mỗi làng - xã, công xã,
thông qua các hội nghị toàn thể, người dân
thường đặt ra những lề luật (hương ước, quy
ước) để duy trì trật tự, giải quyết các công
việc của cộng đồng. Những lề luật này được
tất cả mọi người thừa nhận và tuân thủ một
cách vô điều kiện, như trong dân gian có câu
“phép vua thua lệ làng”.


Dân chủ tư sản



(6)

Đồng Văn Quân Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ 175 (15): 21 - 26


23


với tính cách là những cá nhân. Tuy nhiên,


dân chủ tư sản không phải là nền dân chủ duy
nhất, không phải là đỉnh cao của chế độ dân
chủ như những nhà tư tưởng tư sản vẫn ngợi
ca. Bản chất giai cấp của nền dân chủ này vẫn
được thể hiện rất rõ bởi vì “chủ nghĩa tự do”
cho tồn xã hội trong chủ nghĩa tư bản được
thay thế bằng “chủ nghĩa mất tự do” cho giai
cấp bị trị. Nhân dân “uỷ quyền” qua cái gọi là
“khế ước xã hội” để qua đó mất quyền làm
chủ của mình. Chúng ta khơng thể phủ nhận
những giá trị dân chủ mà nhân dân lao động
đã đạt được trong chủ nghĩa tư bản như quyền
tự do, quyền bình đẳng... nhưng đây không
phải là sự ban phát từ trên xuống, khơng phải
là lịng hảo tâm của giai cấp tư sản đối với
người lao động, mà là kết quả của cuộc đấu
tranh bền bỉ, lâu dài của nhân dân lao động
chống áp bức, chống cường quyền nhằm giải
phóng mình và giải phóng xã hội nói chung.
Dân chủ tư sản dù có phát triển đến đâu đi
nữa thì cũng chỉ là cơ chế bảo vệ cho lợi ích
của giai cấp tư sản, chứ không phải của toàn
thể nhân dân lao động. Quyền dân chủ của
nhân dân lao động có được mở rộng đến đâu
đi nữa thì cũng khơng được phép và không
thể đụng chạm đến quyền sở hữu tư nhân tư
bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất. Như
vậy, dân chủ tư sản chỉ đóng khung trong việc


thực hiện quyền công dân thông thường,
không thể vượt quá giới hạn của quan hệ có
tính quy luật là: giai cấp nào thống trị về kinh
tế thì giai cấp đó cũng thống trị về chính trị .
Dân chủ xã hội chủ nghĩa


Trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp
vơ sản và nhân dân lao động nhằm xố bỏ chế
độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng xã hội xã hội
chủ nghĩa, tất yếu sẽ hình thành một nền dân
chủ mới – Dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là
một nền dân chủ khác hẳn về chất so với các
nền dân chủ trước đây. Về nguyên tắc, dưới
chủ nghĩa xã hội nhân dân lao động không chỉ
là cơng dân, mà cịn là người làm chủ các tư
liệu sản xuất, vì vậy nhân dân có quyền và có
trách nhiệm làm chủ về chính trị, xã hội. Chỉ
có dưới chủ nghĩa xã hội thì dân chủ mới
được thực hiện một cách đầy đủ, mà thực chất
là sự tham gia ngày càng đông đảo của nhân


dân vào công việc quản lý nhà nước, quản lý
xã hội. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ
của đại đa số nhân dân, gắn với công bằng xã
hội, chống áp bức, bất công. Dân chủ xã hội
chủ nghĩa được thực hiện trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị,
văn hố, xã hội; được thể chế hoá bằng pháp
luật và được pháp luật đảm bảo. Dân chủ xã
hội chủ nghĩa không chỉ là sự ban bố một số


quyền cơng dân, mà cịn tạo ra cơ chế để thực
hiện quyền lực của nhân dân với tính cách là
quyền lực tối cao và cuối cùng. Tuy nhiên,
dân chủ xã hội chủ nghĩa khơng có sẵn trong
sách vở của chủ nghĩa Mác – Lênin, cũng
khơng hồn tồn là cái đã được thiết lập trong
các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Chưa hề
có mơ hình chuẩn cho một nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa trong tiền lệ, bởi lẽ nền dân chủ đạt
được trong các nước xã hội chủ nghĩa trước
đây, tuy là một bước tiến lớn so với dân chủ
tư sản, nhưng do những sai lầm chủ quan nên
hiện tượng vi phạm dân chủ vẫn diễn ra phổ
biến, tình trạng quan liêu hoá bộ máy nhà
nước là khá nặng nề.


Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta
đang xây dựng cịn có nhiều điểm mới mẻ cần
được làm sáng tỏ cả về lý luận lẫn thực tiễn.
Tuy chưa có một nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa đầy đủ, nhưng những nguyên tắc cơ bản
của nền dân chủ mới đã cơ bản định hình:
- Đảm bảo tốt cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà
nước quản lý, Nhân dân làm chủ.


- Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Dân chủ phải gắn liền với dân sinh, dân trí.
- Kết hợp hài hoà cả hai hình thức dân chủ:
dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.



- Dân chủ phải toàn diện: dân chủ trong kinh
tế, dân chủ trong chính trị, dân chủ trong ý
thức, tư tưởng...


ĐƯỜNG LỐI DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM



(7)

Đồng Văn Quân Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ 175 (15): 21 - 26


24


phải quán triệt tư tưởng “Lấy dân làm gốc”,
xây dựng và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân lao động” [1, tr. 29].


Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tư
tưởng dân chủ đã dần dần được cụ thể hoá và
thể chế hoá qua các nghị quyết, chỉ thị của Đảng
và các nghị định, quyết định của Nhà nước.


Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung
ương khoá VI đã họp vào tháng 3 năm 1990
và ra một Nghị quyết quan trọng: Đổi mới


công tác quần chúng của Đảng, tăng cường
mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Đánh


giá về thực trạng của công tác quần chúng,
Hội nghị đã chỉ rõ: “Từ khi Đảng lãnh đạo
chính quyền trên phạm vi cả nước, mối quan


hệ giữa Đảng và nhân dân bị giảm sút, có lúc
có nơi khá nghiêm trọng. Bên cạnh số đông
cán bộ đảng viên vẫn giữ được phẩm chất
cách mạng và gắn bó với nhân dân, một bộ
phận cán bộ đảng viên mang nặng bệnh quan
liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, chuyên
quyền, độc đoán, ức hiếp nhân dân, tham ô
hối lộ, sống xa hoa lãng phí. Các đồn thể
quần chúng cũng bị quan liêu hố, hành chính
hố, khơng đổi mới nội dung và phương pháp
tập hợp các tầng lớp nhân dân. Khơng ít tổ
chức cơ sở hoạt động thất thường hoặc không
hoạt động , nhiều đoàn viên, hội viên khơng
thiết tha gắn bó với đồn thể của mình” [2].
Để khắc phục tình trạng trên, Hội nghị đã nêu
4 quan điểm chỉ đạo:


Một là: Phải coi sự nghiệp cách mạng là của
dân, do dân và vì dân.


Hai là: Động lực thúc đẩy phong trào quần
chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân
dân và kết hợp hài hồ các lợi ích, thống nhất
quyền lợi và nghĩa vụ.


Ba là: Phải đa dạng hố các hình thức tập hợp
nhân dân.


Bốn là: Phải coi công tác quần chúng là trách
nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể


quần chúng.


Trong số 5 bài học kinh nghiệm được rút ra
tại Đại hội Đảng tồn quốc lần thứ VII, thì bài
học thứ tư là “Phát huy ngày càng sâu rộng
nền dân chủ XHCN,... nhưng quá trình đó
phải được lãnh đạo tốt, có bước đi vững chắc


phù hợp với tình hình chính trị - xã hội nói
chung” [3, tr. 55]. Có nghĩa là dân chủ phải
gắn liền với kỉ luật kỉ cương, trong khuôn khổ
của pháp luật. Kiên quyết đấu tranh chống
dân chủ hình thức cũng như dân chủ cực đoan
dẫn đến làm tổn hại lợi ích của nhân dân.


Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương
khoá VII họp từ ngày 18/6/1992 đến ngày
29/6/1992 đã ra Nghị quyết quan trọng về đổi
mới và chỉnh đốn Đảng. Một trong những mục
tiêu đổi mới và chỉnh đốn Đảng là nhằm củng
cố mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân
dân. Hội nghị đã xem xét công tác tổ chức, vận
động quần chúng của Đảng, đánh giá những
mặt làm được và những thiếu sót để rút kinh
nghiệm. Hội nghị cho rằng tăng cường mối
liên hệ chặt chẽ giữa Đảng và nhân dân là điều
có ý nghĩa cực kì to lớn, đảm bảo sự vững
vàng của chế độ. Qua đó Hội nghị tiếp tục
khẳng định tính đúng đắn và nhất quán của bài
học “Lấy dân làm gốc” của Đảng.




(8)

Đồng Văn Quân Tạp chí KHOA HỌC & CƠNG NGHỆ 175 (15): 21 - 26


25
đảo các lực lượng nhân dân tích cực tham gia


vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Một trong những giải pháp đó là: Xây dựng
cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm “Dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với
các chủ trương chính sách lớn của Đảng và
Nhà nước, thực hiện tốt các cơ chế dân chủ
của nhân dân: dân chủ thông qua đại diện và
dân chủ trực tiếp.


Từ sau Đại hội đại biểu lần thứ VIII của
Đảng, việc quán triệt và thực hiện bài học
“Lấy dân làm gốc” của Đảng đã dần dần đi
vào nề nếp. Đảng đã ra nhiều nghị quyết,
nhiều chỉ thị quan trọng nhằm chỉnh đốn
những hiện tượng lệch lạc trong thực hiện dân
chủ, nâng cao quyền làm chủ của nhân dân ở
các cấp cơ sở. Các văn kiện quan trọng của
Đảng như: Nghị quyết Trung ương Ba khoá
VIII (6/1997), Chỉ thị 21CT/TW ngày
10/10/1997 của Bộ Chính trị về một số vấn đề
cấp bách của nông thôn hiện nay, Chỉ thị 30
CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị về
xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ
sở... đã góp phần để xây dựng, hoàn thiện cơ


chế làm chủ cho nhân dân. Thực hiện Chỉ thị
30 CT/TW của Bộ Chính trị, ngày 30/8/1998
Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá X đã ra
Nghị quyết số 55/NQ – UBTVQH X, giao
cho Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện
dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành
chính nhà nước. Theo đó, ngày 8/9/1998 Thủ
tướng Chính phủ ra Nghị định
71/1998/NĐ-CP ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong
hoạt động của cơ quan.


Quy chế nhằm:


- Phát huy quyền làm chủ của cán bộ, cơng
chức, góp phần xây dựng cơ quan trong sạch,
vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức là công bộc của nhân dân, có đủ phẩm
chất, năng lực, làm việc có năng suất, chất
lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển
và đổi mới đất nước; ngăn chặn và chống
tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phiền hà,
sách nhiễu dân.


- Phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công
chức gắn liền với việc đảm bảo lãnh đạo của
tổ chức đảng ở cơ quan, chấp hành nguyên tắc
tập trung dân chủ, thực hiện chế độ thủ trưởng


và phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể
quần chúng.



- Dân chủ trong khuôn khổ của Hiến pháp và
pháp luật; phát huy dân chủ nhưng đồng thời
kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân
chủ, vi phạm Hiến pháp, pháp luật và xâm
phạm quyền tự do dân chủ của nhân dân, cản
trở việc thi hành công vụ ở cơ quan.


Tiếp tục đường lối dân chủ nhất quán, Đại hội
IX của Đảng khẳng định: “Phát huy dân chủ,
giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp
chế... Thực hiện tốt Quy chế dân chủ, mở
rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở” [5, tr. 49].
Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Dân chủ xã hội
chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của công cuộc đổi mới...”. Cho nên cần phải
“Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán
bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là
công bộc của nhân dân. Xác định các hình
thức tổ chức và có cơ chế để nhân dân thực
hiện quyền dân chủ trên các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội” [6,tr. 125].


Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định:
“Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế
độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự
phát triển đất nước. Tiếp tục xây dựng và
hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm
bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân…” [7, tr. 47].



Đại hội XII của Đảng yêu cầu: “Tiếp tục thực
hiện tốt dân chủ ở cơ sở; thể chế hoá và thực
hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn,


dân làm, dân kiểm tra” [8, tr. 39].


Như vậy, quan điểm, đường lối dân chủ của
Đảng ta là nhất quán, liên tục. Dân chủ được
Đảng và Nhà nước ta coi là một trong những
mục tiêu và động lực cơ bản để xây dựng
thành công CNXH.


KẾT LUẬN


Dân chủ là giá trị của văn minh nhân loại,
được hình thành, phát triển trong lịch sử và
ln mang tính giai cấp.



(9)

Đồng Văn Quân Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 175 (15): 21 - 26


26


Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được các nhà
kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin đề xuất
được xây dựng trên nền tảng xã hội do nhân
dân lao động làm chủ, do đó nó “triệu lần” dân
chủ hơn so với các nền dân chủ trước đây.
Nền dân chủ XHCN ở nước ta là kết quả đấu
tranh cách mạng qua những chặng đường lịch


sử, được hoàn thiện theo quan điểm học
thuyết Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí minh,
được bổ sung những giá trị tiến bộ từ tinh hoa
dân chủ của nhân loại, lấy lợi ích nhân dân
làm nền tảng, dựa vào dân để tổ chức thực
hiện, hướng tới mục tiêu dân giàu nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh.


TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại


hội VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.


2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết


Hội nghị lần thứ 8 - BCHTW Đảng khoá VI về đổi
mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường
mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, Hà Nội.


3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại


hội VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.


4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại


hội VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.


5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại



hội IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.


6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại


hội X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.


7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại


hội XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.


8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại


hội XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.


9. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1995), Từ


điển bách khoa Việt Nam, T1, Nxb Từ điển bách


khoa Việt Nam, Hà Nội.


SUMMARY


TYPES OF DEMOCRATIC REGIME IN THE HISTORY


AND THE PRESENT SOCIALIST DEMOCRATIC REGIME IN OUR COUNTRY


Dong Van Quan*


TNU University of Education



This paper recaps the main contents of the definition of democracy, the establishment of democratic
regime, and types of democratic regime in the history. The infancy of democratic regime has
appeared from the primitive times with the form of clans’ discretion; however, it was not a political
regime. Democracy with the characters of political regime exists in three types including slavery
democratic regime, capitalism democratic regime and socialist democratic regime. This paper
generalizes views and political lines of the Communist Party of Vietnam regarding to the building of
new socialist democratic regime in our country, points out the limitations and proposes the principle
solutions to build and improve our socialist democratic regime.


Keywords: democracy; people are origin; democratic regime; political regime; Vietnam.


Ngày nhận bài:25/8/2017; Ngày phản biện: 15/9/2017; Ngày duyệt đăng: 29/12/2017



*



(10)

soT

Tạp chí Khoa học và Công nghệ





SOCIAL SCIENCE – HUMANITIES – ECONOMICS



Content

Page


Bui Hoang Tan - Ownership situation public field-land in Ha Chau district, Ha Tien province through studying


cadastral registers of Minh Mang dynasty 17 (1836) 3


Doan Thi Yen - Tu Duc king’s attitude towards Catholicism before and after 1962 9



Tran Minh Thuan - The land problems and spontaneous fights of farmers in Bac Lieu province under the


French domination 15


Dong Van Quan - Types of democratic regime in the history and the present socialist democratic regime in our


country 21


Le Thi Giang, Le Thi Huong - The original of formation of Ho Chi Minh thought on human beings, human


development 27


Cao Thi Phuong Nhung, Ngo Thi Quang - Ho Chi Minh’s talk about the study of theoretics in “the orientation


speech at the opening ceremony of the first theoretics class at Nguyen Ai Quoc Institute” 33


Luu Thu Trang - The tragedy of Grigori Melekhov reflected in the relationship between Aksinia and Natalia in


Quietly Flows the Don (M. Sholokhov) 39


Hoang Thi Tuyet Mai - The moon in Nguyen Huy Oanh’s poetry 45


Nguyen Dieu Linh - Onychostoma laticeps in culinary culture of white Thai people in Son A commune, Van


Chan district, Yen Bai province 49


Nguyen Thi Tan Tien, Ha Thi Hang - The diffrences of learning outcomes of students having taken the
general informatics course with students obtaining the IC3 certicate at Thai Nguyen University of Medicine and


Pharmacy 55



Dau Thi Thu - Training pedagogical profession for students through real professional activity experience 61


Nguyen Ngoc Binh, Duong To Quynh - Testing and assessing the learning outcome of the volleyball subject


for students at Thai Nguyen University of Economics and Business Administration 67


Luu Quang Sang - Some suggestions of teaching Chinese characters for Vietnamese students 73


Hoang Thi Hai Yen - Applying Ho Chi Minh’ ideology about morality in building morals, lifestyle of students


in Thai Nguyen University of Technology currently 79


Phung Thi Tuyet, Nong Hong Hanh - Assessment of the project-based teaching and learning of the students


major in Chinese at School of Foreign Languages, Thai Nguyen University 85


Tran Hoang Tinh - Situation and measures for planning and directing the implementation of disciplined


education for students at centers for national defense and security education 91


Hoang Thi Ly - role of scaffolding activities in enhancing english reading skills among first year college


students 97


Duong Thi Hong An, Dang Phuong Mai - Evaluating the EFL courseware at Thai Nguyen University of


Information and Communication Technology 103


Ta Thi Mai Huong, Nguyen Van Thinh, Nguyen Thi Hanh Hong - Effects of portforlios on improving listening


comprehension skill for students: a case study at Thai Nguyen University of Economics and Business


Administration 109


Tran Tuan Anh, Do Van Hai, Tran Thi Thu Thuy, Hoang Van Hung - Research building multipurpose


database to service land mangement in Coc Leu ward, Lao Cai city 115


Nguyen Thi Gam, Dao Thi Huong - Influence of service quality on customer satisfaction at Vietinbank- Thai


Nguyen branch 121


Nguyen Thi Thanh Thuy - Foreign direct investment with the socio-economic development of Vietnam 129


Journal of Science and Technology



175

(15)




(11)

Chu Thi Ha, Do Thi Ha Phuong, Nguyen Thi Giang, XiaoLi Wu - Factors affecting knowledge workers’ job


motivation in vietnamese enterprises 135


Tran Viet Khanh, Do Thuy Mui - Some agricultural development solutions in Tay Bac 141


Nguyen Thi Lan Anh - Enhanced management in use expense resources of health care activities in Thai


Nguyen National General Hospital 147


Nguyen Thi Giang, Do Thi Ha Phuong, Chu Thi Ha, Ho Luong Xinh - Solution to improve economic



efficiency of mushroom production at households in Dai Tu district, Thai Nguyen province 153


Do Thi Van Huong - Analyse efficiency of Arabica and Macadamia crops at Ang To commune, Muong Ang


district, Dien Bien province 159


Dang Ngoc Huyen Trang, Duong Thi Thuy Linh - Determining relationship between foreign direct


investment inflow and trade balance in Vietnam 165


Duong Thi Tinh - Status of restructuring state-owned enterprises in 2016 and solutions for next years 171


Pham Thi Thanh Mai, Nghiem Thi Ngoan - Guarantee for intellectual property rights on the "Tan Cuong" tea


geographical indications of Thai Nguyen province 177


Nguyen Thi Thao - Implementation results of the poverty reduction program in Thai Nguyen province in


2011-2015 183


Nguyen Thi Lan Anh, Dao Thi Huong - The development of the relationship between workers in the value


brand only chain in Thai Nguyen province 189


Tran Thuy Linh, Do Hoang Yen - Improving regulations on defining dominant abusive practices under


Vietnemese Competition Law 2004 195


Nguyen Thi My Hanh, Ngo Thi Quynh Trang, Pham Thi Thu Phuong, Hoang Thi Lan Huong - Barriers to



ASEAN green hotel standard in the hotel industry: a case study in Ha Noi 201


Phan Thi Van Giang, Pham Bao Duong - Some theoretical issues and experience lessons of integration in pig


raising and pork consumption 207





×