Tải bản đầy đủ (.pdf) (99 trang)

Pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.29 MB, 99 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THÚY

PH¸P LUËT Về Vệ SINH MÔI TRƯờNG ĐÔ THị
ở VIệT NAM

LUN VN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2020


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THÚY

PH¸P LUËT Về Vệ SINH MÔI TRƯờNG ĐÔ THị
ở VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ THU HẠNH

HÀ NỘI - 2020


LỜI CAM ĐOAN


Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bố trong bất kỳ
cơng trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn
đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã hồn thành
tất cả các mơn học và đã thanh tốn tất cả các nghĩa vụ tài chính
theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết cam đoan này và đề nghị Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi được bảo vệ Luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Người cam đoan

Nguyễn Thị Thúy


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỆ
SINH MÔI TRƯỜNG ĐƠ THỊ ........................................................ 7
1.1.
Khái qt về mơi trường đơ thị ........................................................ 7
1.1.1. Khái niệm môi trường đô thị ................................................................ 7
1.1.2. Sự cần thiết phải vệ sinh môi trường đô thị ....................................... 10
1.2.
Lý luận pháp luật vệ sinh môi trường đô thị ................................. 13
1.2.1. Khái niệm pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị............................. 13

1.2.2. Những nội dung cơ bản của pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị ...... 15
1.2.3. Vai trị của pháp luật mơi trường trong vệ sinh môi trường đô thị ......... 18
1.3.
Pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị của một số quốc gia
trên thế giới và một số gợi mở đối với Việt Nam........................... 20
1.3.1. Pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị của Singapore ...................... 20
1.3.2. Pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị ở Nhật Bản ........................... 23
1.3.3. Một số gợi mở với Việt Nam ............................................................. 25
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI
HÀNH PHÁP LUẬT VỀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .............................................................. 27
2.1.
Thực trạng pháp luật vệ sinh môi trường đô thị ở Việt Nam
hiện nay ............................................................................................. 27
2.1.1. Tổng quan các quy định pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị....... 27
2.1.2. Các quy định pháp luật cụ thể về vệ sinh môi trường đối với đô
thị, vệ sinh môi trường nơi công cộng và vệ sinh mơi trường đối
với các hộ gia đình tại đô thị .............................................................. 29


2.1.3. Nhận xét, đánh giá về pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị ở
Việt Nam ............................................................................................ 46
Thực tiễn thi hành pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị ở
Việt Nam hiện nay ............................................................................ 53
2.2.1. Kết quả, ưu điểm thực hiện pháp luật về vệ sinh môi trường đô
thị ở Việt Nam .................................................................................... 53
2.2.2. Hạn chế, yếu kém trong thực hiện pháp luật về vệ sinh môi
trường đô thị ở Việt Nam ................................................................... 58
2.2.3. Nguyên nhân của các hạn chế, yếu kém ............................................ 61

Kết luận chương 2 ......................................................................................... 64
2.2.

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ VỆ SINH
MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM........................................ 65
3.1.

Yêu cầu và sự cần thiết phải hồn thiện pháp luật về vệ sinh
mơi trường đô thị ở Việt Nam ......................................................... 65
3.1.1. Yêu cầu phải hồn thiện pháp luật về vệ sinh mơi trường đơ thị ở
Việt Nam ............................................................................................ 65
3.1.2. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về vệ sinh môi trường đô
thị ở Việt Nam .................................................................................... 69
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị
ở Việt Nam hiện nay và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
về vệ sinh môi trường đô thị ở Việt Nam ....................................... 72
3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về vệ sinh môi trường đô
thị ở Việt Nam hiện nay ..................................................................... 72
3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vệ sinh môi
trường đô thị ở Việt Nam ................................................................... 81
Kết luận Chương 3 ........................................................................................ 89
3.2.

KẾT LUẬN .................................................................................................... 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 91


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT


Viết tắt

Nguyên nghĩa

BVMT

Bảo vệ mơi trường

ODA

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

QCVN

Quy chuẩn Việt Nam

VPHC

Vi phạm hành chính


MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Bảo vệ môi trường (BVMT) để phát triển bền vững hiện nay đã trở
thành vấn đề sống còn của toàn nhân loại. Cùng với phát triển kinh tế, mức
sinh hoạt của người dân ngày càng nâng cao thì lượng chất thải càng tăng
nhanh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường và sức khoẻ
con người. Ngày nay, khi con người càng phát triển thì cũng là lúc mà chúng ta
càng tác động nhiều đến môi trường, trong đó phần lớn là những tác động xấu.

Chính vì thế, môi trường hiện nay đang trở thành vấn đề nóng bỏng ở nhiều
quốc gia. Nguy cơ về mơi trường cực kỳ nghiêm trọng ở các quốc gia đang
phát triển, nơi mà nhu cầu hàng ngày của con người và nhu cầu phát triển của
xã hội xung đột mạnh mẽ với sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
cũng như môi trường sống. Những tổn thất này đang là mối đe doạ cho tồn
nhân loại. Chính vì vậy, một trong những vấn đề mang tính tồn cầu hiện nay
là những biện pháp bảo vệ hiệu quả nhất cho môi trường của trái đất. Việt Nam
cũng không tránh khỏi những vân đề nan giải về mơi trường. Trong đó, vấn đề
vệ sinh mơi trường nói chung là một vấn đề bức thiết, địi hỏi chúng ta phải có
những biện pháp giải quyết, cụ thể là vệ sinh môi trường đô thị.
Dân số đô thị ở Việt Nam đang gia tăng với tốc độ thuộc nhóm nhanh
nhất ở châu Á, được tiếp sức bởi một nền kinh tế đang mở rộng dựa chủ yếu
vào cơng nghiệp hóa. Tuy vậy nó cũng tồn tại hạn chế đó là gây áp lực đối với
môi trường nhất là môi trường đô thị hiện nay. Cùng với đà phát triển của đô
thị và công nghiệp, ơ nhiễm mơi trường đơ thị theo đó cũng tăng nhanh có nơi
đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép gây ảnh hưởng không tốt nhất là với sức
khỏe con người. Các ô nhiễm thường gặp trong các đô thị là ơ nhiễm khơng
khí, ơ nhiễm mơi trường nước, tiếng ồn và ô nhiễm chất thải rắn.

1


Ngày nay, vệ sinh môi trường đô thị ở Việt Nam đã trở thành một trong
những vấn đề quan trọng được Đảng và nhà nước ta quan tâm. Bằng những
chính sách và biện pháp khác nhau, Nhà nước ta đang quản lý các hoạt động
của các cá nhân, tổ chức trong xã hội để duy trì vệ sinh mơi trường đô thị.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vệ sinh môi trường đô thị, Nhà nước đã ban
hành những văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này. Tuy nhiên, đây là một
vấn đề khá mới mẻ nên bên cạnh những ưu điểm của những quy định về vệ
sinh môi trường đô thị không tránh khỏi những bất cập, những thiếu sót. Việc

hồn thiện những quy định về vệ sinh mơi trường đơ thị sẽ góp phần khơng
nhỏ cho cơng tác bảo vệ môi trường của nước ta đảm bảo cho sự phát triển
bền vững trong thời kỳ hiện nay. Hơn nữa, tính đến thời điểm hiện tại, chưa
có nghiên cứu nào được thực hiện về pháp luật về vệ sinh mơi trường đơ thị ở
Việt Nam, do đó nghiên cứu của tác giả không trùng lặp với các công trình
nghiên cứu đã cơng bố.
Vì vậy, tơi đã chọn đề tài “Pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị ở
Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học, với hy vọng qua nghiên cứu, trình
bày một số vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị
và thực tiễn thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường đô thị ở Việt Nam sẽ đưa
ra được một số giải pháp góp phần hồn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi
của pháp luật về vệ sinh mơi trường đơ thị ở Việt Nam.
1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1.2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá
thực trạng pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay, luận
văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về
vệ sinh môi trường đô thị ở Việt Nam.

2


1.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát, phân tích những vấn đề lý luận pháp luật về vệ sinh môi
trường đô thị.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp
luật về vệ sinh môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay. Chỉ ra ưu điểm, hạn
chế của các quy định (nhóm quy định) pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị;
cũng như những khó khăn, vướng mắc trong q trình thực hiện pháp luật về
vệ sinh môi trường đô thị ở Việt Nam và nguyên nhân của nó.

- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vệ sinh môi
trường đô thị ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực hiện thi hành pháp luật
trong lĩnh vực này.
1.3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Đề tài luận văn mà tác giả lựa chọn là vấn đề cịn khá mới ở nước ta. Ở
Việt Nam có rất ít cơng trình khoa học nghiên cứu chun sâu về vấn đề này,
nhất là nghiên cứu dưới khía cạnh pháp lý. Phần lớn các cơng trình đã cơng
bố chủ yếu nghiên cứu về đô thị trên phương diện đô thị học và quản lý đơ
thị, trong đó có đề cập vấn đề môi trường nên không nghiên cứu sâu về pháp
luật bảo vệ môi trường đô thị. Hay các công trình đã cơng bố nghiên cứu về
pháp luật bảo về mơi trường nói chung hoặc các mảng pháp luật mơi trường
như pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch, pháp luật về bảo tồn
di sản, pháp luật về kiểm sốt ơ nhiễm khơng khí,…
Luận văn là cơng trình khoa học có ý nghĩa nhất định trong việc làm rõ
các vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường đô thị, thực trạng pháp luật
về bảo vệ môi trường đô thị và đề xuất một số giải pháp để hồn thiện pháp
luật về bảo vệ mơi trường đơ thị ở Việt Nam hiện nay.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà
nước, những nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng, hồn thiện chính

3


sách, pháp luật về bảo vệ môi trường đô thị; tài liệu tham khảo, nghiên cứu
cho các tổ chức, cá nhân có liên quan.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Thực tiễn vệ sinh môi trường đô thị ở Việt Nam.
- Các văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách về vệ sinh môi
trường đô thị ở Việt Nam.

- Thực tiễn thực hiện pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị ở Việt
Nam hiện nay.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, Luận văn nghiên cứu các quy định liên quan đến pháp
luật vệ sinh môi trường đô thị ở Việt Nam và việc thực hiện các quy định đó ở
Việt Nam hiện nay.
Về thời gian, Luận văn nghiên cứu pháp luật về vệ sinh môi trường đô
thị ở Việt Nam kể từ khi Luật bảo vệ mơi trường 2014 có hiệu lực từ ngày
01/11/2015 cho đến nay.
Về không gian, Luận văn nghiên cứu tình hình vệ sinh mơi trường đơ
thị trên phạm vi cả nước; đồng thời tập trung phân tích kết quả thực hiện pháp
luật về vệ sinh môi trường đô thị ở một số địa phương.
2. Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
2.1. Nội dung nghiên cứu
Mở đầu
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật vệ sinh môi trường đô thị
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về vệ
sinh môi trường đô thị ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị ở Việt Nam

4


Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, các quan điểm của Đảng, Nhà nước về bảo
vệ môi trường, về pháp luật bảo vệ mơi trường nói chung và pháp luật bảo vệ

mơi trường đơ thị nói riêng.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, như: phương pháp kết hợp lý luận
với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể.
Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như so sánh,
thống kê, phân tích, tổng hợp,...
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Tính đến tháng 12/2016, cả nước đã có 795 đơ thị, với tỷ lệ đơ thị hóa
đạt 35,2%. Tốc độ đơ thị hóa nhanh đã dẫn tới hạ tầng đô thị bị quá tải, gây
tác động xấu cho môi trường. Trong những năm qua, công tác quản lý mơi
trường đơ thị có những bước tiến đáng kể, các chính sách, quy định pháp luật
về bảo vệ mơi trường đơ thị được hồn thiện; việc đầu tư, huy động các nguồn
lực bảo vệ môi trường đô thị được tăng cường; nhiều dự án, chương trình cải
thiện chất lượng mơi trường, khắc phục ô nhiễm được triển khai; chất lượng
môi trường khơng khí, nước tại một số đơ thị có sự cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên,
bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn tồn tại những hạn chế, thách thức
trong cơng tác quy hoạch, kiểm sốt ơ nhiễm làm cho tình trạng ơ nhiễm mơi
trường tại nhiều đơ thị, đặc biệt là các đô thị lớn tiếp tục xảy ra.
Cơng tác quản lý mơi trường nói chung, mơi trường đơ thị nói riêng đã
được quy định cụ thể trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành
như Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã điều chỉnh, bổ sung một số quy

5


định về quản lý môi trường đối với nước, không khí, chất thải rắn. Hệ thống
các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến môi trường đang
tiếp tục được rà soát, điều chỉnh và ban hành mới. Đây là những bước tiến lớn
trong việc xây dựng và ban hành các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật
về quản lý mơi trường nói chung, mơi trường đơ thị nói riêng. Tuy nhiên, vẫn

cịn thiếu những văn bản quy định đặc thù đối với một số lĩnh vực như quản
lý chất thải rắn, quản lý môi trường không khí... Đặc biệt, từ việc ban hành
các văn bản quy phạm pháp luật đến việc triển khai thực thi các quy định cịn
có khoảng cách; việc triển khai chưa hiệu quả, các đơn vị thi hành thực hiện
chưa nghiêm túc.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT
VỆ SINH MƠI TRƯỜNG ĐƠ THỊ
1.1. Khái qt về mơi trường đơ thị
1.1.1. Khái niệm môi trường đô thị
Môi trường đô thị là khái niệm được tạo thành từ các khái niệm mơi
trường và khái niệm đơ thị. Trong đó:
- Mơi trường được hiểu theo nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tự nhiên và
xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên
thiên nhiên, đất, nước, khơng khí, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội… [28].
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa
học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng chịu sự tác động
của con người. Đó là ánh sánh mặt trời, núi, sơng, biển cả, khơng khí, động,
thực vật, đất, nước… Mơi trường tự nhiên cho ta khơng khí để thở, đất để xây
dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài
nguyên khoáng sản cần thiết cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng
hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con
người thêm phong phú.
Theo nghĩa hẹp, môi trường không bao gồm tài nguyên thiên nhiên, mà
chỉ có các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc
sống của con người. Ví dụ mơi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy

giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phịng thí nghiệm, vườn
trường, tổ chức xã hội như Đồn, Đội…
Dưới góc độ ghi nhận trong pháp luật, môi trường bao gồm các yếu tố
tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời
sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật [14].

7


- Đô thị được hiểu là nơi tập trung dân cư đông đúc, là trung tâm của
một vùng lãnh thổ với hoạt động kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ.
Quan điểm chung này được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận.
Trên thực tế, sự phát triển của phân công lao động xã hội, đặc biệt là sự
hình thành và phát triển của cơng nghiệp và thương mại đã dẫn tới sự hình
thành và phát triển một loại hình kết cấu kinh tế - xã hội mới là các điểm dân
cư gắn với hoạt động sản xuất tập trung có tính cơng nghiệp, mang tính
chun mơn hóa và mang sắc thái khác với hoạt động sản xuất nơng nghiệp.
Đó là hình thái ban đầu của đô thị.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đô thị được định nghĩa là một
không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong
những khu vực kinh tế phi nơng nghiệp [28].
Dưới góc độ pháp lý, đô thị được hiểu là khu vực tập trung dân cư sinh
sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông
nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chun
ngành, có vai trị thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một
vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành
phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.
Từ những khái niệm về môi trường và đô thị nêu trên, chúng ta có thể
hiểu mơi trường đơ thị là môi trường sống, nơi cư trú và diễn ra các hoạt động
của dân cư đô thị.

Môi trường đô thị bao gồm các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, yếu tố vật
chất và phi vật chất có quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng tới đời sống,
sản xuất, sự tồn tại, phát triển của thiên nhiên và con người tại các điểm dân
cư trong đô thị.
Môi trường đô thị gồm rất nhiều thành phần khác nhau như nhà ở, các
cơng trình cơng cộng, hạ tầng giao thơng, công viên, cây xanh, các công

8


xưởng nhà máy, các tòa nhà thương mại, hạ tầng môi trường đô thị (cấp nước,
cấp điện, xử lý nước thải, quản lý rác thải…).
Đặc điểm của môi trường đô thị được nhận biết qua đặc điểm của môi
trường, đặc điểm của đô thị, gồm:
Thứ nhất, môi trường đô thị là không gian sống của cư dân đô thị [26].
Chức năng này địi hỏi mơi trường đơ thị phải có một phạm vi khơng
gian thích hợp với cuộc sống của cư dân đơ thị. Do đó, mơi trường đơ thị phải
đạt đủ những tiêu chuẩn nhất định về các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học,
cảnh quan, xã hội… Yêu cầu về không gian sống của người dân đô thị thường
cao hơn các khu vực khác. Tuy nhiên, với quy mơ dân số lớn, trình độ phát
triển cao, các hoạt động sống của con người tại đô thị như sinh hoạt, sản xuất,
kinh doanh… chủ yếu mang lại các tác động xấu đến mơi trường đơ thị dẫn
đến tình trạng ơ nhiễm, suy thối mơi trường đơ thị ngày càng gia tăng.
Thứ hai, môi trường đô thị là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết
Môi trường đô thị cung cấp tài nguyên cần thiết như ánh sáng, đất,
nước, không khí... cho cuộc sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của
người dân đô thị [26]. Đô thị là nơi tập trung dân cư đơng đúc, trình độ phát
triển kinh tế - xã hội cao hơn các khu vực khác nên nhu cầu về tài nguyên của
đô thị cũng cao hơn, cả về số lượng và chất lượng nên môi trường đô thị chịu
áp lực về tài nguyên giới hạn. Tính bình qn đầu người, dân số đơ thị tiêu

dùng tài nguyên thiên nhiên (như năng lượng, nguyên nhiên vật liệu, hàng
hóa...) gấp 2 - 3 lần so với người dân sinh sống ở nông thôn.
Thứ ba, môi trường đô thị là nơi chứa đựng rất nhiều chất phế thải do
cư dân đô thị tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh của
mình, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, gây bệnh tật cho cuộc sống
của con người [26]
Trong quá trình sinh sống và phát triển, con người luôn đào thải ra các

9


chất thải vào môi trường, nhất là tại các khu đô thị, với số lượng dân cư đông,
vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong q trình phân hủy các chất thải, do đó
chất lượng mơi trường sẽ giảm, nguy cơ gây ơ nhiễm mơi trường cao, có khả
năng gây bệnh cho con người.
Môi trường đô thị phụ thuộc vào loại đơ thị, vùng miền của đơ thị đó và
mức độ đơ thị hóa. Những nơi tập trung ít dân cư, mức độ đơ thị hóa chậm,
mơi trường đơ thị sẽ trong lành hơn, ít bị xáo trộn hơn và ngược lại, những
nơi dân cư tập trung đông đúc, hoạt động giao thương diễn ra tấp nập, tốc độ
đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, mơi trường đơ thị khó kiểm soát hơn, biến đổi
nhanh hơn và chứa đựng nhiều tiềm ẩn rủi ro cho cuộc sống của con người
hơn. Q trình đơ thị hố tương đối nhanh cịn có nhiều ảnh hưởng đáng kể
đến môi trường đô thị và tài nguyên thiên nhiên, đến sự cân bằng sinh thái
như tài nguyên đất bị khai thác triệt để để xây dựng đơ thị, làm giảm diện tích
cây xanh và mặt nước, gây ra úng ngập, cùng với nhu cầu nước phục vụ sinh
hoạt, dịch vụ, sản xuất ngày càng tăng làm suy thoái nguồn tài nguyên nước...
Như vậy, bên cạnh yêu cầu chung về vệ sinh môi trường đối với mọi đơ
thị, cịn có u cầu riêng đối với từng loại, nhóm đơ thị. Tùy từng loại đơ thị
khác nhau mà các yêu cầu về vệ sinh môi trường cũng khác nhau. Ví dụ như
các loại đơ thị loại II trở lên cần phải có hệ thống thu gom, xử lý nước thải.

1.1.2. Sự cần thiết phải vệ sinh môi trường đô thị
Hiện tại, môi trường đô thị đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Theo Báo
cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2016 - chuyên đề “Môi trường đô
thị”, hầu hết các đô thị lớn của nước ta đang phải đối mặt với tình trạng ơ
nhiễm khơng khí ngày càng gia tăng, tập trung chủ yếu là ô nhiễm bụi [20].
Mức độ ơ nhiễm giữa các đơ thị có sự khác biệt, phụ thuộc vào quy mô đô thị,
mật độ dân số, đặc biệt là mật độ giao thông và tốc độ xây dựng. Mức độ ô
nhiễm biểu hiện rõ nhất ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí

10


Minh, tiếp đến là các đơ thị loại I. Nhóm các đơ thị cịn lại có mức độ ơ nhiễm
thấp hơn. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, ô nhiễm môi trường đất đơ thị. Ơ nhiễm mơi trường đất là kết
quả hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái vượt quá giới
hạn sinh thái của các quần thể sống trong đất [24]. Ơ nhiễm mơi trường đất
xảy ra khi đất bị nhiễm các hóa chất độc hại có hàm lượng vượt quá giới hạn
cho phép. Đó là các hoạt động của con người gây ra như khai thác khống
sản, sản xuất cơng nghiệp, sử dụng phân bón hóa học hoặc thuốc trừ sâu quá
nhiều… với các chất gây ô nhiễm đất phổ biến là hydrocacbon, kim loại nặng,
các loại hydrocacbon clo hóa.
Ơ nhiễm đất tại các đô thị do rất nhiều nguyên nhân gây ra [24]. Chất
thải rắn là một trong các nguyên nhân gây ô nhiễm đất đô thị. Chất thải rắn đô
thị phát sinh chủ yếu từ các nguồn: chất thải sinh hoạt, chất thải từ khu
thương mại; từ các cơng trình xây dựng; từ các hoạt động nông nghiệp; từ các
cơ quan, bệnh viện, trường học…
Bên cạnh đó, khói bụi, khí độc hại do sản xuất, giao thông, sinh hoạt,
xây dựng cơ bản trong vùng đô thị theo nước mưa chảy xuống, thấm vào lịng
đất khiến cho chất lượng đất đơ thị ngày càng xấu [24]. Thêm nữa là ô nhiễm

nguồn nước mặt và nước ngầm do việc quản lý kém cũng đang làm cho ô
nhiễm đất đô thị gia tăng.
Thứ hai, ô nhiễm mơi trường nước đơ thị. Ơ nhiễm mơi trường nước là
sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi các tính chất vật lý, hóa học và sinh học
của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở
nên độc hại với con người và sinh vật [21]. Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề
mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp, các chất ô nhiễm trên
mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm.
Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư các đô thị ngày càng tăng nhanh do

11


tăng dân số và sự phát triển các dịch vụ đô thị. Hiện nay, hầu hết các đô thị
đều chưa có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt, hoặc nếu có thì tỷ lệ nước
được xử lý cịn rất thấp so với yêu cầu [21]. Bởi vậy, tình trạng nhiều khu
công nghiệp, nhà máy, khu đô thị… xả nước thải chưa qua xử lý xuống hệ
thống sông, hồ đã gây ô nhiễm nguồn nước. Thực trạng các đô thị ở Việt
Nam cho thấy, nhiều sông, hồ bao quanh các đô thị không đảm bảo các tiêu
chuẩn để khai thác cung cấp nước sạch cho đô thị (do chất độc hóa học, vi
trùng, độ đục q cao…).
Ảnh hưởng của ơ nhiễm nước đối với sức khỏe của con người có thể
thông qua hai con đường: một là do ăn uống phải nước bị ô nhiễm hay các loại
rau quả và thủy hải sản được nuôi trồng trong nước bị ô nhiễm; hai là do tiếp xúc
với môi trường nước bị ô nhiễm trong quá trình sinh hoạt và lao động.
Thứ ba, ơ nhiễm mơi trường khơng khí đơ thị. Ơ nhiễm mơi trường
khơng khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong
thành phần khơng khí, làm cho khơng khí khơng sạch hoặc gây ra sự tỏa mùi,
có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bụi [21]. Đó là việc xả khói chứa bụi và
các chất hóa học vào bầu khơng khí. Ví dụ về các khí độc là cacbon monoxit,

đioxit lưu huỳnh, các chất cloroflocacbon, và oxit nito là chất thải của công
nghiệp và các phương tiện giao thông. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi
mơi trường khơng khí bị ô nhiễm, sức khỏe con người bị suy giảm; gây bệnh
hen suyễn, viêm phế quản; gây ung thư, suy nhược thần kinh, tim mạch và
làm giảm tuổi thọ con người.
Đặc biệt, ở các đơ thị, khói bụi, khí độc hại do sản xuất, giao thông,
sinh hoạt, xây dựng cơ bản, mùi hơi thối của các cống rãnh, kênh mương tiêu
thốt nước đã làm cho ơ nhiễm khơng khí đơ thị gia tăng.
Thứ tư, ơ nhiễm tiếng ồn đơ thị. Ơ nhiễm tiếng ồn là tiếng ồn trong môi
trường vượt quá ngưỡng nhất định gây khó chịu cho người hoặc các loài động

12


vật. Tai người không thể chịu đựng được những âm thanh phát ra với cường
độ quá lớn. Thông thường, khi mức cường độ âm thanh đạt tới 140 decibel thì
người nghe sẽ cảm thấy chói tai.
Tiếng ồn là một dạng ô nhiễm môi trường rất nguy hại, ảnh hưởng lớn
đến sức khỏe con người, nhưng lại ít được quan tâm như các loại ơ nhiễm
khác. Ơ nhiễm tiếng ồn phổ biến ở hầu hết các đô thị [23]. Tiếng ồn tác động
đến tai, sau đó tác động đến hệ thần kinh trung ương, rồi đến hệ tim mạch, dạ
dày và các cơ quan, sau đó mới đến cư quan thính giác. Vì thế ơ nhiễm tiếng
ồn có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và hành vi của con người, làm cho con
người có thể mắc bệnh huyết áp cao, bệnh tim, bệnh điếc, gây chứng mất ngủ,
khó chịu, khó tiêu, ợ nóng… và cịn có thể gây ra bệnh tâm thần nếu thường
xuyên tiếp xúc với tiếng ồn [22].
Như vậy, quá trình sản xuất và sinh hoạt của con người tại các đô thị
tác động rất lớn đến môi trường đô thị, ô nhiễm môi trường đô thị nằm trong
tình trạng đáng báo động. Do đó, vệ sinh mơi trường đơ thị mang tính cấp
thiết và có ý nghĩa rất quan trọng, giúp hạn chế tình trạng ơ nhiễm môi

trường, bảo vệ sức khỏe con người, giảm áp lực cho các ngành y tế, từ đó góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.2. Lý luận pháp luật vệ sinh môi trường đô thị
1.2.1. Khái niệm pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị
Theo Khoản 3, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, vệ sinh môi
trường là các biện pháp nhằm cải tạo và làm sạch mơi trường sống, góp phần
bảo vệ sức khoẻ nhân dân [14]. Đó là các biện pháp được thực hiện để bảo
đảm vệ sinh thực phẩm, vệ sinh nước sinh hoạt, vệ sinh công cộng, vệ sinh
khi chôn cất người chết..., như xây dựng hệ thống cống rãnh thoát nước, thu
gom và xử lí rác thải; cung cấp đầy đủ nước sạch cho người dân, khơng phóng
uế và đổ rác bừa bãi, thường xuyên phun thuốc diệt muỗi, diệt côn trùng, chôn
cất người chết tại các khu tập trung, xa khu dân cư...

13


Vệ sinh môi trường đô thị là một nội dung của cơng tác vệ sinh mơi
trường nên chúng ta có thể hiểu vệ sinh môi trường đô thị là các hoạt động
do cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân tiến hành nhằm đạt được các
mục đích sau:
Một là, giữ cho môi trường đô thị trong lành, sạch đẹp. Vì mơi trường
là khơng gian sống của con người nên có vai trị rất quan trọng, ý nghĩa quyết
định đến sức khỏe, tính mạng của con người. Tại các đô thị là nơi tập trung số
lượng lớn dân cư, việc giữ gìn sự trong lành của mơi trường càng trở nên cần
thiết. Con người tiến hành nhiều hoạt động vệ sinh môi trường đô thị, bảo vệ
các thành phần của mơi trường, trong đó có các biện pháp, hành động nhằm
đảm bảo sự trong lành của môi trường không khí, đảm bảo độ trong sạch của
nguồn nước, giữ gìn vệ sinh môi trường đô thị,... [14].
Hai là, hạn chế tác động xấu đối với môi trường đô thị, ứng phó sự cố
mơi trường. Hiện nay, trong xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽ của q

trình đơ thị hóa, cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa, đã tạo nên sức ép đối với mơi
trường nói chung và mơi trường đơ thị nói riêng [14]. Vì vậy, để vệ sinh môi
trường đô thị, vấn đề hết sức quan trọng là phải phịng ngừa những tác động
xấu của đơ thị hóa, của hoạt động phát triển kinh tế - xã hội đối với sức khỏe
con người tại các khu vực này, ứng phó kịp thời các sự cố mơi trường, bảo vệ
môi trường sống tốt cho cộng đồng dân cư đô thị.
Ba là, khắc phục ơ nhiễm, suy thối, phục hồi và cải thiện môi trường
đô thị. Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, nhất là từ khi xuất hiện nền
sản xuất hàng hóa lồi người đã gây ra nhiều biến đổi cho môi trường, ảnh
hưởng xấu đến chất lượng mơi trường sống. Tình trạng nguồn nước bị nhiễm
bẩn, mơi trường khơng khí bị ơ nhiễm... là những thách thức lớn mà con
người phải đối đầu cho sự tồn tại và phát triển của mình [14]. Vì vậy, việc
khắc phục tình trạng mơi trường bị ơ nhiễm, phục hồi và cải thiện, nâng cao

14


chất lượng của môi trường là một yêu cầu bức xúc hiện nay của cơng tác vệ
sinh mơi trường nói chung và vệ sinh mơi trường đơ thị nói riêng.
Bốn là, bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị. Đây là yếu tố giữ vai trò
quan trọng trong việc đảm bảo mỹ quan đô thị nhằm thỏa mãn một trong những
nhu cầu khơng thể thiếu của con người, đó là nhu cầu thư giãn, nghỉ ngơi, giải
trí [14]. Bên cạnh đó, về phương diện mơi trường thì cảnh quan đơ thị cũng góp
phần khơng nhỏ trong đảm bảo cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học.
Tuy nhiên, hiện nay, khơng phải người dân nào cũng có ý thức giữ gìn
mơi trường, chủ động vệ sinh mơi trường đơ thị và mơi trường xung quanh
khu vực mình đang sống. Việc vứt rác thải bừa bãi vẫn xảy ra thường xuyên,
thậm chí tình trạng đổ trộm rác thải sinh hoạt, rác thải cơng nghiệp cũng xảy
ra ngày càng phức tạp, khó kiểm soát. Nhiều vụ đổ trộm rác thải ảnh hưởng
lớn đến hàng triệu dân cư tại các khu đô thị. Do đó, nếu khơng có pháp luật về

vệ sinh mơi trường đô thị, vấn đề ô nhiễm môi trường sẽ ngày càng nghiêm
trọng và gây ra những hậu quả khó lường.
Như vậy, pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị là tổng hợp các quy
phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều
chỉnh các mối quan hệ giữa chủ thể trong hoạt động giữ cho môi trường trong
lành, sạch đẹp; hạn chế những tác động xấu đối với mơi trường, ứng phó sự
cố mơi trường; khắc phục ơ nhiễm, suy thối, phục hồi và cải thiện môi
trường; bảo vệ cảnh quan môi trường đô thị và bảo vệ đa dạng sinh học.
1.2.2. Những nội dung cơ bản của pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị
Quan hệ pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị được cấu thành bởi ba
yếu tố cơ bản là chủ thể, khách thể và nội dung, cụ thể như sau:
Thứ nhất, yếu tố chủ thể. Chủ thể trong quan hệ pháp luật về vệ sinh
môi trường đô thị là những cơ quan, tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động

15


nhằm giữ cho môi trường đô thị trong lành, sạch đẹp, bảo vệ sức khỏe của con
người. Như vậy, chủ thể trong quan hệ pháp luật về vệ sinh môi trường đơ thị
gồm hai nhóm cơ bản sau đây:
Một là, các chủ thể có thẩm quyền trong cơng tác vệ sinh môi trường
như Bộ Tài nguyên và môi trường, các Sở Tài ngun và Mơi trường, Phịng
Tài ngun và mơi trường, thanh tra môi trường và các cơ quan tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền khác. Các chủ thể này có đặc điểm là đại diện cho
quyền lực nhà nước trong công tác vệ sinh môi trường đô thị, được sử dụng
quyền lực nhà nước khi thực hiện các quy định của pháp luật về vệ sinh môi
trường đô thị.
Hai là, nhóm chủ thể khơng được sử dụng quyền lực nhà nước khi thực
hiện công tác vệ sinh môi trường đơ thị, đó là các tổ chức, doanh nghiệp, hộ
gia đình, cá nhân có liên quan. Ví dụ các tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia

đình, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các quy định vệ sinh môi trường đơ
thị, giữ gìn vệ sinh nơi cơng cộng; đổ, bỏ rác vào thùng chứa rác công cộng
hoặc nơi quy định tập trung rác thải; tổ chức tự quản về bảo vệ mơi trường có
trách nhiệm kiểm tra, đơn đốc các hộ gia đình, cá nhân thực hiện các quy định
về giữ gìn vệ sinh mơi trường đơ thị,...
Thứ hai, yếu tố khách thể. Khách thể của quan hệ pháp luật về vệ sinh
môi trường đô thị là những lợi ích mà các chủ thể hướng tới khi thực hiện các
hoạt động nhằm giữ gìn, duy trì đảm bảo mơi trường sống xung quanh.
Thứ ba, yếu tố nội dung. Nội dung của quan hệ pháp luật về vệ sinh
môi trường đô thị là những quy định của pháp luật về việc vệ sinh môi trường
đô thị được ban hành nhằm đạt những lợi ích mà các chủ thể trong quan hệ
pháp luật bảo vệ môi trường đô thị mong muốn, quy định quyền và nghĩa vụ
chủ thể trong vệ sinh môi trường đô thị.
Pháp luật về vệ sinh môi trường đơ thị gồm những nội dung chính đó là:
- Các quy định về vệ sinh môi trường đối với đô thị: Đây là các quy

16


định nhằm giữ gìn, duy trì đảm bảo mơi trường sống xung quanh. Đó là các
quy định pháp luật về cải tạo, làm sạch mơi trường sống góp phần bảo vệ
sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường nơi công cộng, bảo vệ môi trường đối
với đô thị, bảo vệ mơi trường đối với các hộ gia đình tại đơ thị [14]. Ví dụ
pháp luật về vệ sinh mơi trường đơ thị gồm xây dựng hệ thống cống rãnh
thốt nước, thu gom và xử lí rác thải; cung cấp đầy đủ nước sạch cho người
dân, khơng phóng uế và đổ rác bừa bãi, thường xuyên phun thuốc diệt muỗi,
diệt côn trùng, chôn cất người chết tại các khu tập trung, xa khu dân cư...
nhằm hạn chế các tác động xấu tới môi trường đô thị như hiện tượng sự cố
môi trường, suy thối mơi trường, hạn chế các chất gây ô nhiễm môi trường
tại các đô thị.

- Các quy định về vệ sinh môi trường nơi công cộng: Các quy định này
quy định rõ rằng bản thân các địa điểm công cộng phải tổ chức lực lượng lao
công thu dọn rác thải, đổ đúng nơi quy định; sắp xếp, treo các biển hiệu vệ
sinh môi trường tại các khu vực dễ quan sát để nhắc nhở tính chủ động của
người dân khi đến các nơi công cộng; quy định các mức xử phạt nếu các cá
nhân cố tình vi phạm, gây ô nhiễm môi trường công cộng [14].
- Các quy định về vệ sinh môi trường đối với các hộ gia đình: Quy
định này nêu rõ các hộ gia đình tại các khu đơ thị phải có trách nhiệm thu
gom, chuyển rác thải đến đúng nơi quy định; xả nước thải vào hệ thống thu
gom nước thải đã quy định; khơng xả thải dưới mọi hình thức vào mơi
trường; khơng làm ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt của cộng đồng dân cư
xung quanh; nộp đúng, đủ các loại phí bảo vệ môi trường theo đúng quy
định của pháp luật; mỗi hộ gia đình khi xây dựng phải xây dựng cơng trình
vệ sinh, chuồng trại chăn ni gia súc, gia cầm riêng biệt, đảm bảo vệ sinh;
chủ động phối hợp, tham gia với chính quyền địa phương trong việc bảo vệ
môi trường [14].

17


- Các quy định khác về pháp luật vệ sinh mơi trường đơ thị
Ngồi ra, cịn có một số quy định khác về pháp luật vệ sinh môi trường
đô thị đó là:
+ Tổ chức tự quản về vệ sinh mơi trường đơ thị: Đây là quy định nhằm
nâng cao tính chủ động của các tổ dân cư, khu phố, làng, xóm, thơn, xã trong
việc vệ sinh mơi trường [14]. Theo đó, tùy từng đơn vị dân cư khác nhau mà
có các tổ chức tự quản về vệ sinh môi trường đơ thị khác nhau, hạn chế tình
trạng ơ nhiễm mơi trường trong đơn vị dân cư đó.
+ Các quy định về quy chuẩn kỹ thuật môi trường trong vệ sinh môi
trường đô thị: Không phải tất cả các hành động xả rác thải ra môi trường đều

vi phạm pháp luật [14]. Do đó, các quy định này ra đời để đo lường, đánh giá
xem mức độ vi phạm nào được coi là vi phạm ô nhiễm môi trường, mức độ vi
phạm nào có thể chấp nhận được. Tùy đó, các cơ quan có thẩm quyền áp dụng
các biện pháp xử lý phù hợp.
+ Quy định về xử lý pháp luật trong lĩnh vực mơi trường đơ thị: Để
tăng tính răn đe, làm gương cho các đối tượng khác, pháp luật về vệ sinh môi
trường đô thị phải quy định các mức xử phạt pháp luật trong lĩnh vực môi
trường [14]. Theo đó, tùy từng mức độ vi phạm mà các cơ quan có thẩm
quyền áp dụng các hình thức xử phạt khác nhau như nhẹ có thể là nhắc nhở,
cảnh cáo, kỷ luật; nặng hơn là xử phạt hành chính; dân sự; thậm chí là biện
pháp hình sự nếu vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng.
1.2.3. Vai trò của pháp luật môi trường trong vệ sinh môi trường đô thị
Môi trường bị hủy hoại chủ yếu do con người tàn phá nên đối tượng
chính để thực hiện vệ sinh mơi trường cũng chính là con người. Do đó, cần
tác động trực tiếp vào chính hành vi của con người. Pháp luật thông qua các
hệ thống quy phạm để điều chỉnh hành vi xử sự của con người và được đảm
bảo thực hiện bằng quyền lực của nhà nước sẽ có tác động quyết định đến

18


hiệu quả của việc vệ sinh mơi trường nói chung và vệ sinh mơi trường đơ thị
nói riêng. Pháp luật môi trường trong công tác vệ sinh môi trường đô thị có
vai trị quan trọng như sau:
Thứ nhất, pháp luật vệ sinh môi trường đô thị là công cụ hữu hiệu để hạn
chế những tác động xấu tới môi trường đơ thị. Vai trị này được thể hiện qua các
quy định mang tính bắt buộc về vệ sinh mơi trường đối với đơ thị như đơ thị phải
có kết cấu hạ tầng để bảo vệ môi trường phù hợp với quy hoạch đơ thị đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; có thiết bị, phương tiện thu gom,
tập trung chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với khối lượng, chủng loại, đủ khả năng

tiếp nhận chất thải đã được phân loại tại nguồn từ các hộ gia đình trong khu dân
cư; đảm bảo các yêu cầu về cảnh quan đô thị, vệ sinh môi trường tại đô thị [14].
Những quy định của pháp luật sẽ giúp hạn chế những tác động xấu tới môi
trường đô thị và đây là những yêu cầu cần phải tuân thủ trong suốt q trình phát
triển của đơ thị. Nó phải được đảm bảo tuân thủ trước, trong và sau khi môi
trường đô thị bị ô nhiễm. Thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ các u cầu này
góp phần hạn chế ơ nhiễm môi trường đô thị một cách hiệu quả.
Bên cạnh đó, pháp luật cịn quy định các chế tài được áp dụng cho các
chủ thể khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị
như trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự, những
người vi phạm sẽ bị xử phạt, răn đe các tổ chức, cá nhân không thực hiện các
hành vi gây ô nhiễm môi trường đô thị.
Thứ hai, pháp luật vệ sinh môi trường đô thị là công cụ để khắc phục ơ
nhiễm, suy thối, phục hồi và cải thiện môi trường đô thị thông qua các quy
định về trách nhiệm của các chủ thể trong công tác bảo vệ môi trường tại đô
thị như Bộ Tài nguyên và Mơi trường có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và
tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về vệ sinh môi trường đô thị (việc
thực hiện quy chuẩn quốc gia về chất lượng vệ sinh môi trường tại các đô thị;

19


×