Tải bản đầy đủ (.pdf) (17 trang)

Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trung tâm truyền thông giáo dục sức khoẻ Trung ương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (369.31 KB, 17 trang )

(1)

i

CHƢƠNG I



CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ



1.1. Lý luận hệ thống kiểm soát nội bộ


Theo Liên đồn Kế tốn Quốc tế (IFAC) hệ thống KSNB được hiểu như
sau: “Hệ thống KSNB là một hệ thống chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm
đạt được bốn mục tiêu sau: Bảo vệ tài sản của đơn vị; Bảo đảm độ tin cậy của
các thông tin; Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả
của hoạt động.”


Các yếu tố cơ bản của hệ thống KSNB:


- Mơi trường kiểm sốt : Mơi trường kiểm sốt bao gồm tồn bộ nhân tố
bên trong đơn vị và bên ngồi đơn vị có tính môi trường tác động đến việc thiết
kế, hoạt động và xử lý dữ liệu của hệ thống KSNB.


Mơi trường kiểm sốt bên trong bao gồm các nhân tố : Đặc thù về quản lý,
cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, cơng tác kế hoạch, uỷ ban kiểm sốt…


Mơi trường bên ngồi: Mơi trường kiểm sốt chung của một đơn vị cịn
phụ thuộc vào các nhân tố bên ngồi. Thuộc nhóm các nhân tố này bao gồm: Sự
kiểm soát của các cơ quan chức năng của nhà nước; ảnh hưởng của các chủ nợ,
môi trường pháp lý, đường lối phát triển của đất nước…


- Hệ thống kế toán: Hệ thống kế toán của đơn vị bao gồm hệ thống chứng
từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống bảng tổng
hợp cân đối kế tốn. Trong đó q trình lập và ln chuyển chứng từ đóng vai trị
quan trọng trong công tác KSNB của đơn vị. Một hệ thống kế toán hữu hiệu phải


bảo đảm các mục tiêu kiểm sốt chi tiết: Tính có thực; Sự phê chuẩn; Tính đầy
đủ; Sự đánh giá; Sự phân loại; Tính đúng kỳ; Q trình chuyển sổ và tổng hợp chính xác.



(2)

cơ bản : Nguyên tắc phân công, phân nhiệm, nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên
tắc uỷ quyền và phê chuẩn. Ngoài những nguyên tắc cơ bản trên, các thủ tục
kiểm sốt cịn bao gồm : việc quy định chứng từ sổ sánh phải đầy đủ, quá trình
kiểm soát vật chất đối với tài sản và sổ sách và kiểm soát độc lập việc thực hiện
các hoạt động của đơn vị.


- Kiểm toán nội bộ: Là một trong những nhân tố cơ bản trong hệ thống
KSNB của đơn vị, bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giá
thường xuyên về toàn bộ hoạt động của đơn vị, bao gồm cả tính hiệu quả của
việc thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục về KSNB.


1.2. Vai trị của hệ thống kiểm sốt nội bộ trong việc quản lý và nâng cao
hiệu qña đầu tƣ nguồn lực của đơn vị


Hệ thống kiểm sốt nội bộ được hình thành và thiết lập trong đơn vị có
bốn vai trò chủ yếu sau : Bảo vệ tài sản của đơn vị; bảo đảm độ tin cậy của các
thông tin; bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý; bảo đảm hiệu quả của hoạt
động và năng lực quản lý.


1.3. Những hạn chế vốn có của hệ thống kiểm soát nội bộ


- Xuất phát từ yêu cầu của nhà quản lý là chi phí kiểm tra phải nhỏ nhất so
với những tổn thất do sai phạm và do gian lận gây ra.


- Trong thực tế có nhiều dạng sai phạm mà hệ thống kiểm sốt không dự kiến được.
- Sai phạm do nhân viên thiếu thận trọng, sao lãng, sai lầm trong xét đoán
hoặc hiểu sai sự chỉ đạo của cấp trên.



- Do sự thông đồng của nhân viên trong đơn vị hoặc với người bên ngoài
đơn vị.



(3)

iii


Trong những năm gần đây cơng tác quản lý tài
chính của các đơn vị HCSN



(4)

CHƢƠNG II



THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TRUNG TÂM
TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ TRUNG ƢƠNG


2.1. Khái qt sự hình thành phát triển và vai trị của Trung tâm Truyền


thông giáo dục sức khoẻ Trung ƣơng


Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khoẻ là đơn vị trực thuộc Bộ Y tế
được thành lập theo Quyết định số 1914/1999/QĐ-BYT ngày 28/6/1999 của Bộ
trưởng Bộ Y tế .


Ngày 18/4/2006 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 621/QĐ-TTg
ngày 18/4/2006 về việc đổi tên Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khoẻ Bộ Y
tế thành Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khoẻ Trung ương
(TT-GDSKTW). Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Truyền thông giáo dục sức
khoẻ Trung ương được thực hiện theo Quyết định số 1914/1999/QĐ-BYT ngày
28/6/1999 của Bộ Y tế.


Hiện nay trên cả nước tại 64 tỉnh, thành đều đã thành lập TT-GDSK tại


tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương theo Thông tư liên tịch số
02/1998/TTLT-BYT-BTCCBCP ngày 27/6/1998 của Bộ Y tế, Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ.


Ngày 09/9/2005 theo Quyết định số 26/2005/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ
Y tế các phịng Truyền thơng giáo dục sức khoẻ thuộc Trung tâm y tế dự phòng
quận/huyện được thành lập.



(5)

v


Công tác y tế nào cũng cần tuyên truyền giáo dục, coi đó là một phương pháp
quan trọng bảo đảm kết quả”. Bản chỉ thị giao nhiệm vụ cho các cơ quan đơn vị
y tế: “Mỗi cơ sở y tế từ trung ương đến xã, phường, mỗi cán bộ y tế dù làm cơng
tác gì đều phải tham gia tun truyền giáo dục y tế.”


Từ vai trị của cơng tác TT-GDSK trong ngành Y tế thì vai trị của Trung
tâm GDSKTW được thể hiện là cơ quan trung ương, đầu ngành của hệ
TT-GDSK, là đầu mối mọi công tác TT-GDSK của Bộ Y tế và chỉ đạo về chuyên
môn, nghiệp vụ hệ thống TT-GDSK trong toàn quốc.


2.2. Hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trung tâm Truyền thông giáo dục sức
khoẻ Trung ƣơng hiện nay


Về mơi trường kiểm sốt: Chi uỷ và Lãnh đạo Trung tâm TT-GDSKTW
luôn quan tâm đúng mức đến cơng tác tài chính ngân sách, coi cơng tác tài chính
là một trong những nhiệm vụ quan trọng, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hồn
thành các nhiệm vụ của đơn vị, đặc biệt là trong điều kiện nguồn kinh phí ngân
sách Nhà nước cấp ngày càng hạn hẹp.



(6)

Về chính sách nhân sự: Đơn vị đã xây dựng một chính sách nhân sự tương
đối tốt từ khâu tuyển dụng, tiếp nhận cán bộ, điều động, sắp xếp, khen thưởng,


kỷ luật, đào tạo, bố trí, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ đủ tiêu chuẩn, có năng lực
chun mơn, năng lực lãnh đạo và phẩm chất chính trị, đồng thời mang tính kế
thừa và liên tục; Thực hiện tốt Pháp lệnh về cán bộ và công chức.


Công tác kế hoạch được quan tâm chú trọng. Hàng năm căn cứ vào nhiệm
vụ chính trị, nhiệm vụ năm kế hoạch, kế hoạch hoạt động năm của các phòng,
Phòng Kế hoạch tổng hợp xây dựng kế hoạt hoạt động hàng năm của đơn vị.


Công tác kế hoạch ngân sách hàng năm: Đơn vị đã thực hiện theo đúng
quy trình lập dự tốn theo quy định.


Mơi trường kiểm sốt bên ngồi: Các cơ chế quản lý tài chính ngân sách
đã được thay đổi đặc biệt là khi có Nghị định 10/2002/NĐ- CP ngày 16/01/2002
của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu và sau đó
là Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ Quy định quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và
tài chính đối với đơn vị sự nghiệp cơng lập được ban hành là một trong những
bước đổi mới trong tiến trình cải cách nền kinh tế của đất nước. Ngồi ra cơng
tác thanh tra, kiểm tra của Bộ Y tế cũng như các cơ quan chức năng của nhà
nước đều được tăng cường và thường xuyên hơn.


Về hệ thống kế toán: Hệ thống kế toán của đơn vị bao gồm hệ thống
chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thống
bảng tổng hợp cân đối kế toán áp dụng theo mẫu quy định tại Quyết định số
19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ kế
tốn hành chính sự nghiệp. Trong đó q trình lập và ln chuyển chứng từ đóng
vai trị quan trọng trong công tác KSNB của đơn vị.



(7)

vii



tự ghi sổ kế tốn theo hình thức kế tốn trên máy vi tính. Ngồi ra đối với nguồn
tài trợ, viện trợ cịn có báo cáo quyết toán và báo cáo hoạt động đối với từng
chương trình cho nhà tài trợ.


Bộ máy kế tốn: Trung tâm áp dụng mơ hình kế tốn tập trung.
Hiện nay


phịng Tài chính Kế tốn của Trung tâm gồm 6 cán bộ: Kế toán trưởng, kế toán
tổng hợp, kế toán thanh toán, kế toán kho bạc ngân hàng, kế toán dự án, TSCĐ
và kho, thủ quĩ. Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ cũng như trình độ năng lực của
từng cán bộ Kế tốn trưởng đã có văn bản phân cơng nhiệm vụ, trách nhiệm và
quyền hạn từng cán bộ, qui định quá trình ln chuyển, lưu giữ chứng từ kế tốn.
Về trình độ cán bộ: Các cán bộ kế tốn đã được bồi dưỡng cập nhật kiến thức,
tuy nhiên vẫn cịn cán bộ tài chính kế tốn khơng theo kịp với yêu cầu nhiệm vụ,
thực hiện công việc chủ yếu theo kinh nghiệm thuần tuý, chưa cập nhật kịp thời
chính sách, chế độ cũng như những kiến thức mới về quản lý; dẫn tới chất lượng
của hoạt động tài chính kế tốn cịn hạn chế. Tác nghiệp về kế toán mới dừng lại
ở việc thực hiện chức năng thông tin, chưa nhận thức rõ và thực hiện được chức
năng kiểm tra, kiểm soát của kế toán; chưa thực hiện tốt việc tham mưu cho lãnh
đạo về quản lý, sử dụng các nguồn lực của đơn vị chặt chẽ, có hiệu qủa. Do vậy,
nhân tố về trình độ cán bộ hạn chế nhiều đến hiệu lực và hiệu qủa của hoạt động
kiểm soát.


Về thủ tục kiểm soát: Để duy trì cơng tác KSNB tồn diện hoạt động
trong đơn vị, cũng như từng phòng ban. Các thủ tục kiểm soát tại Trung tâm
được thiết lập trên cơ sở 3 nguyên tắc cơ bản: Nguyên tắc phân công phân
nhiệm, nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn.



(8)

Trung tâm, trong các phòng ban đều có qui định bằng văn bản phân cơng nhiệm
vụ cho từng cá nhân cụ thể.



Việc phân công phân nhiệm trong đơn vị đều được thể hiện bằng văn bản
cụ thể, giúp cho từng cấp, cá nhân thấy rõ nhiệm vụ và trách nhiệm của mình.
Khi thực hiện nhiệm vụ vừa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của từng cá
nhân vừa phát huy được nguyên tắc tập trung dân chủ và cũng là cơ sở để kiểm
soát nội bộ.


Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: Đây là một nguyên tắc được Trung tâm tuân
thủ khi phân công công việc, giúp cho việc kiểm soát được thực hiện tốt hơn. Tại
Trung tâm qui định phịng Tài chính Kế tốn khơng được trực tiếp mua sắm tài
sản vật tư mà căn cứ vào yêu cầu của phòng trực tiếp sử dụng, phịng Tổ chức
Hành chính Quản trị trực tiếp mua sắm có sự giám sát của phịng Tài chính Kế
tốn về giá cả và phịng chun mơn về chất lượng. Kế tốn khơng được kiêm
nhiệm thủ kho, thủ quỹ. Người thân trong gia đình của lãnh đạo Trung tâm và
cán bộ phịng Tài chính Kế tốn khơng được bố trí làm ở phịng Tài chính Kế
tốn. Việc phân cơng các phần hành kế tốn cho các kế toán viên bảo đảm sự
kiểm soát lẫn nhau giữa các phần hành kế toán.


Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn: Trách nhiệm và quyền hạn được phân
công cụ thể cho từng cấp quản lý, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ
một thủ trưởng.


Việc uỷ quyền được thực hiện trong Ban Giám đốc khi Giám đốc đi vắng,
và tiếp tục mở rộng xuống các cấp thấp hơn tạo nên một hệ thống phân chia
trách nhiệm và quyền hạn mà không làm mất đi tính tập trung trong quản lý tại
đơn vị.



(9)

ix


Đối với hoạt động Tổ chức hoạt động truyền thông; Chỉ đạo tuyến; Đào


tạo; Hợp tác quốc tế. Căn cứ vào yêu cầu của Bộ Y tế và chỉ đạo của Lãnh đạo
đơn vị các phòng ban chức năng xây dựng kế hoạch, dự toán chi tiết và triển khai
kế hoạch dưới sự phê chuẩn của lãnh đạo đơn vị. Phòng Tài chính Kế tốn có
trách nhiệm thẩm tra dự tốn trình lãnh đạo đơn vị phê duyệt trước khi hoạt động
được triển khai và thẩm tra quyết toán theo các qui định của Nhà nước.


Như vậy đối với mỗi hoạt động đều được kiểm soát ở 3 cấp: Cấp người
trực tiếp thực hiện, cấp phòng kiểm tra, giám sát điều hành trực tiếp và cấp lãnh
đạo đơn vị phê chuẩn hoạt động trong đó Phịng Tài chính Kế tốn có trách
nhiệm thẩm tra, tham mưu cho lãnh đạo đơn vị phê duyệt dự toán, quyết toán
hoạt động.


Kiểm sốt trong lĩnh vực tài chính kế tốn


Những năm vừa qua, phịng Tài chính Kế tốn thực hiện kiểm soát thường
xuyên các hoạt động tài chính kế tốn, kiểm sốt trước, trong và sau q trình
ngân sách gồm kiểm tra dự tốn, cấp phát kinh phí và xét duyệt quyết tốn.


* Kiểm sốt cơng tác dự tốn ngân sách nhà nước: Trước khi lập dự toán
ngân sách hàng năm cho đơn vị, phòng đã tiến hành kiểm tra căn cứ xây dựng dự
tốn của các phịng ban trong đơn vị. Ngồi ra phịng Tài chính Kế tốn cịn rà
sốt một số khoản chi lớn sẽ phát sinh như chi mua sắm trang thiết bị, chi sửa
chữa, chi đi tham quan học tập nước ngoài, sự trùng lắp một số nội dung chi giữa
các phòng ban và các khoản thu phát sinh trong năm để đảm bảo dự toán được
lập đúng đủ các khoản thu, chi.


* Thực hiện kiểm sốt trong q trình thực hiện dự tốn



(10)

tra tình hình chấp hành kỷ luật thu nộp ngân sách, chấp hành kỷ luật thanh tốn
và các chế độ, chính sách tài chính của Nhà nước.



+ Theo dõi và kiểm sốt tình hình phân phối, cấp phát kinh phí dự án, viện
trợ cho các Trung tâm TT-GDSK tuyến tỉnh.


* Cơng tác quyết tốn:


Cuối q, năm theo quy định, phòng Tài chính Kế tốn phải thực hiện
kiểm tra lại số liệu quyết toán trước khi trình lãnh đạo về tính khớp đúng và
chính xác đồng thời xét duyệt quyết toán cho các Trung tâm TT-GDSK tuyến
tỉnh gửi về (phần kinh phí chương trình dự án viện trợ). Phòng cũng thực hiện
lập báo cáo tài chính của đơn vị bao gồm quyết tốn kinh phí NSNN cấp, quyết
tốn kinh phí chương trình dự án, cộng tác gửi Vụ Kế hoạch Tài chính Bộ Y tế.


*Về mua sắm tài sản, vật tư: Phòng Tổ chức Hành chính Quản trị trực tiếp
thực hiện mua bán vật tư, tài sản theo yêu cầu đã được lãnh đạo đơn vị phê duyệt
của các phòng chức năng dưới sự giám sát và giá cả của phịng Tài chính kế tốn
và chất lượng của phịng chun mơn.


*Đối với nguồn kinh phí dự án viện trợ.



(11)

xi


*Đối với nguồn kinh phí chương trình cộng tác.


Phịng Tài chính Kế tốn phối hợp với các phòng liên quan xây dựng nội
dung hoạt động cũng như dự tốn chi tiết trình lãnh đạo đơn vị ký kết hợp đồng
với các đối tác. Sau khi nhận được kinh phí triển khai hợp đồng Phịng Tài chính
Kế tốn có trách nhiệm giải ngân, hướng dẫn thanh toán, thẩm tra chứng từ thực
hiện hợp đồng và quyết toán với đối tác.



Về kiểm toán nội bộ: Hiện nay do yêu cầu cơng việc, chi phí cũng như
văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế và kiểm toán nội bộ của Bộ Y tế chưa được
thành lập, do đó tại đơn vị cũng chưa có tổ chức kiểm tốn nội bộ.


2.3. Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của Trung tâm Truyền thông giáo
dục sức khoẻ Trung ƣơng


Trong những năm gần đây, Trung tâm TT-GDSKTW đã có nhiều cố gắng
trong công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực, nhất là việc quản lý và sử dụng
nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước, một số thành phần cơ bản của hệ thống
KSNB như mơi trường kiểm sốt, hoạt động kiểm soát của kế toán, thủ tục kiểm
soát...cơ bản được hồn thành và hoạt động có hiệu quả đảm bảo việc chấp hành
chủ trương chính sách, chế độ của Nhà nước, hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật.


Hoạt động KSNB tại Trung tâm đã phát hiện ra nhiều vấn đề còn tồn tại
cần khắc phục. Đặc biệt trong khâu sử dụng tài sản, điện, nước, điện thoại, việc
chấp hành kỷ luật lao động, hiệu quả công việc về thời gian, tiến độ cũng như
chất lượng. Đồng thời KSNB góp phần chấn chỉnh từng bước những tồn tại trong
việc chấp hành chế độ kế tốn thu, chi tài chính như: hạch tốn sai tính chất tài
khoản, đơn đốc cơng nợ; tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ kế toán; việc chấp
hành chế độ báo cáo kế tốn; đình chỉ những khoản chi tiêu khơng đúng chế độ,
góp phần làm lành mạnh tình hình tài chính của Trung tâm.



(12)

dự án tài trợ viện trợ của nước ngoài thì một hệ thống KSNB dù hoạt động hiệu
quả đến đâu cũng không thể tránh khỏi những hạn chế xuất phát từ nguyên nhân
chủ quan hoặc khách quan.


Về mơi trường kiểm sốt


Lãnh đạo đơn vị chưa được trang bị và nhận thức đầy đủ những kiến thức


cơ bản về quản lý tài chính kế tốn nói chung và hệ thống KSNB về tài chính kế
tốn nói riêng. Do vậy hầu hết lãnh đạo đơn vị hiểu chưa đầy đủ và sâu sắc về
hệ thống KSNB, chưa coi trọng đúng mức cơng tác kiểm sốt, thực hiện quản lý
theo kinh nghiệm thuần t. Cơng việc kiểm sốt được thực hiện theo nền nếp từ
nhiều năm và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Thực tế cách thức quản lý này phần
nhiều đã bị lạc hậu do phát triển của quy mô đơn vị và sự thay đổi của môi
trường qủan lý, hệ thống luật pháp. Do vậy nó khơng cịn phù hợp, hiệu lực, hiệu
quả quản lý không cao.


Trung tâm đã qui định khá rõ chức năng, nhiệm vụ các phòng ban nhưng
vẫn cịn một số chồng chéo trong xử lý cơng việc, sự phối hợp hoạt động giữa
các phịng vì mục tiêu chung có phần khơng nhịp nhàng, có những quyết định
quản lý đưa ra mang tính cục bộ. Việc bố trí cán bộ cịn nhiều điểm bất hợp lý,
không đúng với chuyên môn được đào tạo, chất lượng cán bộ cịn có tình trạng
bất cập giữa bằng cấp và năng lực thực tiễn, những cán bộ làm việc lâu năm tuy
có kinh nghiệm nhưng kiến thức chuyên môn, tin học, ngoại ngữ kém, đây là
một hạn chế lớn của đội ngũ cán bộ và cơng tác bố trí cán bộ.



(13)

xiii


nghĩa xác định nhu cầu chi mà không phải là mức khống chế tối đa của từng nội
dung chi trong dự toán.


Về hệ thống kế toán


Bộ phận kế toán đơn vị chủ yếu mới thực hiện được một phần chức năng
thông tin kế toán, tập hợp chứng từ kế toán để ghi sổ và lập báo cáo tài chính
theo chế độ quy định, chưa tổ chức được hệ thống thông tin nội bộ định kỳ kịp
thời phục vụ cho công tác điều hành của lãnh đạo đơn vị. Đặc biệt chưa thực
hiện đầy đủ chức năng quan trọng nhất của kế tốn là kiểm tra, kiểm sốt tồn bộ


việc sử dụng các nguồn lực tài chính của đơn vị, chưa kết hợp được chức năng
thông tin và chức năng kiểm soát của kế toán trong các phương pháp kế toán.
Một số chứng từ gốc khi đưa vào lưu trữ vẫn còn chưa hợp pháp, hợp lệ, thiếu sự
kiểm soát chặt chẽ.Việc phân loại, sắp xếp chứng từ, lưu trữ, bảo quản chứng từ
kế toán chưa hợp lý gây khó khăn cho việc tra cứu và chưa bảo đảm chắc chắn
việc ngăn ngừa những hành động có thể làm mất mát, hư hỏng chứng từ kế toán.


Về thủ tục kiểm soát



(14)

Đây là bộ phận quan trọng trong cơ cấu tổ chức của hệ thống KSNB. Tuy
nhiên vì lý do khách quan đơn vị chưa có bộ phận kiểm tốn nội bộ, do vậy
chưa thực hiện được hình thức kiểm tốn tính hiệu quả, tính kinh tế của các hoạt
động tài chính cũng như hiệu lực và hiệu quả của đơn vị hoặc một chức năng
nào đó.


CHƢƠNG III



PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HỒN THIỆN HỆ THỐNG


KIỂM SỐT NỘI BỘ TẠI TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG



GIÁO DỤC SỨC KHOẺ TRUNG ƢƠNG



3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống kiểm sốt nội bộ tại Trung tâm
Truyền thơng giáo dục sức khoẻ trung ƣơng



(15)

xv


cho Trung tâm thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị mà Bộ Y tế giao, góp phần
tăng cường vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.



3.2. Phƣơng hƣớng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trung tâm
Truyền thông giáo dục sức khoẻ Trung ƣơng


Thứ nhất: Hoàn thiện hệ thống KSNB nhằm mục đích thực hiện tốt những
chức năng nhiệm vụ của Trung tâm.


Thứ hai: Hoàn thiện hệ thống KSNB đảm bảo mọi hoạt động của Trung
tâm có hiệu quả.


Thứ ba: Hồn thiện hệ thống KSNB phải được tiến hành đồng bộ trong tất
cả các hoạt động tại Trung tâm.


Thứ tư: Hoàn thiện hệ thống KSNB phải phù hợp với yếu tố con người
3.3. Những giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm sốt nội bộ tại Trung tâm
Truyền thơng giáo dục sức khoẻ Trung ƣơng


- Hồn thiện mơi trường kiểm soát:


+ Nâng cao nhận thức về KSNB cho đội ngũ cán bộ quản lý đặc biệt là cán
bộ lãnh đạo đơn vị.



(16)

+ Nâng cao chất lượng công tác kế hoạch: Kế hoạch được lập sát thực tế,
chi tiết và có căn cứ khoa học, có tính khả thi cao.


- Hồn thiện hệ thống kế tốn:


+ Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tài chính kế tốn, sắp
xếp, tuyển chọn cán bộ làm cơng tác kế tốn đúng theo chuyên môn được đào
tạo: Cử cán bộ tham dự các lớp đào tạo tập trung, tại chức…nhằm nâng cao trình
độ chun mơn nghiệp vụ cũng như kiến thức quản lý cho các cán bộ làm công


tác tài chính kế tốn.


+ Triển khai xây dựng phương án tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính,
xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, theo hướng dẫn của Nghị định 43/NĐ-CP ngày
25/04/2006 của Chính phủ Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực
hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp.
+ Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm sốt, kiểm tra tài chính nội bộ nhất
là công tác mua sắm, sửa chữa tài sản của cơ quan.


+ Ứng dụng công nghệ thông tin vào cơng tác tài chính kế tốn.
- Hồn thiện các thủ tục kiểm sốt:


+ Hồn thiện các thủ tục kiểm sốt của bộ phận tài chính kế tốn : Tăng
cường chức năng kiểm soát của kế toán. Bộ phận tài chính kế tốn thực hiện cả
ba hình thức kiểm sốt trước, trong và sau nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Chức
năng kiểm soát của kế toán được lồng ghép, gắn chặt với chức năng thơng tin
trên cả chu trình kế toán và trong cả bốn nội dung của hệ thống kế toán: chứng từ
kế toán, tài khoản kế toán, sổ kế toán, báo cáo quyết toán. Chức năng kiểm tra
của kế toán được thể hiện ở việc kiểm tra chứng từ kế tốn, kiểm tra cơng tác
hạch toán tài khoản kế toán, kiểm tra báo cáo tài chính và các thơng tin kinh tế tài chính.



(17)

xvii


đang sử dụng vì đây là nguồn lực có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm
thực hiện các nhiệm vụ chính trị của đơn vị.


+ Thể chế hoá bằng văn bản quy định các thủ tục KSNB: Đơn vị xây dựng
và ban hành các thủ tục KSNB trong hoạt động quản lý nói chung, và trên từng
mặt, từng khâu của quá trình quản lý phải được thể chế hố bằng văn bản.



+ Đề cao vai trị của các tổ chức, cá nhân trong đơn vị tham gia vào hoạt
động kiểm tra, kiểm soát nội bộ: Một tổ chức muốn hoạt động tốt thì tất cả các
thành viên trong tổ chức đó phải hoạt động theo một định hướng và mục tiêu
nhất định, phải tuân thủ tổ chức kỷ luật. Do vậy muốn quản lý tốt khơng chỉ có
chính sách quản lý tốt, cơ chế quản lý chặt chẽ mà còn đòi hỏi ý thức và tinh
thần tự giác của các thành viên trong đơn vị. Bởi vậy các tổ chức, cá nhân trong
đơn vị có vai trị quan trọng quyết định đến hiệu qủa của hoạt động quản lý.


Trong tương lai, cùng với sự phát triển không ngừng của đất nước, qui mô,
nguồn lực của Trung tâm cũng không ngừng phát triển. Do vậy để hoạt động của
hệ thống KSNB được hoàn thiện, đáp ứng được tình hình mới, Trung tâm cần đề
nghị với Bộ Y tế cũng như chuẩn bị các điều kiện thành lập bộ phận Kiểm toán nội bộ.
3.4. Kiến nghị với Bộ Y tế


- Bộ cần hình thành bộ phận kiểm tốn nội bộ, trước hết là tại Bộ và các
đơn vị trực thuộc có quy mơ lớn để thống nhất về mặt tổ chức nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống.





×