Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

NGHIÊN CỨU CHỨC NĂNG CỦA CÂU HỎI DÙNG “TRỢ TỪ NGHI VẤN” TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (918.5 KB, 6 trang )

(1)

NGHIÊN CỨU CHỨC NĂNG CỦA CÂU HỎI


DÙNG “TRỢ TỪ NGHI VẤN” TRONG TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI


Phùng Thị Tuyết*


Khoa Ngoại ngữ - ĐH Thái Nguyên


TÓM TẮT


Câu hỏi dùng “trợ từ nghi vấn” trong tiếng Hán được sử dụng với tần suất khá lớn. Trong giao
tiếp, ngồi chức năng thu thập thơng tin về vấn đề người nói chưa biết hoặc chưa rõ, câu hỏi dùng
“trợ từ nghi vấn” còn được dùng để biểu đạt các chức năng khác và mang lại hiệu quả giao tiếp
nhất định. Căn cứ vào đích ở lời, có thể chia câu hỏi dùng trợ từ nghi vấn thành 2 loại, câu hỏi trực
tiếp và câu hỏi gián tiếp. Bài viết vận dụng lý thuyết “hành vi ngôn ngữ”, “nguyên tắc cộng tác hội
thoại” và “điều kiện để thực hiện giao tiếp thành công” để tiến hành phân loại và nhận diện câu hỏi
trực tiếp, câu hỏi gián tiếp; đồng thời chỉ ra một số chức năng cơ bản mà chúng đảm nhận trong
thực tế giao tiếp.


Từ khóa: Câu hỏi, trợ từ nghi vấn, chức năng, trực tiếp, gián tiếp


ĐẶT VẤN ĐỀ *


Căn cứ theo mục đích nói, có thể chia câu
thành 4 loại: Câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu
khiến và câu cảm thán. Trong đó, câu hỏi là
loại câu có chức năng chính là dùng để thu
thập thông tin mà người nói chưa biết hoặc
chưa chắc chắn về người hoặc sự vật nào đó.
Tuy nhiên thực tế giao tiếp cho thấy, ngoài
chức năng thu thập thông tin ra thì câu hỏi


cịn có các chức năng khác như cầu khiến,
chấn vấn, khẳng định, phủ định, bộc lộ tình
cảm hoặc hàn huyên. Câu hỏi dùng “trợ từ
nghi vấn” trong tiếng Hán cũng có các chức
năng nêu trên.


TỔNG QUAN VỀ CÂU HỎI TRONG
TIẾNG HÁN


Theo học giả Hoàng Bác Vinh(黄伯荣), câu
hỏi là loại câu đưa ra nội dung mà người nói
chưa biết hoặc chưa rõ để người nghe trả lời [1].
Trong tiếng Hán có nhiều cách phân loại câu
nghi vấn. Học giả Lê Cẩm Hy(黎锦熙)chia
câu hỏi ra làm 3 loại: ① Câu hỏi nhằm thu thập
thông tin khẳng định, phủ định về một vấn đề
nào đó (表然否的疑问); ② câu hỏi lựa chọn
hoặc câu hỏi thu thập thông tin cụ thể về một
người, sự vật nào đó(助抉择或寻求的
疑问); ③ câu hỏi phản vấn (无疑而反
诘语气) [2]; học giả Thiệu Kính Mẫn
(邵敬敏)chia câu hỏi thành hai loại: ①




*Tel: 0977040310; Email: phungtuyet.sfl@tnu.edu.vn


Câu hỏi lựa chọn dùng các trợ từ nghi vấn
(是非选择)và câu hỏi lựa chọn sử dụng
liên từ, ② câu hỏi dùng đại từ nghi


vấn(特指选择)[3]; Ngồi ra, có học giả
căn cứ theo mức độ nắm bắt thơng tin của
người nói với vấn đề họ cần hỏi, chia câu hỏi
thành 3 loại: ① Câu hỏi thu thập thông tin về
vấn đề bản thân hoàn toàn chưa biết; ②câu
hỏi thu thập thông tin về một điều bản thân
người hỏi ít nhiều đã có thơng tin, dự đốn;
③câu hỏi khơng phải để thu thập thông tin
mà là để biểu thị những mục đích giao tiếp
khác. Theo Hoàng Bác Vinh (黄伯荣), câu
hỏi trong tiếng Hán chia câu hỏi thành 4
loại:Câu hỏi dùng các “trợ từ nghi vấn” như
“吗”、“吧” và sử dụng ngữ điệu nghi
vấn(是非问句).



(2)

LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI NGÔN
NGỮ(言语行为)


Cha đẻ của Lý thuyết hành vi ngôn ngữ là J.L.
Austin, tuy nhiên người có cơng lớn trong việc
phát triển lý thuyết này phải kể đến John Searle.
Theo Searle, nói tức là đưa ra một hành động
mà phương tiện là ngôn ngữ (以言行事),
ông tập chung nghiên cứu “hành vi ngôn ngữ
mượn lời” (施事行为). “Hành vi ngôn ngữ
mượn lời” mượn các phát ngơn để tạo hiệu quả
ngồi ngơn ngữ nào đó ở người nghe hoặc ở
chính bản thân người nói [4].


Trong q trình phân tích và nghiên cứu ý


nghĩa của lời nói, Searle cịn phân biệt ý nghĩa
của lời nói được thể hiện về mặt cú pháp và
hàm ý thực tế mà lời nói thể hiện. Từ đó ơng
đưa ra khái niệm hành vi ngơn ngữ trực tiếp và
hành vi ngôn ngữ gián tiếp. Việc chia lời nói ra
thành hai loại như trên xuất phát từ quan điểm
cho rằng mối quan hệ giữa cú pháp và chức
năng không phải luôn là tương đương. Theo
Searle, hành vi ngôn ngữ trực tiếp
(直接言语行为)thì ý nghĩa về mặt câu chữ
và hàm ý người nói là một; hành vi ngơn ngữ
gián tiếp (间接言语行为)hình thành khi
mà có sự khơng đồng nhất giữa cú pháp và
chức năng, hành vi ngôn ngữ gián tiếp thực tế
là “mượn một hành vi ngôn ngữ A để thể hiện
dụng ý B”.


Như vậy, khi người nói đặt câu hỏi với mục
đích thu thập thông tin chưa biết hoặc chưa
chắc chắn thì khi đó người nói đã sử dụng câu
hỏi trực tiếp; ngược lại khi người nói mượn
đặt câu hỏi khơng phải với mục đích thu thập
thơng tin mà để thể hiện hàm ý khác thì khi
đó ta có câu hỏi gián tiếp.


CHỨC NĂNG CỦA CÂU HỎI TRỰC TIẾP
DÙNG TRỢ TỪ NGHI VẤN(直接是非问句)
Chức năng chính của câu hỏi là thu thập
thông tin về điều người nói chưa biết hoặc
chưa chắc chắn. Khi câu hỏi thực hiện chức


năng này thì khi đó ta có câu hỏi trực tiếp.
Câu hỏi trực tiếp dùng trợ từ nghi vấn là câu
hỏi dùng để hỏi thông tin (信息探询). Trong
tiếng Hán câu hỏi trực tiếp dùng “trợ từ nghi
vấn” có 3 chức năng sau:


Câu hỏi trực tiếp dùng “trợ từ nghi vấn”có
chức năng dùng để hỏi về thơng tin mà bản
thân người nói chưa biết (纯疑问是非问句).


Câu hỏi trực tiếp dùng “trợ từ nghi vấn”có
chức năng dùng để hỏi về điều mà người nói
đã có ít nhiều thơng tin về điều mình định
hỏi(测度是非问句).


Câu hỏi trực tiếp dùng “trợ từ nghi vấn” có
chức năng trưng cầu ý kiến của người nghe
nhằm xác định thông tin mà người hỏi chưa
thật sự chắc chắn(确认是非问句).


Cơ sở nhận diện câu hỏi trực tiếp dùng trợ
từ nghi vấn


Theo Searle, tất cả các hoạt động giao tiếp
ngôn ngữ đều có liên quan đến “hành vi ngơn
ngữ”, người nói khi nói ra một câu nói có
nghĩa đã thực thi một “hành động”. Người nói
đặt ra câu hỏi cũng có thể coi là đã mượn hình
thức câu hỏi để tiến hành một “hành động”.
Trong giao tiếp để có thể tiến hành thành


công cần 4 điều kiện sau:
Thứ nhất: Điều kiện nội dung mệnh
đề(命题内容条件).


Thứ hai: Điều kiện chuẩn bị(预备条件)
Thứ ba: Điều kiện chân thành(真诚条件)
Thứ tư: Điều kiện căn bản(本质条件)
Sự khác biệt của những điều kiện này là căn
cứ giúp ta nhận diện hành vi ngôn ngữ trực
tiếp hay gián tiếp. Tuy nhiên兰巧玲 đã điều
chỉnh lại thành 3 điều kiện [5] .


Thứ nhất: Điều kiện chuẩn bị (预备条件):
Người hỏi không biết thông tin, người hỏi cho
rằng người nghe biết đáp án.


Thứ hai: Điều kiện chân thành(真诚条件):
Người hỏi biết mong muốn nhận được thông
tin về điều mình hỏi.


Thứ 3: Điều kiện căn bản(本质条件):
Người nói hy vọng người nghe trả lời.


Áp dụng vào nhận diện câu hỏi trực tiếp dùng
trợ từ nghi vấn trong tiếng Hán, khi câu hỏi
đặt ra đáp ứng đủ 3 điều kiện trên thì khi đó ta
có câu hỏi trực tiếp. Tuy nhiên câu hỏi trực
tiếp “dùng trợ từ nghi vấn”trong tiếng Hán có
3 chức năng. Nên đối với mỗi loại chức năng
sẽ có sự khác biệt nhất định về một điều kiện


nào đó.



(3)

Thứ nhất: Điều kiện chuẩn bị (预备条件):
Người hỏi không biết câu trả lời, người hỏi
cho rằng người nghe biết câu trả lời.


Thứ hai: Điều kiện chân thành(真诚条件):
Người hỏi muốn người nghe cung cấp thơng
tin cho mình.


Thứ 3: Điều kiện căn bản(本质条件):
Người nói hy vọng người nghe sẽ trả lời vào
đúng vào trọng tâm câu hỏi.


Ví dụ:


(1) 甲:“今天上午你的朋友小王去


图书馆吗?”


(Dịch nghĩa: Sáng nay Tiểu Vương bạn cậu
có đến thư viện khơng?)


乙:“去。”
(Dịch nghĩa: Có.)


Trong trường hợp sử dụng câu hỏi khi người
nói đã có ít nhiều thơng tin về điều mình định
hỏi(测度是非问句)thì cần đáp ứng các
điều kiện sau:



Thứ nhất: Điều kiện chuẩn bị (预备条件):
Người hỏi ít nhiều có thơng tin về điều mình
cần hỏi.


Thứ hai: Điều kiện chân thành(真诚条件):
Người hỏi muốn nhận được thông tin từ
người nghe


Thứ 3: Điều kiện căn bản(本质条件):
Người nói hy vọng người nghe sẽ trả lời câu
hỏi của mình.


Ví dụ:


(2) 母亲:“你爸上班去了吧?”


(Dịch nghĩa: Bố con chắc đi làm rồi à?)
儿子:“是。”


(Dịch nghĩa: Vâng.)


Trong trường hợp câu hỏi trực tiếp được đặt
ra khi người hỏi muốn người nghe giúp xác
định thông tin(确认是非问句)cần đáp ứng
các điều kiện sau:


Thứ nhất: Điều kiện chuẩn bị (预备条件):
Người hỏi cho rằng họ đã có nắm được thông
tin tương đối nhiều về điều mình hỏi, người


hỏi cho rằng người nghe có câu trả lời.
Thứ hai: Điều kiện chân thành(真诚条件):
Người hỏi muốn nhận được sự khẳng định
của người nghe về thơng tin có trong câu hỏi.


Thứ 3: Điều kiện căn bản(本质条件):
Người nói hy vọng người nghe sẽ trả lời câu
hỏi của mình.


Ví dụ:


(3) “她是一个福星。你们现在信


了吧?”(《社会与法》)


(Dịch nghĩa: Nó là sao may mắn cho nhà
chúng ta, bây giờ chắc mọi người tin rồi chứ ?)
CHỨC NĂNG CỦA CÂU HỎI GIÁN TIẾP


DÙNG TRỢ TỪ NGHI VẤN


(间接是非问句)


Theo Searle (1997) “hành vi ngôn ngữ gián
tiếp là thông qua phương thức hành vi ngôn
ngữ này gián tiếp biểu đạt một hành vi ngôn
ngữ khác”.


Câu hỏi gián tiếp dùng “trợ từ nghi vấn”thông
qua tiến hành hành vi “hỏi” để gián tiếp biểu


thị một hành vi khác.


Vận dụng quan điểm câu gián tiếp của Searle,
chúng tôi cho rằng có thể chia câu hỏi gián
tiếp “dùng trợ từ nghi vấn” làm hai loại sau:
Loại thứ nhất: Câu hỏi gián tiếp có thể nhận
diện được từ bình diện cú pháp: Ở loại câu
này người nghe có thể căn cứ theo đặc điểm
cú pháp, ý nghĩa hiển ngôn của từ ngữ trong
câu để suy luận ra được ý nghĩa lời nói. Đặc
trưng quan trọng của loại câu này ý nghĩa ở
một mức độ nào đó đã cố định theo cấu trúc
cú pháp và được người nghe dễ dàng nhận
diện được.


Loại thứ hai: Câu hỏi không thể nhận diện
được khi căn cứ đặc điểm cú pháp mà phải
căn cứ ngữ cảnh và thông tin chung của người
nghe và người nói đã có để nhận diện để suy
luận ra hàm ý lời nói.


Cơ sở nhận diện câu hỏi gián tiếp dùng trợ
từ nghi vấn


Theo chúng tôi, để nhận diện câu hỏi gián tiếp
có thể căn cứ vào đặc điểm cú pháp, ngữ
cảnh, nguyên tắc cộng tác hội thoại, điều kiện
thành công trong giao tiếp.


Căn cứ đặc điểm cú pháp: Khi câu hỏi có


xuất hiện các từ ngữ như
“不是……吗?”、“难道……就”、“岂,岂
不”、“不就……吗”...., thì khi đó ta có câu
hỏi gián tiếp.


Ví dụ:



(4)

你按摩吗?《家》


(Dịch nghĩa: Thật đau lòng quá, khi còn ở nhà
chẳng phải em vẫn thường xoa bóp cho chị
đấy sao?)


(5) …都生男孩,不生女孩,这世界不


是完蛋了吗?


(Dịch nghĩa: Nếu như đều chỉ sinh con trai thì
thế giới này liệu có tồn tại, phát triển được
nữa không?)


(6) 奶奶不以为然,说:“有什么不一


样?难道你还能生出一个麒麟?”《蛙》
(Dịch nghĩa: Bà nội phản bác lại nói: Có gì
mà khác? Chả lẽ cơ có thể sinh ra được kỳ
lân?)


(7) “…,让他去购买看不见、摸不着



、未来才可能消费的保险,岂不是点灯—


—白费蜡?”《人在险途》(Dịch nghĩa:


“Bảo nó mua bảo hiểm mà thực tế chả có gì là
cụ thể, khơng nhìn thấy, khơng sờ thấy được
mà chỉ có sau này mới dùng đến thì khác nào
làm một việc lãng phí.)


Căn cứ ngữ cảnh:


Ngồi việc dùng lí luận về nguyên tắc hợp
tác trong giao tiếp thì ngữ cảnh giao tiếp là
một công cụ vô cùng quan trọng để nhận
diện. Vì vậy phân tích ngữ cảnh có giá trị
quan trọng trong việc hiểu hàm ý của câu hỏi
gián tiếp. [6].


Căn cứ “Nguyên tắc cộng tác hội
thoại”(合作原则). Theo Grice “nguyên
tắc cộng tác hội thoại” gồm 4 phương châm:
- Phương châm về lượng(量的准则):
Thông tin bao hàm của lời nói đúng là thơng
tin các đối tượng tham gia giao tiếp cần,
không thừa cũng không thiếu.


- Phương châm về chất(质的准则): Nội
dung lời nói phải đúng.


- Phương châm quan hệ(关系准则): Nội


dung của lời nói phải có mối liên quan đến
nội dung cuộc hội thoại.


- Phương châm cách thức(方式准则): Nội
dung của lời nói cần phải rõ ràng, tránh lối
nói mập mờ.


Trong giao tiếp chỉ cần câu hỏi đưa ra có vi
phạm một trong các phương châm của
“Nguyên tắc cộng tác hội thoại” thì chúng ta
có thể nhận định đó là câu hỏi gián tiếp.


Ví dụ:


(8) 情景:当天,龙小羽的前女友祝四


萍把电话打到保春公司董事长的办公室来
,龙小羽接电话后觉得很奇怪,不知她从
哪里弄到了这个电话号码,因此问了四萍
,四萍笑着跟他说,你管得着吗?龙小羽
就住了口,一言不发地等着四萍说话。四
萍说]:“你哑巴啦?”(《拿》)(Dịch
nghĩa: Hơm đó bạn gái cũ của Long Tiểu Vũ
gọi điện đến văn phòng của Tổng giám đốc
công ty Bảo Xuân nơi Long Tiểu Vũ làm
việc, Long Tiểu Vũ nhận điện thoại và rất
ngạc nhiên khơng biết vì sao mà cơ ấy lại biết
số điện thoại này, vì hỏi bạn gái cũ (tên Tứ
Bình) , Tứ Bình cười và nói với Vũ “Việc này
anh tơi khơng có trách nhiệm cho anh biết.”,


nghe vậy Vũ im tịt, khơng nói câu nào và đợi
Tứ Bình nói tiếp. Tứ Bình trong điện thoại
khơng thấy Vũ nói gì liền nói: “Anh bị câm
rồi à?”)


Trong ví dụ trên,nhân vật Tứ Bình đặt câu
hỏi “Anh bị câm rồi à?”đã vi phạm phương
châm về chất, có nghĩa là câu hỏi có nội dung
khơng đúng với thực tế. Vì vậy có thể suy
luận ra đây là câu hỏi gián tiếp biểu thị hàm ý
chọc tức đối phương.


Căn cứ theo việc có đáp ứng đúng điều kiện
về thành cơng trong giao tiếp


Chức năng chính của câu hỏi là dùng để “thu
thập thơng tin”, có nghĩa là câu hỏi phải chứa
đựng thông tin cần hỏi, người hỏi mong muốn
nhận được câu trả lời từ người nghe…, khi câu
hỏi không đáp ứng điều kiện như vậy thì nó
khơng có chức năng thu thập thơng tin nữa và
khi đó ta có câu hỏi gián tiếp.


Ví dụ:


(9) 年轻人将筏子从河边码头撑出时,


那几个蹲在岸边的筏工喊叫着:“扁头,祝
你好运,掉到河里淹死!”年轻人麻利地撑
着篙,说]:“那是不行的,我淹死了,你


妹妹岂不是要守寡?”。(《蛙》)
(Dịch nghĩa: Khi chàng trai lái đị rời bến thì
mấy người lái đị ngồi trên bờ chêu trọc nói:
“Này đồ đầu bẹp, chúc may mắn nhé, mong
mày sẽ bị rơi xuống nước chết đuối”. Chàng
trai trẻ cũng không phải tay vừa liền đáp lại:
“Khơng được, nếu tao chết thì em gái chúng
mày thành góa phụ hết à?”)



(5)

muốn dùng câu hỏi để thu thập thơng tin mình
chưa biết từ phía người nghe vì vậy có thể
hiểu câu hỏi này được sử dụng với hàm ý
khác mà ở cụ thể là thể hiện sự phản bác.
Chức năng của câu hỏi gián tiếp dùng trợ
từ nghi vấn


Câu hỏi gián tiếp biểu thị “hành vi” cầu
khiến(祈使功能型是非问句)


Trong câu chia theo mục đích nói thì câu cầu
khiến là câu dùng để yêu cầu người nghe thực
hiện yêu cầu được nêu trong câu.


Câu hỏi gián tiếp dùng trợ từ nghi vấn trong
tiếng Hán biểu thị các “hành vi cầu khiến” cơ
bản sau:


Nhắc nhở, ví dụ:


(10) 你今天不是要还书吗?



(Dịch nghĩa: Chả phải hôm nay đến hạn bạn
phải trả sách sao?)


Đề nghị, ví dụ:


(11) 时间不早了,我们回去吧?(Dịch


nghĩa: Muộn rồi, chúng ta về nhé ?)
Thỉnh cầu, ví dụ:


(12) 我可以采访你的夫人吗?《蛙》


(Dịch nghĩa: Tơi có thể phỏng vấn phu nhân
của ngài khơng ?)


Mệnh lệnh, ví dụ:
(13) 还不走?


(Dịch nghĩa: Cịn khơng đi sao?)
Đe dọa, ví dụ:


(14) 还顶嘴?
(Dịch nghĩa: Còn cãi à?)


Câu hỏi gián tiếp biểu thị quan điểm
(观点表达功能型是非问句》)


Câu hỏi có hình thức khẳng định biểu thị
quan điểm phủ định của người nói và ngược


lại. Ví dụ:


(15) 姑姑:“万氏门中添贵子,我能不


来吗?”(《蛙》


(Dịch nghĩa: Họ Vạn sinh q tử, thử hỏi tơi
có thể không đến không?)


(16) “……我敢胡说吗?”(《大宅门》)


(Dịch nghĩa: Tôi mà dám nói lung tung à?)
Câu hỏi gián tiếp biểu thị tình
cảm(情感表达功能型是非问句)


Câu hỏi dùng trợ từ nghi vấn còn biểu thị sự
khơng hài lịng, tức giận, mỉa mai, trách
móc… chủ yếu đối với người nghe. Thường
thì trong hội thoại cịn có thể nhận diện chức
năng này qua âm sắc giọng nói.


(17) “哭什么?你爹死了?”


(Dịch nghĩa: Khóc gì mà khóc, làm như bố
mày chết ý.)


(18) “你想当娘了?跟沙月亮疯够了?”


(《丰》)



(Dịch nghĩa: Cô bây giờ lại muốn có con à,
theo Sa Nguyệt Lượng chơi bời chán rồi sao ?)


(19) “陈鼻:外孙做满月,不请外公喝


酒,这有点儿不像话了吧?”(《蛙》)
(Dịch nghĩa: Đầy tháng cháu ngoại mà khơng
mời ơng ngoại nó, như vậy thật chẳng ra gì.)
Câu hỏi gián tiếp biểu thị hỏi thăm, chào
hỏi xã giao (寒暄功能型是非问句)
Chức năng này thể hiện nội hàm văn hóa và
bản sắc dân tộc riêng. Loại câu hỏi này nội
dung mệnh đề không quan trọng mà chỉ là
cách mà người nói chào hỏi xã giao với đối
tượng người nghe là người mình quen biết.
Ví dụ:


(20) “上课吗?”
(Dịch nghĩa: Đi học à?)
(21) “上街去吗?”
(Dịch nghĩa: Đi làm à?)
(22) “回来啦?”
(Dịch nghĩa: Về rồi đấy à?)


(23) “醒了?”(《甜蜜蜜》)


(Dịch nghĩa: Tỉnh rồi à?)


Giá trị của việc sử dụng câu hỏi gián tiếp
trong giao tiếp



Trong giao tiếp, việc người nói sử dụng hình
thức câu hỏi gián tiếp “dùng trợ từ nghi vấn”
để diễn đạt hành vi cầu khiến trong trường
hợp người nói có vị thế thấp hơn người nghe,
người nói muốn đề cao thể diện của người
nghe, việc sử dung hình thức câu hỏi sẽ bớt
gây áp lực tâm lý như khi sử dụng câu cầu
khiến. Lời cầu khiến gián tiếp dựa trên sự tình
nguyện của đối tượng tiếp nhận thơng tin nên
có tính lịch sự cao.



(6)

quan điểm của bản thân về một vấn đề nào đó
(khằng định hoặc phủ định), loại câu hỏi này
khơng cần người nghe trả lời. Ngồi ra, cùng
với việc nhấn mạnh sự khẳng định hoặc phủ
định về nội dung mệnh đề trong câu thì ít
nhiều thể hiện sự khơng hài lịng của người
nói từ đó khiến người nghe điều chỉnh hành vi
của mình cho phù hợp.


Việc dùng hình thức câu hỏi để gián tiếp
biểu thị sự hỏi thăm, chào hỏi xã giao
thường sử dụng thể hiện sự thân mật giữa hai
đối tượng giao tiếp là những người quen
biết. Vì vậy không sử dụng câu hỏi gián tiếp
với chức năng này đối với người mà mình
khơng quen biết.


KẾT LUẬN



Câu hỏi dùng trợ từ nghi vấn trong tiếng Hán
bên cạnh chức năng dùng để thu thập thông
tin từ người nghe về điều mình chưa biết hoặc
chưa chắc chắn, thì câu hỏi dùng trợ từ nghi
vấn trong tiếng Hán còn được sử dụng để thể
hiện quan điểm, thái độ, tình cảm...của người
nói. Vì vậy, căn cứ theo đích ở lời, ta có thể
chia câu hỏi dùng trợ từ nghi vấn trong tiếng
Hán thành câu hỏi trực tiếp và câu hỏi gián
tiếp. Câu hỏi trực tiếp người nói cần người
nghe cung cấp thông tin, cịn câu hỏi gián


tiếp thì không cần người nghe trả lời. Câu
hỏi trực tiếp dùng trợ từ nghi vấn trong tiếng
Hán có chức năng dùng để hỏi về điều mà
người nói hồn tồn chưa biết hoặc chưa
chắc chắn; câu hỏi gián tiếp không có chức
năng để hỏi về thông tin mà được sử dụng
với chức năng thể hiện quan điểm, thái độ,
tình cảm của người nói nhằm tác động đến
người nghe để từ đó người nghe có sự điều
chỉnh hành vi thái độ cho phù hợp với mong
muốn của người nói. Việc sử dụng câu hỏi
gián tiếp hợp lý, phù hợp đối tượng, ngữ
cảnh sẽ mang lại hiệu quả giao tiếp và dễ đạt
được mục đích giao tiếp hơn.


TÀI LIỆU THAM KHẢO



[1].黄伯荣.陈述句·疑问句·祈使句·感叹句[M].新知识
出版社.1957.


[2].黎锦熙.新著国语文法[M].北京:商务印书馆.1998.
[3].邵敬敏.现代汉语疑问句研究[M].华东师范大学出
版社.1996.


[4].赵亮.塞尔言语行为理论探].黑龙江大学硕士学位
论文.1996.


[5].兰巧玲.俄汉语是非问句对比研究.2007.
黑龙江大学博士学位论文.


[6].索振羽.语用学教程[M].北京:北京大学出版社.2000.


SUMMARY


AN INVESTIGATION INTO THE FUNCTION OF QUESTIONS
USING INTERROGATIVE ADVERBS IN THE MODERN CHINESE


Phung Thi Tuyet*


School of Foreign Languages - TNU


The question using interrogative adverbs is one of the five types of question in Chinese. It is
comparatively frequently used in communication. In addition to the function of collecting
information that the speaker is not sure or doesn’t know, this kind of question can be used to
express many other functions and bring about certain efficiency in communication. In terms of
functions, this type of question can be divided into two small sorts as direct and indirect questions.
The article applies the theory of "language behavior," "dialogue co-operation principles," and


"conditions for successful communication" to conduct the classification and identification of direct
questions, indirect questions. At the same time, the article points out some of the basic functions
that indirect questions assume in actual communication.


Key words: Question, interrogative adverbs, function, direct, indirect


Ngày nhận bài: 23/8/2018; Ngày phản biện: 09/9/2018; Ngày duyệt đăng: 28/9/2018







×