Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại Vietcombank Thành Công

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (850.31 KB, 110 trang )

(1)

TÓM TẮT LUẬN VĂN



Hệ thống các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay đang phát triển nhanh
chóng với nhiều cơ hội và thách thức đặc biệt trong điều kiện các ngân hàng nước ngoài
mở ngày càng nhiều chi nhánh. Ngân hàng là một trong những mắt xích rất quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân với việc nhận tiền gửi nhàn rỗi từ dân cư và các tổ chức kinh
tế... đồng thời tham gia tài trợ cấp tín dụng cho các nhu cầu, các dự án cần vốn. Trong
nền kinh tế thị trường, ngân hàng có nhiệm vụ tham gia bình ổn thị trường tiền tệ, kiềm
chế và đẩy lùi lạm phát để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.


Hoạt động ngân hàng gắn liền với rất nhiều rủi ro như: rủi ro thanh khoản, rủi ro tín
dụng, rủi ro hối đối, rủi ro lãi suất, …Trong các loại rủi ro của ngân hàng thường gặp
thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro thường xuyên nhất và gây tổn thất nặng nề nhất cho kinh


doanh ngân hàng. Hoạt động tín dụng đã và đang là nguồn thu chủ yếu nhưng cũng
tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thực tế đã chỉ ra rằng các ngân hàng có thể tránh được thiệt hại
nếu duy trì một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả thực hiện kiểm soát trên tất cả các
mặt hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng. Chính vì vậy, việc tăng
cường kiểm sốt hoạt động tín dụng hiện nay đang là vấn đề bất cứ ngân hàng nào cũng
phải quan tâm đặc biệt. Để làm được điều này, vai trị của hệ thống kiểm sốt nội bộ
trong các ngân hàng thương mại hiện nay góp phần không nhỏ.


Đối với Ngân hàng Vietcombank Thành Công – là một trong các Chi nhánh cấp 1
của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đang quản lý một khối lượng lớn vốn và tài sản
của ngân hàng và khách hàng thì hoạt động của hệ thống kiểm sốt nội bộ được Ban
lãnh đạo Vietcombank Thành Cơng hết sức chú trọng để đảm bảo an tồn trong hoạt
động kinh doanh nói chung và đối với hoạt động tín dụng nói riêng. Nhận thức được
vấn đề này, tác giả đã lựa chọn đề tài: “ Hồn thiện hệ thống kiểm sốt nội bộ với


tăng cƣờng kiểm sốt hoạt động tín dụng tại Vietcombank Thành Công” làm đề




(2)

Mục đích nghiên cứu của Đề tài là nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn
hệ thống kiểm soát nội bộ trong mối quan hệ với kiểm sốt hoạt động tín dụng tại
VietComBank Thành cơng từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động
của hệ thống này với tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại Chi nhánh.


Đối tượng nghiên cứu là hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường kiểm sốt
hoạt động tín dụng tại VietCombank Thành Công trong mối quan hệ chung với hệ
thống kiểm soát nội bộ của VietCombank. Phạm vi nghiên cứu là tập trung vào hệ
thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm sốt hoạt động tín dụng tại VietComBank


Thành Cơng.


Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:


Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm soát hoạt động tín dụng


trong ngân hàng thương mại


Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm soát hoạt động tín dụng tại


VietcomBank Thành Cơng


Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng
cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietcomBank Thành Cơng


Trong chƣơng 1, Luận văn trình bày cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ trong



(3)

Thứ nhất là mơi trường kiểm sốt: Mơi trường kiểm sốt bao gồm các nhân tố


bên trong và bên ngoài ngân hàng có tính chất mơi trường tác động đến việc thiết kế,


vận hành và xử lý dữ liệu của hệ thống kiểm soát nội bộ như đặc thù quản lý, cơ cấu tổ
chức, chính sách nhân sự, cơng tác kế hoạch, ủy ban kiểm sốt. Thứ hai là hệ thống kế



(4)

Trong chƣơng 2: Trước hết Luận văn khái quát quá trình hình thành và phát


triển của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nói chung và sự ra đời của Vietcombank
Thành Cơng nói riêng. NHNT được chính thức thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1963,


Trải qua gần 50 năm xây dựng và trưởng thành, tính đến thời điểm cuối năm 2009,
NHNT đã phát triển lớn mạnh theo mơ hình ngân hàng đa năng với 4 Cơng ty con trực
thuộc trên tồn quốc; 2 Văn phịng đại diện và 1 Cơng ty con tại nước ngồi. Ngồi ra,


NHNT cịn tham gia góp vốn, liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước
trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như kinh doanh bảo hiểm, bất động sản, quỹ
đầu tư... Tổng tài sản của NHNT tại thời điểm cuối năm 2009 lên hơn 255 nghìn tỷ
VND, tổng dư nợ đạt gần 137 nghìn tỷ VND. Chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương
Thành Công (VietComBank Thành Công) được thành lập ngày 21/12/2001 trên cơ sở
Chi nhánh cấp hai trực thuộc Chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương Hà Nội. Tính đến


nay VietCombank Thành Cơng đã chính thức đưa vào hoạt động 7 phòng giao dịch là
phòng giao dịch với tổng huy động vốn của cả Chi nhánh đạt 4,574 tỷ đồng, tăng
26,46% (tương đương 957 tỷ đồng) so với năm 2008, vượt 6.46% so với kế hoạch được
giao và đạt 95,07% kế hoạch mục tiêu, tổng dư nợ tín dụng đến 31/12/2009 đạt 1,604 tỷ
quy đồng, tăng 51% so với năm 2008. Tác giả tập trung vào việc phân tích thực trạng
của hệ thống kiểm sốt nội bộ trong mối quan hệ với việc tăng cường kiểm sốt hoạt
động tín dụng của VietCombank Thành Cơng bao gồm việc phân tích mơi trường kiểm
sốt, hệ thống kế tốn và thơng tin kinh tế, các thủ tục kiểm soát trước, trong và sau khi
cho vay và cơng tác kiểm tốn nội bộ. Từ thực trạng đó Tác giả đánh giá những kết quả
đạt được, những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó của hệ thống
kiểm sốt nội bộ với kiểm sốt hoạt động tín dụng tại VietCombank Thành Công.



Những kết quả đạt đƣợc: Ban lãnh đạo Chi nhánh đã xây dựng được bộ máy



(5)

tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng theo tiêu chuẩn quốc tế. Các thủ tục
kiểm soát gắn liền trong quy trình tín dụng được thiết kế vừa ngăn ngừa gian lận thông
qua việc kiểm duyệt của các tầng kiểm sốt đảm bảo sự giám sát lẫn. Cơng tác kiểm tra
sau sau của Tổ kiểm tra giám sát tuân thủ đối với hoạt động tín dụng ngày một quan


tâm, cơ cấu tín dụng tại Chi nhánh có sự chuyển biến tích cực bằng cách giảm dần tỷ lệ
cho vay các doanh nghiệp nhà nước mà hoạt động còn kém hiệu quả, ngày một đầu tư


nhiều hơn cho các doanh nghiệp Cổ Phần, công ty TNHH, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
đặc biệt các dự án đầu tư hợp vốn đã được ngân hàng nhắm tới, hướng tới mục tiêu đa
dạng hóa các thành phần kinh tế, ưu tiên các loại hình phục vụ cho sự phát triển cho đất
nước. Đồng thời Chi nhánh thực hiện nghiêm quy trình cho vay theo quy định của Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam và đạt nhiều kết quả khả quan trong việc xử lý nợ tồn
đọng.


Những hạn chế còn tồn tại: Thứ nhất, cơ cấu tổ chức của hệ thống kiểm soát nội


bộ đối với hoạt động tín dụng cịn yếu kém trong việc phát hiện gian lận và sai sót trong
hoạt động tín dụng của ngân hàng. Thứ hai, nguồn nhân lực của hệ thống kiểm sốt nơi
bộ và hoạt động tín dụng được bố trí khơng hợp lý chưa thực hiện được chức năng của


mình trong việc kiểm sốt hoạt động tín dụng. Cán bộ kiểm tra, giám sát tín dụng cịn
kiêm nhiệm nhiều cơng việc, trình độ chuyên môn chưa cao nên chất lượng kiểm tra


còn kém. Thứ ba, hoạt động của Tổ kiểm tra giám sát tuân thủ của VietComBank


Thành Cơng chỉ có tác dụng hoàn thiện chưa có vai trị cảnh báo rủi ro: Tổ kiểm tra


giám sát tuân thủ của VietComBank Thành Công chỉ tiến hành kiểm tra sau việc tuân
thủ nghiệp vụ của các phịng ban. Đối với hoạt động tín dụng thì các kiểm tra viên chưa
thể hiện chức năng quan trọng của mình là phát hiện ra các nguy cơ tiềm ẩn rủi ro để từ
đó đề ra các biện pháp phịng ngừa. Thứ tư, thủ tục kiểm sốt không chặt chẽ, chưa phát
huy được tác dụng: việc áp dụng các thủ tục kiểm soát tại VietComBank Thành Cơng
thiếu đồng bộ, lỏng lẻo. Thứ năm, chính sách tín dụng áp dụng tại VietComBank Thành



(6)

được hệ thống cung cấp thông tin trong hoạt động tín dụng: VietComBank Thành Cơng
chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu thống nhất ngay trong nội tại chi nhánh, tình trạng
từng cán bộ tín dụng cho vay và quản lý khoản vay, tình hình trả nợ của khách hàng và
không lưu lại những thông tin về khách hàng đó là khá phổ biến.


Nguyên nhân của những hạn chế đó là Thứ nhất, hệ thống kiểm soát nội bộ đối
với hoạt động tín dụng chưa phân định được rõ chức năng quản lý rủi ro và quản trị tín
dụng. Thứ hai, nhân sự kiểm sốt q ít, trình độ và ý thức của cán bộ tín dụng, cán bộ
quản lý tín dụng, kiểm sốt viên tín dụngchưa cao. Hầu hết các cán bộ cịn rất trẻ, họ
có chun môn nhưng lại thiếu trải nghiệm thực tiễn, thiếu đào tạo một cách bài bản
chuyên sâu. Thứ ba, hoạt động kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng khơng tập
trung, thẩm quyền phê duyệt tín dụng tập trung lớn trong tay giám đốc Chi nhánh. Thứ
tư, hoạt động tín dụng chưa tuân thủ đúng quy trình: với quy trình được nêu ở trên, có
thể thấy là quy trình được áp dụng đầy đủ khi đối tượng vay là doanh nghiệp lớn, hay
một món vay lớn. Đối với quy trình tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng
cá nhân của ngân hàng khá đơn giản, dẫn tới việc khi cho vay các nhóm khách hàng chỉ
xét mục đích vay đơn thuần, các phương án hoàn trả nợ, năng lực hoạt động của khách
hàng không được chú trọng thay vào đó là yếu tố tài sản đảm bảo, tuy nhiên lại chưa
quan tâm đúng mức công tác thẩm định tài sản thế chấp.


Trong chƣơng 3: Sau khi trình bày phương hướng phát triển tín dụng và phương


hướng hồn thiện hệ thống kiểm sốt nội bộ với tăng cường kiểm soát hoạt động tín


dụng, Tác giả đề xuất các giải pháp hồn thiện hệ thống kiểm sốt nội bộ để tăng cường
kiểm sốt hoạt động tín dụng tại VietComBank Thành Cơng.


Nhóm giải pháp hồn thiện mơi trƣờng kiểm sốt: Mơi trường kiểm sốt có tác



(7)

dụng của Chi nhánh cần tách bạch, phân định rõ chức năng khởi tạo tín dụng, chức
năng quản lý rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng.


Thứ hai, sắp xếp và tăng cường chính sách đào tạo đối với cán bộ tín dụng, cán bộ
quản lý tín dụng, cán bộ kiểm sốt và thiết lập chế tài thưởng phạt. Một là, nâng cao
năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành. Hai là, nâng
cao chất lượng cán bộ tín dụng và kiểm sốt viên tín dụng trong quá trình tuyển dụng và
đào tạo. Ba là, thiết lập chế tài thưởng phạt để tạo chính sách động lực đối với người lao
động


Thứ ba, xây dựng lại mơ hình tính điểm trong phân tích tín dụng và xác định giới


hạn tín dụng: khi Chi nhánh áp dụng mơ hình tính điểm trong phân tích đánh giá tín
dụng để xác định hạng của doanh nghiệp thì cần nghiên cứu và điều chỉnh cho phù hợp
với tình hình thực tế cũng như đưa ra quan điểm đánh giá khác nhau đối với từng hạng
doanh nghiệp cụ thể. Sử dụng Giới hạn tín dụng trong cấp tín dụng cụ thể cho khách
hàng: khi đã có GHTD, các bộ phận thực hiện như tín dụng, bảo lãnh và đặc biệt là bộ
phận khách hàng sẽ nắm được quan điểm đánh giá của ngân hàng đối với khách hàng.



(8)

Nhóm giải pháp hồn thiện thủ tục kiểm soát: Thứ nhất, xây dựng kế hoạch


kiểm tra, kiểm sốt hoạt động tín dụng: việc kiểm tra kiểm sốt thường xun sẽ góp
phần giúp cho hoạt động tín dụng thêm lành mạnh, chấn chỉnh ngay những vấn đề xảy
ra gây nguy cơ rủi ro cho hoạt động tín dụng. Tăng cường bổ xung thêm các thủ tục
kiểm soát để ngăn ngừa gian lận và phát hiện sai sót như: giữa các cán bộ tín dụng nên


có sự kiểm tra chéo định kỳ và thực hiện luân chuyển cán bộ tín dụng trong việc quản


lý khách hàng vay trong Chi nhánh. Thứ hai, hoàn thiện công tác phân công phân
nhiệm để phân chia trách nhiệm trong phân cấp quyền phán quyết tín dụng: những dự
án lớn vượt quyền phán quyết tín dụng của Giám đốc Chi nhánh và Hội đồng tín dụng
cơ sở thì thường được chuyển về Hội sở chính để thẩm định. Nhưng việc giải ngân, cho
vay thì lại do ngân hàng cấp dưới nên bộ phận kiểm soát dưới cơ sở thường chủ quan
khơng thấy được trách nhiệm của mình. Do đó trách nhiệm của bộ phận thẩm định, bộ
phận quản trị tại chi nhánh và tại Hội sở chính phải được thể hiện rõ trong báo cáo thẩm
định với từng chỉ tiêu, và ghi rõ nguồn số liệu được cung cấp và các kết luận. Thứ ba,


nâng cao khả năng xác định nguy cơ rủi ro của khách hàng trong việc cấp tín dụng: có
rất nhiều yếu tố có thể gây ra rủi ro đối với một doanh nghiệp. Tuy nhiên, một doanh
nghiệp thường không gặp phải tất cả các nguy cơ rủi ro mà chỉ có một số nguy cơ rủi ro
chính. Vấn đề quan trọng là phải xác định được các nguy cơ rủi ro chính đó là gì. Để
xác định các nguy cơ rủi ro, cán bộ tín dụng phải áp dụng kỹ thuật phân tích tổng hợp



(9)

trong các hợp đồng bảo hiểm. Nếu phát hiện những vi phạm trong quá trình sử dụng
vốn vay sai mục đích, cán bộ giám sát có thể kiến nghị thu hồi nợ trước hạn hoặc
chuyển nợ quá hạn. Ngoài ra, việc nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo
cũng là một công việc quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của Chi nhánh,
nó địi hỏi cán bộ tín dụng phải ln theo dõi, giám sát khoản vay để phát hiện kịp thời
những dấu hiệu phát sinh rủi ro.


Nhóm giải pháp hồn thiện cơng tác kiểm tốn nội bộ: hoạt động của kiểm tốn


nội bộ đối với hoạt động tín dụng là một công cụ hữu hiệu để phát hiện ngăn ngừa và
chấn chỉnh những sai phạm trong quá trình cho vay. Hiện nay bộ phận kiểm tốn nội bộ
thuộc sự điều hành của ban kiểm soát thuộc hội đồng quản trị của ngân hàng ngoại
thương, còn bộ phận kiểm tra giám sát tn thủ vẫn theo mơ hình chịu sự điều hành của


Tổng giám đốc (Giám đốc chi nhánh) do đó tính độc lập chưa cao nên hiệu quả của hệ
thống không đạt được như mong muốn. Do đó để tăng cường vai trò của hoạt động
kiểm tra kiểm sốt nội bộ thì Ngân hàng ngoại thương Việt Nam cần cơ cấu lại hệ
thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ trực thuộc Ban kiểm soát Hội đồng quản trị do Hội
đồng quản trị quyết định bổ nhiệm miễn nhiệm và đánh giá hiệu quả công việc. Đồng
thời quyền lợi và trách nhiệm của cán bộ kiểm tra nội bộ phải được quy định rõ ràng để
từ đó quy định trách nhiệm của cán bộ thực hiện công việc kiểm soát hoạt động tín
dụng. Ngân hàng Ngoại thương cần xây dựng các chương trình kiểm tra để giám sát
phòng ngừa các gian lận và sai sót đồng thời kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm
và hoàn chỉnh ban hành quy chế, quy trình về kiểm tra kiểm tốn nội bộ.


Nhóm giải pháp hồn thiện ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong hoạt động kiểm
sốt tín dụng: các loại báo cáo phục vụ cho công tác quản lý của ban giám đốc, báo



(10)

ra quyết định có đầu tư hay khơng. Các thơng tin từ phía khách hàng cung cấp nhiều khi
lại thiếu đầy đủ, chính xác, do vậy cán bộ tín dụng khơng thể chỉ dựa vào các luồng
thông tin do khách hàng cung cấp trong dự án mà cần phải nắm bắt, xử lý các thông tin
về mọi vấn đề liên quan đến phương án, dự án từ nhiều nguồn khác nhau. Vì vậy việc
đầu tư và triển khai hệ thống lưu trữ dữ liệu tập trung cung cấp thông tin cho toàn hệ
thống là rất cần thiết. Đồng thời xây dựng hệ thống thông tin để quản lý danh mục tín
dụng, hạn mức tín dụng đối với từng khách hàng vay vốn đảm bảo cho các cấp quản lý
có thể kiểm sốt thơng qua việc phê duyệt trên hệ thống máy tính.


Để các giải pháp đã đưa ra được hiệu quả, Tác giả cũng có một số kiến nghị với
Nhà nước, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng
Ngoại thương cần phối hợp với các đơn vị liên quan thường xuyên tổ chức các khóa
đào tạo và bồi dưỡng kiến thức để nâng cao năng lực đánh giá, phân tích tín dụng, đo
lường rủi ro cho cán bộ. Ngân hàng nhà nước cần nâng cao chất lượng thông tin tại



(11)

LỜI MỞ ĐẦU




1. Tính cấp thiết của đề tài


Trong mọi hoạt động của doanh nghiệp, chức năng kiểm tra kiểm sốt ln giữ
vai trò quan trọng trong quá trình quản lý và được thực hiện chủ yếu bởi hệ thống
kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Đối với bất kỳ một ngân hàng thương mại nào thì
hệ thống kiểm sốt nội bộ là một bộ phận khơng thể thiếu, nó là cơ sở để đảm bảo cho
hoạt động của ngân hàng an tồn và vững mạnh. Một hệ thống kiểm sốt nội bộ vững
mạnh có thể giúp đảm bảo cho ngân hàng đạt được các mục tiêu lợi nhuận trong dài
hạn, duy trì cơng tác báo cáo tài chính và báo cáo quản trị đáng tin cậy. Hệ thống
kiểm soát nội bộ giúp cho các hoạt động của ngân hàng tuân thủ luật pháp, các quy
định chính sách, kế hoạch, các thủ tục và quy tắc nội bộ, giảm thiểu rủi ro gặp phải
những khoản lỗ không mong muốn hoặc gây tổn hại đến danh tiếng của ngân hàng.


Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động sinh lời chủ yếu lại phải đối
mặt với rất nhiều rủi ro nên việc kiểm soát hoạt động này ln là bài tốn khó với các
ngân hàng. Mặc dù ngày nay, các ngân hàng hiện đại có xu hướng chuyển dịch sang
đầu tư vào việc cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhưng tín dụng vẫn là hoạt
động cơ bản, giữ vị trí quan trọng trong danh mục tài sản của các ngân hàng thương
mại. Kiểm sốt hoạt động tín dụng là biện pháp quan trọng để đảm bảo an tồn tín
dụng. Hồn thiện hệ thống kiểm sốt nội bộ sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro trong kinh
doanh ngân hàng nói chung và nâng cao chất lượng của hoạt động tín dụng nói riêng.


Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề trên trong thời gian làm
việc và tìm hiểu thực tế tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam –
Chi nhánh Thành Công (VietComBank Thành Công) tôi chọn đề tài: “ Hoàn thiện hệ



(12)

2. Mục đích nghiên cứu


Đề tài nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn hệ thống kiểm soát nội


bộ trong mối quan hệ với kiểm sốt hoạt động tín dụng tại VietComBank Thành cơng
từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hồn thiện hoạt động của hệ thống này với tăng
cường kiểm soát hoạt động tín dụng tại Chi nhánh.


3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu


Đối tượng nghiên cứu là hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường kiểm
sốt hoạt động tín dụng tại VietCombank Thành Công đặt trong mối quan hệ chung
với hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.


Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống kiểm soát nội bộ với việc kiểm soát
hoạt động tín dụng tại VietComBank Thành Cơng.


4. Phƣơng pháp nghiên cứu


Để giải quyết những vấn đề có liên quan đến nội dung đề tài, học viên đã sử
dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lenin. Các phương pháp cụ thể bao gồm: phương pháp phân tích tổng
hợp, phương pháp đối chiếu, phương pháp so sánh, phương pháp mô tả và khái quát
hóa đối tượng nghiên cứu. Các phương pháp này kết hợp chặt chẽ với nhau để rút ra
những kết luận phục vụ cho đề tài.


5. Đóng góp của Luận văn


Thứ nhất, Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống kiểm
soát nội bộ trong quan hệ với kiểm sốt hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại.



(13)

6. Kết cấu Luận văn


Tên Luận văn : “Hồn thiện hệ thống kiểm sốt nội bộ với tăng cƣờng kiểm



sốt hoạt động tín dụng tại VietComBank Thành Cơng ”


Ngồi phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:


Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm sốt hoạt động tín
dụng trong ngân hàng thương mại


Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm sốt nội bộ với kiểm sốt hoạt động tín dụng tại


VietcomBank Thành Công



(14)

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM


SOÁT NỘI BỘ VỚI KIỂM SỐT HOẠT ĐỘNG TÍN



DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI



1.1. Những vấn đề cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ



1.1.1 Khái niệm và các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ



Hệ thống kiểm sốt nội bộ có một vai trò quan trọng, quyết định sự thành bại
của một doanh nghiệp nói chung và của một tổ chức tín dụng nói riêng. Cuối những
năm 80, khi một loạt các công ty của Hoa Kỳ bị đổ vỡ, người ta đã xác minh được
nguyên nhân chính của sự đổ vỡ là do hệ thống kiểm soát nội bộ của các công ty này
yếu kém. Kể từ đó, khái niệm hệ thống kiểm sốt nội bộ ra đời và tất cả các doanh
nghiệp, đặc biệt là các ngân hàng hiện đại trên thế giới ngày càng quan tâm đến mức
độ đầy đủ, tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ.


Theo định nghĩa của Viện Kiểm toán quốc tế, “Hệ thống kiểm soát nội bộ” là tập


hợp bao gồm các chính sách, quy trình, quy định nội bộ, các thông lệ, cơ cấu tổ chức
của ngân hàng, được thiết lập và được tổ chức thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu
của ngân hàng và đảm bảo phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro xảy ra.
Theo Liên đồn Kế tốn Quốc tế (IFAC), hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống
chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu sau: bảo vệ tài sản
của đơn vị; đảm bảo độ tin cậy của các thông tin, đảm bảo việc thực hiện các chế độ
pháp lý và đảm bảo hiệu quả của hoạt động. Theo đó kiểm sốt nội bộ là một chức
năng thường xuyên của đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra
trong từng khâu cơng việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả
tất cả các mục tiêu của đơn vị.



(15)

và hệ thống kiểm tốn nội bộ. Mơi trường kiểm sốt bao gồm tồn bộ nhân tố bên
trong và bên ngồi đơn vị có tính mơi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và
xử lý dữ liệu của các loại hình kiểm sốt nội bộ. Các nhân tố trong mơi trường kiểm
sốt bao gồm: đặc thù về quản lý, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế
hoạch, ủy ban kiểm sốt và mơi trường bên ngồi. Hệ thống kế tốn là hệ thống thơng
tin chủ yếu của đơn vị bao gồm hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ
thống tài khoản kế toán và hệ thống bảng tổng hợp, cân đối kế toán. Các thủ tục kiểm
soát do các nhà quản lý xây dựng dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc bất kiêm
nhiệm, nguyên tắc phân công phân nhiệm rõ ràng và chế độ ủy quyền. Kiểm toán nội
bộ là một bộ phận độc lập được thiết lập trong đơn vị tiến hành công việc kiểm tra và
đánh giá các hoạt động phục vụ nhu cầu quản trị nội bộ đơn vị. Là mội trong những
nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp , bộ phận kiểm toán
nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của
doanh nghiệp bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế và vận hành các chính sách
và thủ tục về kiểm soát nội bộ.


1.1.2 Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ



Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ của tổ chức được thiết lập nhằm thực hiện


các mục tiêu, chính sách lớn của tổ chức, thông qua việc thực hiện các mục tiêu cụ
thể, chủ yếu sau đây:


Thứ nhất, bảo vệ, quản lý và sử dụng tài sản và các nguồn lực một cách kinh tế



(16)

cố thế chấp của khách hàng tại ngân hàng. Mặt khác, tài sản của ngân hàng không chỉ
ở trong ngân hàng mà cịn nằm bên ngồi ngân hàng. Đó là các khoản tiền cho khách
hàng vay, các khoản đầu tư vào các dự án liên doanh liên kết…. Ngân hàng sử dụng
phần lớn nguồn vốn huy động được để cho vay, nên cho vay là khoản mục sinh lời
chủ yếu. Rủi ro từ những khoản mục cho vay này ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả
kinh doanh của ngân hàng. Do đó ngồi bảo vệ tài sản hữu hình hiện có tại ngân hàng,
các ngân hàng thương mại còn phải bảo vệ tài sản của khách hàng bằng một hệ thống


công nghệ tin học hiện đại, đảm bảo sự bảo mật của hệ thống thông tin ngân hàng,
bảo vệ tài sản ngoài ngân hàng bằng cách kiểm sốt chặt chẽ các rủi ro có thể xảy ra,
đặc biệt là rủi ro tín dụng.


Thứ hai, bảo đảm hệ thống thơng tin tài chính và thơng tin quản lý trung thực,


hợp lý, đầy đủ và kịp thời. Thơng tin kinh tế do bộ máy kế tốn xử lý và tổng hợp là
căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của nhà quản lý. Như vậy, các
thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và tin cậy
về thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ khách quan các nội dung chủ yếu của mọi
hoạt động kinh tế tài chính. Đối với ngân hàng thì ngồi thơng tin được cung cấp của
bộ máy kế tốn cịn có thơng tin về khách hàng như tình hình kinh doanh, tình hình tài
chính, tình hình về dự án đầu tư của khách hàng… do bộ phận quan hệ khách hàng
cung cấp, các thông tin này cần chính xác và tin cậy và được thẩm định xác minh
trước khi ban lãnh đạo đưa ra quyết định đầu tư hay cho vay.


Thứ ba, bảo đảm cho hoạt động của tổ chức tuân thủ pháp luật và các quy định,



quy trình nội bộ về quản lý và hoạt động, và các chuẩn mực đạo đức do tổ chức đặt ra.
Trong ngân hang thì hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế phải đảm bảo các quyết
định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động kinh doanh ngân hàng phải được tuân
thủ đúng mức. Cụ thể hệ thống kiểm soát nội bộ của một ngân hàng thương mại cần:



(17)

phải chấp hành pháp luật của nhà nước thì ban quản trị tối cao của ngân hàng thương
mại cũng yêu cầu phải tuân thủ các quy chế nội bộ.


Hai là ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm và gian lận
trong mọi hoạt động của ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng là kinh
doanh tiền tệ, do đó mọi hoạt động của từng nhân viên ngân hàng, từng bộ phận kinh
doanh cần tuân thủ triệt để quy trình nghiệp vụ nhằm đảm bảo an toàn cho tài sản của
ngân hàng và của khách hàng. Hệ thống kiểm soát nội bộ đóng vài trị chủ chốt trong
quản trị rủi ro. Như ta đã biết hệ thống kiểm sốt nội bộ khơng chỉ chú trọng tới cơng
tác hậu kiểm, tức là cơng tác kiểm tra, kiểm tốn nội bộ, tiến hành khi sự việc đã xảy
ra. Kiểm soát nội bộ mạnh phải ngăn chặn được sai phạm, dự báo và phịng ngừa rủi
ro chứ khơng đơn thuần là tìm ra ngun nhân. Do đó hệ thống kiểm soát nội bộ cần
phát hiện các sai phạm trong quá trình tác nghiệp, xử lý nghiệp vụ, thực hiện các quy
trình nghiệp vụ của các nhân viên ngân hàng như nghiệp vụ kho quỹ, tiền gửi có kỳ
hạn, chuyển tiền, thanh tốn quốc tế… và đề xuất các biện pháp xử lý các sai phạm
đó.


Ba là đảm bảo việc nghi chép kế tốn đầy đủ, chính xác cũng như việc lập báo
cáo tài chính trung thực và khách quan. Việc ghi chép kế tốn trong ngân hàng thương
mại do nhiều phịng thực hiện trên hệ thống phần mềm kế toán. Do đó số liệu trên sổ
kế tốn ngân hàng cần phải được kiểm soát cẩn thận đảm bảo trung thực và chính xác
vì nếu có sai sót sẽ ảnh hưởng rất lớn tới tài sản của khách hàng và từ đó làm giảm uy
tín của ngân hàng.



Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ đảm bảo mọi thành viên tuân thủ
nội quy, quy chế, quy trình mà ban giám đốc đã thiết lập, áp dụng cho từng lĩnh vực
hoạt động của ngân hàng cũng như các quy định của pháp luật trong những lĩnh vực
đó.


Thứ tƣ, đảm bảo hiệu quả hoạt động và năng lực quản lý. Các quá trình kiểm



(18)

nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực
trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó định kỳ các nhà quản lý thường đánh giá kết quả
hoạt động trong doanh nghiệp được thực hiện với cơ chế giám sát của hệ thống kiểm


soát nội bộ doanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng quản lý, điều hành của bộ máy
quản lý doanh nghiệp.



(19)

1.2 Ngân hàng thƣơng mại và hoạt động tín dụng trong ngân hàng thƣơng


mại



1.2.1 Khái niệm ngân hàng thƣơng mại



Ngân hàng thương mại được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở các nước trên thế
giới. Ở một số nước thì khái niệm này dùng để chỉ một tổ chức tài chính tiền tệ mà
hoạt động kinh doanh chủ yếu của nó là nhận tiền gửi từ các cá nhân hay tổ chức kinh
tế sau đó để cho các cá nhân hay tổ chức khác vay lại. Phạm vi hoạt động của các
ngân hàng thương mại có thể khơng được phép kinh doanh tổng hợp các dịch vụ khác
như đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ cho các nhóm ngành nghề riêng biệt. Trong khi
đó ở một số nước khác thì lại cho rằng ngân hàng thương mại là ngân hàng được phép
kinh doanh tổng hợp tất cả các dịch vụ ngân hàng.


Một cách tiếp cận khác lại cho thấy bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản
tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức


kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một Ngân hàng thương mại. Hay
ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch
vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh tốn và
thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế.



(20)

Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại: để thực hiện chức năng


kinh doanh tiền tệ, ngân hàng thương mại thực hiện tổng hợp nhiều hoạt động nghiệp
vụ, trong đó có thể chia thành 3 hoạt động nghiệp vụ chính, đó là: hoạt động nghiệp
vụ tài sản nợ (Nghiệp vụ tạo vốn), hoạt động nghiệp vụ tài sản có (Cho vay và đầu
tư), hoạt động trung gian (Dịch vụ ngân hàng).


Hoạt động nghiệp vụ tài sản nợ (Nghiệp vụ tạo vốn): đây là một trong hai


nghiệp vụ quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, Nghiệp vụ tài sản nợ của ngân
hàng thương mại là nghiệp vụ tạo vốn bằng nhiều hình thức khác nhau để tạo nguồn
vốn hoạt động cho ngân hàng. Các nguồn vốn của ngân hàng thương mại bao gồm:


Vốn tự có và coi nhƣ tự có: Nguồn vốn này của ngân hàng thương mại chiếm


tỷ trọng nhỏ trong tồn bộ nguồn vốn hoạt động nhưng nó lại có vai trị hết sức quan
trọng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại. Nguồn vốn này chính là cơ
sở để xác định lượng vốn được phép huy động, tỷ lệ được phép cho vay và khả năng
đảm bảo thanh toán của ngân hàng cho khách hàng. Nguồn vốn này có thể được cấp
từ Nhà nước (Ngân hàng thương mại quốc doanh) hoặc thu hút từ các cổ đơng đóng
góp (Ngân hàng thương mại cổ phần). Nguồn vốn này bao gồm vốn pháp định, các
quỹ dự trữ, quỹ phúc lợi, khen thưởng và lợi nhuận chưa chia.


Vốn huy động: Nguồn vốn này được các ngân hàng thương mại huy động từ




(21)

doanh nghiệp khi có các khoản thu và xác định được thời gian chi trả hoặc các khoản
tiền tích luỹ của doanh nghiệp. Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn quan trọng của ngân
hàng. Đặc điểm của loại tiền gửi này là người gửi tiền được ngân hàng giao cho một
quyển sổ tiết kiệm, sổ này coi như giấy chứng nhận có tiền gửi vào quỹ của ngân
hàng. Hai loại tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có tính chất ổn định trong thời
gian dài nên rất được các ngân hàng thương mại chú trọng và có biện pháp kích thích
bằng việc tạo ra các sản phẩm huy động với thời hạn và mức lãi suất huy động khác
nhau với nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất huy động càng cao.


Vốn vay: Ngân hàng có thể huy động vốn vay bằng cách vay ngắn, trung hoặc


dài hạn từ ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác hoặc nhận quỹ uỷ thác đầu tư của
các tổ chức tài trợ (chính phủ hay quốc tế) để cho vay ưu đãi đối với một số đối tượng
được lựa chọn.


Vốn huy động khác: Ngân hàng có thể huy động vốn bằng cách phát hành các


loại chứng khoán (kỳ phiếu, trái phiếu...) để huy động vốn từ dân cư hay tổ chức,
công ty nào đó.


Hoạt động nghiệp vụ tài sản có: hoạt động nghiệp vụ tài sản có là hoạt động


nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn của ngân hàng thương mại vào các hoạt động kinh


doanh chủ yếu sau:


Hoạt động cho vay: Là việc ngân hàng thương mại cho khách hàng vay một



(22)

Hoạt động đầu tƣ: bao gồm đầu tư chứng khoán và đầu tư liên doanh, liên



kết.


Hoạt động trung gian (Dịch vụ ngân hàng): trong hoạt động ngân hàng, các


dịch vụ ngân hàng được coi là các hoạt động nghiệp vụ bên thứ ba bên cạnh các hoạt
động nghiệp vụ có và các hoạt động nghiệp vụ nợ. Thông thường ngân hàng cung cấp
các dịch vụ trung gian như: hoạt động bảo lãnh (là việc ngân hàng cam kết trả thay
cho khách hàng trong trường hợp khách hàng khơng có khả năng thanh tốn hoặc
khơng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với bên yêu cầu bảo lãnh), hoạt động thanh toán,
kinh doanh ngoại hối, vàng bạc đá quý... , nhận uỷ thác ký gửi, hoạt động tư vấn đầu
tư, hoạt động đại lý kinh doanh chứng khoán.


Các hoạt động của ngân hàng thương mại có quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho nhau.
Trong đó hoạt động nghiệp vụ nợ là cơ sở để thực hiện hoạt động nghiệp vụ có. Hoạt
động nghiệp vụ có làm tăng khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại, góp phần
mở rộng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng do được tăng vốn dự trữ, tăng khả năng
huy động vốn. Trên cơ sở hoạt động nghiệp vụ tín dụng, các ngân hàng thương mại có
thể thực hiện được các hoạt động nghiệp vụ trung gian. Nếu thực hiện tốt hoạt động
nghiệp vụ trung gian thì ngân hàng thương mại có điều kiện tăng nguồn vốn vì hoạt
động nghiệp vụ trung gian vừa gần hoạt động nghiệp vụ có lại vừa gần hoạt động
nghiệp vụ nợ.


1.2.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại



1.2.2.1 Khái niệm tín dụng của ngân hàng thƣơng mại




(23)

dùng mà cịn có một phần tích luỹ để dự trữ. Trong xã hội bắt đầu xuất hiện mầm
mống của chế độ tư hữu về tư liệu lao động và của cải làm ra. Xã hội có sự phân chia
giàu nghèo và các giai cấp hình thành. Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất cùng với sự


phân công lao động xã hội là cơ sở cho sản xuất hàng hoá ra đời. Và những quan hệ
vay mượn đầu tiên chính là nguồn gốc sâu xa của các quan hệ tín dụng. Như vậy có
thể khẳng định tín dụng là một phạm trù kinh tế, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với
sự ra đời tồn tại và phát triển của của nền sản xuất và lưu thông hàng hố. Tín dụng ra
đời là một yếu tố khách quan của sự phát triển kinh tế xã hội.


Trong quá trình phát triển của nền kinh tế tất yếu xuất hiện quan hệ tín dụng
giữa các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. Sự luân chuyển dòng vốn giữa một bên
cần vốn và một bên có vốn nhàn rỗi đã xuất hiện quan hệ tín dụng. Tín dụng là một
trong những hoạt động quan trọng mang tính truyền thống và đem lại nguồn lợi nhuận
chủ yếu cho các ngân hàng thương mại. Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu kinh
tế, tín dụng được coi là một quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay và người
đi vay với điều kiện có hồn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định. Hay nói
một cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà
trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng (chuyển nhượng) một khối
lượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác với những ràng buộc
nhất định về số tiền hoàn trả (gốc và lãi), thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay
mượn và thu hồi... Việc hoàn trả được nợ gốc trong tín dụng có nghĩa là việc thực
hiện được giá trị hàng hố trên thị trường, cịn việc hồn trả được lãi vay trong tín
dụng là việc thực hiện được giá trị thặng dư trên thị trường. Trong quan hệ tín dụng
có hai đối tượng tham gia là ngân hàng cho vay và người đi vay tuân theo hai nguyên
tắc cơ bản:



(24)

tư các dự án. Mặt khác chính sự giám sát này còn giúp khách hàng sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn vay của mình.


Thứ hai tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn. Trong kinh tế thị
trường, tín dụng là giao dịch chuyển quyền sử dụng vốn đầu tư trong một thời kỳ nhất
định. Tiền vay phải được bảo đảm không bị giảm giá, nó phải được thu hồi đầy đủ và
có sinh lời. Nguyên tắc này đảm bảo cho sự phát triển kinh tế xã hội được ổn định,


các mối quan hệ của ngân hàng phát triển theo xu hướng an tồn và ổn định.


Như vậy, Tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng. Đó
là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong việc vay và cho vay giữa các ngân hàng, các tổ
chức tín dụng với các doanh nghiệp và cá nhân, được thực hiện theo ngun tắc hồn
trả và có lãi.


1.2.2.2 Phân loại hoạt động tín dụng



Trong nền kinh tế hiện đại, tín dụng ngân hàng có phạm vi hoạt động rộng lớn
và đa dạng, việc phân loại chỉ có tính chất tương đối. Trên cơ sở các căn cứ phân loại
khác nhau mà hình thành các hình thức tín dụng khác nhau.


Căn cứ vào thời hạn tín dụng


Tín dụng ngắn hạn: là các khoản cho vay mà thời hạn khơng q 12 tháng (1
năm). Mục đích là đáp ứng nhu cầu vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp về mua nguyên vật liệu, chi phí sản xuất hoặc nhu cầu
tiêu dùng, thanh tốn của cá nhân có giá trị nhỏ.


Tín dụng trung hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 12 tháng và không quá
60 tháng. Mục đích là vay vốn để sửa chữa, khơi phục, thay thế tài sản cố định hoặc
cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất, đổi mới quy trình cơng nghệ và xây dựng mới
những cơng trình loại nhỏ thời hạn thu hồi vốn nhanh.



(25)

Căn cứ vào mục đích tín dụng


Tín dụng cho sản xuất lưu thơng hàng hố: là loại tín dụng được cung cấp cho
các nhà sản xuất và kinh doanh hàng hố. Nó đáp ứng nhu cầu về vốn trong quá trình
sản xuất kinh doanh để dự trữ nguyên vật liệu, cho vay chi phí sản xuất hoặc đáp ứng


nhu cầu thiếu vốn trong quan hệ thanh tốn giữa các doanh nghiệp.


Tín dụng tiêu dùng: Cho vay đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua chịu hàng
hoá, xây dựng nhà ở hoặc các phương tiện cần thiết khác.


Phân loại theo tính chất bảo đảm


Tín dụng có bảo đảm: Là hình thức tín dụng đươc cấp phát trên cơ sở tài sản thể
chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba.


Tín dụng khơng có đảm bảo: Là hình thức tín dụng khơng cần có tài sản thế
chấp, cầm cố hay bảo lãnh mà dựa trên uy tín của khách hàng.


Phân loại theo đặc điểm luân chuyển vốn


Tín dụng vốn lưu động: là loại cho vay được cấp để bổ sung nguồn vốn lưu động
của các tổ chức kinh tế, tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất như mua nguyên vật
liệu, hàng hóa dự trữ, cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ
ngắn hạn. Cho vay vốn lưu động thường được sử dụng để bù đắp mức vốn lưu động
của doanh nghiệp.


Tín dụng vốn cố định: là loại cho vay được cấp để hình thành vốn cố định. Loại
cho vay này thường dùng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ
thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và cơng trình mới. Thời hạn cho vay
đối với loại cho vay này là trung và dài hạn.


Căn cứ vào mức độ rủi ro



(26)

tín dụng được phân thành: tín dụng lành mạnh, tín dụng có vấn đề, tín dụng q hạn
có khả năng thu hồi, tín dụng q hạn khó thu hồi. Tín dụng lành mạnh: là các khoản


tín dụng an tồn, có khả năng thu hồi vốn cao. Tín dụng có vấn đề: là những khoản tín
dụng đã q hạn với thời hạn ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản
đảm bảo có giá trị lớn. Tín dụng q hạn khó thu hồi: là những khoản tín dụng quá
hạn quá lâu, khả năng trả nợ kém, tài sản thế chấp bị giảm giá hoặc mất giá...


1.2.2.3 Quy trình tín dụng trong Ngân hàng thƣơng mại



Để giúp cho quá trình cho vay diễn ra thống nhất, khoa học, hạn chế phòng ngừa
rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần làm gia tăng doanh lợi, quy trình tín
dụng của ngân hàng thương mại làm lành mạnh công tác tín dụng, qui định rõ trách
nhiệm của từng thành viên trong tổ chức, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ, phối hợp
nhịp nhàng giữa các phòng ban. Quy trình cho vay được bắt đầu từ khi cán bộ tín
dụng tiếp nhận hồ sơ của khách hàng và kết thúc khi tất toán thanh lý hợp đồng tín
dụng theo sơ đồ 1.1.


Đồng thời, quy trình tín dụng thiết lập thủ tục hành chính, thiết kế thủ tục cho
vay phù hợp quy định của pháp luật, thích ứng từng nhóm khách hàng, từng loại vay,
tạo cơ sở kiểm sốt tiến trình cấp tín dụng, điều chỉnh chính sách cho vay phù hợp,
giúp cho nhà quản trị nhanh chóng xác định những khâu cơng việc cần điều chỉnh.


Quy trình cấp tín dụng tổng quát bao gồm các giai đoạn sau :


Một là lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng: cán bộ tín dụng nghiên cứu và thẩm định


hồ sơ vay vốn, tìm hiểu và phân tích về khách hàng như tư cách và năng lực pháp lý,
năng lực điều hành, năng lực quản lý sản xuất kinh doanh mơ hình tổ chức bố trí lao
động trong doanh nghiệp.Quy định về điều kiện vay vốn tính pháp lý của hồ sơ vay
vốn phải được tuân thủ theo quy định của luật các tổ chức tín dụng. Bên cạnh quy
định chung, ngân hàng còn đưa ra các quy định cụ thể phù hợp với đơn vị.



Hai là phân tích tín dụng: trên cơ sở hồ sơ đề nghị vay vốn từ giai đoạn 1chuyển



(27)

thời phân tích thẩm định dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, đánh giá khả
năng trả nợ của khách hàng và những rủi ro có thể xảy ra để phục vụ cho việc ra quyết
định cho vay hoặc từ chối cho vay.


Ba là quyết định tín dụng: Bộ phận có thẩm quyền ra quyết định cho vay hoặc từ


chối cho vay. Nếu đồng ý cho vay thì tiến hành các thủ tục pháp lý như ký hợp đồng
tín dụng để xác định số tiền vay, thời gian vay, tiến độ giải ngân, mức thu nợ hợp lý,
các điều kiện cho vay để đảm bảo an toàn và hiệu quả.


Bốn là giải ngân trên cơ sở đảm bảo đủ tờ trình giải ngân, bảng kê rút vốn vay,


sổ theo dõi tiền vay và chứng từ rút vốn vay, kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay phù
hợp với hợp đồng tín dụng, giải ngân phải đúng với tiến độ sử dụng vốn vay.


Năm là giám sát khoản vay: thu thập các thông tin từ nội bộ ngân hàng và báo



(28)

Khách hàng Cán bộ tín dụng (1) Hồ sơ xin vay


Cung cấp tiếp xúc khách hàng - Đơn xin vay


Thông tin tư vấn, hướng dẫn - Dự án, pa kd


(2)


Thu thập thông tin Thẩm định hồ sơ


Qua trao đổi, mua



Tự thu thập (3)


Cập nhật thông tin Quyết định cho vay


- Thị trường (4)


- Chính sách (5a)


- Pháp lý Thông báo Thực hiện QĐ vay


- Khách hàng - cho vay (5b)


- từ chối + lý do Ký HDTD


- thông báo khác (6)


Giải ngân


(7)


Tổ chức giám sát KH vay


(9a) (8)


Thu nợ Xử lý rủi ro


(9b) (12) (10b)


Thu đủ Thu không đủ Gia hạn nợ, đảo nợ



(10a) (12b) (14)


Thanh lý hợp đồng Xử lý tài sản kh


(11b



(29)

1.2.3 Hiệu quả của hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng trong ngân hàng


thƣơng mại



1.2.3.1 Hiệu quả và các tiêu chí phản ánh chất lƣợng của hoạt động tín


dụng



Hiệu quả của hoạt động tín dụng


Thứ nhất, hoạt động tín dụng có hiệu quả tạo điều kiện cho các ngân hàng đảm


bảo an toàn vốn và tài sản của mình cũng như của khách hàng đến gửi tiền tại ngân
hàng. Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của ngân hàng là bảo toàn và phát
triển vốn bởi ngân hàng là trung tâm tín dụng, trung tâm thanh tốn nên có đảm bảo
thu hồi được nợ thì mới đảm bảo thanh toán được tiền gửi cho các khách hàng.


Thứ hai, Hệ thống ngân hàng thơng qua hoạt động tín dụng ngân hàng có chức


năng tạo vốn bổ sung một cách đa dạng về thời hạn, về quy mô cũng như về phương
hướng khi tổng nguồn vốn hiện có khơng đáp ứng u cầu vay vốn của tồn bộ nền
kinh tế quốc dân và thực hiện đầy đủ chức năng, vai trò của ngân hàng thương mại.
Nếu hoạt động tín dụng khơng được coi trọng, xuất hiện rủi ro thì việc luân chuyển
vốn trong nền kinh tế sẽ trì trệ và ảnh hưởng chung đến tăng trưởng kinh tế. Đối với
ngân hàng thì nợ quá hạn phát sinh dẫn đến chi phí ngân hàng tăng và hiệu quả sử


dụng vốn ngân hàng sẽ giảm, lợi nhuận giảm.


Thứ ba, hoạt động tín dụng của ngân hàng có tác động mạnh mẽ đến chu kỳ


của quá trình tái sản xuất trên tầm vi mô cũng như trên tầm vĩ mô. Một mặt, người ta
sử dụng tín dụng ngân hàng để đảm bảo thực hiện quá trình tái sản xuất. Đồng thời,
người ta sử dụng tín dụng ngân hàng để điều chỉnh tính chu kỳ của q trình sản xuất
bằng việc điều tiết lượng tín dụng đối với từng doanh nghiệp cũng như đối với toàn
bộ nền kinh tế quốc dân nhằm đạt đến yêu cầu tăng trưởng cao nhưng bền vững.


Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng hoạt động tín dụng của ngân hàng
phải gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Khi nền



(30)

hồn chỉnh, chưa đồng bộ thì khả năng rủi ro trong hoạt động tín dụng lại càng lớn và
địi hỏi phải có biện pháp hữu hiệu nhằm kiểm sốt hoạt động này.


Các tiêu chí phản ánh chất lƣợng của hoạt động tín dụng


Chất lượng của hoạt động tín dụng thực chất là kết quả của việc thực hiện các
biện pháp nhằm ngăn chặn khả năng rủi ro xảy ra đối với hoạt động tín dụng. Có rất
nhiều chỉ tiêu phản ánh chất lượng của hoạt động tín dụng, Luận văn chỉ xin đề cập
đến một số chỉ tiêu chủ yếu hiện nay mà các ngân hàng thương mại thường sử dụng.
Đó là:


Nợ quá hạn: Nợ quá hạn là những khoản nợ mà khách hàng không trả được khi


đến hạn thanh toán đã thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Có thể nói đây là một
chỉ tiêu rộng rãi nhất để đánh giá kết quả hoạt động tín dụng của ngân hàng thương
mại. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả tín dụng của ngân hàng càng thấp, việc quản
lý hoạt động tín dụng của ngân hàng chưa tốt.



Tỷ lệ nợ quá hạn: nếu chỉ sử dụng chỉ tiêu nợ q hạn thơi thì chưa đủ để đánh


giá một cách đúng đắn hiệu quả tín dụng của ngân hàng. Ngồi chỉ tiêu số tuyệt đối,
người ta còn sử dụng chỉ tiêu số tương đối là tỷ lệ nợ quá hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ
lệ giữa nợ quá hạn và tổng số dư nợ hiện có của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn được
xác định như sau:


Tỷ lệ nợ quá hạn


Trong kỳ


=


Nợ quá hạn trong kỳ


Tổng dư nợ trong kỳ


X 100%



(31)

Tuy nhiên tỷ lệ này thấp và bằng 0 khơng có nghĩa là việc quản trị rủi ro tín
dụng của ngân hàng là tốt, mà số tiền rủi ro khi đó chính là tổng dư nợ hiện tại của
ngân hàng. Không phải những khoản vay chưa đến hạn thanh tốn là khơng có rủi ro,
vì thế ngồi hai chỉ tiêu định lượng trên người ta còn sử dụng chỉ tiêu định tính.


Các khoản tín dụng có vấn đề: là những khoản vay chưa đến hạn, chưa được


xem là nợ quá hạn nhưng trong quá trình theo dõi, ngân hàng phát hiện thấy khách
hàng có những dấu hiệu khơng trả được nợ .



Ngồi các chỉ tiêu trên, để đánh giá hiệu quả của hoạt động tín dụng cịn có thể
sử dụng các chỉ tiêu như: Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ ( theo Quyết định
493 thì nợ xấu là nợ nhóm 3,4,5, cịn nợ nhóm 1 là nợ thơng thường và nợ nhóm 2 là
nợ cần chú ý),Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn
thất, Nợ khơng có tài sản đảm bảo.


1.2.3.2 Rủi ro tín dụng trong ngân hàng thƣơng mại



Khái niệm rủi ro tín dụng



(32)

Rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả được nợ
hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay. Rủi ro tín dụng phát sinh
trong trường hợp Ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi của khoản vay hoặc là
việc thanh tốn gốc và lãi khơng đúng kỳ hạn so với thời gian đã ấn định trong hợp
đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức
là việc chi trả bị trì hỗn, hoặc tồi tệ hơn là khơng hồn trả được toàn bộ. Điều này
gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh
khoản của ngân hàng.


Theo quyết định 493/2005 QĐ- NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam thì: “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng


là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách
hàng khơng thực hiện hoặc khơng có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam
kết”.


Nếu coi tín dụng là việc “tin tưởng” mà đưa ra cho khách hàng sử dụng giá trị
hiện tại với mong muốn nhận được giá trị tương lai trong một thời gian nhất định thì
rủi ro tín dụng chính là khả năng mà mong muốn đó khơng được đáp ứng hay nói một
cách khác đó là khả năng xảy ra sự khác biệt không mong muốn giữa kết quả thực tế


và kết quả kỳ vọng theo kế hoạch- đúng hạn nhận được đầy đủ gốc và lãi. Với mục
tiêu đúng hạn theo hợp đồng tín dụng có thể hiểu được là những tổn thất tiềm năng có
thể xảy ra do các bên đối tác trong hợp đồng tín dụng khơng có khả năng hoặc khơng
có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ của họ một cách đầy đủ hoặc đúng hạn theo cam
kết. Như vậy rủi ro tín dụng là khả năng bên vay không trả, hoặc không trả đúng hạn
hoặc không trả đẩy đủ gốc và lãi cho ngân hàng.



(33)

nhưng tín dụng vẫn là nguồn thu chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản
của ngân hàng.


1.2.3.3 Phân loại rủi ro tín dụng và nguyên nhân rủi ro tín dụng



Phân loại rủi ro tín dụng


Rủi ro tín dụng chủ yếu là rủi ro về định giá bởi vì tín dụng tạo ra giá trị hiện tại
để đổi lấy giá trị tương lai. Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, có thể phân rủi ro tín
dụng thành nhiều loại khác nhau.


 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành
các loại sau đây :


Sơ đồ 1.2: Phân loại rủi ro tín dụng


Rủi ro giao dịch là hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do


hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro
giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến q trình đánh giá và phân
tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ ngân hàng); rủi ro bảo đảm (rủi
ro có liên quan đến các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo,
chủ thể đảm bảo ...); rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay


và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật
xử lý các khoản vay có vấn đề.


Rủ i ro tín
dụ ng


Rủ i ro giao
dị ch


Rủ i ro danh mụ c


Rủ i ro
Lựa chọ n


Rủ i ro
Bả o đ ả m


Rủ i ro
Nghiệ p vụ


Rủ i ro
Nộ i tạ i



(34)

Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế


trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng của ngân hàng, được phân thành rủi ro
nội tại (xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh
vực kinh tế) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào
một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định
hoặc cùng một loại cho vay có rủi ro cao).



 Căn cứ vào thời hạn khoản vay


Theo cách phân loại này thì rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro theo khoản vay ngắn
hạn và rủi ro theo khoản vay trung, dài hạn.


Ngoài ra cịn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại theo cơ cấu các loại
hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay.


Nguyên nhân của rủi ro tín dụng


Các ngân hàng khi cho vay luôn phải đối mặt với rủi ro. Với khả năng cho vay,
các ngân hàng thương mại thúc đẩy quá trình đầu tư, sản xuất và lưu thơng hàng hóa,
do đó góp một ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế và đối với các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để xác định nguyên nhân gây ra rủi ro, cần tập trung vào một số nguyên


nhân sau:


 Nguyên nhân từ ngồi ngân hàng


Rủi ro tín dụng từ phía người vay là một trong những loại rủi ro thường đem lại
tổn thất nhiều nhất cho ngân hàng. Các nguyên nhân dẫn đến việc khách hàng không
trả được nợ cho ngân hàng có rất nhiều, có thể sắp xếp theo hai nhóm như sau:


Nhóm nguyên nhân khách quan, là những tác động bên ngoài đến khách hàng



(35)

Rủi ro do môi trường kinh tế không thuận lợi là sự biến động q nhanh khơng
dự đốn được của thị trường thế giới là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của người đi vay. Nền kinh tế Việt nam vẫn cịn phụ thuộc
rất lớn vào sản xuất nơng nghiệp và công nghiệp (nuôi trồng chế biến thực phẩm và


nguyên liệu), dầu thô, may gia công... vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả
thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu. Q trình tự do
hố tài chính, hội nhập quốc tế cũng dẫn đến những hệ quả tất yếu làm cho nợ xấu gia
tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp,
những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và
quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh
giữa các NHTM trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến
cho các ngân hàng trong nước gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên do các khách
hàng tiềm lực tài chính lớn đã bị các ngân hàng nước ngoài thu hút bằng các sản
phẩm, dịch vụ mới với nhiều tiện ích hơn.


Sự tấn công của hàng nhập lậu làm điêu đứng các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh trong nước và các ngân hàng đầu tư vốn vào các doanh nghiệp này. Sự tràn lan
của hàng nhập lậu tại các thành phố lớn với các mặt hàng kim khí điện máy, gạch
men, đường cát, vải, quần áo, mỹ phẩm…là những ví dụ tiêu biểu cho tình hình hàng
lậu ở nước ta.


Ngoài ra, sự thiếu quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý, công khai đã dẫn
đến khủng hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành. Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ
dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư
và sẽ rời bỏ lại những ngành không mang lại lợi nhuận, và do đó dẫn đến sự chuyển
dịch vốn từ ngành này sang ngành khác. Nếu để sự cạnh tranh phát triển một cách tự
phát mà khơng có sự điều tiết vĩ mơ của Nhà nước sẽ dẫn đến sự gia tăng quá đáng
vốn đầu tư ở một số ngành, gây khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia.



(36)

tín dụng ngân hàng. Song, việc triển khai vào hoạt động ngân hàng vẫn còn chậm và
gặp phải nhiều vướng mắc. Như việc cưỡng chế tài sản thu hồi nợ, mặc dù các văn
bản luật đều có quy định: Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có
quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay, nhưng trên thực tế các NHTM không làm được
điều này vì ngân hàng là tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước,


khơng có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân
hàng để xử lý hoặc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để toà án xử lý theo con đường tố
tụng…Hoạt động thanh tra ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống từ NHNN cũng
cần phải luôn cải thiện, nâng cao chất lượng và nhất là nắm bắt kịp tốc độ cải tiến
công nghệ mới của các NHTM hiện nay. Việc thanh tra tại chỗ là phương pháp quản
lý nhanh nhất và hiệu quả nhất nhằm phát hiện xử lý kịp thời những rủi ro trong hoạt
động tín dụng của các NHTM. Nếu thanh tra ngân hàng chỉ hoạt động một cách thụ
động, khơng cảnh báo và có biện pháp ngăn chặn ngay từ đầu, để khi hậu quả nặng nề
xảy ra rồi mới can thiệp thì rủi ro và nguy cơ đe dọa sự an toàn trong hệ thống là rất
lớn. Hệ thống thơng tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN đã hoạt động tương đối
hiệu quả và đã đạt được bước đầu khả quan. Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải là một cơ
quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập, thơng tin cung cấp cịn đơn
điệu, thậm chí cập nhật không kịp thời, chưa đáp ứng được yêu cầu tra cứu thơng tin
của các NHTM.


Nhóm ngun nhân chủ quan, là nguyên nhân nội tại của mỗi khách hàng. Trước



(37)

phó với ngân hàng như cung cấp sai thông tin bao gồm thông tin về doanh nghiệp, về
mặt hàng kinh doanh, khả năng trả nợ, làm khả năng đánh giá của cán bộ ngân hàng


khơng chính xác.


 Ngun nhân từ phía ngân hàng


Nguyên nhân đầu tiên thuộc về ngân hàng phải kể đến là việc không chấp hành
nghiêm túc chế độ tín dụng và điều kiện cho vay. Nguyên nhân thứ hai về phía ngân
hàng là chính sách tín dụng và quy trình cho vay còn lỏng lẻo, chưa chú trọng đến
phân tích khách hàng để tính tốn điều kiện và khả năng trả nợ hoặc phương pháp
xem xét phân tích cịn hạn chế chưa chính xác.



Những quy trình trong nghiệp vụ tín dụng có thể dẫn đến những rủi ro sau:




Sơ đồ 1.3: Những rủi ro xảy ra do sai lầm trong quy trình cho vay.


Xét duyệt Vượt mức, sai quy định


Lập hồ sơ tín dụng Thơng tin khơng chính xác


Giải ngân Vượt mức cho phép, không đủ căn cứ chứng minh mục đích sử


dụng vốn


Theo dõi nợ Khơng xác định được hàng hố, vật tư hình thành từ vốn vay


Thu hồi nợ Hàng hố, vật tư hình thành bằng vốn vay đã bị bán hoặc không


tiêu thụ đ ượ c



(38)

Nguyên nhân thứ ba là kỹ thuật cấp tín dụng chưa hiện đại, chưa đa dạng như
việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù
hợp, chủ yếu là tín dụng trực tiếp. Nguyên nhân thứ tư là thiếu thông tin về khách
hàng hay thiếu thơng tin tín dụng tin cậy, kịp thời, chính xác để xem xét, phân tích
trước khi cấp tín dụng. Nguyên nhân nữa phải kể đến đó là năng lực và phẩm chất cán
bộ tín dụng và vấn đề quản lý sử dụng, đãi ngộ của cán bộ ngân hàng. Vấn đề con
người cũng cần chú trọng nâng cao tinh thần đạo đức và trình độ chun mơn nghiệp
vụ. Tình trạng một số cán bộ tín dụng tiếp tay với khách hàng làm giả hồ sơ vay, nâng
giá tài sản thế chấp, cầm cố quá cao so với thực tế để rút tiền ngân hàng đã tồn tại trên
thực tế và để lại những hậu quả nghiêm trọng, gây ảnh hưởng rất lớn đến uy tín ngân



hàng.


Hiện nay, cơng tác quản trị rủi ro tín dụng có vai trị cực kỳ quan trọng đối với
các ngân hàng nói riêng và cả hệ thống tài chính nói chung. Việc đánh giá, thẩm định
và quản lý tốt các khoản cho vay, các khoản dự định giải ngân sẽ hạn chế những rủi ro
tín dụng mà ngân hàng sẽ gặp phải, và tất yếu sẽ giảm bớt nợ xấu cho Ngân hàng.



(39)

1.3 Đặc điểm hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm soát hoạt động tín


dụng ở ngân hàng thƣơng mại



1.3.1 Mơi trƣờng kiểm sốt



Mơi trƣờng kiểm sốt: là những yếu tố của tổ chức ảnh hưởng đến hoạt động


của hệ thống kiểm soát nội bộ và là các yếu tố tạo ra một mơi trường trong đó tồn bộ
thành viên của tổ chức có nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội
bộ hay không. Môi trường kiểm soát bao gồm các nhân tố bên trong và bên ngồi
ngân hàng có tính chất mơi trường tác động đến việc thiết kế, vận hành và xử lý dữ
liệu của hệ thống kiểm sốt nội bộ.


Mơi trường kiểm soát chung được hiểu là các nhân tố xung quanh tác động đến
sự hữu hiệu của các chính sách, thủ tục kiểm soát của ngân hàng như đặc thù quản lý,


cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, cơng tác kế hoạch, ủy ban kiểm sốt.


Một là, đặc thù về quản lý: Các đặc thù về quản lý đề cập tới các quan điểm



(40)

quả. Trong hoạt động tín dụng, nếu chủ trương của Ban giám đốc là cho vay an toàn
và hiệu quả thì các chính sách và quy trình cho vay sẽ chặt chẽ để đảm bảo thu hồi


được nợ gốc và lãi khi đáo hạn. Và ngược lại nếu Ban giám đốc muốn tăng dư nợ tín
dụng thì chế độ và chính sách cho vay nới lỏng hơn, hiệu quả tín dụng khơng cao có
thể gây rủi ro tổn thất cho ngân hàng.


Hai là, cơ cấu tổ chức: cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý sẽ tạo điều kiện


cho môi trường kiểm soát tốt hơn. Một cơ cấu tổ chức hợp lý từ trên xuống dưới đảm
bảo cho việc ban hành các quyết định, triển khai các quyết định cũng như việc kiểm
tra, giám sát việc thực hiện các quyết định đó trong tồn bộ ngân hàng. Ngồi ra các
hành vi gian lận và sai sót trong hoạt động tài chính kế tốn của ngân hàng cũng được
ngăn ngừa có hiệu quả. Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải được thiết lập để kiểm soát
được toàn bộ hoạt động của ngân hàng và thực hiện sự phân chia chức năng quyền
hạn giữa các bộ phận không bị chồng chéo hay bỏ trống, tạo khả năng kiểm tra kiểm
soát lẫn nhau trong từng bước cơng việc cụ thể. Đối với hoạt động tín dụng, một bộ
máy hoạt động tốt phải đảm bảo được sự phân tách nhiệm vụ giữa người đề xuất tín
dụng, người thẩm định, phê duyệt tín dụng và người quản trị tín dụng. Một người
không được đảm trách một giao dịch từ đầu đến cuối, đảm bảo sự độc lập tương đối
và tránh chồng chéo công việc giữa các bộ phận. Để thiết lập một cơ cấu tổ chức tín
dụng thích hợp và hiệu quả, các nhà quản lý phải tuân thủ các nguyên tắc sau:


Thiết lập được sự điều hành và sự kiểm soát các hoạt động trước, trong và sau
khi cho vay trên toàn bộ hoạt động tín dụng.



(41)

Đảm bảo sự độc lập tương đối giữa các bộ phận nhằm đạt được hiệu quả cao
nhất trong hoạt động của các bộ phận chức năng.


Ba là, chính sách nhân sự: Sự phát triển của mọi doanh nghiệp luôn gắn liền


với đội ngũ nhân viên và họ luôn là nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát
cũng như chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của ngân


hàng. Nếu nhân viên có năng lực và tin cậy nhiều q trình kiểm sốt có thể khơng
cần thực hiện mà vẫn đảm bảo được các mục tiêu đề ra của kiểm sốt nội bộ. Bên
cạnh đó mặc dù ngân hàng có thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục kiểm sốt
chặt chẽ nhưng với đội ngũ nhân viên kém năng lực trong công việc và thiếu trung
thực về phẩm chất đạo đức thì hệ thống kiểm sốt nội bộ khơng thể phát huy được
hiệu quả. Do vậy các nhà quản lý cần có những chính sách cụ thể rõ rang về tuyển
dụng, đào tạo, sắp xếp, khen thưởng, kỷ luật nhân viên cho phù hợp.


Bốn là, công tác kế hoạch: hệ thống kế hoạch và dự toán bao gồm các kế hoạch


về tình hình tài chính của ngân hàng như dự thu dự chi, kế hoạch huy động vốn và sử
dụng vốn, kế hoạch dư nợ tín dụng… là những yếu tố rất quan trọng trong mơi trường
kiểm sốt. Nếu việc lập và thực hiện kế hoạch được tiến hành khoa học và nghiêm túc
thì hệ thống kế hoạch và dự tốn đó sẽ trở thành cơng cụ kiểm sốt rất hữu hiệu. Vì
vậy đối với hoạt động tín dụng thì các nhà quản lý thường quan tâm xem xét tiến độ
thực hiện kế hoạch dư nợ như thế nào, theo dõi những biến động của nền kinh tế, tốc
độ tăng hay giảm của nguồn vốn huy động được để từ đó có những điều chỉnh kịp
thời cho phù hợp với kế hoạch của cả hệ thống.


Năm là, Ủy ban kiểm soát: Ủy ban kiểm soát bao gồm những người trong bộ



(42)

Mơi trƣờng bên ngồi: Mơi trường kiểm soát chung của một ngân hàng còn


phụ thuộc vào các nhân tố bên ngoài. Các nhân tố này tuy khơng thuộc sự kiểm sốt
của các nhà quản lý nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành
của họ cũng như sự thiết kế và vận hành các quy chế và thủ tục kiểm soát nội bộ.
Thuộc nhóm các nhân tố này bao gồm sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của
nhà nước, ảnh hưởng của các chủ nợ, môi trường pháp lý, đường lối phát triển của đất
nước. Ngoài ra, những tiến bộ công nghệ làm thay đổi quy trình vận hành; thói quen
của người tiêu dùng về các sản phẩm/dịch vụ; xuất hiện yếu tố cạnh tranh không


mong muốn ảnh hưởng đến giá cả và thị phần; đạo luật hay chính sách mới...Các yếu
tố này tuy không thuộc sự kiểm sốt của các nhà quản lý nhưng lại có sự ảnh hưởng
rất lớn đến phong cách làm việc điều hành của nhà quản lý cũng như việc thiết kế vận
hành của hệ thống kiểm soát nội bộ. Để tránh bị thiệt hại do các tác động từ yếu tố
bên trong lẫn bên ngoài, cần thường xuyên xác định mức độ rủi ro hiện hữu và tiềm
ẩn, phân tích ảnh hưởng của chúng, kể cả tần suất xuất hiện, từ đó vạch ra các biện
pháp quản lý và giảm thiểu tác hại của chúng.


Môi trường kiểm soát đặt ra nền tảng ý thức của ngân hàng và có tác động đến ý
thức kiểm soát của cán bộ nhân viên trong ngân hàng. Môi trường kiểm soát cũng
phản ánh phần nào văn hóa của một ngân hàng. Mơi trường kiểm soát là nền tảng cho
các cấu phần khác trong hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng nhằm xây dựng
những nguyên tắc và cơ cấu hoạt động phù hợp. Một mơi trường kiểm sốt hiệu quả
phải đạt được các yêu cầu sau:


Tính chính trực và những giá trị đạo đức phải được nhận thức rõ trong ngân hàng


Năng lực chuyên môn của cán bộ nhân viên của ngân hàng


Sự hiện hữu và chất lượng của hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán


Cơ cấu tổ chức, công tác phân công quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng thống nhất



(43)

1.3.2 Hệ thống kế toán



Đối với bất kỳ một ngân hàng nào thì hệ thống kế tốn là hệ thống thông tin
chủ yếu và quan trọng nhất bao gồm hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán
và hệ thống bảng tổng hợp, cân đối kế tốn. Trong đó, q trình lập và ln chuyển
chứng từ đóng vai trị quan trọng trong cơng tác kiểm soát nội bộ của ngân hàng. Hệ
thống kế toán của ngân hàng được thiết lập nhằm mục đích là nhận biết, thu thập,


phân loại, ghi sổ và báo cáo nghiệp vụ kinh tế tài chính của tổ chức đó phục vụ chức
năng thông tin cho nhà quản lý và cơng tác kiểm tra của hoạt động kế tốn. Hệ thống
kế toán của ngân hàng thương mại gồm:


Thứ nhất, hệ thống chứng từ kế toán đây là cơ sở pháp lý về nghiệp vụ kinh tế


phát sinh đảm bảo an toàn trong hoạt động quản lý và giám sát tài sản của ngân hàng.


Thứ hai, hệ thống sổ sách kế tốn có chức năng kiểm tra đối chiếu để đảm bảo


sự chính xác đầy đủ theo quy trình ghi chép vào các tài khoản liên quan.


Thứ ba, hệ thống báo cáo tài chính cung cấp thông tin tổng hợp một cách trung


thực đáng tin cậy, chính xác kịp thời giúp cho việc thực hiện kiểm sốt một cách có
hiệu quả.



(44)

ghi vào sổ phải được tổng cộng và chuyển sổ đúng đắn, tổng hợp chính xác trên báo
cáo tài chính của đơn vị


Hệ thống kế toán của ngân hàng thương mại là một bộ phận không thể thiếu
trong hệ thống kiểm sốt nội bộ. Sự kiểm sốt chỉ có thể thực hiện nếu các thông tin
trung thực đáng tin cậy, chính xác và kịp thời. Thông qua việc quan sát, đối chiếu,
tính tốn và ghi chép các giao dịch phát sinh, hệ thống kế tốn khơng những cung cấp
thơng tin cho các cấp quản lý ra quyết định mà còn có tác dụng kiểm sốt nhiều mặt
hoạt động của ngân hàng.


Ngày nay, hầu hết các ngân hàng thương mại xử lý dữ liệu thông qua hệ thống
ứng dụng công nghệ thông tin là phần mềm tin học. Hệ thống này chịu trách nhiệm
ghi nhận, xử lý tất cả các thông tin thành dạng dữ liệu để cung cấp cho nhà quản trị và


được nối mạng với nhau để đảm bảo số liệu được trung thực và đáng tin cậy. Các
Ngân hàng quy định trách nhiệm rõ ràng của người thực hiện và người kiểm soát trên
phần mềm để đảm bảo rằng tất cả các nhân viên đều nắm rõ các chính sách và thủ tục
ảnh hưởng đến quyền lợi và trách nhiệm của mình.



(45)

1.3.3 Các thủ tục kiểm soát



Các thủ tục kiểm soát do ban lãnh đạo ngân hàng xây dựng nhằm đạt được mục
tiêu quản lý cụ thể trong từng hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuỳ từng lĩnh vực
hoạt động của ngân hàng mà thủ tục kiểm soát được tiến hành khác nhau. Tuy nhiên,
dù thủ tục kiểm sốt có khác nhau thì vẫn phải đảm bảo một số nguyên tắc cơ bản như
nguyên tắc phân công, phân nhiệm; nguyên tắc bất kiêm nhiệm và nguyên tắc uỷ
quyền và phê chuẩn. Hoạt động kiểm soát của ngân hàng, do đó, sẽ được phân loại
như sau:


Kiểm soát quản lý là việc kiểm soát các hoạt động riêng lẻ của ngân hàng, do


nhân viên độc lập với người thực hiện hoạt động đó tiến hành. Kiểm soát quản lý diễn
ra thường xuyên và là hoạt động quan trọng nhất trong cơ chế kiểm soát nội bộ của


ngân hàng.


Kiểm soát xử lý được đặt ra để kiểm tra việc xử lý các giao dịch, tức là kiểm tra


lại những công việc mà nhân viên ngân hàng đã thực hiện và đã được cơng nhận, cho
phép, phân loại, tính tốn, ghi chép và tổng hợp trong báo cáo.


Kiểm soát để bảo vệ tài sản là các biện pháp, quy chế kiểm sốt nhằm đảm bảo


sự an tồn của tài sản và thông tin trong ngân hàng. Kiểm soát tổng quát là sự kiểm


soát tổng thể đối với tất cả các hoat động và giao dịch diễn ra trong ngân hàng.



(46)

này được thiết lập dựa trên ba nguyên tắc: nguyên tắc phân công phân nhiệm rõ ràng,
nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn.


Nguyên tắc phân công phân nhiệm: yêu cầu trách nhiệm và công việc cần


được phân chia cụ thể cho nhiều bộ phận và cho người trong bộ phận. Việc phân công
phân nhiệm rõ ràng tạo sự chuyên môn hóa trong hệ thống, sai sót ít xảy ra và khi xảy
ra thường dễ phát hiện do có sự kiểm tra chéo. Khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng
khơng phải chỉ riêng lẻ các các nhân viên tín dụng thực hiện mà đó là sự phối hợp
nhịp nhàng của các bộ phận tham gia nhằm kiểm soát chéo lẫn nhau, việc phân chia
trách nhiệm nhằm giảm bớt các sai sót cũng như các hành vi gian lận đồng thời tạo
cho nhân viên khơng có cơ hội làm sai quy định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
của mình.


Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: nguyên tắc này quy định sự cách ly thích hợp về


trách nhiệm trong các nghiệp vụ có liên quan nhằm ngăn ngừa sai phạm và hành vi
lạm dụng quyền hạn. Để kiểm sốt hoạt động tín dụng cần tách biệt người thực hiện
cấp tín dụng, người kiểm sốt và người phê duyệt, bộ phận thẩm định và bộ phận cấp
tín dụng và bộ phận quản lý giải ngân, thu hồi nợ.


Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn: theo sự ủy quyền của các nhà quản lý,



(47)

vay phải giao cho một người có vị trí tương xứng với bản chất và ý nghĩa của nghiệp
vụ tín dụng. Mức cấp tín dụng được xác định và ủy quyền theo từng cấp. Nguyên tắc
này tạo tính chủ động và sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của các cấp lãnh đạo, phù hợp
với năng lực và trình độ của người được ủy quyền, đảm bảo hiệu quả an tồn tín dụng,
tn thủ đúng quy trình đánh giá thẩm định, phê duyệt tín dụng.



Các thủ tục kiểm sốt trong hoạt động tín dụng chủ yếu bao gồm: lập, so


sánh, soát xét các số liệu phê chuẩn tài liệu liên quan đến hợp đồng tín dụng, kiểm tra
tính chính xác của các số liệu tính tốn đã qua q trình thẩm định, kiểm tra số liệu
giữa sổ kế tốn tổng hợp và sổ chi tiết mỗi khi có sự thay đổi dữ liệu trong hạch toán
dữ liệu tín dụng (gốc và lãi đến hạn phải thu, giải ngân, thu nợ gốc và lãi, xuất nhập
giá trị tài sản đảm bảo), so sánh đối chiếu kết quả kiểm kê thực tế với số liệu trên sổ
kế toán ( thủ tục này thường được tiến hành với khoản vay có đảm bảo bằng tài sản),
yêu cầu báo cáo định kỳ và phân tích so sánh giữa số liệu tính tốn thực tế với dự tốn
kế hoạch.


1.3.4 Kiểm toán nội bộ




(48)

Hoạt động kiểm toán nội bộ được thực hiện sau khi nghiệp vụ kinh doanh đã xảy
ra. Vì vậy cơng việc của kiểm toán nội bộ là kiểm tra lại một cách có hệ thống và độc
lập nhằm phát hiện các sai sót, dự kiến các nguy cơ phát sinh sai lệch có tính hệ
thống, cảnh báo và ngăn ngừa rủi ro trong doanh nghiệp. Kiểm toán nội bộ cũng xem
xét việc tuân thủ luật pháp, các quy định chính sách quản lý của đơn vị, đánh giá tính
hiệu quả các hoạt động qua đó phát hiện những sơ hở yếu kém trong hoạt động và đưa
ra các đề xuất, tư vấn giải pháp cho lãnh đạo đơn vị. Để thực hiện vai trị của mình
kiểm tốn nội bộ có chức năng chủ yếu là kiểm tra, xác nhận và tư vấn.


Kiểm toán nột bộ là một nhân tố cơ bản của hệ thống kiểm sốt nội bộ bởi nó
đánh giá một cách độc lập về sự phù hợp và sự tuân thủ các hoạt động kiểm soát được
thiết lập. Kiểm toán nội bộ thường được tổ chức thành một bộ phận độc lập trực thuộc
cấp quản trị cao nhất. Là một trong những nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát
nội bộ, bộ phận kiểm toán nội bộ quan sát và đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt
động của ngân hàng bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế và vận hành các chính
sách và thủ tục về kiểm soát nội bộ.



Kiểm tốn nội bộ được tn thủ theo một trình tự thống nhất bồm bốn bước cơ bản


sau:


Lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế phƣơng pháp kiểm toán : Đây là bước
chuẩn bị mọi nguồn lực, mọi yếu tố cần thiết cho cuộc kiểm toán. Bước này bao gồm
các công việc: xác định mục tiêu nội dung phạm vi và thời gian tiến hành kiểm tốn,
xác định quy mơ cuộc kiểm tốn: phương pháp cách thức tiến hành kiểm toán, biện
pháp tổ chức thực hiện, tổ chức nhân lực kiểm tốn, thu thập các thơng tin về tình
hình hoạt động của đơn vị, bộ phận được kiểm tốn và lập chương trình kiểm tốn
trong đó liệt kê các thơng tin cần phải kiểm tra trong q trình kiểm tốn.


Thực hiện kiểm toán: thực hiện kiểm tốn là q trình áp dụng các phương



(49)

bao gồm các nội dung sau: xem xét việc thực hiện các chính sách, quy định trong thực
tế hoạt động của đơn vị để đưa ra sự đánh giá về kết quả, hiệu quả công tác xây dựng


và duy trì hệ thống kiểm sốt nội bộ nhằm đảm bảo một cơ cấu kiểm soát nội bộ hiệu
quả hợp lý tại đơn vị; đánh giá khả năng sai sót nhầm lẫn, gian lận đối với từng loại
nghiệp vụ từng hoạt động kinh tế; đánh giá tính trọng yếu và rủi ro của các nghiệp vụ


phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, thực hiện các phân tích, khảo sát các khoản mục
chính, khảo sát bổ sung các chi tiết, xem xét các sự kiện tiếp sau.


Kết thúc kiểm toán: Sau khi kết thúc một cuộc kiểm toán, kiểm toán viên nội


bộ phải lập báo cáo kiểm tốn. Báo cáo kiểm tốn phải trình bày đầy đủ nội dung và
kết quả kiểm toán theo mục tiêu, yêu cầu đã đề ra cho cuộc kiểm toán. Báo cáo kiểm
toán đề xuất kiến nghị các biện pháp xử lý các sai sót và gian lận, các giải pháp cần


thiết để hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động
quản lý điều hành của đơn vị.


Theo dõi sau kiểm toán và đánh giá công việc kiểm toán: là khâu đặc thù



(50)

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SỐT NỘI


BỘ VỚI KIỂM SỐT HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI



VIETCOMBANK THÀNH CÔNG



2.1 Khái quát về ngân hàng ngoại thƣơng Việt Nam, Chi nhánh ngân hàng


Ngoại thƣơng Thành Cơng (VietCombank Thành Cơng) và hoạt động tín


dụng của VietCombank Thành Công



2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển



Ngày 01 tháng 04 năm 1963, NHNT chính thức được thành lập theo Quyết
định số 115/CP do Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 10 năm 1962 trên cơ
sở tách ra từ Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Trung ương (nay là
NHNN). Theo Quyết định nói trên, NHNT đóng vai trị là ngân hàng chun doanh
đầu tiên và duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó hoạt động trong lĩnh vực kinh tế
đối ngoại bao gồm cho vay tài trợ xuất nhập khẩu và các dịch vụ kinh tế đối ngoại
khác (vận tải, bảo hiểm...), thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, quản lý vốn
ngoại tệ gửi tại các ngân hàng nước ngoài, làm đại lý cho Chính phủ trong các quan
hệ thanh tốn, vay nợ, viện trợ với các nước xã hội chủ nghĩa (cũ)... Ngồi ra, NHNT
cịn tham mưu cho Ban lãnh đạo NHNN về các chính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc,
quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà nước và về quan hệ với Ngân hàng Trung ương các
nước, các Tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế.


Ngày 21 tháng 09 năm 1996, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ,


Thống đốc NHNN đã ký Quyết định số 286/QĐ-NH5 về việc thành lập lại NHNT


theo mơ hình Tổng công ty 90, 91 được quy định tại Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày
07 tháng 03 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ, với tên giao dịch quốc tế: Bank for
Foreign Trade of Viet Nam, tên viết tắt là Vietcombank.



(51)

con trực thuộc trên toàn quốc; 2 Văn phịng đại diện và 1 Cơng ty con tại nước ngồi.
Ngồi ra, NHNT cịn tham gia góp vốn, liên doanh liên kết với các đơn vị trong và
ngoài nước trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như kinh doanh bảo hiểm, bất
động sản, quỹ đầu tư... Tổng tài sản của NHNT tại thời điểm cuối năm 2009 lên hơn
255 nghìn tỷ VND, tổng dư nợ đạt gần 137 nghìn tỷ VND.


Hiện tại ngân hàng ngoại thương gồm Hội sở chính và 70 chi nhánh ( trong đó
có 5 chi nhánh chưa khai trương hoạt động) và 248 phòng giao dịch, so với cuối năm
2008 thành lập thêm 7 chi nhánh và tăng thêm 40 phịng giao dịch. Ngồi những chi
nhánh đã mở thêm và đi vào hoạt động ngân hàng cũng đang hoàn thiện đề án thành
lập 05 chi nhánh mới tại Thanh hóa, Bạc liêu, Vĩnh long, Việt trì và chi nhánh phục
vụ khách hàng đặc biệt.


Năm 2009 ngân hàng Ngoại thương đã hoàn thành các thủ tục bổ nhiệm và bổ
nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động trên 428 vị trí nhân sự điều hành tại hội sở chính và
chi nhánh, tuyển dụng mới 74 nhân sự bổ sung kịp thời cho các phòng tại hội sở
chính. Tại chi nhánh việc tuyển dụng cũng thường xuyên được quan tâm với tinh thần
nguồn lực luôn là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nhân
sự hiện đang làm việc trong toàn hệ thống đạt xấp xỉ 10.000 cán bộ. Trong năm 2009
ngân hàng ngoại thương đã tổ chức nhiều khóa tập huấn, đã cử cán bộ tham gia các
khóa học trong và ngồi nước với tổng số trên 1800 lượt người được đào tạo ngắn
hạn, 23 cán bộ được đào tạo dài hạn.


Nguồn lực cơng nghệ




(52)

+ Hồn thành đề án EMV, đây là thành công đưa ngân hàng ngoại thương trở
thành ngân hàng trong nước đầu tiên hoàn thành việc đạt chuẩn EMV cho cả phát
hành và thanh toán thẻ tín dụng.


+ Nâng cấp dịch vụ Internet Banking với những tính năng mới như cho phép
khách hàng chuyển khoản thanh tốn hóa đơn, thanh tốn bill trên dịch vụ này


+ Hoàn thành việc kiểm tra rà soát các lỗ hổng bảo mật


+ Phát triển các tiện ích nhằm mục đích giảm thiểu các thao tác tác nghiệp
nâng cao khả năng kiểm soát rủi ro của các bộ phận nghiệp vụ.


+ Triển khai hệ thống cho trung tâm dịch vụ khách hàng- dịch vụ Phone


Banking


Chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương Thành Công (VietComBank Thành Công)
được thành lập ngày 21/12/2001 trên cơ sở Chi nhánh cấp hai trực thuộc Chi nhánh
Ngân hàng Ngoại Thương Hà Nội theo Quyết định số 525/QĐ/TCCB – ĐT của Chủ
tịch Hội Đồng Quản trị Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam. Ngân hàng ngoại thương
Thành Công được thành lập đã tạo yếu tố thuận lợi về khoảng cách địa lý giữa Ngân
hàng với doanh nghiệp và dân cư đô thị mới, tránh phải trải qua nhiều khâu, nhiều cấp
trung gian, gây chậm trễ ách tắc cho khách hàng trong các lĩnh vực hoạt động nghiệp
vụ, nhất là khâu thanh tốn, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng.



(53)

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của VietComBank Thành Công.



Chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương Thành Công (VietComBank Thành Công)
là một Doanh nghiệp Nhà nước có tính độc lập, có con dấu riêng, có quyền tổ chức và


ra các quyết định quản lý, kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật và điều lệ hoạt động
của Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.


VietComBank Thành Cơng có trụ sở chính tại số 30 – 32 Láng Hạ - Đống Đa –
Hà Nội. Đến ngày 31/12/2008 VietComBank Thành Công hiện có 142 cán bộ, cơng
nhân viên trong đó 98% có trình độ đại học và trên đại học và ln thực hiện mơ hình
bộ máy tổ chức gọn nhẹ, cán bộ có trình độ kiến thức cần thiết và phù hợp để đảm bảo
công tác chun mơn gồm 14 phịng và 01 tổ. Về cơ cấu bộ máy tổ chức của
VietComBank Thành Công được thể hiện tại sơ đồ sau:


Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của VietComBank Thành Cơng


Trong đó:


Giám đốc phụ trách chung và trực tiếp quản lý các Phòng: Quan hệ khách
hàng, Phòng Tổng hợp và Hành chính nhân sự.


Giám đ ố c Phịng ban nghiệ p vụ


P .QHKH P.HCNS Phòng Tổ ng Hợ p


P.Giám
đ ố c


P.KTTT P.Ngân Quỹ Tổ Kiể m tra giám sát


tuân thủ


P.Giám
đ ố c



P.KDDV Các phòng giao dị ch ( bao


gồ m 7 phòng giao dị ch


Các Hộ i
Đồ ng



(54)

Một Phó giám đốc phụ trách quản lý các Phịng: Kế tốn thanh tốn, Ngân quỹ
và Tổ Kiểm tra giám sát tuân thủ.


Một Phó giám đốc phụ trách các phòng: Kinh doanh dịch vụ, Phòng Khách hàng
thể nhân và 7 phòng giao dịch.


Phòng kế toán thanh toán bao gồm bộ phận kế toán, thanh toán quốc tế, quản lý
nợ và bộ phận tin học. Phòng Kinh Doanh Dịch Vụ bao gồm các nghiệp vụ thanh toán
chuyển tiền, nhận tiền gửi và bộ phận phát hành thanh tốn thẻ. Phịng tổng hợp bao
gồm cả quản lý vốn và kinh doanh ngoại tệ.


Tính đến nay VietComBank Thành Cơng đã chính thức đưa vào hoạt động 7
phòng giao dịch là PGD Thái Hà, PGD Đồng Tâm, PGD Nam Thanh Xuân, PGD Mỹ
Đình, PGD Vạn Phúc, PGD Cát Linh, PGD Bà Triệu.


2.1.3. Hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh của VietComBank


Thành Công



Năm 2009 là một năm có nhiều biến động đối với hoạt động tín dụng của ngành
ngân hàng nói chung và ngân hàng ngoại thương nói riêng. Đầu năm 2009 cả hệ thống
NHNT tăng trưởng âm. Tuy nhiên sau khi triển khai chương trình cho vay hỗ trợ lãi
suất theo chỉ đạo của Chính phủ, từ tháng 02/2009 đến hết tháng 07/2009 trung bình


dư nợ tăng trưởng 3.3%/tháng. Đến cuối năm 2009 NHNT đã hồn thành mục tiêu
tăng trưởng tín dụng 25,9% là một trong những ngân hàng thực hiện tốt chỉ đạo của
ngân hàng nhà nước và đảm bảo yếu tố thanh khoản cho ngân hàng. Hiện thị phần tín
dụng của NHNT trong ngành là 8.0%. Chất lượng tín dụng đã được cải thiện đáng kể
khi tỷ lệ nợ xấu chỉ còn 2.54%. NHNT triển khai kịp thời và hiệu quả chương trình
cho vay hỗ trợ lãi suất cho khách hàng với số dư đến 31/12/2009 đạt 47.198 tỷ đồng,
doanh số cho vay trong năm lên tới 151.995 tỷ đồng.



(55)

Về tỷ trọng theo dư nợ, dư nợ ngắn hạn đạt 1,238 tỷ quy đồng (chiếm 77% tổng
dư nợ); dư nợ trung dài hạn đạt 366 tỷ quy đồng (chiếm 23% tổng dư nợ).


Về cơ cấu theo loại tiền, dư nợ đồng Việt Nam đạt 1.287 tỷ đồng, dư nợ ngoại tệ
đạt 17,53 triệu USD.


Về cơ cấu khách hàng, dư nợ cho vay doanh nghiệp lớn đạt 833 tỷ đồng (chiếm
52 %) doanh nghiệp vừa và nhỏ đạt 700 tỷ đồng (chiếm 44% tổng dư nợ); dư nợ cho
vay khách hàng thể nhân đạt 70 tỷ đồng (chiếm 4% tổng dư nợ).


Về cơ cấu cho vay theo loại hình doanh nghiệp, dư nợ cho vay doanh nghiệp sản
xuất đạt 1,234 tỷ đồng chiếm 77% tổng dư nợ; doanh nghiệp thương mại đạt 248 tỷ
đồng chiếm 15% tổng dư nợ, doanh nghiệp xây dựng cơ bản đạt 51.3 tỷ đồng chiếm
3.2% tổng dư nợ, còn lại là cho vay thể nhân.


Đối với việc triển khai thực hiện chính sách của Nhà nước về hỗ trợ lãi suất, có


thể nói năm 2009 là một năm khá vất vả do đây là chương trình đầu tiên được áp
dụng, đòi hỏi việc nghiên cứu và nắm bắt rất nhiều các văn bản chỉ đạo liên quan sao
cho vừa thực hiện được tinh thần của gói hỗ trợ là tháo gỡ khó khăn cho các doanh
nghiệp, vừa đảm bảo khả năng thu nợ cho VietComBank Thành Công, không để xảy
ra hành vi lợi dụng cơ chế hỗ trợ lãi suất để trục lợi. Theo chỉ đạo của Ngân hàng


TMCP Ngoại thương Việt Nam, VietComBank Thành Công đã thành lập Tổ hỗ trợ lãi
suất nhằm kiểm tra, rà soát và phê duyệt các đối tượng được hỗ trợ lãi suất. Trong quá
trình cho vay, VietComBank Thành Cơng ln đảm bảo mọi khoản giải ngân có hỗ
trợ lãi suất đều phải có sự phê duyệt của thành viên Tổ, có đầy đủ chứng từ và được
kiểm soát sau đúng thời hạn theo quy định để kịp thời xử lý các khoản hỗ trợ sai quy
định nếu có. Theo kết quả của các đồn kiểm tra về hỗ trợ lãi suất cũng như kiểm tra
tín dụng, các khoản vay đều đúng và đảm bảo đúng quy trình.



(56)

chiếm 85,26% tổng dư nợ, dư nợ trung dài hạn là 152 tỷ đồng, chiếm 14,74% tổng dư
nợ. Tổng tiền lãi VietComBank Thành Công đã hỗ trợ cho khách hàng là 24 tỷ đồng.


Bảng 2.1: Dƣ nợ tín dụng qua các năm


Đơn vị tính: tỷ đồng


Chỉ tiêu


Năm


2006 2007 2008 2009


Cho vay 688 926 1,062 1,604


Tình hình dư nợ tín dụng qua các năm


0
500
1000
1500
2000



2006 2007 2008 2009


Dư nợ


(Nguồn: Báo cáo tổng hợp 4 năm 2006 – 2009 của VietComBank Thành Công)


Bảng 2.2: Tốc độ gia tăng các chỉ số cơ bản đƣợc thể hiện ở bảng sau:


Chỉ tiêu Năm


2007 2008 2009 Trung bình


Cho vay 34.59% 14.69% 51.00% 33.43%



(57)

Các hoạt động khác của VietComBank Thành Công


Hoạt động huy động vốn: tổng nguồn vốn của toàn hệ thống tính đến


31/12/2009 là 255.936 tỷ quy đồng, tăng 16,4% so với cuối năm 2008 cao gấp rưỡi so
với kế hoạch tăng trưởng năm là ( 11%). Thị phần huy động vốn từ nền kinh tế của
Ngân hàng ngoại thương đạt 11,3% Vốn huy động tăng đối với cả hai đối tượng tổ
chức kinh tế và dân cư: tổ chức kinh tế tăng 13,0% và dân cư tăng 29,6%. Tiền gửi từ
dân cư tăng trưởng tốt và đều đặn là nhờ vào các chương trình huy động trải đều trong
năm (tiền gửi lộc phát, các đợt phát hành chứng chỉ tiền gửi đợt 1 và đợt 2/2009 và
chính sách lãi suất thỏa thuận linh hoạt của NHNT được áp dụng trong khoảng nửa
cuối năm 2009 ) và sự cố gắng, nỗ lực của hầu hết các chi nhánh trong hệ thống. Nhìn
chung trong năm 2009, hầu hết các chi nhánh đều đã đạt tốc độ tăng trưởng tốt. Số
lượng VietComBank Thành Cơng có mức tăng trưởng vốn huy động dương và đều
trên 15% là 58/62 chi nhánh. Trong đó, tổng huy động vốn của VietComBank Thành


Công đạt 4,574 tỷ đồng, tăng 26,46% (tương đương 957 tỷ đồng) so với năm 2008,
vượt 6.46% so với kế hoạch được giao và đạt 95,07% kế hoạch mục tiêu. Đây là một


nỗ lực đáng kể của VietComBank Thành Công trong bối cảnh huy động hết sức khó
khăn này. Trong đó:


+ Cơ cấu nguồn vốn VNĐ/ngoại tệ giữ mức 65/35, thay đổi lớn so với cơ cấu
54/46 của năm 2008. Nguồn vốn ngoại tệ không tăng, chỉ đạt 1.586 tỷ quy VNĐ, bằng


95,83% so với con số 1.655 tỷ quy VNĐ của 31/12/2008, chỉ đạt 73,72% kế hoạch
Trung ương giao. Trong khi đó, nguồn vốn VNĐ tăng tuyệt đối 1.026 tỷ so với năm
2008, vượt 12,37% so với kế hoạch Trung ương giao.



(58)

Trong thời điểm thị trường có nhiều biến động phức tạp, VietComBank Thành
Công vẫn đảm bảo quản trị thanh khoản và lãi suất một cách an toàn và hiệu quả.
Nguồn vốn huy động được VietComBank Thành Công linh hoạt sử dụng cho vay và
gửi nội bộ với hiệu quả cao.


Bảng 2.3 Doanh số huy động vốn đƣợc thể hiện qua bảng biểu sau:


(Đơn vị: tỷ đồng)


Chỉ tiêu Năm


2006 2007 2008 2009


Nguồn vốn 2,211 2,656 3,617 4,574


Tình hình huy động vốn qua các năm



0
1000
2000
3000
4000
5000


2006 2007 2008 2009


Huy động


(Nguồn: Báo cáo tổng hợp 4 năm 2006 – 2009 của VietComBank Thành Công)


Bảng 2.4: Tốc độ tăng trƣởng huy động vốn qua các năm đƣợc thể hiện ở bảng
sau:


Chỉ tiêu Năm


2007 2008 2009 Trung bình


Nguồn vốn 20.13% 36.18% 26.46% 27.59%



(59)

Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn của chi nhánh luôn đạt mức trung bình
27,59%/năm, từ 2.211 tỷ đồng tại thời điểm 01/01/2007 đến hết năm 2009 tổng nguồn
vốn của VietComBank Thành Công đã đạt 4.574 tỷ đồng. Như vậy, chỉ sau ba năm
hoạt động, nguồn vốn huy động của VietComBank Thành Công tại thời điểm
31/12/2009 là 4.574 tỷ đồng (tăng 106,87%) so với năm 2007.


Hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu: doanh số thanh toán xuất nhập khẩu



của toàn hệ thống ngân hàng ngoại thương đạt 25,62 tỷ USD với thị phần chiếm
20,4% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước trong năm 2009. Trong đó doanh
số xuất khẩu đạt 12,46 tỷ USD chiếm 22% thị phần cả nước, doanh số thanh toán
nhập khẩu đạt 13,15 tỷ USD chiếm 19,1% thị phần cả nước


Hoạt động kinh doanh ngoại tệ: đứng trước tình hình tỷ giá và thị trường ngoại


tệ có nhiều biến động lớn, tình trạng căng thẳng cung cầu ngoại tệ kéo dài trong cả
năm 2009 mảng kinh doanh ngoại tệ trong toàn hệ thống đã bám sát thị trường liên
tục đưa ra các chính sách chỉ đạo hệ thống thích ứng với các thay đổi của thị trường
và áp dụng các biện pháp điều tiết mua bán ngoạt tệ của hệ thống để hạn chế rủi ro.
Tổng doanh số mua bán ngoại tệ của ngân hàng ngoại thương trong năm 2009 đạt
26.703 triệu USD giảm 14,3% so với năm 2008. Trong đó doanh số mua vào đạt
13.213 triệu USD, giảm 13,5%; doanh số bán ra đạt 13.490 triệu USD giảm 15,1% so
với năm 2008.


Cùng với xu hướng của toàn hệ thống doanh số mua bán ngoại tệ của


VietComBank Thành Công năm 2009 đạt 260,40 triệu USD, chỉ bằng 81,49% doanh
số mua bán ngoại tệ năm 2008 (319,53 triệu USD). Lợi nhuận từ kinh doanh ngoại tệ
đạt 3,16 tỷ đồng, bằng 49,38% so với năm 2008. Do đó doanh số thanh tốn xuất khẩu
đạt 83.07 triệu USD chỉ bằng 45.60% so với năm 2008, doanh số thanh toán nhập
khẩu đạt 134,65 triệu USD tăng thêm 26,33% so với năm 2008. Tổng doanh số thanh
toán xuất nhập khẩu năm 2009 được 217,73 triệu USD, đạt 94.82% kế hoạch được



(60)

Hoạt động bán lẻ: hoạt động bán lẻ được định hướng xuyên suốt và chỉ đạo


quyết liệt trong việc phát triển ngân hàng bán lẻ từ trung ương đến chi nhánh. Trong
năm 2009 ngân hàng ngoại thương đã xây dựng chiến lược cho hoạt động bán lẻ giai
đoạn 2010-2015 và các nhóm giải pháp để hướng tới vị trí: “ Một trong 5 ngân hàng


bán lẻ tốt nhất Việt Nam” Các chính sách áp dụng cho khách hàng cá nhân được xây
dựng điều chỉnh theo sát diễn biến thị trường từ khuyến mại, chăm sóc khách hàng tới
các chính sách giá, phí, lãi suất cũng như cung cấp sản phẩm mới. Đặc biệt là hoạt
động Thẻ, ngân hàng ngoại thương vẫn giữ vị trí đứng đầu thị trường về phát triển các
sản phẩm, dịch vụ thẻ phục vụ cho gần 4 triệu khách hàng.


Kết quả kinh doanh: năm 2009 mặc dù phải đối mặt với những khó khăn trên


thị trường tài chính tiền tệ và sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại
với nỗ lực của toàn hệ thống kết quả kinh doanh của ngân hàng ngoại thương đã đạt
được những con số đáng khích lệ theo bảng 2.5. Tổng thu nhập từ hoạt động kinh
doanh của toàn hệ thống năm 2009 đạt 9.052 tỷ đồng trong đó thu nhập từ lãi đạt
6.374 tỷ đồng đóng góp 70,4% tổng thu nhập, thu ngồi lãi đạt 2.678 tỷ… chi phí hoạt
động là 3.736 tỷ đồng tăng 39,7% so với năm trước. Thu nhập trước thuế sau dự
phòng rủi ro đạt 5.150 tỷ đồng tăng 46,2% so với năm trước và đạt 155% kế hoạch do
hội đồng quản trị đề ra. Trong đó,tổng thu từ hoạt động kinh doanh của VietComBank
Thành Công năm 2009 đạt 356,32 tỷ đồng, tăng 40.76 tỷ đồng so với năm 2008
(tương đương tăng 12,92%). Nguyên nhân chính là do thu nhập từ lãi đạt 322 tỷ đồng,
tăng gấp 1,12 lần (tăng 36 tỷ đồng) so với cùng kỳ năm 2008, trong đó riêng thu nhập
bất thường (thu từ nợ xử lý) tăng 11,40 tỷ đồng so với năm 2008.



(61)

Bảng 2.5 Báo cáo kết quả kinh doanh của VietComBank Thành Công


Đơn vị tính: tỷ đồng


Chỉ tiêu 31/12/07


Tỷ
trọng
%


31/12/08
Tỷ
trọng
%


31/12/2009 Tỷ trọng
%


I Thu từ lãi 306 93 285 91 322 90


1 Thu lãi cho vay 115 38 105 37 116 33


2 Thu lãi tiền gửi 191 62 180 63 206 58


ii Thu ngoài lãi 23 7 29 9 34 10


1 Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh 1.23 5 1.69 6 3 5


2 Thu phí dịch vụ thanh toán 5.3 23 4.3 15 3 0.8


3 Thu phí dịch vụ ngân hàng 1.38 6 1.04 4 1 0.3


4 Thu từ tham gia thị trường tiền tệ 0 0 - 0 0 0


5 Lãi từ kinh doanh ngoại hối 3.40 15 11 38 8 2


6 Thu từ nghiệp vụ ủy thác bảo lãnh 0 0 - 0 0 0


7 Thu từ dịch vụ khác 1.21 5 0.76 3 1 0.3



8 Các khoản thu nhập bất thường 1.56 7 2.43 8 14 4


9 Thu từ dịch vụ thẻ 1.20 5 1.16 4 1 0.3


10 Thu từ dịch vụ nhờ thu, LC 5.70 25 3.45 12 3 0.8


11 Dự thu 1.58 7 3.42 12


Tổng thu 329 314 356


iii Chi trả lãi 217 68 210 75 197 62


1 Chi trả lãi tiền gửi 199 92 201 96 192 61


2 Chi trả lãi tiền vay 1 1 2.81 1 2 0.6


3 Chi trả lãi phát hành giấy tờ có giá 17 8 5.96 3 3 0.9


iv Chi phí ngồi lãi 100 32 71 25 120 38


1 Chi khấu hao cơ bản TSCĐ 1.56 2 2 3 4 1


2 Chi hoạt động quản lý và công vụ 7.90 8 6 252 6 2


3 Chi dự phòng 64.87 65 40 725 31 10


4 Chi khác 25.60 26 23 58 79 25


Tổng chi 317 280 317



Thu nhập trƣớc thuế 11 34 39



(62)

2.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm sốt hoạt động tín dụng tại


VietComBank Thành Cơng



2.2.1 Mơi trƣờng kiểm sốt



2.2.1.1 Đặc thù về quản lý



Phương châm của hoạt động tín dụng tại chi nhánh là : “ Phát triển – an tồn –
hiệu quả”. Do đó khi khách hàng có nhu cầu cấp tín dụng thì các cán bộ tín dụng phải
tìm hiểu kỹ về lĩnh vực kinh doanh, mục đích vay vốn, phương án trả nợ của khách
hàng để đảm bảo tìm kiếm được khách hàng mới về cho VietComBank Thành Cơng.
Ngồi ra việc thẩm định tư cách khách hàng vay, tính trung thực của các thơng tin
trên báo cáo tài chính được phụ trách các bộ phận tín dụng xem xét kỹ càng. Từ đó
các thơng tin gửi tới ban lãnh đạo để ra quyết định đồng ý cho vay hay không.


2.2.1.2 Cơ cấu tổ chức




(63)

Sơ đồ 2.2: Mơ hình tín dụng


Tổ chức bộ máy trong hoạt động tín dụng tại VietComBank Thành Cơng:


Phịng Quan hệ Khách hàng: Đầu mối thiết lập quan hệ khách hàng, duy trì và


khơng ngừng mở rộng mối quan hệ với khách hàng trên tất cả các mặt hoạt động, tất
cả các sản phẩm ngân hàng nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh doanh một cách
an toàn, hiệu quả và tăng thị phần của VietComBank Thành Cơng. Nhiệm vụ chính
của Phịng Quan hệ khách hàng là: Xác định thị trường kinh doanh mục tiêu và đối
tượng khách hàng mục tiêu, xây dựng chính sách khách hàng, trực tiếp tham gia thực


hiện chính sách khách hàng và đánh giá việc thực hiện chính sách khách hàng, trực
tiếp triển khai các biện pháp Marketing giới thiệu cho khách hàng về các sản phẩm,
dịch vụ mà Ngân Hàng Ngoại Thương có lợi thế và có thể cung ứng, trực tiếp khởi
tạo và quản lý mối quan hệ tín dụng với khách hàng, tùy theo đặc điểm riêng đối với
từng khách hàng, phối hợp cùng các phòng ban khác thiết kế các loại sản phẩm phù
hợp và có tính chất hấp dẫn đối với khách hàng.


Bộ phận quản lý rủi ro: trực thuộc Phòng quan hệ khách hàng có chức năng


nghiên cứu, phân tích, quản lý rủi ro bao gồm rủi ro chung (rủi ro hệ thống, rủi ro thị
trường…) và rủi ro riêng (rủi ro từng khách hàng, từng dự án) nhằm đảm bảo phát
triển tín dụng, mở rộng hoạt động một cách an toàn, hiệu quả. Nhiệm vụ chính của bộ
phận Quản lý rủi ro tín dụng là: Xây dựng chính sách quản lý rủi ro tín dụng, quản lý


HĐTD


GIÁM ĐỐC P.GIÁM ĐỐC


Bộ phậ n QLRR
P.QHKH



(64)

danh mục đầu tư, trực tiếp thẩm định rủi ro đối với từng khoản cấp tín dụng đến


khách hàng, tham gia phê duyệt tín dụng, tham gia và giám sát q trình thực hiện các
quyết định đã được phê duyệt, tham gia xử lý các khoản cấp tín dụng có vấn đề.


Bộ phận quản lý nợ: trực thuộc Phòng Kế tốn thanh tốn có chức năng quản lý


và trực tiếp thực hiện các tác nghiệp liên quan đến việc giải ngân, thu hồi nợ, Đảm
bảo số liệu trên hệ thống khớp đúng với số liệu trên hồ sơ. Đảm bảo lưu giữ hồ sơ vay


đầy đủ và an tồn. Đảm bảo các khoản cấp tín dụng đều tuân thủ các bước quy định
trong Quy trình tín dụng. Nhiệm vụ chính của Bộ phận Quản lý nợ là: Kiểm sốt tính
tn thủ, nhập dữ liệu vào hệ thống, nhập và lưu giữ hồ sơ tín dụng, thực hiện chỉ thị
thanh toán liên quan đến rút vốn, lập các báo cáo dữ liệu của các khoản vay, tham gia
vào quá trình thu nợ, lãi.


Kế toán tiền vay: trực thuộc Phòng Kinh doanh dịch vụ có chức năng thực


hiện giải ngân theo yêu cầu của khách hàng, lưu trữ hồ sơ chứng từ giải ngân, thực
hiện thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn.


Hoạt động của hội đồng tín dụng


Hội đồng tín dụng là bộ phận hỗ trợ cho Tổng Giám đốc và Giám đốc chi nhánh,
có nhiệm vụ và quyền ra quyết định các khoản cấp tín dụng có giá trị lớn, mức độ
phức tạp để bảo đảm tính khách quan. Hình thức làm việc của Hội đồng tín dụng là tổ
chức họp các thành viên. Các cuộc họp đều phải có biên bản với đầy đủ các chữ ký
thành viên. Quyết định của Hội đồng tín dụng dựa trên cơ sở ý kiến biểu quyết của
các thành viên, theo nguyên tắc đa số. Hệ thống Hội đồng tín dụng gồm 2 cấp: Hội
đồng tín dụng cơ sở do chi nhánh thành lập, và Hội đồng tín dụng Trung ương do Hội
Sở Chính thành lập.



(65)

thuộc vào tình hình thực tế trên địa bàn và năng lực quản lý. Mức thẩm quyền cao
nhất là 60 tỷ đồng, thấp nhất là 20 tỷ đồng đối với từng lần cho vay dự án đầu tư và
mở L/C, bảo lãnh miễn ký quỹ và các khoản cho vay khác có giá trị nằm trong Giới
hạn tín dụng đã được duyệt, Giám đốc chi nhánh được quyền chủ động quyết định.
Đối với các khoản cho vay vượt ngồi phạm vi nói trên, Chi nhánh phải trình Tổng
Giám đốc xem xét phê duyệt. Đối với Tổng Giám đốc: các khoản thuộc Hội sở chính
hoặc do chi nhánh gửi lên được chia làm 3 cấp: các khoản có giá trị đến 100 tỷ đồng
do Phó Tổng Giám đốc phụ trách tín dụng được quyền xem xét và quyết định; các


khoản từ trên 100 tỷ đồng đến 120 tỷ đồng do Tổng Giám đốc quyết định; các khoản
lớn hơn 120 tỷ đồng phải do Hội đồng tín dụng Trung ương xem xét phê duyệt. Mối
quan hệ giữa Hội đồng tín dụng và Giám đốc chi nhánh, Tổng Giám đốc có thể được
mơ tả trong sơ đồ dưới đây.


Đề nghị
của khách


hà ng


Hội đ ồng tí n
dụng cơ s ở


Giám đ ốc chi
nhánh


Giám đ ốc chi
nhánh


Triể n kha i


Trì nh
Trung -ơ ng


Ký hợp
đ ồng tí n


dụng ,
ho ặ c từ



c hối


Đề nghị
của khách


hà ng tại
HS C


Hội S ở C hí nh


Hội đ ồng tí n
dụng Trung


-ơ ng


Tổ ng Giám
đ ốc, P hó


TGĐ


Tổ ng Giám
đ ốc, P hó


TGĐ


Triể n kha i
Đối t-ợng bắ t buộc,


Thông báo bằ ng văn bả n



Đối t-ợng bắ t buộc,


Trong thẩ m quyề n của C N,
hoặ c đ Ã đ -ợc TGĐ đ ồng ý
Tr-ờng hợp v-ợt thẩ m qu n C N


phø c t¹p


phø c t¹p



(66)

2.2.1.3 Chính sách nhân sự



Đội ngũ nhân sự bố trí cho hoạt động tín dụng được ban lãnh đạo Vietcombank
Thành Công đặc biệt quan tâm. Việc tuyển dụng được chuẩn bị cẩn thận từ tiêu chuẩn
tuyển dụng và cách thức thi tuyển. Các cán bộ tín dụng được lựa chọn là các ứng viên
giỏi có trình độ chun mơn và có kinh nghiệm trong hoạt động tín dụng. Đối với tất
cả các cán bộ tín dụng mới đều được trải qua các khóa đào tạo nhân viên mới dành
riêng cho hoạt động tín dụng do Trung tâm đào tạo của Ngân hàng ngoại thương Việt
Nam tổ chức nhằm nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp với khách
hàng, kỹ năng làm việc theo nhóm, chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình làm việc.
Ngoài ra Ngân hàng ngoại thương cịn có cơ chế tiền lương, tiền thưởng phân theo vị
trí cơng việc, thâm niên cơng tác của từng cán bộ tín dụng và chế độ thưởng, phạt rõ


ràng.


2.2.1.4 Cơng tác kế hoạch tín dụng



Kế hoạch tín dụng là một khâu quan trọng trong tiến trình triển khai thực hiện
các hoạt động kinh doanh của VietComBank Thành Cơng. Kế hoạch tín dụng là hình
thức thể hiện cụ thể nhất các mục tiêu hoạt động tín dụng trong thời gian 1 năm. Các


mục tiêu đề cập trong kế hoạch thường là mức dư nợ cuối năm, tốc độ tăng trưởng dư
nợ (cho cả tiền đồng, ngoại tệ và quy đồng), và chi tiết cho từng chi nhánh. Kế hoạch
tín dụng thường được xây dựng cùng với kế hoạch huy động vốn, nhằm bảo đảm cân
đối giữa nguồn và sử dụng nguồn vốn. Tổng Giám đốc sẽ thông báo kế hoạch tín
dụng cho các chi nhánh để làm cơ sở phấn đấu thực hiện trong năm, và cũng là một
trong những nội dung dùng để đánh giá kết quả hoạt động của chi nhánh.



(67)

Để bảo đảm tính khả thi của kế hoạch, các mục tiêu tín dụng do Hội sở chính đề ra
thường được xây dựng dựa chủ yếu vào kết quả hoạt động năm trước của từng Chi
nhánh và các điều kiện đã tương đối rõ ràng trong năm tiếp theo (chẳng hạn như các
hợp đồng tín dụng đã ký sẽ giải ngân, hoặc có khả năng sẽ ký kết). Trên cơ sở kế
hoạch tín dụng do Hội sở chính giao xuống thì Giám đốc chi nhánh xem xét và giao
chỉ tiêu dư nợ tín dụng cho phịng quan hệ khách hàng và phòng khách hàng thể nhân:
bao gồm kế hoạch dư nợ, kế hoạch thu nợ gốc và lãi, nợ quá hạn, tỷ lệ khống chế nợ
xấu nhằm hạn chế rủi ro. Việc thực hiện kế hoạch được lãnh đạo các phòng ban
VietComBank Thành Công phổ biến đến từng cán bộ tín dụng. Vào cuối mỗi tháng,
q thì phịng quan hệ khách hàng phải lập báo cáo tình hình hoạt động tín dụng cho
Ban Giám đốc. Do phụ thuộc nhiều vào tình trạng hiện tại, nên các mục tiêu của kế
hoạch tín dụng có thể khơng thể hiện hoàn toàn mục tiêu trong chiến lược hay định
hướng tín dụng. Do vậy, kế hoạch tín dụng cũng có thể được điều chỉnh vào giữa
năm, tuỳ thuộc vào tình hình mơi trường đầu tư và báo cáo kết quả hoạt động tín dụng
của VietComBank Thành Công để bảo đảm mục tiêu kế hoạch sẽ phù hợp với tình
hình thực tế của VietComBank Thành Cơng.


2.2.1.5 Chính sách tín dụng của VietComBank Thành Cơng



Hệ thống tính điểm tín dụng: hệ thống tính điểm tín dụng là một phương pháp


lượng hố mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng thơng qua quá trình đánh giá bằng
thang điểm. Các chỉ tiêu và thang điểm được áp dụng khác nhau đối với các loại



khách hàng khác nhau.


Người chịu trách nhiệm chấm điểm và phân loại khách hàng là cán bộ tín dụng.
Phụ trách tín dụng chịu trách nhiệm kiểm soát việc chấm điểm và phân loại khách
hàng của cán bộ tín dụng. Ngân hàng Ngoại thương xếp các doanh nghiệp thành 10
loại có mức độ rủi ro từ thấp lên cao là: AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C, và
D và áp dụng quan điểm đánh giá khác nhau trong hoạt động tín dụng. Việc xếp hạng



(68)

điểm quy mô, (iii) chấm điểm các chỉ số tài chính và các chỉ tiêu phi tài chính, (iv)
tổng hợp điểm và phân loại.


Sau khi cộng tổng điểm của doanh nghiệp, việc phân loại khách hàng được căn
cứ theo bảng dưới đây:


Loại Số điểm đạt đƣợc


AAA 92,4 - 100


AA 84,8 - 92,3


A 77,2 - 84,7


BBB 69,6 - 77,1


BB 62,0 - 69,5


B 54,4 – 61,9


CCC 46,8 – 54,3



CC 39,2 – 46,7


C 31,6 – 39,1


D <31,6



(69)

Giới hạn tín dụng: giới hạn tín dụng của một khách hàng là Tổng mức dư nợ


tín dụng tối đa mà NHNT có thể chấp nhận giao dịch đối với khách hàng đó trong một
thời kỳ (1 năm). Tổng mức dư nợ tín dụng đề cập trong GHTD gồm: dư nợ cho vay,
số dư bảo lãnh và L/C miễn ký quỹ, cho vay chiết khấu, cho vay thấu chi. Giới hạn tín
dụng do Hội đồng tín dụng quyết định. Khơng cá nhân nào đủ thẩm quyền quyết định
Giới hạn tín dụng. Chủ trương của Ban Lãnh đạo NHNT khi áp dụng GHTD là ngân
hàng chủ động xác định trước mức có thể giao dịch với khách hàng, không phụ thuộc
vào việc khách hàng đã đề nghị cấp tín dụng hay chưa. Bộ phận chịu trách nhiệm xác
định Giới hạn tín dụng cho khách hàng tại chi nhánh là phòng khách hàng. Hội đồng
tín dụng cơ sở chịu trách nhiệm phê duyệt các Giới hạn tín dụng trong thẩm quyền
của mình và đề xuất trình Hội đồng tín dụng Trung ương các Giới hạn tín dụng vượt
thẩm quyền.


Mục tiêu trong xác định GHTD là đánh giá mức độ rủi ro của khách hàng (rủi ro


tổng thể) trên cơ sở phân tích tồn diện các khía cạnh kinh doanh, tài chính. Khi xác
định GHTD, cần phải sử dụng các kỹ thuật phân tích và đánh giá rủi ro doanh nghiệp.
Mức độ rủi ro được hiểu là khả năng khách hàng xảy ra tình trạng mất khả năng thanh


toán, nghĩa vụ trả nợ đối với NHNT. Khi xác định GHTD, mức độ rủi ro được đánh
giá trong thời gian 1 năm tiếp theo. Cụ thể hơn là xác định khả năng khách hàng bị rủi
ro trong vòng 1 năm tiếp theo. Giá trị GHTD áp dụng cho khách hàng sẽ tỷ lệ nghịch


với mức độ rủi ro: khả năng xảy ra rủi ro thấp thì áp dụng GHTD lớn; ngược lại khả
năng xảy ra rủi ro cao thì áp dụng GHTD thấp, thậm chí bằng 0.


Việc xác định GHTD được tiến hành thông qua 2 bước cơ bản: (i) đánh giá mức
độ rủi ro của khách hàng trong vòng 1 năm tới; (ii) đưa ra mức GHTD cụ thể đối với


khách hàng.


Bƣớc 1: Đánh giá rủi ro của khách hàng: Có rất nhiều yếu tố có thể gây ra rủi



(70)

Bƣớc 2: Xác định mức GHTD: sau khi đã xác định được mức độ rủi ro, vấn đề


tiếp theo là áp GHTD vào mức độ rủi ro của từng doanh nghiệp thơng qua 2 bước: (i)
ước tính nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp; (ii) xuất phát từ nhu cầu ước tính được,
tiến hành điều chỉnh cho phù hợp với đánh giá về mức độ rủi ro theo phụ lục số 2.2.


2.2.1.6 Mơi trƣờng bên ngồi



Hiện nay các ngân hàng thương mại đều tăng cường mở rộng mạng lưới bán lẻ
của mình tại những địa bàn có tiềm năng phát triển kinh tế, khu du lịch, khu đô thị,
khu công nghiệp, khu chế xuất... Đồng thời sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày
càng mạnh mẽ trong việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ có hàm
lượng cơng nghệ cao, kết hợp sản phẩm tín dụng với các sản phẩm tiện ích khác trong
lĩnh vực huy động vốn, tài trợ thương mại, dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử để hình
thành các sản phẩm trọn gói cho một khách hàng hoặc nhóm khách hàng, qua đó nâng
cao khả năng cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài về mặt mạng lưới, khả năng tiếp
cận, hiểu biết và chăm sóc khách hàng. Điều đó đã tác động khơng nhỏ đến thị trường
khách hàng vay vốn của chi nhánh, địi hỏi Chi nhánh phải có chính sách ưu đãi về lãi
suất, kỳ hạn vay áp dụng đối với từng khách hàng là khác nhau.



Ngoài ra sự thay đổi trong chính sách cho vay của ngân hàng nhà nước, sự thay
đổi về biên độ tỷ giá hối đối cũng ảnh hưởng khơng nhỏ đến hoạt động tín dụng của
Chi nhánh như yêu cầu các tổ chức tín dụng hạn chế cấp tín dụng hoặc khơng thanh
toán cho các doanh nghiệp nhập khẩu hàng tiêu dùng, nhập khẩu xe ôtô chở người từ
9 chỗ trở xuống. Cũng có thời kỳ do sự khan hiếm nguồn cung ngoại tệ nên có những
khoản vay đến hạn thanh tốn mà doanh nghiệp khơng thể lo được nguồn ngoại tệ để
trả cho ngân hàng dẫn đến tình trạng nợ quá hạn.


2.2.2 Hệ thống kế toán




(71)

kiểm sốt hoạt động tín dụng, hệ thống kế tốn đóng vai trị quan trọng, nó cung cấp
thơng tin chính xác về các khoản nợ trong hạn, nợ quá hạn, các khoản lãi phát sinh…
của từng khánh hàng vay. Ngoài ra, hệ thống phần mềm kế toán đã ghi chép một cách
đầy đủ các thông tin về khách hàng vay như tên khách hàng, địa chỉ, đăng ký kinh
doanh, chủ tài khoản…, thông tin về các khoản vay như ngày giải ngân, ngày đến


hạn, lãi suất vay, lãi suất quá hạn, tổng lãi phải thu của khách hàng... Hàng ngày bộ
phận quản lý nợ của phòng kế toán thanh toán và kế toán tiền vay của phòng kinh
doanh dịch vụ in lại các bút toán hạch toán giải ngân tiền vay, thu nợ đến hạn, thu lãi


vay để kiểm tra lại. Trong trường hợp phát hiện ra sai sót thì bộ phận hạch tốn thuộc
phịng kinh doanh dịch vụ thực hiện điều chỉnh lại cho đúng.



(72)

dụng. Đồng thời cán bộ tín dụng cũng lập báo cáo các khoản nợ quá hạn để có biện
pháp thu hồi nợ.


2.2.3 Các thủ tục kiểm soát



Các thủ tục kiểm sốt được thực hiện như một phần khơng thể thiếu trong quy
trình tín dụng. Các bộ phận chủ yếu tham gia vào hoạt động tín dụng gồm: bộ phận tín


dụng và quản lý rủi ro thuộc phòng quan hệ khách hàng, bộ phận quản lý nợ và kế
toán tiền vay. Các thủ tục kiểm soát bao gồm: kiểm soát quản lý, kiểm soát xử lý tác
nghiệp và kiểm soát bảo vệ tài sản.



(73)

thấy báo cáo thẩm định không đạt yêu cầu hoặc do khoản vay quá phức tạp vượt khả
năng làm việc của CBTD, giao cho cán bộ tín dụng khác thực hiện việc tái thẩm định
khoản vay. Sau khi nhất trí với các thơng tin nêu tại báo cáo thẩm định, tái thẩm định
(hoặc không nhất trí song đã có ý kiến nêu rõ tại báo cáo thẩm định, tái thẩm định),
trưởng phó phòng khách hàng ký tên và trình tiếp lên Giám đốc/phó giám đốc chi
nhánh. Trong quá trình giải ngân kiểm tra viên xem xét tồn bộ hồ sơ lưu tại phịng
khách hàng xem có đảm bảo đủ tờ trình giải ngân, biên bản bàn giao hồ sơ tài sản bảo
đảm tiền vay, bảng kê rút vốn, sổ theo dõi vay. Quá trình theo dõi và quản lý tín dụng
tại cho nhánh được kiểm tra theo từng bước tương ứng với các bước thực hiện trong
quy trình tín dụng: thu nợ, thu lãi, gia hạn nợ, chuyển nợ quá hạn. Giai đoạn kiểm tra
này tùy theo thời gian các kiểm tra viên có thể đối chiếu số liệu nội bộ với các nguồn
thơng tin bên ngồi qua các thủ tục chi tiết như: đối chiếu lấy xác nhận của khách
hàng với số liệu tại ngân hàng, điều tra tình hình sử dụng vốn vay xem khách hàng có
sử dụng vốn vay đúng mục đích khơng.


Kiểm sốt quản lý được thực hiện thơng qua kiểm soát việc ra quyết định cho



(74)

trình trưởng/phó phịng tín dụng các văn bản sau: Hợp đồng tín dụng kèm theo lịch rút
vốn (phù hợp thoả thuận với khách hàng), hợp đồng bảo đảm tiền vay. Trưởng/phó
phịng tín dụng kiểm tra, kiểm sốt, ký kiểm sốt trên từng trang hợp đồng tín dụng,
ký kiểm sốt các cơng văn giấy tờ có liên quan do CBTD dự thảo và trình tiếp Giám
đốc/phó giám đốc chi nhánh duyệt ký. Khi khách hàng yêu cầu phát tiền vay, tuỳ
từng mục đích sử dụng vốn vay như đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, CBTD
hướng dẫn khách hàng thực hiện thủ tục phát tiền vay như Lập giấy uỷ nhiệm chi, lập
các giấy nhận nợ và cung cấp các giấy tờ chứng minh việc sử dụng vốn vay....Trên cơ
sở các chứng từ phát tiền vay do khách hàng xuất trình, CBTD thực hiện việc kiểm tra


các căn cứ phát tiền vay: Kiểm tra nội dung của Giấy nhận nợ /Yêu cầu phát tiền vay (
hiệu lực của thời hạn phát tiền vay, số tiền rút vốn trên giấy nhận nợ có phù hợp với
số tiền cịn được phép rút theo Hợp đồng tín dụng (số tiền cịn lại), mục đích sử dụng
vốn vay có phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, sự hợp lý của địa chỉ
chuyển tiền đến (đặc biệt chú ý trong trường hợp khách hàng yêu cầu phát tiền vay
vào tài khoản tiền gửi của chính họ), sự phù hợp giữa thời hạn, lãi suất với thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng, tính hợp pháp của người đại diện bên vay ký tên. Sau khi
kiểm tra kỹ các căn cứ rút vốn, CBTD ký trên giấy nhận nợ/và ký nháy trên giấy yêu
cầu phát tiền vay (uỷ nhiệm chi nếu có) và trình Trưởng/phó phịng tín dụng duyệt.
Trưởng/phó phịng tín dụng kiểm tra toàn bộ hồ sơ yêu cầu phát tiền vay, ký kiểm
soát và trình tiếp Giám đốc/phó giám đốc chi nhánh duyệt. Giám đốc/phó giám đốc
chi nhánh kiểm tra hồ sơ: (i) chấp thuận phát tiền vay- ký trên các chứng từ phát tiền
vay hoặc (ii) từ chối phát tiền vay- ký tên, nêu rõ lý do từ chối đồng thời chuyển hồ sơ
lại cho phịng tín dụng thực hiện tiếp các quyết định của mình.



(75)

vay một số loại cho vay cơ bản, hay gặp như Kế hoạch kiểm tra sử dụng vốn vay để
thu mua hàng hoá xuất khẩu, kế hoạch kiểm tra sử dụng vốn vay để phục vụ nhu cầu
tiêu dung, cho vay sửa chữa nhà... Sau mỗi lần kiểm tra sử dụng vốn vay, CBTD cần
lập Biên bản và/ hoặc báo cáo kết quả kiểm tra sử dụng vốn vay trình Trưởng/phó
phịng tín dụng có ý kiến. Tại biên bản/báo cáo kiểm tra sử dụng vốn vay, CBTD có ý
kiến rõ ràng về việc : (i) Khách hàng sử dụng vốn vay có đúng mục đích như đã thoả
thuận tại Hợp đồng tín dụng (ii) Giá trị tài sản hình thành từ vốn vay có cân đối với số
tiền đã giải ngân (iii) Tình hình tài sản đảm bảo. Trưởng/phó phịng tín dụng căn cứ
Biên bản/Báo cáo kiểm tra sử dụng vốn vay của CBTD để quyết định (i) Trường hợp
thống nhất với ý kiến CBTD cho rằng khoản vay đang diễn ra bình thường, ghi ý kiến
"đã xem" và trả CBTD lưu hồ sơ (ii) Trường hợp nhận thấy khoản vay có dấu hiệu
khơng bình thường, ghi ý kiến đề xuất xử lý và trình Giám đốc/phó giám đốc chi


nhánh cho ý kiến ngừng cho vay hoặc có biện pháp thu hồi nợ trước hạn.



Đồng thời cán bộ tín dụng phải kiểm tra phân tích hiệu quả của vốn vay, theo
dõi phân tích tình hình thực hiện kế hoạch, tình hình tài chính và đảm bảo tín dụng
của khách hàng, kiểm tra các biện pháp bảo đảm tiền vay nhằm đảm bảo rằng các
khoản vay an toàn và khách hàng có khả năng trả nợ như kiểm tra hồ sơ đảm bảo tiền
vay và kiểm tra tài sản hiện trường để kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh như mất mát
hư hỏng, sự giảm giá trị có sự chuyển người sở hữu. Đối với tài sản đảm bảo thì
thường áp dụng các thủ tục so sánh đối chiếu kết quả kiểm kê thực tế với số liệu trên
sổ kế toán: thực hiện việc kiểm tra đối với các hồ sơ tài sản đảm bảo lưu tại kho của
chi nhánh, kiểm tra việc đánh giá lại tài sản đảm bảo có thường xuyên hay khơng.


Thủ tục kiểm sốt trên được thiết lập dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc
phân công, phân nhiệm; nguyên tắc bất kiêm nhiệm; nguyên tắc uỷ quyền và phê
chuẩn. Cụ thể như sau:


Nguyên tắc phân công, phân nhiệm: Quyền hạn và trách nhiệm của từng cán



(76)

cán bộ quan hệ với khách hàng vừa tiếp nhận và kiểm tra tính đầy đủ hợp lệ của hồ sơ
vay vốn vừa chịu trách nhiệm thẩm định phân tích về khách hàng và khoản vay. Như
vậy theo thơng lệ của các Ngân hàng hiện đại thì những chức năng này phải được giao
cho nhiều người thực hiện. Do đó việc thẩm định, phân tích và đánh giá khoản vay
vẫn mang nặng tính chủ quan của của Cán bộ tín dụng.


Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: VietComBank Thành Công luôn tuân thủ tốt
nguyên tắc này trong quá trình giám sát giải ngân và lưu trữ tài sản đảm bảo cho
khoản vay. Bất kỳ một sự phân bổ, sắp xếp cán bộ, nhân viên nào thì Ban lãnh đạo
đều đảm bảo đúng người, đúng việc không để cho một cá nhân hay bộ phận nào có
thể kiểm sốt được mọi mặt của một nghiệp vụ. Việc thực hiện các thủ tục trình duyệt
giải ngân, nhập dữ liệu vào máy tính do hai cán bộ ở hai bộ phận khác nhau thực hiện
để đảm bảo kiểm soát được rủi ro tín dụng. Các thủ tục trình duyệt giải ngân sẽ do cán
bộ tín dụng của phịng quan hệ khách hàng thực hiện. Sau đó cán bộ của bộ phận quản


lý nợ chịu trách nhiệm mở tài khoản vay, cài lãi suất tiền vay,…trên hệ thống phần
mềm máy tính. Việc giải ngân như chi tiền mặt hay chuyển khoản se do bộ phận hạch
toán tiền vay của phòng kinh doanh dịch vụ đảm nhiệm. Riêng hồ sơ và tài sản đảm
bảo cho khoản vay thì chỉ do Phòng ngân quỹ thực hiện việc lưu trữ.


Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn: Ngân hàng ngoại thương thực hiện phân
cấp ủy quyền phê duyệt tín dụng đến từng cấp để đảm bảo kiểm sốt được hoạt động.
Trong Giới hạn tín dụng đã được duyệt, Giám đốc chi nhánh được quyền chủ động
quyết định. Đối với các khoản cho vay vượt ngoài phạm vi của mình, Chi nhánh phải
trình Tổng Giám đốc xem xét phê duyệt. Và trong phạm vi ủy quyền của mình, Giám
đốc chi nhánh lại giao quyền phán quyết tín dụng cho các Phó giám đốc được Tổng
giám đốc chấp thuận tại biên bản phân công phân nhiệm của Chi nhánh.


2.2.4 Kiểm toán nội bộ




(77)

nội bộ của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam được tách biệt rõ ràng: hoạt động của
kiểm toán nội bộ trực thuộc sự điều hành của Ban kiểm soát trực thuộc Hội đồng
quản trị, hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ thuộc bộ máy điều hành, giúp Tổng
Giám đốc (Giám đốc) điều hành thơng suốt an tồn và đúng pháp luật mọi hoạt động
nghiệp vụ của ngân hàng. Hội sở chính thực hiện kiểm sốt đối với VietComBank
Thành Công thông qua các thủ tục gắn liền với quy trình tín dụng, được tổng giám
đốc chỉ đạo với sự tham mưu của phòng quản lý rủi ro tín dụng, phịng chính sách tín
dụng, phịng thơng tin tín dụng…Tổng giám đốc giao mức thẩm quyền phán quyết
tín dụng cho giám đốc chi nhánh và kiểm tra việc thực hiện quyền phán quyết này.
Đối với các khoản vay vượt thẩm quyền thì chi nhánh phải gửi hồ sơ vay vốn lên Hội
sở chính để thẩm định và trình Tổng giám đốc xét duyệt.



(78)

cơng tác đánh giá hệ thống kiểm sốt nội bộ của kiểm tốn nội bộ khơng đảm bảo
tính độc lập, khách quan dẫn đến kết quả hoạt động kiểm tra kiểm soát, kiểm toán nội
bộ trong suốt thời gian qua chỉ dừng lại ở công tác hậu kiểm, những vấn đề phát hiện


thường là những sai phạm đã xảy ra, chưa có tác dụng trong việc phát hiện, ngăn
ngừa, quản lý rủi ro và nhất là tư vấn cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Hạn chế đó chủ yếu là do nguồn nhân lực của bộ phận kiểm tốn nội bộ chưa có năng
lực chun mơn về kiểm tốn, chưa có kinh nghiệm trong hoạt động tín dụng nên đã
ảnh hưởng đến tác dụng của kiểm toán nội bộ.


2.3 Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm sốt hoạt động tín dụng


tại Vietcombank Thành Công



2.3.1 Kết quả đạt đƣợc của hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm soát


hoạt động tín dụng




(79)

Về mặt cơ cấu tổ chức: Nhận thức được vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ


Ban lãnh đạo Chi nhánh đã xây dựng được bộ máy kiểm sốt hoạt động tín dụng khá
phù hợp. Ngân hàng Ngoại thương Thành Công bắt đầu thực hiện triển khai thí điểm
mơ hình kiểm sốt tín dụng mới áp dụng cho khách hàng là doanh nghiệp từ đầu năm
2006, theo đó bộ phận tín dụng sẽ được phân thành 3 bộ phận: Quan hệ khách hàng,
Quản lý rủi ro và Quản lý nợ. Việc phân chia như vậy sẽ giúp phân tách rõ chức năng,
nhiệm vụ giữa công tác marketing khách hàng và Quản lý rủi ro, từ đó giúp nâng cao
chất lượng tín dụng của Chi nhánh, kiểm soát tốt hơn rủi ro cho Ngân hàng và tăng
cường quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế.


Các thủ tục kiểm soát gắn liền trong quy trình tín dụng được thiết kế vừa ngăn


ngừa gian lận thông qua việc kiểm duyệt của các tầng kiểm soát đảm bảo sự giám sát
lẫn nhau từ quyết định cho vay, quyết định giải ngân, quyết định gia hạn nợ đến khi
kết thúc khoản vay. Mặt khác các thủ tục kiểm sốt cịn được cài đặt trên hệ thống
phầm mềm tin học thông qua quyền truy cập theo user của từng cán bộ và kiểm sốt



viên đã góp phần bảo mật thông tin hạn chế rủi ro xảy ra trong hoạt động tín dụng.


Cơng tác kiểm tra sau của Tổ kiểm tra giám sát tuân thủ đối với hoạt động
tín dụng ngày một quan tâm: kiểm tra hoạt động tín dụng, cụ thể là các quy trình tín



(80)

cường chất lượng tín dụng cho các đơn vị trực thuộc nói riêng và tăng mức độ an tồn
cho tồn bộ Chi nhánh nói chung.


Cơ cấu tín dụng tại Chi nhánh có sự chuyển biến tích cực.


Có thể thấy rất rõ là Ngân hàng đã có sự điều chỉnh một cách thận trọng trong cơ
cấu tín dụng, bằng cách giảm dần tỷ lệ cho vay các doanh nghiệp nhà nước mà hoạt
động còn kém hiệu quả, ngày một đầu tư nhiều hơn cho các doanh nghiệp Cổ Phần,
công ty TNHH, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, có
phương án cụ thể, kinh doanh phát triển chú trọng tới chiều sâu và có tính bền vững.
Khơng những thế, các dự án đầu tư hợp vốn đã được ngân hàng nhắm tới, hướng tới
mục tiêu đa dạng hóa các thành phần kinh tế, ưu tiên các loại hình phục vụ cho sự
phát triển cho đất nước. Với việc thay đổi như vậy trong tình hình hiện nay là hoàn
toàn phù hợp, đảm bảo cho ngân hàng tập trung nguồn lực vào yếu tố đang phát triển
nhanh, mạnh và mang lại nhiều nguồn thu đó là kinh tế tư nhân, vì khu vực kinh tế tư
nhân là khu vực kinh tế năng động, phát triển nhanh và ngày càng chiếm tỷ trọng
đáng kể trong tổng thu nhập.


Thực hiện quy trình cho vay theo quy định của Ngân hàng Ngoại thƣơng
Việt Nam.



(81)

cũng đã ban hành và triển khai đến từng chi nhánh trong toàn hệ thống văn bản hướng
dẫn việc thực hiện Quyết định 493 của NHNN. Tiếp theo quyết định này và quyết
định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 sửa đổi bổ sung một số điều về phân loại
nợ, trích lập và sử dụng dự phịng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng


của tổ chức tín dụng ban hành theo QĐ 493, thì năm 2007 Chi nhánh đã trích lập dự
phịng rủi ro là 65 tỷ đồng, năm 2008 là 40 tỷ đồng, năm 2009 là 31 tỷ. Việc áp dụng
các quyết định này, Chi nhánh đã chủ động hơn trong việc đánh giá rủi ro của các
khoản vay thông qua đánh giá và phân loại một cách toàn diện hơn, sát với bản chất
hơn, đồng thời khả năng quản lý rủi ro và sức cạnh tranh của Chi nhánh được cải
thiện đáng kể và có đủ nguồn tài chính dự phịng để bù đắp nếu tổn thất xảy ra.


Đạt nhiều kết quả khả quan trong việc xử lý nợ tồn đọng


Trong thời gian vừa qua, với nỗ lực làm lành mạnh hơn các khoản tín dụng tồn
đọng, tập trung vào thu hồi nợ, tổ xử lý nợ đã làm việc tích cực trong việc đơn đốc các
đơn vị nợ quá hạn, bị xếp vào từ nhóm 3 trở đi vào lịch thu hồi nợ, hạn chế tới mức
tối thiểu nợ dây dưa kéo dài. Thực hiện theo đúng chỉ thị 01/2002/CT- NHNN “về
việc xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại”, triển khai học tập đề án cơ
cấu lại hoạt động ngân hàng, nhận thức rõ và xác định công tác xử lý nợ tồn đọng là
công tác trọng tâm của Chi nhánh, là việc làm thường xuyên nhằm cải thiện và nâng
cao năng lực tài chính và chất lượng tín dụng của Chi nhánh. Đồng thời để đảm bảo
công tác xử lý nợ tồn đọng được tiến hành hiệu quả và chất lượng, việc phân loại dư
nợ quá hạn tồn đọng được tiến hành kịp thời, xử lý đúng đối tượng theo Quyết định số
149/2001/QĐ-TTg ngay 05/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ.



(82)

đường, đây là một ngành kinh tế đã gặp khó khăn trong thời gian rất dài, ngồi ra cịn
một số cá nhân hộ gia đình. Do tính khác biệt và có tính đặc thù riêng của từng khách
hàng mà Chi nhánh đã áp dụng linh hoạt các biện pháp giải quyết. Nợ xấu của các
khách hàng doanh nghiệp là 21 tỷ đồng, trong tổng số nợ xấu năm 2009 là 28 tỷ đồng.
Tỷ lệ nợ xấu toàn Chi nhánh năm 2009 là 1,75% tổng dư nợ, thấp hơn mục tiêu Chi
nhánh đề ra từ đầu năm là 2,30% và thấp hơn so với mức Trung ương đặt ra là 5%, nợ
xử lý đã thu hồi trong năm 2009 là 13,40 tỷ đồng. Đối với các khoản nợ đủ tiêu
chuẩn, Chi nhánh đã thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau
khi cho vay đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, chủ động ngăn ngừa việc phát sinh nợ xấu.



2.3.2 Hạn chế của hệ thống kiểm sốt nội bộ với kiểm sốt hoạt động tín



dụng và nguyên nhân



2.3.2.1 Hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm sốt hoạt động


tín dụng



Thứ nhất, cơ cấu tổ chức của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động
tín dụng cịn yếu kém trong việc phát hiện gian lận và sai sót trong hoạt động tín
dụng của ngân hàng


Cuối quý 4/2008, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam đã khơng duy trì sự tồn tại
riêng biệt của phòng quản lý rủi ro tại chi nhánh, mà sát nhập phòng quản lý rủi ro


vào phòng quan hệ khách hàng, điều này sẽ khiến cho việc xác định giới hạn tín dụng,
thẩm định rủi ro, các quyết định cho vay sẽ tồn tại nhiều nguy cơ, thiếu những phân
tích khách quan. Hơn nữa, thực tế cán bộ thẩm định tại Trụ sở chính thực hiện việc
thẩm định những món vay vượt quá quyền phán quyết của Giám đốc chi nhánh cấp
dưới nhưng cho vay thì lại do ngân hàng cấp dưới giải ngân. Khi có rủi ro xảy ra, cán
bộ thẩm định khơng có hoặc không chịu một sự ràng buộc về trách nhiệm. Vì thế,
chất lượng thẩm định thường kém, mang tính hình thức nhiều hơn.



(83)

khách hàng và bộ phận quản lý quản lý rủi ro, dẫn đến trong nhiều trường hợp khi xảy
ra sự khác biệt ý kiến giữa các phòng, tuy rằng tồn tại một Hội đồng tín dụng nhưng
cách thực hiện nếu thiếu tính khoa học thì khả năng ý kiến đó sẽ trở thành ý kiến cá
nhân chi phối sẽ là khơng tránh khỏi. Điều này có thể dẫn tới tính hình thức của sự tồn
tại của vai trò thẩm định, cũng như là hội đồng.


Thứ hai, nguồn nhân lực của hệ thống kiểm sốt nơi bộ và hoạt động tín


dụng đƣợc bố trí khơng hợp lý chƣa thực hiện đƣợc chức năng của mình trong
việc kiểm sốt hoạt động tín dụng.


Cán bộ kiểm tra, giám sát tín dụng cịn kiêm nhiệm nhiều cơng việc, trình độ
chun mơn chưa cao nên chất lượng kiểm tra cịn kém. Bên cạnh đó, kết quả kiểm
tra cũng chỉ dừng lại ở việc phát hiện sai sót trong q trình cho vay của Chi nhánh
mà chưa đánh giá được mức độ rủi ro của những sai sót đó, việc kiểm sốt cùng lúc sẽ
tăng thêm phần khó khăn. Trong quá trình thu nợ, mặc dù đã thành lập tổ xử lý nợ,
nhưng cán bộ vẫn nằm trong phòng quan hệ khách hàng, họ đồng thời vừa cho vay
vừa thu hồi nợ, dẫn tới công việc bị phân tán. Việc thu hồi nợ do đó cũng gặp những
khó khăn vốn có, việc khách hàng trì hỗn, hứa hẹn, và thất hứa xảy ra liên tục với
việc vẽ ra những thời hạn trong tương lai, điều này cũng làm khó cán bộ thu nợ. Với
tình hình nợ có xấu lớn, chi nhánh mới thành lập tổ xử lý nợ, tuy nhiên tổ này lại được
nằm ngay trong phòng quan hệ khách hàng, dẫn đến trong nhiều trường hợp cán bộ
tín dụng lại cũng là thành viên của tổ xử ký nợ, dẫn đến tính khơng khách quan, nhiều
khi là nể nang do cán bộ vốn đã cho vay với chính khách hàng đó. Hơn nữa, việc
kiêm nhiệm dẫn đến chất lượng công việc sẽ bị tản mạn, không chuyên sâu, ảnh
hưởng tới hiệu quả công việc, và chính điều này tạo ra những nguy cơ rủi ro khơng
đáng có. Cán bộ thu hồi nợ xấu khơng có kinh nghiệm, kỹ năng và chun mơn cần
thiết trong việc thu hồi nợ, dẫn đến chất lượng thu hồi nợ kém, nợ xấu tồn đọng, gây
ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.



(84)

tra giám sát tuân thủ của VietComBank Thành Công chỉ tiến hành kiểm tra sau việc
tuân thủ nghiệp vụ của các phịng ban. Đối với hoạt động tín dụng thì các kiểm tra
viên chưa thể hiện chức năng quan trọng của mình là phát hiện ra các nguy cơ tiềm ẩn
rủi ro để từ đó đề ra các biện pháp phịng ngừa. Hạn chế đó một phần là do các nhân
viên kiểm tra nội bộ không được đào tạo chun mơn về kiểm tốn và chưa có nhiều
kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động tín dụng. Hiện nay với đội ngũ cán bộ tín dụng
cịn trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm trong khi khối lượng cơng việc cán bộ tín dụng
phải giải quyết là tương đối tuy nhiên cách sắp xếp nhân sự chưa thể hiện tính bao


quát cũng như khả năng kiểm soát. Mặt khác các kiểm soát viên chưa thể hiện được
vai trị quan trọng của mình là phát hiện ra các nguy cơ tiềm ẩn rủi ro để từ đưa ra các
biện pháp phòng ngừa rủi ro. Vì vậy, việc phịng ngừa, phát hiện những dấu hiệu vi
phạm, sử dụng vốn sai mục đích vẫn còn chậm trễ dẫn tới nguy cơ rủi ro tín dụng
xuất phát từ sự bng lỏng trong kiểm soát là rất cao.


Thứ tƣ, thủ tục kiểm sốt khơng chặt chẽ, chƣa phát huy đƣợc tác dụng:


việc áp dụng các thủ tục kiểm sốt tại VietComBank Thành Cơng thiếu đồng bộ, lỏng
lẻo. Điều này được thể hiện: khơng có kiểm tra chéo định kỳ và đột xuất giữa các cán
bộ tín dụng với nhau, khơng có sự ln chuyển cán bộ tín dụng và luân chuyển quản
lý khách hàng vay giữa các cán bộ tín dụng. Ý kiến của bộ phận quản lý rủi ro tín
dụng chưa thực sự là ý kiến quyết định tín dụng, hầu như chỉ mang ý nghĩa tham khảo
đối với các cán bộ tín dụng và ban lãnh đạo chi nhánh do đó chưa thực hiện được
chức năng rà sốt độc lập và có đề xuất quyết định tín dụng của bộ phận quản lý rủi ro
tín dụng. Do vậy báo cáo thẩm định cho vay cịn lỏng lẻo, khơng nêu các tiêu chí cụ
thể để chứng minh phương án sản xuất kinh doanh khả thi, nguồn thông tin đơn thuần
là lý giải theo hướng định tính, như vậy là thơng tin vẫn cịn thiếu tính nhiều chiều,
thiếu đa dạng dẫn tới bị động và cách đánh giá chung chung.



(85)

Thành Cơng cịn gặp nhiều trở ngại trong việc thu thập thông tin một cách đầy đủ và
chính xác để phục vụ cho q trình phân tích, đánh giá khả năng và thiện chí trả nợ
của khách hàng một cách chính xác, vì thế nguy cơ rủi ro tín dụng rất cao. Cụ thể như:


Thiếu thông tin từ bộ hồ sơ vay vốn: đối với doanh nghiệp hồ sơ vay vốn còn thiếu
những thơng tin từ các báo cáo tài chính được kiểm toán một cách hợp lý và kịp thời.
Đối với các thông tin về tài sản, thu nhập, cán bộ tín dụng chưa được trang bị nhiều


các cơng cụ để đánh giá các tiêu thức trong báo cáo tài chính của đơn vị là trung thực
hợp lý trên khía cạnh trọng yếu hay ở mức chấp nhận được. Một vấn đề nữa là thiếu


sự kiểm soát độc lập chất lượng tín dụng và cảnh báo sớm các khoản nợ dưới mức
tiêu chuẩn. Do vậy các thủ tục kiểm sốt đã khơng sớm nhận biết được những khoản
nợ này để chuyển trách nhiệm quản lý sang bộ phận chuyên trách của ngân hàng.


Việc thực hiện kiểm tra vốn vay được CBTD thực hiện ít nhất 3 tháng /lần đối
với cho vay ngắn hạn và 6 tháng/lần đối với cho vay trung dài hạn. Nhưng công tác
quản lý giám sát vốn chỉ được thực hiện một cách chiếu lệ thiếu chặt chẽ đặc biệt đối
với các dự án đầu tư và cơng trình xây lắp. Việc gia hạn nợ chủ yếu theo đề nghị của
khách hàng mà chưa kiểm tra, xác định nguyên nhân khách quan. Điều này đã làm
tăng nguy cơ rủi ro cho ngân hàng.


Thứ năm, chính sách tín dụng áp dụng tại VietComBank Thành Công dựa
vào việc chấm điểm phân loại khách hàng và xác định hạn mức tín dụng cho
từng khách hàng mang tính cứng nhắc, chƣa thực sự linh hoạt.



(86)

nguy cơ rủi ro tín dụng cho VietComBank Thành Cơng. Tuy nhiên, VietComBank


Thành Cơng cịn chưa có phương pháp lượng hóa để xác định mức độ rủi ro, xác suất
xảy ra rủi ro, do đó việc chấm điểm khách hàng khơng được thực hiện.


Về báo cáo tài chính của doanh nghiệp vẫn ln mang trong nó những ẩn số
ngay cả khi được đơn vị kiểm toán và cơ quan thuế thừa nhận, và đây là một thách
thức không chỉ riêng cán bộ ngân hàng trong công tác thẩm định năng lực tài chính
của khách hàng vay vốn. Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn chú
trọng phần tài sản đảm bảo như chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng. Về
thủ tục xử lý tài sản thể chấp đã được quy định tại Nghị định 178 của Chính phủ về
đảm bảo tiền vay là giao cho tổ chức tín dụng phối hợp với các ngành chức năng xử lý
nhưng trên thực tế, việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ thời gian qua gặp nhiều
khó khăn, phải qua nhiều ngành, nhiều cấp, thời gian xử lý quá lâu dẫn đến giá trị tài
sản bị sụt giảm, nhiều lúc tài sản khơng cịn giá trị sau một thời gian dài chờ đợi các


cơ quan xử lý. Vì thế, các khoản vay mặc dù có tài sản đảm bảo nhưng lại khơng có
khả năng thu hồi.


Thứ sáu, chƣa xây dựng đƣợc hệ thống cung cấp thông tin trong hoạt động
tín dụng



(87)

chưa có cơ chế phối hợp rõ ràng, chưa ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động,
một phần là do việc nắm bắt thơng tin của chính cơ quan này cịn hạn chế. Bên cạnh
đó, các cơ quan này cịn có những quy định riêng về tính bảo mật nên khó khai thác
hết được những thơng tin và ngân hàng cần.


2.3.2.2. Nguyên nhân



Thứ nhất, hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng chƣa phân
định đƣợc rõ chức năng quản lý rủi ro và quản trị tín dụng


Mơ hình tổ chức tín dụng chưa phân định rõ chức năng của các bộ phận: bộ phận
kinh doanh trực tiếp quan hệ khách hàng và bộ phận quản lý rủi ro và bộ phận tác
nghiệp. Quy trình thẩm định chỉ áp dụng tại Hội sở chính, cịn ở các chi nhánh thì cán
bộ tín dụng và cán bộ thẩm định thường là một vừa làm công tác marketing khách
hàng vừa thực hiện chức năng quản lý rủi ro nên quy trình thẩm định được tiến hành
một cách chiếu lệ thiếu sự kiểm soát độc lập chất lượng tín dụng và khơng cảnh báo
sớm các khoản nợ dưới mức tiêu chuẩn. Do đó chức năng quản lý rủi ro của bộ phận
quản lý rủi ro chưa thực hiện đúng chức năng giám sát quản lý rủi ro tín dụng trong
quy trình tín dụng của mình. Ý kiến của bộ phận quản lý rủi ro tín dụng chưa thực sự
là ý kiến quyết định tín dụng hầu như chỉ mang ý nghĩa tham khảo đối với cán bộ tín
dụng và Ban lãnh đạo do đó chưa thực hiện chức năng rà sốt độc lập và chưa có đề
xuất quyết định tín dụng.



(88)

Thứ hai, nhân sự kiểm soát q ít, trình độ và ý thức của cán bộ tín dụng,


cán bộ quản lý tín dụng, kiểm sốt viên tín dụngchƣa cao.


Hầu hết các cán bộ cịn rất trẻ, họ có chun mơn nhưng lại thiếu trải nghiệm
thực tiễn, thiếu đào tạo một cách bài bản chuyên sâu. Các thủ tục kiểm soát được đánh
giá là tương đối đầy đủ nhưng chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ lại phụ thuộc
rất nhiều vào con người. Việc chấp hành quy trình tín dụng của nhân viên chưa cao
không hiểu rõ tầm quan trọng của việc tuân thủ đúng quy trình nghiệp vụ tín dụng,
làm việc cịn tùy tiện, nể nang lẫn nhau đã làm giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống
kiểm soát nội bộ. Cụ thể như:


Quy trình cho vay tại ngân hàng chưa thực sự chú trọng đến phân tích khách
hàng để tính tốn điều kiện và khả năng trả nợ của khách hàng, bên cạnh đó phương
pháp xem xét phân tích cịn nhiều hạn chế chưa chính xác. Trong khi các phân tích
ban đầu rất quan trọng quyết định khả năng tiếp tục vay hay không của khách hàng,
làm cho các quyết định vẫn chưa mang tính khoa học. Việc xác định thời gian cho vay
của cán bộ tín dụng khơng hợp lý, dẫn đến tình trạng đến hạn khách hàng khơng trả
được nợ và thực hiện việc gia hạn nợ vượt thời gian cho vay. Tuy nhiên việc gia hạn
nợ chủ yếu theo đề nghị của khách hàng mà chưa kiểm tra xác định nguyên nhân
khách quan, có trường hợp chưa chuyển nợ quá hạn kịp thời.


Việc xác định hợp đồng tín dụng cịn nhiều lỗi sơ đẳng, thiếu các nội dung theo
quy định vẫn còn xảy ra khá phổ biến, theo chiều hướng chủ quan. Nhiều hợp đồng
tín dụng khơng ghi đầy đủ các nội dụng như: phương thức bảo đảm tiền vay, ngày,
tháng, năm lập hợp đồng hoặc không quy định cụ thể ngày tháng năm của từng kỳ hạn
trả nợ gốc, lãi…



(89)

Thứ ba, hoạt động kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng khơng tập
trung, thẩm quyền phê duyệt tín dụng tập trung lớn trong tay giám đốc Chi
nhánh.



Các Chi nhánh được giao mức phê duyệt tín dụng cao và quyền hạn phê duyệt
tín dụng được tập trung lớn trong tay Giám đốc chi nhánh. Hội sở chính chỉ tái thẩm
định, phê duyệt những khoản tín dụng lớn và dài hạn. Nguyên nhân là quyền lực tập
trung lớn trong tay Giám đốc Chi nhánh, đặc biệt là thẩm quyền phê duyệt tín dụng.
Mặt khác Tổ kiểm tra giám sát tuân thủ thuộc sự điều hành và quản lý của Giám đốc
Chi nhánh. Như vậy một phần của bộ phận kiểm soát sau của hệ thống kiểm soát nội
bộ gần như bị vơ hiệu hóa nếu có sự gian lận trong hoạt động tín dụng. Do vậy nếu có
sự thơng đồng giữa Giám đốc chi nhánh với người vay trong những khoản tín dụng
chất lượng kém thì hệ thống kiểm sốt nội bộ sẽ khơng ngăn chặn được rủi ro này.


Thứ tƣ, hoạt động tín dụng chƣa tuân thủ đúng quy trình: với quy trình


được nêu ở trên, có thể thấy là quy trình được áp dụng đầy đủ khi đối tượng vay là


doanh nghiệp lớn, hay một món vay lớn. Đối với quy trình tín dụng cho doanh nghiệp
vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân của ngân hàng khá đơn giản, dẫn tới việc khi cho vay
các nhóm khách hàng chỉ xét mục đích vay đơn thuần, các phương án hoàn trả nợ,
năng lực hoạt động của khách hàng không được chú trọng thay vào đó là yếu tố tài
sản đảm bảo, tuy nhiên lại chưa quan tâm đúng mức công tác thẩm định tài sản thế
chấp. Dẫn đến việc đánh giá, thẩm định sơ sài, cũng như mục đích sử dụng vốn vay
không được cán bộ quan tâm, các bước sau vay cũng không theo dõi. Đây sẽ là nguy
cơ cao trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, khi môi trường kinh tế có
nhiều thay đổi thì nhóm khách hàng này sẽ là đối tượng đầu tiên chịu rủi ro dẫn đến


rủi ro đến với ngân hàng.





(90)

CHƢƠNG 3




PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HỒN THIỆN HỆ


THỐNG KIỂM SỐT NỘI BỘ VỚI TĂNG CƢỜNG KIỂM



SỐT HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI VIETCOMBANK



THÀNH CƠNG



3.1 Phƣơng hƣớng phát triển tín dụng và hồn thiện hệ thống kiểm sốt nội


bộ với tăng cƣờng kiểm sốt hoạt động tín dụng tại VietCombank Thành


Cơng



3.1.1 Phƣơng hƣớng phát triển tín dụng của VietCombank Thành Cơng



Tăng cường và đa dạng hóa các hình thức và các sản phẩm huy động vốn nhằm
khai thác tối ưu các nguồn vốn trên thị trường. Chi nhánh chú trọng tới huy động vốn
từ dân cư trong bối cảnh lãi suất thường xuyên biến động và khó kiểm sốt. Tỷ trọng
tăng trưởng huy động vốn tăng 25% so 31/12/2009. Thực hiện tăng trưởng tín dụng đi
đơi với khả năng huy động vốn với cơ cấu hợp lý và hiệu quả được nâng . Cụ thể là:


Giữ vững thị trường các khách hàng truyền thống, đặc biệt là các khách hàng có
uy tín nhiều năm với Ngân hàng bao gồm các tổng cơng ty, tập đồn lớn hoạt động
trong các lĩnh vực kinh tế có thế mạnh được sự quan tâm chỉ đạo của chính phủ. Đồng
thời khơng ngừng mở rộng ra các đối tượng khách hàng khác thơng qua đa dạng hố
các sản phẩm cho vay, tăng cường cho vay hợp vốn, đồng tài trợ, cho vay doanh
nghiệp vừa và nhỏ, quảng bá hình ảnh của VietCombank rộng rãi trên các phương tiện
thông tin đại chúng.



(91)

Thực hiện quan điểm kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận và tối đa hoá lợi nhuận
kết hợp với thực hiện chính sách kinh tế- xã hội để tạo ra thế và lực trong kinh doanh.
Đây là mục tiêu chính xun suốt trong q trình hoạt động tín dụng.



Tiến hành phân loại dư nợ cho vay, phân tích chất lượng dư nợ cho vay đồng
thời có các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị vay vốn, tạo ra năng lực sản
xuất kinh doanh, năng lực tài chính cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, phấn
đấu giảm thấp tỷ lệ nợ xấu và đảm bảo luôn ở mức dưới 3%.


Cơ cấu lại danh mục đầu tư theo hướng đa dạng hóa khách hàng. Cơ cấu tín
dụng hướng vào lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, tiếp tục quan tâm đến chất lượng tín
dụng. Củng cố quan hệ với các khách hàng lớn, truyền thống (cơ chế, sự quan tâm,
tăng cường gặp gỡ, trao đổi); Chi nhánh sẽ mở rộng cho vay khách hàng doanh
nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thể nhân, phát triển cho vay các sản phẩm bán lẻ, đầu tư
dự án trung dài hạn để tăng tỷ trọng vốn trung dài hạn trên tổng dư nợ. Trong đó,
phân loại theo khách hàng gồm dư nợ nhóm khách hàng SME chiếm 50% tổng dư nợ,
dư nợ khách hàng thể nhân chiếm 10% tổng dư nợ. Phân loại theo loại hình tín dụng:
ngắn hạn chiếm 75% tổng dư nợ, trung dài hạn chiếm 25% tổng dư nợ


Từng bước đầu tư mở rộng cho vay, đảm bảo an tồn có hiệu quả phục vụ tốt
nhất sự nghiệp kinh tế quốc phịng, gắn tín dụng ngân hàng với đầu tư phát triển kinh
tế-xã hội. Chủ động tham gia thực hiện tốt các chương trình của Chính phủ, Ngân
hàng nhà nước như thực hiện chương trình hỗ trợ lãi suất, các chương trình cho vay
có bảo lãnh của ngân hàng phát triển Việt Nam.


Tìm kiếm và chuyển dần sang cho vay hợp vốn, cho vay theo dự án, chương
trình kinh tế có tính khả thi cao.


3.1.2 Phƣơng hƣớng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng


cƣờng kiểm soát hoạt động tín dụng của VietCombank Thành Cơng




(92)

tăng trưởng tín dụng bền vững, nâng cao chất lượng tín dụng. Có thể thấy rằng tăng
trưởng tín dụng góp phần gia tăng doanh thu cho ngân hàng, cịn kiểm sốt hoạt động


tín dụng góp phần củng cố chất lượng tín dụng qua đó góp phần thúc đẩy lợi nhuận,
giống như một người bảo vệ, nhưng lại làm cho hoạt động tín dụng trở nên mạch lạc,
thơng suốt.


Có thể thấy là nếu chỉ chạy theo thành tích, số lượng bằng cách phát triển nóng
tín dụng mà qn đi cái cốt của vấn đề là nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm sốt và
phịng ngừa rủi ro tín dụng thì nguy cơ dẫn đến nợ quá hạn gia tăng, ngân hàng sẽ khó


tránh khỏi phải đối mặt với thua lỗ, có thể ví điều này giống như đi trên một chuyến
xe với tốc độ ngày càng tăng nhưng lại thiếu phanh; và khi đã mất kiểm sốt thì với
tính nhạy cảm riêng có của ngân hàng với các rủi ro hiện hữu thì nguy cơ tiến đến phá
sản là luôn tồn tại. Ngược lại nếu chỉ chú trọng đến kiểm sốt tín dụng, phịng ngừa
rủi ro tín dụng mà khơng quan tâm đến mở rộng tín dụng có hiệu quả thì giống như là
rào cản, khi đó ngân hàng đã đánh rơi mất vai trị chính của mình là một kênh huy
động và tạo nguồn cho nền kinh tế, tất yếu khi đó ngân hàng mất dần khách hàng,
giảm thị phần và đến một thời điểm nào đó làm cho ngân hàng khơng nâng cao được
thu nhập, thua lỗ và cũng có nguy cơ phá sản. Vì vậy mục tiêu cao nhất của ngân hàng
là kiểm sốt hoạt động tín dụng có hiệu quả, hạn chế rủi ro tín dụng, phát triển tín
dụng phải nằm trong tầm kiểm sốt và mang tính bền vững.


Thứ nhất, tách bạch phân cơng rõ chức năng nhiệm vụ các phịng ban và các bộ


phận tham gia vào quy trình tín dụng và tn thủ trình tự trong quy trình cấp tín dụng
cho khách hàng. Hoạt động kiểm sốt tín dụng phải đảm bảo tập trung và có sự độc
lập khách quan giữa các bộ phận.


Thứ hai, tăng cường đào tạo và đào tạo lại cán bộ tín dụng, cán bộ quản lý tín



(93)

Thứ ba, cơ cấu lại mơ hình tổ chức: hệ thống kiểm tra giám sát tuân thủ, kiểm



toán nội bộ trực thuộc Ban kiểm soát Hội đồng quản trị do Hội đồng quản trị quyết
định bổ nhiệm miễn nhiệm và đánh giá hiệu quả công việc. Đồng thời quyền lợi và
trách nhiệm của cán bộ kiểm tra giám sát tuân thủ phải được quy định rõ ràng để từ đó
quy định trách nhiệm của cán bộ thực hiện cơng việc kiểm sốt hoạt động tín dụng


Thứ tƣ, tiếp tục hoàn thiện và xây dựng các công cụ quản trị rủi ro như hệ thống


chấm điểm tín dụng, xác định hạn mức tín dụng, mơ hình phân tích ngành,…


Thứ năm, tăng cường kiểm soát dư nợ tín dụng kết hợp với tăng trưởng bền


vững, chất lượng hiệu quả tín dụng trên ngun tắc giữ quy mơ và cơ cấu tín dụng
phù hợp. Quản lý chất lượng tín dụng theo danh mục nợ xấu, nợ quá hạn, danh mục
từng nghành nghề kinh tế từng lĩnh vực kinh tế.


3.2 Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cƣờng


kiểm soát hoạt động tín dụng tại VietComBank Thành Cơng



Kiểm sốt tín dụng ln là bài tốn hóc búa, cần có sự đồng thuận hợp tác đặc
biệt là từ mọi phòng, ban, từ cấp lãnh đạo cho đến từng nhân viên để giảm thiểu
những rủi ro, khống chế nguy cơ tiềm ẩn, đề phịng xảy ra rủi ro kịp thời có những
ứng phó cần thiết. Kiểm sốt tín dụng tốt sẽ lành mạnh hóa cơng tác ngân hàng, tăng
khả năng cạnh tranh cũng như đảm bảo sự tín nhiệm của khách hàng.


3.2.1 Nhóm giải pháp hồn thiện mơi trƣờng kiểm sốt



Thứ nhất, hồn thiện cơ cấu tổ chức để phân định rõ chức năng nhiệm vụ
của các bộ phận tham gia quy trình tín dụng



(94)

đầu mối liên hệ với khách hàng, thu thập thông tin, hồ sơ về khách hàng, khoản tín


dụng, thực hiện thẩm định ban đầu và lập bảng đề xuất tín dụng. Bộ phận quản lý rủi
ro tín dụng thực hiện rà sốt đề xuất tín dụng, đánh giá rủi ro của khoản tín dụng, xác
định mức độ rủi ro để có đề suất quyết định tín dụng. Bộ phận tác nghiệp thực hiện
nhập dữ liệu vào hệ thống chuyển cho bộ phận thanh toán thực hiện giải ngân theo
yêu cầu của khách hàng và hạch toán thu hồi nợ gốc và lãi đến hạn.


Việc phân chia trách nhiệm đảm bảo được các nguyên tắc của quản lý rủi ro tín
dụng trong ngân hàng. Hiệu quả của hoạt động tín dụng sẽ được nâng cao nhờ các rủi
ro được nhận diện và sớm được cảnh báo trước. Mặt khác sự phân chia ba bộ phận
riêng biệt này vừa tạo được tính kiểm sốt lẫn nhau giữa các bộ phận vừa ngăn ngừa
được sự thông đồng của một bộ phận với khách hàng vay và đảm bảo không có bộ
phận nào thực hiện hai chức năng cùng một lúc, mỗi bộ phận có sự chun mơn hóa
sâu hơn trong công việc.


Thứ hai, sắp xếp và tăng cƣờng chính sách đào tạo đối với cán bộ tín dụng,
cán bộ quản lý tín dụng, cán bộ kiểm soát và thiết lập chế tài thƣởng phạt


Trong bất cứ một đơn vị nào thì tài sản lớn nhất đó chính là con người, con


người là nhân tố quan trọng nhất trong toàn bộ guồng máy quyết định tới sự thành bại
của một tổ chức, vì vậy các đường hướng phát triển luôn phải đặt yếu tố nhân lực lên
hàng đầu. Vì vậy, trong cơng tác tuyển dụng nếu đơn vị đặt mục tiêu chất lượng nhân
lực là nhân tố sống cịn thì q trình đào tạo và làm việc sẽ chuyên nghiệp, vững
vàng, và qua đó đã giảm thiểu rủi ro đáng kể trong quá trình cơng tác, tránh được
những sai sót cố hữu có thể phịng ngừa. Như vậy, có thể thấy là kết quả của hệ thống
kiểm sốt nội bộ đối với hoạt động tín dụng phụ thuộc phần lớn vào trình độ, năng lực
chuyên mơn của đội ngũ cán bộ làm cơng tác tín dụng, cụ thể:



(95)

Trong hoạt động của bất cứ đơn vị nào thì vai trị của đội ngũ cán bộ quản lý,
điều hành sẽ hình thành nên lề thói kinh doanh, hay văn hóa kinh doanh của đơn vị,


chính là hình ảnh phản chiếu nhanh nhất về cung cách làm việc của doanh nghiệp.
Đối với ngân hàng, điều này lại càng thể hiện rõ nét, đặc biệt là trong hoạt động tín
dụng, năng lực quản trị điều hành của đội ngũ cán bộ quản lý có ý nghĩa đặc biệt tạo
nên năng lực quản trị điều hành của Chi nhánh. Đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành
mạnh khơng chỉ đảm bảo hoạt động tín dụng của ngân hàng có kỷ cương thống nhất
mà cịn biết phát huy tính năng động, sáng tạo của mỗi người qua đó thực hiện có hiệu
quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tránh được những rủi ro khơng đáng có
trong hoạt động kinh doanh. Chính vì thế để hạn chế rủi ro tín dụng, điều kiện tiên
quyết đội ngũ quản lý điều hành cần quan tâm trau dồi về đạo đức nghề nghiệp, bồi
dưỡng nâng tầm trình độ quản trị kinh doanh, hiểu biết về pháp luật, nắm được quy
trình thẩm định tín dụng ra quyết định chính xác về cho vay hay khơng cho vay. Cán
bộ lãnh đạo phải đề ra được cách thức điều hành tối ưu nhất sao cho các chủ trương
chính sách của Nhà nước, các quyết định của Ngân hàng, các ý kiến chỉ đạo của lãnh
đạo được nhanh chóng qn triệt đến các phịng ban đồng thời giải đáp các thơng tin
phản hồi từ các phịng ban và khách hàng đạt hiệu quả cao nhất.


Bên cạnh đó, các cấp quản lý cần thực hiện nghiêm minh, rạch ròi quyền gắn liền
với trách nhiệm, thực hiện đúng nguyên tắc phân công phân nhiệm, thông qua các văn
bản bằng những quy định cụ thể, chi tiết thẩm quyền và trách nhiệm của từng chức vụ
quản lý và được phổ biến tới từng cán bộ, để tránh tình trạng thực hiện những quyền
vượt cấp dẫn đến xảy ra sự cố nghiêm trọng gây tổn hại tới toàn bộ ngân hàng và hệ
thống.


Hai là, nâng cao chất lƣợng cán bộ tín dụng và kiểm sốt viên tín dụng trong
q trình tuyển dụng và đào tạo



(96)

hiện tại trở thành những cán bộ có trình độ nghiệp vụ và kỹ năng chun mơn về kiểm
sốt và kiểm toán nội bộ. Một đội ngũ kiểm toán nội bộ đủ trình độ có thể tự mình
xây dựng các kế hoạch làm việc chương trình và phương pháp kiểm tốn thích hợp
đối với ngân hàng. Về bản chất bất cứ một hệ thống kiểm soát nội bộ cũng có thể tồn


tại những sơ hở và một nhân viên nào đó có thể tận dụng các sơ hở đó để thực hiện
hành vi sai phạm. Do đó, để hạn chế rủi ro tín dụng có hiệu quả, Chi nhánh cần trang
bị cho mình, thơng qua quá trình tuyển dụng, sử dụng, đào tạo một đội ngũ cán bộ
chun mơn hố và có kinh nghiệm về quản lý rủi ro tín dụng. Cụ thể :


+ Đưa ra chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ và đề bạt cán bộ thích hợp với
yêu cầu và trách nhiệm cơng việc, đồng thời q trình tuyển dụng nên cùng hợp tác
với tổ chức bên ngồi ngân hàng có chun mơn, uy tín về nhân sự để giảm thiểu tiêu
cực trong quá trình thi tuyển.


+ Định kỳ tổ chức và phối hợp với ngân hàng cấp trên và các ngân hàng nước
ngoài mở các lớp học, tập huấn và đào tạo để cập nhật kiến thức ngân hàng đặc biệt là
đối với cán bộ thể hiện khả năng, năng lực tốt.


+ Nâng cao trình độ kỹ thuật, năng lực chuyên môn, am hiểu thị trường, kiến thức
pháp luật cho cán bộ tín dụng để có góc nhìn khái quát, toàn diện giúp đưa ra nhận
xét, đánh giá sát thực, khách quan hơn trong các quyết đinh cho vay.


+ Các kiến thức về kỹ năng phục vụ khách hàng, kỹ năng tìm hiểu thơng tin, kỹ
năng đàm phán, kỹ năng phân tích, tổng hợp, kỹ năng suy diễn là các yêu cầu bắt
buộc, và được đánh giá hàng kỳ trên các bảng chấm điểm chi tiết từng tiêu thức đó.


+ Kiên quyết loại bỏ các cán bộ yếu về tư cách đạo đức, thiếu trung thực hoặc
điều chuyển sang bộ phận công tác khác nếu thiếu chuyên môn nghiệp vụ.



(97)

Chi nhánh cần tạo kênh hợp tác với những chuyên gia, những nhà khoa học để
lắng nghe, học hỏi và áp dụng những nghiên cứu về kiểm sốt tín dụng và phịng ngừa
rủi ro tín dụng giúp cho lãnh đạo ngân hàng trong việc ban hành, sửa đổi các chính
sách quản trị rủi ro của Chi nhánh cũng như cập nhật những thông tin kinh tế liên
quan đến rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Qua đó việc giảng dạy nâng cao kiến thức


về kiểm soát đối với đội ngũ kiểm soát viên của Chi nhánh sẽ thường xuyên hơn.


Ba là, thiết lập chế tài thƣởng phạt để tạo chính sách động lực đối với ngƣời
lao động


Trước mắt cần có chính sách đãi ngộ tích cực đối với cán bộ tín dụng phù hợp,
động viên kịp thời đối với những cán bộ có thành tích trong cơng tác bằng tiền
lương,tiền thưởng. Có chế tài quy định trách nhiệm của cán bộ tín dụng để đảm bảo
an toàn vốn đồng thời tạo sự đảm bảo cho cán bộ tín dụng yên tâm làm việc. Đồng
thời việc cụ thể hóa quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ tín dụng trong các quy trình
tín dụng giúp cán bộ tín dụng có quyền tiếp xúc với các nguồn thơng tin tại doanh
nghiệp góp phần giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Tạo lập môi trường làm việc vui
vẻ, xây dựng văn hóa doanh nghiệp để tạo động lực giúp người lao động hăng say làm
việc. Đồng thời Chi nhánh cũng xây dựng quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm rõ ràng,
cơng khai để tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, tất cả mọi người đều có cơ hội
phấn đấu .


Thứ ba, xây dựng lại mơ hình tính điểm trong phân tích tín dụng và xác định
giới hạn tín dụng


Mặc dù hiện tại, Ngân hàng Ngoại thương Việt nam đã ban hành Sổ tay tín
dụng trong đó có hướng dẫn áp dụng phương pháp tính điểm trong phân tích tín dụng
và cũng đã triển khai đến VietComBank Thành Công. Nhưng khi VietComBank



(98)

nghiệp. Qua đó, tác giả cũng xin đề suất một vài quan điểm đánh giá của Ngân hàng
trong việc cấp tín dụng cho khách tại phụ lục 3.1.


Khi đã có GHTD, các bộ phận thực hiện như tín dụng, bảo lãnh và đặc biệt là
bộ phận khách hàng sẽ nắm được quan điểm đánh giá của ngân hàng để sử dụng Giới
hạn tín dụng trong cấp tín dụng cụ thể cho từng khách hàng. Quan điểm này được


lượng hoá cụ thể bằng một mức giá trị cụ thể, đó là GHTD. Từ đó, các bộ phận sẽ tiến
hành đối chiếu GHTD với mức dư nợ thực tế của khách hàng. Sẽ có 3 trường hợp xảy


ra:


+ GHTD lớn hơn mức giao dịch hiện tại của khách hàng. Đối với các khách
hàng loại này, chiến lược đặt ra là phải tăng dư nợ và chi nhánh sẽ tập trung các biện
pháp cần thiết để thực hiện mục tiêu này.


+ GHTD bằng mức giao dịch hiện tại. Trường hợp này, chi nhánh duy trì quan
hệ với khách hàng và chủ động chuẩn bị xử lý các nhu cầu phát sinh làm dư nợ có thể
vượt GHTD theo các hướng: (i) chỉ cho vay mới khi đã trả nợ cũ, (ii) dừng tham gia
vào các phương án ít hiệu quả và chuyển sang tập trung các phương án có hiệu quả
hơn.


+ GHTD nhỏ hơn mức giao dịch hiện tại. Đối với các khách hàng loại này, chi
nhánh tuyệt đối không cho vay mới mà tập trung các biện pháp giảm dư nợ xuống
mức GHTD. Chi nhánh phải chuẩn bị phương án từ chối khách hàng trong giai đoạn
này, sao cho vừa bảo đảm mục tiêu giảm dư nợ, nhưng không gây ấn tượng xấu cho


khách hàng.



(99)

mức độ rủi ro cao. Đối với các khách hàng có GHTD nhỏ hơn nhiều so với mức giao
dịch hiện tại (do phải điều chỉnh giảm GHTD so với kỳ trước) thì Chi nhánh phải có
biện pháp theo dõi thường xuyên các khách hàng loại này, bảo đảm thu hồi vốn
nhanh, tránh thất thoát.


3.2.2 Nhóm giải pháp hồn thiện thủ tục kiểm sốt



Thứ nhất, xây dựng kế hoạch kiểm tra, kiểm sốt hoạt động tín dụng



Việc kiểm tra kiểm soát thường xuyên sẽ góp phần giúp cho hoạt động tín
dụng thêm lành mạnh, chấn chỉnh ngay những vấn đề xảy ra gây nguy cơ rủi ro cho
hoạt động tín dụng. Tăng cường bổ xung thêm các thủ tục kiểm soát để ngăn ngừa
gian lận và phát hiện sai sót như: giữa các cán bộ tín dụng nên có sự kiểm tra chéo
định kỳ và thực hiện luân chuyển cán bộ tín dụng trong việc quản lý khách hàng vay


trong Chi nhánh.


Thứ hai, hồn thiện cơng tác phân công phân nhiệm để phân chia trách
nhiệm trong phân cấp quyền phán quyết tín dụng


Như đã phân tích, cịn có nhiều vấn đề trong phân cấp quyền phán quyết tín
dụng. Những dự án lớn thường được chuyển về trụ sở chính để thẩm định. Nhưng
việc giải ngân, cho vay thì lại do ngân hàng cấp dưới thực hiện nên bộ phận kiểm soát
dưới cơ sở thường chủ quan không thấy được trách nhiệm của mình. Do đó trách
nhiệm của bộ phận thẩm định, bộ phận quản trị tại chi nhánh và tại Hội sở chính phải
được thể hiện rõ trong báo cáo thẩm định với từng chỉ tiêu, và ghi rõ nguồn số liệu
được cung cấp và các kết luận. Theo đó trách nhiệm của từng bộ phận được phân


chia rõ ràng tạo sự chun mơn hóa trong cơng việc, sai sót ít xảy ra và khi xảy ra
thường dễ phát hiện.



(100)

Có rất nhiều yếu tố có thể gây ra rủi ro đối với một doanh nghiệp. Tuy nhiên,
một doanh nghiệp thường không gặp phải tất cả các nguy cơ rủi ro mà chỉ có một số
nguy cơ rủi ro chính. Vấn đề quan trọng là phải xác định được các nguy cơ rủi ro
chính đó là gì. Để xác định các nguy cơ rủi ro, cán bộ tín dụng phải áp dụng kỹ thuật
phân tích tổng hợp tình hình doanh nghiệp: phân tích định tính, phân tích chỉ số tài
chính,phân tích dịng tiền…Dưới đây liệt kê tập hợp tất cả các loại rủi ro mà một
doanh nghiệp có thể gặp phải và các cơng cụ phân tích tương ứng để xác định nguy cơ



nào là có thực đối với một doanh nghiệp cụ thể. Khi đánh giá mức độ rủi ro của doanh
nghiệp, cán bộ tín dụng nên tham khảo các nguy cơ rủi ro và sử dụng các công cụ
dưới đây để phát hiện chính xác rủi ro:


Rủi ro hoạt động: Dấu hiệu phát hiện: Bộ máy quản lý khơng kiểm sốt được


kinh doanh gây thất thốt tài sản, lỗ; Tổ chức sản xuất, kinh doanh không hợp lý làm
tăng chi phí, gây lỗ; Sự gián đoạn trong sản xuất do hỏng hóc về cơng nghệ, thiếu đầu
vào ( lao động, nguyên vật liệu, điện nước…). Hoạt động bán hàng không hiệu quả
làm giảm doanh thu, gây lỗ. Cơng cụ phân tích để phát hiện rủi ro: Phân tích các
thơng tin định tính: trình độ, kinh nghiệm, đội ngũ quản lý; Cơ cấu tổ chức sản xuất,
kinh doanh; Năng lực điều hành của doanh nghiệp; Đạo đức của doanh nghiệp; Các
yếu tố về cơ sở hạ tầng, đầu vào.


Rủi ro tài chính: dấu hiệu phát hiện: Vốn vay lớn với lãi suất thay đổi làm chi
phí lãi vay có thể biến động lớn; Nghĩa vụ trả nợ không hợp lý, lớn hơn nguồn trả nợ;
Rủi ro tỷ giá. Công cụ phân tích để phát hiện rủi ro: Phân tích định lượng các số liệu
tài chính, trong đó đặc biệt chú ý mức độ và sự biến động theo thời gian của: Hệ số
đòn bẩy, các hệ số thanh khoản, hệ số lợi nhuận, cơ cấu nợ vay, đặc thù kinh doanh
(vay ngoại tệ nhưng doanh thu chỉ là tiền đồng).


Rủi ro quản lý: dấu hiệu phát hiện là dịng tiền khơng đảm bảo, chi phí tăng.



(101)

Rủi ro thị trƣờng, ngành: dấu hiệu phát hiện: Mức độ cạnh tranh cao làm
doanh nghiệp có thể dễ dàng mất khách: Ngành mới phát triển, chưa có vị trí ổn định;
Đặc thù của ngành là mức độ biến động cao. Cơng cụ phân tích để phát hiện rủi ro:
Phân tích định tính và định lượng: Tình hình cạnh tranh trong ngành (đối thủ cạnh
tranh chính), Phân tích bản chất của ngành, Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp (so
với doanh nghiệp khác).



Rủi ro chính sách: dấu hiệu phát hiện: Sự thay đổi chính sách có hại cho doanh
nghiệp. Cơng cụ phân tích để phát hiện rủi ro: Phân tích các thơng tin: Mơi trường
chính sách tại địa bàn có ảnh hưởng đến doanh nghiệp; Xu hướng các chính sách có
tác động đến doanh nghiệp (như tự do hóa thương mại, các quy định về hải quan…)


Kết thúc quá trình phân tích trên, cán bộ tín dụng cần phải trả lời được một số câu hỏi
chính: doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hay không, so với kỳ trước, hiệu quả của
doanh nghiệp tăng, giảm đi, hay ổn định? những yếu tố/ nguy cơ nào có thể gây rủi ro
cho doanh nghiệp trong vòng một năm tiếp theo (liệt kê các yếu tố đó)?


Thứ tƣ, tăng cƣờng quản lý giám sát vốn vay để ngăn ngừa việc sử dụng vốn
vay sai mục đích: Chi nhánh cần phải tổ chức theo dõi chặt chẽ tiến độ hoàn thành



(102)

Nếu phát hiện những vi phạm trong quá trình sử dụng vốn vay sai mục đích, cán
bộ giám sát có thể kiến nghị thu hồi nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn. Ngồi ra,
việc nhận diện rủi ro thơng qua các dấu hiệu cảnh báo cũng là một công việc quan
trọng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của Chi nhánh, nó địi hỏi cán bộ tín dụng
phải luôn theo dõi, giám sát khoản vay để phát hiện kịp thời những dấu hiệu phát sinh
rủi ro. Việc phát hiện những dấu hiệu rủi ro cần phải có sự thơng tin liên lạc trong hệ
thống, các cán bộ đều có trách nhiệm thơng báo cho cán bộ tín dụng, cán bộ rủi ro
những dấu hiệu rủi ro, tạo cơ chế thông tin linh hoạt.


Ngoài ra, việc báo cáo kịp thời theo đúng yêu cầu về rủi ro cũng là công cụ hỗ
trợ đắc lực cho cơng tác kiểm sốt, quản trị rủi ro tín dụng. Báo cáo có kèm theo các
biểu đồ, sơ đồ, bảng số liệu tổng hợp thể hiện các cấp độ rủi ro tín dụng. Các báo cáo
phải thể hiện rõ các điểm nóng của tình hình, chi tiết danh mục khách hàng, kế hoạch
hành động cụ thể, cũng như là kết quả của việc xử lý tồn tại đã đặt ra lần trước để tiếp
tục tránh lặp lại các sai lầm như vậy mới có định hướng hành động tiếp theo. Định kỳ
báo cáo có thể là tuần, tháng, quý. định kỳ báo cáo hàng ngày và báo cáo tức thời.



Việc kiểm tra giám sát vốn vay có thể được khái quát như sau:


Lập kế hoạch kiểm tra sử dụng vốn vay


 Được lập chậm nhất đến thời điểm lập Thông báo tác nghiệp


 Nội dung bao gồm (i) Lịch kiểm tra (ii) Phương thức kiểm tra (iii) Các loại
giấy tờ cần sao chụp lưu giữ.


 Trường hợp không lập kế hoạch, CBTD phải thực hiện theo hướng dẫn tại
Cẩm nang tín dụng


Thực hiện kiểm tra


 Phòng QHKH chịu trách nhiệm thực hiện Kế hoạch kiểm tra vốn vay


 Sau khi kiểm tra phải có Ghi chép hoặc Biên bản và phải trình Trưởng/ Phó
phịng QHKH có ý kiến



(103)

Nội dung kiểm tra


 Kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay


 Kiểm tra việc tuân thủ cam kết tại hợp đồng tín dụng


 Kiểm tra tình trạng thực tế của tài sản hình thành bằng vốn vay (có so sánh giá
trị với giá trị cho vay)


 Phát hiện các dấu hiệu bất thường …



3.2.3 Nhóm giải pháp hồn thiện cơng tác kiểm tốn nội bộ



Hoạt động của kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng là một cơng cụ hữu
hiệu để phát hiện ngăn ngừa và chấn chỉnh những sai phạm trong q trình cho vay.
Kiểm tốn nội bộ của Ngân hàng ngoại thương thường xuyên phối hợp với các đoàn
thanh tra của Ngân hàng nhà nước và các cơng ty kiểm tốn độc lập trong q trình
các đơn vị này tiến hành thanh tra và kiểm toán ngân hàng. Hiện nay bộ phận kiểm
toán nội bộ thuộc sự điều hành của ban kiểm soát thuộc hội đồng quản trị của ngân
hàng ngoại thương, còn bộ phận kiểm tra giám sát tuân thủ vẫn theo mô hình chịu sự
điều hành của Tổng giám đốc (Giám đốc chi nhánh) do đó tính độc lập chưa cao nên
hiệu quả của hệ thống không đạt được như mong muốn. Do đó để tăng cường vai trị
của hoạt động kiểm tra, kiểm sốt nội bộ thì Ngân hàng ngoại thương Việt Nam cần:


+ Cơ cấu lại mơ hình tổ chức: hệ thống kiểm tra giám sát tuân thủ, kiểm toán nội
bộ trực thuộc Ban kiểm soát Hội đồng quản trị do Hội đồng quản trị quyết định bổ
nhiệm miễn nhiệm, đánh giá hiệu quả công việc.


+ Quyền lợi và trách nhiệm của cán bộ kiểm tra nội bộ phải được quy định rõ ràng
để từ đó quy định trách nhiệm của cán bộ thực hiện cơng việc kiểm sốt hoạt động tín
dụng



(104)

3.2.4 Nhóm giải pháp hồn thiện ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong hoạt


động kiểm sốt tín dụng



Hàng tháng VietComBank Thành Công phải gửi nhiều báo cáo cho Hội sở
chính Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, cho Ngân hàng Nhà nước. Việc hoàn thành
các hệ thống báo cáo này chiếm rất nhiều thời gian của các cán bộ chi nhánh và Hội
sở chính đang phải thực hiện. Do đó việc thiết kế các phần mềm kế tốn để chiết suất
các loại báo cáo phục vụ cho công tác quản lý của ban giám đốc, báo cáo phục vụ yêu


cầu của Ngân hàng nhà nước yêu cầu của khách hàng, báo cáo phục vụ tác nghiệp của
cán bộ tín dụng trong việc phân tích quản trị tín dụng. Việc xây dựng hệ thống báo
cáo hợp lý sẽ giúp cán bộ tín dụng sẽ có nhiều thời gian và nguồn lực tập trung cho
việc kiểm sốt hoạt động tín dụng.


Nâng cao chất lượng của hệ thống thơng tin tín dụng: Từ chính trong nội bộ hệ
thống ngân hàng Ngoại Thương: Việc khách hàng có quan hệ cùng lúc với các điểm
giao dịch khác nhau trong hệ thống là việc thường xuyên. Trong cơng tác tín dụng,
thơng tin là yếu tố đóng vai trị quyết định giúp cho Ngân hàng ra quyết định có đầu
tư hay khơng. Các thơng tin từ phía khách hàng cung cấp nhiều khi lại thiếu đầy đủ,
chính xác, do vậy cán bộ tín dụng không thể chỉ dựa vào các luồng thông tin do khách
hàng cung cấp trong dự án mà cần phải nắm bắt, xử lý các thông tin về mọi vấn đề
liên quan đến phương án, dự án từ nhiều nguồn khác nhau. Vì vậy việc đầu tư và triển
khai hệ thống lưu trữ dữ liệu tập trung cung cấp thơng tin cho tồn hệ thống là rất cần
thiết. Mặt khác, tổ chức lưu trữ, thu thập các thông tin về khách hàng, thông tin thị
trường, thông tin công nghệ, xây dựng hệ thống cung cấp thông tin chấm điểm và xếp
hạng tín dụng khách hàng,… dựa trên việc sử dụng các phần mềm tin học. Đây sẽ là
căn cứ để đánh giá chính xác hơn về khách hàng vay vốn và nâng cao khả năng, tốc
độ xử lý, ra quyết định cho vay và đầu tư.



(105)

3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với


kiểm soát hoạt động tín dụng



3.3.1. Kiến nghị với Ngân hàng Ngoại thƣơng Trung Ƣơng.



Ngân hàng Ngoại thương cần phối hợp với các đơn vị liên quan thường xuyên
tổ chức các khóa đào tạo và bồi dưỡng kiến thức để nâng cao năng lực đánh giá, phân
tích tín dụng, đo lường rủi ro cho cán bộ. Theo lời khuyên của các chuyên gia về
thẩm định tín dụng thì khơng có phương pháp phân tích phức tạp nào có thể thay thế
được kinh nghiệm và đánh giá chuyên môn trong quản lý rủi ro tín dụng. Chú trọng


hơn nữa đến đầu tư cơng nghệ thơng tin nhằm phục vụ cho việc phân tích, đánh giá
hoạt động tín dụng đặc biệt là đo lường rủi ro tín dụng. Tăng cường tính hỗ trợ, công
cụ lọc dữ liệu trong phần mềm sử dụng, mang tính tương tác hỗ trợ hơn nữa trong sử
dụng. Đẩy mạnh cơng tác kiểm tra, kiểm sốt tín dụng trong toàn hệ thống. Cần quan
tâm hơn nữa trong việc xây dựng chiến lược phát triển của mình.



(106)

khoản nợ xấu phát sinh để tăng tỷ trọng các khoản cho vay sinh lời. Đồng thời tăng
cường năng lực quản trị điều hành và cần chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực,
nhất là đội ngũ cán bộ quản lý tín dụng và chú trọng tăng cường công tác quản lý rủi
ro, cần chú ý hơn công tác thông tin theo dõi, đánh giá khách hàng, phục vụ công tác
cho vay (hạn mức tín dụng), xây dựng hệ thống đo lường tín dụng, phân loại các
khoản vay, các phương pháp lập và sử dụng dự phòng rủi ro cho phù hợp với nhu cầu
của Ngân hàng Nhà nước.


3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nƣớc



Một là Ngân hàng nhà nước cần nâng cao chất lượng thông tin tại Trung tâm
thơng tin tín dụng của Ngân hàng thương mại ( CIT), nhằm đáp ứng yêu cầu thông
tin cập nhật và khách quan. Trung tâm phòng ngừa rủi ro của ngân hàng thương mại
đã đi vào hoạt động được nhiều năm nhưng chưa thật sự hiệu quả, thu thập thông tin
chưa nhanh nhạy, phong phú và chính xác. Do vậy các ngân hàng chưa khai thác
nhiều nguồn thông tin về các doanh nghiệp và thường xuyên cảnh báo những khách
hàng có vấn đề để các ngân hàng thương mại được biết. Đồng thời cần có những biện
pháp tuyên truyền thích hợp để các ngân hàng nhận thấy rõ quyền lợi và nghĩa vụ
trong việc cung cấp và sử dụng thơng tin tín dụng. và phối hợp với các đơn vị liên


quan thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo và bồi dưỡng kiến thức cập nhật để
nâng cao năng lực đánh giá, đo lường phân tích, kiểm sốt hoạt động tín dụng.



(107)

tắc cơ bản về giám sát hiệu quả hoạt động Ngân hàng của ủy ban Basel, tuân thủ


những nguyên tắc thận trọng trong công tác thanh tra.


Ba là đưa ra các biện pháp hoàn thiện hệ thống giám sát ngân hàng theo các
hướng cơ bản sau: nâng cao chất lượng phân tích tình hình tài chính và phát triển hệ
thống cảnh báo sớm những tiềm ẩn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, bao
gồm việc thành lập Đoàn khảo sát trực tiếp theo nguyên tắc chọn mẫu ngẫu nhiên,
phân tích báo cáo tài chính và xác định các “điểm” nhạy cảm. Phát triển và thống
nhất cách thức giám sát ngân hàng trên cơ sở lý luận và thực tiễn và xây dựng cách
tiếp cận tới công việc đánh giá chất lượng hoạt động kiểm sốt tín dụng trong nội bộ
các tổ chức tín dụng.


Bốn là tổ chức nâng cao vai trị của Hiệp hội ngân hàng Việt nam nhằm đưa ra
các kiến nghị, tiếng nói chung để tránh những động cơ cạnh tranh thiếu lành mạnh
gây hậu quả xấu cho hoạt động của Ngân hàng. Đồng thời tiến nói của Hiệp hội sẽ
đại diện cho hệ thống ngân hàng phản ánh, kiến nghị những chính sách và yếu tố cần
thiết trước các cơ quan quản lý nhà nước…


3.3.3. Kiến nghị với Nhà Nƣớc



Việc xây dựng xếp hạng tín dụng nội bộ tại các ngân hàng thương mại còn gặp
nhiều khó khăn vì việc tiếp cận các thơng tin giúp cho việc đánh giá, xếp hạng tín
dụng khách hàng (như tình hình kinh doanh, tài chính, tài sản, uy tín đối với NHTM
đã giao dịch trước đây) hiện vẫn còn nhiều hạn chế. Hiện nay mới chỉ có ít Cơng ty
xếp hạng tín nhiệm như Vietnamnet được thành lập, tuy nhiên khuôn khổ pháp lý cho
hoạt động của Cơng ty xếp hạng tín nhiệm trong nước trong hồn thiện, do đó, các
ngân hàng thương mại chưa thể tham khảo kết quả xếp hạng doanh nghiệp do Cơng
ty xếp hạng tín nhiệm trong nước thực hiện khi phân tích, đánh giá, xếp hạng tín



(108)

Nhà nước cần tạo lập và hồn thiện mơi trường pháp lý bảo đảm an tồn tín dụng
bao gồm: ban hành quy định cụ thể về bảo hiểm cho hoạt động tín dụng cả trong huy


động vốn lẫn cho vay để đảm bảo an toàn cho người gửi tiền cũng như tạo sự ổn định
chung cho nền kinh tế quốc dân; ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn về thế
chấp và cầm cố tài sản, đặc biệt là việc đăng ký giao dịch đảm bảo thực hiện tại địa
phương đối với tài sản thế chấp là nhà đất; sớm ban hành luật sở hữu và các văn bản
hướng dẫn thi hành nhằm xác định rõ về chủ sở hữu tài sản khi liên quan đến thế
chấp, cầm cố, bảo lãnh và chuyển quyền sở hữu khi phát mại tài sản trên. Nghiêm
cấm việc cấp phát và sử dụng nhiều giấy đăng ký quyền sử dụng để cầm cố, thế chấp
tại nhiều ngân hàng. Nhà nước cần quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến phát
mại tài sản như: quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng, quyền và nghĩa vụ của các cơ



(109)

KẾT LUẬN



Với việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO, việc mở cửa thị trường với
bước đầu tiên là mở cửa về thị trường bán lẻ, sau đó là các bước mở rộng sâu hơn mà
đặc biệt là về thị trường tài chính ngân hàng, các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng


tham gia sâu hơn vào q trình tồn cầu hóa. Mọi diễn biến trên thị trường Quốc tế
đã ảnh hưởng tới nước ta một cách rõ ràng, đặc biệt là cơn khủng hoảng tài chính
tồn cầu bắt đầu từ Mỹ từ năm 2008 và đã lan tỏa ra toàn thế giới đang tác động nặng
nề đến kinh tế, chính trị, xã hội của các Quốc gia theo các mức độ khác nhau. Hoạt
động của các NHTM nói chung, NHTM VN nói riêng cũng chịu tác động khơng chỉ
bởi các yếu tố tài chính-kinh tế bên ngồi, mà cịn bởi các yếu tố từ nội tại nền kinh
tế.


Đánh giá đúng các nguy cơ rủi ro dễ có, tăng cường kiểm soát tốt hơn là cách
để phát triển bền vững nhất trong quá trình sử dụng vốn của ngân hàng. Được xem là
một trong những hoạt động kinh doanh có thu lợi nhuận, tín dụng ngân hàng đương
nhiên tồn tại những rủi ro tiềm ẩn vốn có. Các NHTM chấp nhận sự tồn tại của những
rủi ro này trên cơ sở đưa ra những chính sách, cơng cụ, biện pháp kiểm sốt cần thiết
nhằm hạn chế tối đa các hậu quả phát sinh và tạo ra sự tăng trưởng tín dụng một cách


ổn định, bền vững. Từ những nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Luận văn đã hoàn thành
được những nhiệm vụ sau:


- Làm rõ cơ sở lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ và mối quan hệ của hệ
thống này trong việc tăng cường kiểm soát hoạt động tín dụng.


- Đã phân tích, đánh giá thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ tại
VietComBank Thành Công. Qua đó, chỉ rõ những mặt được và hạn chế cũng như
nguyên nhân của hạn chế trong việc tăng cường kiểm sốt hoạt động tín dụng tại Chi



(110)

- Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, Luận văn đã đề xuất một hệ thống giải
pháp nhằm hồn thiện kiểm sốt nội bộ với tăng cường kiểm sốt hoạt động tín dụng
tại VietComBank Thành Cơng, tăng lợi nhuận cho ngân hàng với phương châm phát
triển tín dụng an tồn và bền vững.


Kiểm sốt tín dụng trong kinh doanh tại các NHTM nói chung, tại
VietComBank Thành Cơng nói riêng là vấn đề phức tạp, rất khó dự đốn rủi ro một
cách chuẩn xác. Tác giả đã cố gắng tối đa, song do thời gian nghiên cứu có hạn, luận
văn khơng tránh khỏi thiếu sót. Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo, đặc





m hệ thống

×