Tải bản đầy đủ (.pdf) (14 trang)

Hoàn thiện hệ thống giám sát đối với các thành viên trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (251.78 KB, 14 trang )

(1)

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG GIÁM SÁT


THÀNH VIÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THỨ CẤP


1.1. Những vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán


Khái niệm và phân loại thị trường chứng khoán:
Khái niệm thị trường chứng khốn: Có nhiều quan điểm


Phân loại thị trường chứng khoán:

Cấu trúc của TTCK có thể được phân loại
theo nhiều tiêu thức khác nhau. Tuy nhiên thơng thường ta có thể xem xét ba cách
thức cơ bản sau: Phân loại theo hàng hóa, Phân loại theo quá trình luân chuyển
vốn, Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường.


Các thành viên và tổ chức tham gia thị trường chứng khoán thứ cấp: Các thành
viên và tổ chức tham gia thị trường chứng khốn có thể được chia thành các nhóm
sau: Các chủ thể chào bán chứng khoán, Các tổ chức kinh doanh trên thị trường
chứng khốn, các tổ chức có liên quan đến chứng khoán và nhà đầu tư.


Vai trị của thị trường chứng khốn


- Thứ nhất, mở rộng quy mô huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế.
- Thứ hai, cung cấp môi trường đầu tư cho cơng chúng


- Thứ ba, tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
- Thứ tư, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp


- Thứ năm, tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
- Thứ sáu, là công cụ thu hút vốn đầu tư nước ngồi, đẩy nhanh q trình hội
nhập với nền kinh tế thế giới.


1.2. Hệ thống giám sát các thành viên trên thị trường chứng khoán thứ cấp.
Khái niệm hệ thống giám sát và sự cần thiết của hệ thống giám sát các thành


viên trên thị trường chứng khoán thứ câp.


- Khái niệm hệ thống giám sát


Giám sát thị trường chứng khoán: bao gồm những hoạt động nhằm theo dõi
và kiểm tra việc tuân thủ các quy định của pháp luật của các thành viên tham gia
TTCK, phát hiện các hành vi vi phạm của các đối tượng này với mục đích bảo vệ
nhà đầu tư. Các hoạt động giám sát trên thị trường chứng khoán thường do cơ quan
quản lý chứng khoán, các tổ chức như SGDCK, Hiệp hội giao dịch chứng khoán
thực hiện nhằm đảm bảo thị trường hoạt động công bằng, công khai và minh bạch.



(2)

- Sự cần thiết của hệ thống giám sát các thành viên trên thị trường chứng
khoán thứ câp


Việc thực hiện giám sát các thành viên trên thị trường chứng khoán Việt Nam là
nhằm hướng tới các mục tiêu sau:


- Bảo vệ các nhà đầu tư;


- Bảo đảm sự công bằng, hiệu quả và minh bạch của thị trường
- Giảm sự rủi ro hệ thống trên thị trường


Mơ hình hệ thống giám sát các thành viên trên thị trường chứng


khoán thứ cấp.



Nếu xét theo tiêu chí phân cấp hệ thống giám sát và chủ thể thực hiện công
tác giám sát, có thể chia ra làm hai loại mơ hình giám sát - đó là mơ hình hai cấp và
mơ hình ba cấp.


- Mơ hình giám sát hai cấp mơ hình giám sát thị trường chứng khốn Nhật


bản


Mơ hình giám sát ba cấp: Hàn quốc là một thị trường chứng khốn điển hình
duy trì mơ hình giám sát ba cấp.


Hoạt động giám sát của UBCK quốc gia đối với các thành viên trên thị



trường chứng khoán thứ cấp.



Chức năng giám sát hay còn được gọi là chức năng duy trì trật tự kỷ cương
thị trường (disciplinary functions) được các UBCK thực hiện song song với chức
năng quản lý. Mục tiêu trên hết của việc giám sát là để bảo vệ nhà đầu tư. Tại
những quốc gia thiết lập cơ quan giám sát tài chính đơn nhất cho tồn bộ thị trường
tài chính (bao gồm cả ba khu vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khốn) thì chức năng
giám sát của cơ quan quản lý chứng khoán lại càng được nhấn mạnh hơn nữa.


Nếu như chức năng quản lý chủ yếu bao gồm việc lập quy và cấp phép, chức
năng giám sát của UBCK cũng được chia làm hai mảng: giám sát tuân thủ và
cưỡng chế thực thi luật pháp


Nội dung giám sát củaUBCK đối với các thành viên trên thị trường chứng



khoán thứ cấp



- Giám sát các hoạt động giao dịch trên thị trường chứng khoán.



(3)

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hệ thống giám sát



Nhân tố chủ quan: Trình độ quản lý của nhà nước, Quyền hạn của UBCK, Ảnh
hưởng của mơ hình tổ chức giám sát, Phương pháp giám sát, Nhân sự thực hiện


giám sát và hệ thống công nghệ thông tin giám sát


Nhân tố khách quan: Trình độ phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường
chứng khốn nói riêng, Ảnh hưởng của mơi trường pháp lý về giám sát, Năng lực,
kinh nghiệm quản lý kinh doanh và đạo đức hành nghề kinh doanh chứng khốn của
nhân viên cơng ty chứng khốn, công ty quản lý quỹ, Các tổ chức trung gian phụ trợ.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG GIÁM SÁT ĐỐI VỚI CÁC


THÀNH VIÊN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM


2.1.Tình hình thị trường chứng khốn Việt Nam thời gian qua.



Hoạt động của các công ty niêm yết trên thị trường


Các công ty niêm yết là nguồn cung cấp hàng hoá quan trọng cho thị trường
chứng khoán ở Việt Nam. Khi khai trương TTGDCK TP. Hồ Chí minh chỉ có 02
cơng ty niêm yết - Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE) và Công ty cổ phần cáp và
vật liệu viễn thông (SACOM). Đến cuối năm 2003, TTDGCK TP. Hồ Chí minh có


22 cổ phiếu niêm yết với tổng giá trị niêm yết đạt trên 1.100 tỷ đồng.
Năm 2007 Tổng số công ty niêm yết là 250 công ty với tổng giá trị niêm yết


lên đến 51.383 tỷ đồng. Tính đến cuối năm 2010 đã có 647 cơng ty niêm yết cổ
phiếu trên SGDCK TP Hồ Chí Minh và SGDCKTP Hà Nội..


Hoạt động của các các cơng ty chứng khốn, công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư
chứng khốn.


- Hoạt động của các các cơng ty chứng khoán


Cùng với sự phát triển nhanh của thị trường về mọi mặt, các cơng ty chứng
khốn đã có những bước thay đổi lớn trên tất cả các mặt như số lượng, quy mô vốn,


cơ sở vật chất, nhân sự, quy mô cung cấp dịch vụ và chất lượng hoạt động.



(4)

các CTCK là 33,3 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3 lần so với năm 2009. Đã có thêm 21 cơng
ty chứng khốn tham gia niêm yết trong năm 2010, đưa con số các cơng ty chứng
khốn niêm yết lên 25 cơng ty, điều đó cho phép khẳng định thêm uy tín của các
CTCK. Tổng doanh thu hoạt động cơng ty chứng khốn đạt trên 10 nghìn tỷ đồng
trên cả bốn mảng nghiệp vụ: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư.


Mặc dù các cơng ty chứng khốn có những bước phát triển nhất định trên các
mawth nhưng nhìn chung, do những diễn biến không thuận lợi của kinh tế trong
năm 2010, hoạt động của các cơng ty chứng khốn chưa hiệu quả, thua lỗ hoặc
không hồn thành kế hoạch kinh doanh, trong đó có 20 cơng ty chứng khốn thua lỗ
và khá nhiều cơng ty phải lùi kế hoạch tăng vốn điều lệ.


Hoạt động của các các công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán.
Hoạt động của các các công ty quản lý quỹ


Số lượng công ty quản lý quỹ tính đến thời điểm 30/12/ 2010 là 47cơng ty với số
vốn điều lệ là 2,1 nghìn tỷ đồng, quản lý tổng tài sản trên 100 nghìn tỷ đồng; 23 Quỹ đầu
tư chứng khoán với vốn điều lệ là 13.3 nghìn tỷ đồng; và 31 VPĐD đang hoạt động. Hiện
tại các công ty quản lý tài sản trên 100 nghìn tỷ đồng tăng 28% so với năm 2009


+Hoạt động quản lý quỹ: Có 13 công ty thực hiện quản lý quỹ gồm 18 quỹ
thành viên và 5 quỹ cơng chúng. Doanh thu phí quản lý quỹ thu được trong năm
2010 giảm 24% so với năm 2009.


+Hoạt động quản lý danh mục đầu tư: Trong năm 2010, quy mô vốn ủy thác
của các công ty quản lý quỹ tăng cao tăng gần 35% so với năm 2009. Doanh thu phí
quản lý danh mục đâu tư thu được năm 2010 tăng 5% so với 2009. Lợi nhuận sau
thuế của năm 2010 đạt hơn 160 tỷ giảm 50% so với năm 2009.



*Quỹ đầu tư chứng khốn: Giá trị tài sản rịng của các quỹ vào thời điểm
cuối năm 2010 là hơn 12000 tỷ đồng, giảm 4,7% so với năm 2009. Giá trị các quỹ
giảm chủ yếu do diễn biến không thuận lợi của thị trường trong năm 2010. Đối với
các quỹ đại chúng niêm yết trên thị trường chứng khoán giá giao dịch chứng chỉ quỹ
giảm mạnh, tính thanh khoản rất thấp.


Hoạt động giao dịch trên thị trường



(5)

cả hai thị trường là 44 công ty với tổng giá trị niêm yết là 4,94 nghìn tỷ đồng. Kể từ
năm 2006 trở lại đây, thị trường chứng khoán Việt nam chứng kiến sự đổi thay đáng
ngạc nhiên. Thị trường đã có sự phát triển mạnh mẽ và liên tục. Giai đoạn
2006-2009 cũng chứng kiến những kỷ lục của thị trường chứng khoán Việt Nam. Tháng
3/2007, các chỉ số chứng khoán đạt được mức cao nhất. VNIndex đạt mức 1,170.67
điểm và HASTC-Index đạt 459.36 điểm. Trong khi đó, xét về khối lượng giao dịch,
tháng 5/2009 là tháng có khối lượng giao dịch lớn nhất, bình qn có 77 triệu cổ
phiếu được giao dịch mỗi phiên, với giá trị 2.270,57 tỷ đồng. Tuy nhiên, sau thời kỳ
tăng trưởng nóng và gần như liên tục từ cuối 2006 tới tháng 10/2007, thị trường
chứng khoán lại bước sang giai đoạn liên tục giảm mạnh và trải qua nhiều biến
động. Các yếu tố tác động mạnh tới thị trường trong giai đoạn này bao gồm các yếu
tố kinh tế vĩ mô và yếu tố chính sách. Cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn tại Mỹ
lan rộng và có nguy cơ ảnh hưởng nặng tới toàn bộ hệ thống tài chính Mỹ đã dẫn
đến một số biến động trong hoạt động đầu tư của các tổ chức nước ngoài tại Việt
Nam. Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu có những dấu hiệu lạm phát cao, buộc Chính
Phủ phải đưa ra các giải pháp để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế. Các chính sách
đưa ra trong thời kỳ này được đánh giá là phù hợp với tình hình thực tế, tuy nhiên,
đối với TTCK nói riêng, các chính sách này ít nhiều cũng tác động tới hoạt động thị
trường và tâm lý của công chúng đầu tư. Cuối năm 2008 và đầu năm 2009, Chính
phủ các nước đưa ra hàng loạt các biện pháp kích thích kinh tế để đối phó với khủng
hoảng tài chính tại Mỹ có nguy cơ lan rộng. Chính phủ Việt Nam trong bối cảnh đó


đã áp dụng biện pháp kích cầu trong nền kinh tế thơng qua các gói hỗ trợ lãi suất,
gói kích cầu. Cho đến nay, các giải pháp này phần nào đã cho thấy tác động tích cực
tới nền kinh tế, trong đó có thị trường chứng khoán. Thị trường đã dần hồi phục kể
từ cuối tháng 2/2009 với giá trị giao dịch bình quân phiên hiện đang được duy trì ở
mức cao.


Tình hình vi phạm của các thành viên trên thị trường




(6)

*Vi phạm của công ty niêm yết: Công ty niêm yết chưa tuân thủ thời hạn quy
định về công bố thông tin, vi phạm quy định về quản trị công ty.


*Vi phạm của cơng ty chứng khốn, cơng ty quản lý quỹ:


Ngồi ra cịn có các hành vi vi phạm quy định về giao dịch chứng khoán như
giao dịch giả tạo; Thao túng thị trường; Thực hiện giao dịch chứng khốn mà khơng
báo cáo của các cổ đơng nội bộ công ty niêm yết.)


2.2 Thực trạng hệ thống cơ quan giám sát thị trường chứng khoán Việt Nam



Mơ hình giám sát các thành viên trên thị trường chứng khoán



Hiện nay, hệ thống giám sát TTCK tại Việt Nam được xây dựng theo mơ
hình giám sát hai cấp phổ biến trên thế giới. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và các
Sở Giao dịch Chứng khoán tạo nên bộ máy vận hành hệ thống giám sát thị trường
với sự phân cấp như sau:


Cấp giám sát thứ nhất: Thông qua hệ thống giám sát giao dịch hàng ngày,
SGDCK phát hiện các giao dịch bất thường, báo cáo UBCKNN theo dõi, kiểm tra
và xử lý. Đồng thời, SGDCK giám sát các cơng ty chứng khốn thành viên và công
ty niêm yết để đảm bảo sự tuân thủ của các tổ chức này đối với những quy định do


SGDCK ban hành thông qua chế độ báo cáo, công bố thông tin và kiểm tra tại chỗ.


- Cấp giám sát thứ hai: UBCKNN giám sát sự tuân thủ của mọi thành viên
thị trường đối với Luật Chứng khoán và các văn bản dưới luật. Tại cấp giám sát của
UBCKNN, nhiệm vụ cưỡng chế thực thi (xử phạt) do Thanh tra Chứng khoán thực
hiện và nhiệm vụ giám sát được 04 đơn vị chức năng


Phương pháp giám sát



UBCKNN đang thực hiện giám sát theo UBCKNN thực hiện giám sát theo
phương pháp giám sát tuân thủ. Phương pháp giám sát này cho thấy rất phù hợp khi
thị trường chứng khốn nói chung cũng như chứng khốn nói riêng mới đi vào hoạt
động. Thông qua phương pháp giám sát tuân thủ, UBCKNN hướng các công ty
niêm yết, CTCK, Công ty QLQ hoạt động tuân thủ pháp luật, kịp thời cảnh báo các
công ty đặc biệt là CTCK hoạt động chưa tuân thủ. Phương pháp này sử dụng 2
hình thức giám sát gồm: giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ. Hai hình thức giám sát
này có liên quan mật thiết với nhau, cùng bổ sung và hỗ trợ nhau.


Nội dung giám sát của UBCKNN đối với các thành viên trên thị trường



chứng khoán




(7)

UCKNN phối hợp với 2 sở giao dịch chứng khoán giám sát diễn biến giao
dịch hàng ngày, tìm những dấu hiệu bất thường về giá và khối lượng giao dịch, tần
suất giao dịch để phát hiện các giao dịch nội gián, thao túng thị trường. Giám sát
giao dịch của các nhà đầu tư có tổ chức, bao gồm cả quỹ đầu tư, để kịp thời phát
hiện các diễn biến bất thường có thể gây hiệu ứng tâm lý cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ.
Giám sát giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài để phát hiện những biểu hiện của việc
thao túng thị trường, dẫn dắt nhà đầu tư trong nước, giám sát việc lưu chuyển vốn
đầu tư nước ngoài trên để dự báo khả năng đổi chiều của luồng vốn đầu tư gián tiếp


trên TTCK Giám sát xu hướng thị trường, theo dõi sự lưu chuyển của các luồng vốn
ra, vào TTCK để dự báo và phát hiện những dấu hiệu khủng hoảng.


Giám sát tuân thủ quy định về niêm yết và công bố thông tin:



-UBCKNN Giám sát việc tuân thủ các quy định về niêm yết và công bố
thông tin thường xuyên, định kỳ và bất thường của công ty niêm yết, kịp thời phát
hiện dấu hiệu bất thường, các vi phạm chế độ báo cáo, cơng bố thơng tin, u cầu
giải trình để bảo vệ lợi ích nhà đầu tư. Mặt khác UBCK cũng giám sát hoạt động
của công ty niêm yết khi phát sinh nhu cầu giám sát liên quan đến các hành vi vi
phạm như giao dịch nội gián, thao túng thị trường và các hành vi vi phạm khác liên
quan đến công ty niêm yết.


Giám sát thực hiện quy định pháp luật của cơng ty chứng khốn, cơng ty quản



lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán.



UBCK nhà nước thực hiện công tác giám sát việc tuân thủ của cơng ty chứng
khốn, cơng ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định tại Luật
Chứng khoán và các văn bản dưới luật.


*Đối với công ty chứng khoán


+ Giám sát việc thực hiện các trách nhiệm và nghĩa vụ của công ty chứng
khoán trong cung cấp dịch vụ cho khách hàng


+ Giám sát việc tổ chức giao dịch và kinh doanh của các công ty chứng
khoán: bao gồm việc tuân thủ các quy định thực hiện nghiệp vụ


+ Giám sát Điều kiện về vốn.


*Đối với công ty quản lý quỹ:



(8)

*Đối với quỹ đầu tư, công ty đầu tư


Giám sát việc tuân thủ của các quỹ đầu tư, công ty đầu tư theo các quy định
về trách nhiệm, nghĩa vụ của quỹ đầu tư, công ty đầu tư đối với nhà đầu tư và cổ
đông (bao gồm các quy định về tổ chức đại hội nhà đầu tư). Giám sát việc tuân thủ
các quy tắc kinh doanh của quỹ đầu tư, công ty đầu tư chứng khoán (bao gồm các
quy định về lập danh mục đầu tư, xác định giá trị tài sản rịng). Ngồi ra UBCKNN
cũng tiến hành giám sát việc công bố thông tin của các quỹ đầu tư, cơng ty đầu tư
chứng khốn theo quy định của Luật chứng khốn


2.2.4. Tình hình xử lý vi phạm của các thành viên thị trường




(9)

Bảng 2.10: Tình hình xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán các năm từ 2006-2010 của UBCKNN



2006

2007

2008

2009

2010



Hành vi vi phạm

Số



TH



Tỷ lệ



%


Số


TH



Tỷ lệ




%


Số


TH



Tỷ lệ



%


Số


TH



Tỷ lệ



%


Số


TH



Tỷ lệ



%


Vi phạm các quy định về công ty đại chúng, chào bán


chứng khoán ra công chúng; Vi phạm quy định về chế độ


báo và công bố thông tin của công ty đại chúng, công ty


niêm yết.



29 56,86 31 55,35 107 78,1 115 72,8 147 63,36



Vi phạm quy định về giao dịch chứng khoán như giao dịch


giả tạo; Thao túng thị trường; Thực hiện giao dịch chứng


khoán mà không báo cáo của các cổ đông nội bộ công ty


niêm yết.



14 27,4 13 23,21 19 13,87 31 19,6 58 25


Vi phạm các quy định về hoạt động kinh doanh chứng


khốn của các cơng ty chứng khoán; Vi phạm quy định về


chế độ báo và cơng bố thơng tin của cơng ty chứng khốn.



8 15,99 12 21,44 11 8,03 12 7,6 27 11,64


Tổng số

51

56

137

158

232




(10)

Qua bảng số liệu trên cho thấy: cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị
trường chứng khoán thời gian qua, số lượng các vi phạm của các công ty niêm yết,
cơng ty chứng khốn, cơng ty quản lý quỹ tăng lên đáng kể qua các năm. Mặt khác
nó cũng cho thấy hoạt động giám sát thị trường của UBCKNN ngày càng được đẩy
mạnh, phát hiện được nhiều vụ việc vi phạm có tính chất phức tạp đã được phát
hiện và xử lý


2.3. Đánh giá hệ thống giám sát của Ủy ban chứng khoán nhà nước đối


với các thành viên trên thị trường chứng khoán Việt Nam



Những kết quả trong công tác giám sát thành viên trên thị trường



- Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đã giúp Uỷ ban Chứng khoán Nhà
nước giá việc tuân thủ các quy định của pháp luật về chứng khoán và TTCK đối với


các chủ thể tham gia thị trường nói chung cũng như tình hình hoạt động của các
cơng ty niêm yết, cơng ty chứng khốn, công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng
khoán.


- Đã tạo lập được hệ thống giám sát, thường xuyên theo dõi các thay đổi của
cơng ty chứng khốn, cơng ty quản lý quỹ, theo dõi diễn biến thị trường, phát hiện
được các hành vi vi phạm chế độ công bố thông tin, các hành vi vi phạm quy chế tổ
chức và hoạt động công ty, vi phạm các quy định bị cấm và hạn chế trên thị trường.


- Kịp thời phản ánh tình hình, số liệu hoạt động của cơng ty chứng khốn,
cơng ty quản lý quỹ qua các thời kỳ (tháng, quý, năm) giúp cơ quan quản lý đưa ra
các giải pháp ổn định thị trường.


- Kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm pháp luật về chứng
khoán và thị trường chứng khoán của các cơng ty chứng khốn, cơng ty quản lý quỹ
và quỹ đầu tư chứng khoán.


- Kịp thời phát hiện những các vấn đề cần sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cơ
chế, quy chế nhằm phục vụ công tác quản lý, giám sát ngày càng tốt hơn.


- Các cơng ty chứng khốn, cơng ty quản lý quỹ, công ty niêm yết đã chú
trọng cơng tác kiểm sốt nội bộ quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công
ty, đã phát hiện và ngăn chặn được các rủi ro trong hoạt động cũng như rủi ro đầu
tư nhằm đảm bảo hoạt động lành mạnh, có hiệu quả của cơng ty.



(11)

- Tuân thủ các quy định về niêm yết và công bố thông tin: Đa số các công ty
niêm yết tại SGDCK đã công bố báo cáo tài chính quý và báo cáo tài chính kiểm
tốn hàng năm đúng hạn, thực hiện tốt việc cơng bố thơng tin trong vịng 24h kể từ
khi nhận được công văn yêu cầu công bố thông tin của SGDCK.



Những hạn chế trong công tác giám sát thành viên trên thị trường



Mơ hình tổ chức giám sát chưa đồng bộ nhất quán giữa hai cấp


Hiện nay, Việt nam cũng tổ chức thực hiện giám sát TTCK theo mơ hình 2
cấp: giám sát của các Sở Giao dịch Chứng khoán, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán
và giám sát của UBCKNN do các đơn vị chuyên môn (Quản lý Phát hành, Phát
triển Thị trường, Quản lý Kinh doanh, giám sát) và Thanh tra Chứng khoán đảm
nhiệm. Tuy nhiên, việc tổ chức và thực hiện giám sát vẫn còn chưa đáp ứng được
nhu cầu phát triển của thị trường.


Phương pháp và quy trình giám sát chưa theo sát thực tế thị trường.
Phương pháp giám sát tuân thủ mà UBCKNN áp dụng hiện nay phát sinh
một số hạn chế đó là khơng phân loại được mức độ hoạt động hiệu quả cũng như
chất lượng hoạt động của từng công ty từ đó có những hình thức giám sát đối với
từng thành viên thị trường một cách có hiệu.


Ngồi ra, quy trình giám sát của UBCKNN cịn mang tính thủ cơng, dựa trên
báo cáo hoạt động, báo cáo tài chính do các cơng ty gửi, các chuyên viên thực hiện
vào số liệu theo mẫu báo cáo giám sát, việc này dễ dẫn đến sai sót do vào nhầm số
liệu. Mặt khác, ngoài các chỉ tiêu giám sát tuân thủ theo quy định pháp luật, số liệu
giám sát của UBCKNN chỉ mang tính thống kê chưa phục vụ cho việc đánh giá chất
lượng hoạt động của công ty


Nội dung giám sát



(12)

phép phát hiện các giao dịch bất thường dựa trên tần suất đặt lệnh, khối lượng và
biến động bất thường trong giao dịch của chứng khoán nhằm xác định tính chất giao
dịch, phân tích và thực hiện các biện pháp kiểm tra cần thiết để ra quyết định một
hành vi là thao túng hay nội gián.



Giám sát về cơng bố thơng tin cịn mang tính thủ công


Việc giám sát công bố thông tin hầu như chỉ dựa trên các báo cáo công bố
thông tin theo quy định và kết quả giám sát của các SGDCK về công bố thông tin
công ty niêm yết. Hiện nay, UBCKNN chưa có một hệ thống giám sát công bố
thông tin điện tử như tại các thị trường chứng khốn khác (ví dụ: hệ thống DART
tại Hàn quốc), vì thế, cơng ty niêm yết và cơng ty đại chúng phần lớn chuyển các
báo cáo công bố thơng tin bằng đường thư tín và fax theo các mẫu do UBCKNN và
SGDCK quy định, sau đó các báo cáo này được đưa lên các trang web của SGDCK
để công bố ra công chúng và chuyển đến đơn vị liên quan để theo dõi. Cơ chế cơng
bố thơng tin thủ cơng này dẫn đến tình trạng chậm trễ, kết quả công bố thông tin lệ
thuộc chủ yếu vào sự tự giác của công ty đại chúng và cơng ty niêm yết mà chưa có
một quy trình nào để kiểm tra mức độ xác thực của thông tin công bố, việc xác định
vi phạm công bố thông tin như không công bố thông tin hoặc chậm công bố thông
tin thường chậm hoặc có khả năng bỏ sót vi phạm. Việc giám sát công bố thông tin
của công ty niêm yết và cơng ty đại chúng vì vậy mang tính thụ động. Số công ty
chậm công bố thông tin gia tăng qua các năm


Giám sát tuân thủ các quy định về niêm yết chưa có quy trình cụ thể


Mặc dù đã có một cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ cho lĩnh vực quản trị công
ty, thực tế các cơng ty niêm yết vẫn cịn nhiều khó khăn đối với việc tuân thủ các
nguyên tắc về quản trị công ty, đặc biệt là nguyên tắc duy trì tối thiểu 1/3 số thành
viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập. Vì thế UBCKNN thiên về hoạt động
hướng dẫn thực thi các nguyên tắc quản trị công ty cho doanh nghiệp hơn là giám
sát việc thực thi các nguyên tắc này


UBCKNN chưa có quy trình và thủ tục về giám sát từ xa và chế độ báo cáo đối
với việc thực hiện quản trị công ty của các công ty niêm yết.



Giám sát thực hiện quy định pháp luật của cơng ty chứng khốn, cơng ty
quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khốn cịn lỏng lẻo.



(13)

doanh của các công ty chưa được tích hợp và tự động phân tích mà thực hiện thống
kê và tổng hợp theo phương pháp thủ công thông qua các phần mềm văn phịng
thơng thường mất rất nhiều thời gian và không ảm bảo việc chính xác về mặt số
liệu. Do vậy, công tác giám sát tuân thủ và đưa ra những yêu cầu tuân thủ kịp thời
đối với định chế trung gian thị trường không đạt được kết quả mong muốn.


Sự phối hợp giữa hai cấp giám sát còn thiếu chặt chẽ


Giữa hai cấp giám sát UBCKNN và các SGDCK, Trung tâm lưu ký chứng
khốn, Hiệp hội chứng khốn chưa hình thành một quy trình giám sát đồng bộ, nhất
quán, chưa có sự phân định rõ ràng về phạm vi, trách nhiệm và thẩm quyền của
từng cấp. Cơ chế trao đổi thông tin giữa hai cấp và trong nội bộ UBCKNN không
đảm bảo sự phối kết hợp giữa các đơn vị trong quản lý – giám sát hoạt động trên thị
trường chứng khốn.


Ngun nhân của hạn chế trong cơng tác giám sát thành viên thị trường.



Nguyên nhân chủ quan



Thứ nhất, thẩm quyền của UBCKNN trong việc cưỡng chế thực thi các quy
định pháp lý còn bị hạn chế


Thứ hai, hệ thống văn bản pháp lý về cưỡng chế thực thi thiếu các chế tài xử
lý, trong khi đó mức phạt đối với nhiều hành vi vi phạm còn thấp, chưa đủ sức răn
đe các hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK.



Thứ ba, cơ chế phối kết hợp trong quản lý, giám sát giữa các cơ quan quản lý
cịn chưa được khai thơng, chưa được thực hiện hiệu quả.


Thứ tư, cơ sở hạ tầng cơng nghệ thơng tin cịn yếu kém kết hợp với hệ thống các
chỉ tiêu giám sát còn chưa được hoàn thiện, theo kịp với sự phát triển của thị trường.


Thứ năm, Nhân sự thực hiện giám sát


Thứ sáu, Sự phối hợp giữa hai cấp giám sát. Trên phương diện phối hợp giữa
hai cấp giám sát UBCK và các SGDCK còn một số hạn chế.


Nguyên nhân khách quan



Thứ nhất là do những yếu tố thiếu tính bền vững của thị trường chứng khoán
Việt Nam


Thứ hai, TTCK Việt Nam chỉ mới bắt đầu hình thành, tuy nhiên đã phát triển
quá nhanh, vượt qua mọi dự đoán cũng như các mục tiêu đặt ra trước đó, điều này
đặt các cơ quan quản lý nhà nước ở vào thế bị động, nhất là khi chưa có nhiều kinh
nghiệm quản lý TTCK


Thứ ba, sự hội nhập kinh tế quốc tế cũng đã tạo ra nhiều thách thức cho các cơ
quan quản lý nhà nước.



(14)

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG GIÁM SÁT CÁC


THÀNH VIÊN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THỨ CẤP



VIỆT NAM



3.1. Định hướng công tác giám sát thành viên thị trường trong thời gian tới

.

- Hệ thống giám sát thành viên thị trường phù hợp với định hướng, chiến lược phát
triển của thị trường chứng khốn


- Hệ thống giám sát giúp tăng cường tính công khai, minh bạch của thị trường, tăng
cường hiệu quả hoạt động của thành viên thị trường


- Tận dụng kinh nghiệm giám sát, tiết kiệm thời gian và nhân lực trên cơ sở thừa
kế thành tựu khoa học kỹ thuật của các nước đi trước


- Đưa các chuẩn mực quốc tế hiện hành để xây dựng hệ thống giám sát thị
trường chứng khốnViệt Nam


-Duy trì quan điểm và chính sách xây dựng hệ thống quản lý giám sát hướng


tới phát triển bền vững thị trường chứng khoán



3.3. Giải pháp hoàn thiện hệ thống giám sát đối với thành viên trên thị


trường chứng khoán Việt Nam



- Xây dựng và hồn thiện các chính sách, pháp luật về giám sát thị trường
phù hợp với thông lệ quốc tế


- Xây dựng mơ hình quản lý, giám sát thị trường chứng khoán với phạm vi
thẩm quyền phù hợp cho TTCK Việt Nam


- Nâng cao năng lực quản lý và giám sát thị trường của cơ quan quản lý
- Hoàn thiện thị trường Upcom, tăng cường tính minh bạch của thị trường
- Đảm bảo giám sát thường xun kịp thời và hồn thiện quy trình giám sát
đối với các công ty niêm yết, CTCK, CTQLQ, Quỹ đầu tư chứng khoán


- Thành lập và phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm



- Nâng cấp và hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho thị trường

3.4. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống giám sát đối với thành


viên trên thị trường chứng khoán Việt Nam



- Kiến nghị với Chính phủ và Bộ Tài chính





×