Tải bản đầy đủ

bệnh án thi phẫu thuật miệng

BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
KHOA RĂNG – HÀM – MẶT


BỆNH ÁN THI LÂM SÀNG
MÔN PHẪU THUẬT MIỆNG
Sinh viên: Phạm Trung Hiếu
Lớp:
RHM4A

Thừa Thiên Huế, 2018


Trường: Đại học Y Dược Huế
Khoa:
Răng – Hàm – Mặt
Lớp:
RHM4A
Họ và tên: Phạm Trung Hiếu

BỆNH ÁN PHẪU THUẬT MIỆNG

I. PHẦN HÀNH CHÍNH:
1. Họ tên bệnh nhân:
2. Giới tính:
3. Tuổi:
4. Dân tộc:
5. Địa chỉ:
6. Nghề nghiệp:
7. Ngày vào viện:
8. Ngày làm bệnh án:

NGUYỄN VĂN THÊM
Nam
44
Kinh
An Dương 3,
xã Phú Thuận, huyện Phú Vang.
Công nhân.
25/5/2018
25/5/2018

II. LÝ DO ĐẾN KHÁM:
Bệnh nhân đến khám vì răng sau hàm trên bên phải nứt, lung lay và đau.
III. BỆNH SỬ:
1. Quá trình bệnh lý:
Cách đây 2 ngày, sau khi cắn thức ăn cứng (cua), bệnh nhân thấy đau dữ dội ở vùng răng
sau hàm trên bên phải. Bệnh nhân tự soi gương tại nhà thấy răng sau hàm trên bên phải bị nứt,
lung lay và có chảy máu. Vì lí do công việc bệnh nhân không thể đi khám ngay nên tự mua thuốc
giảm đau để uống (không rõ loại). Tình trạng đau sau đó có thuyên giảm nhưng không đáng kể.
Đến sáng ngày 25/5/2018, bệnh nhân đến khoa Răng – Hàm – Mặt bệnh viện Trường Đại học Y
Dược Huế thăm khám và điều trị.
2. Tiền sử
A. Bản thân
a. Tiền sử toàn thân:
 Bệnh nhân có bệnh Cao huyết áp đã 2 năm, hiện đang khám và điều trị thường
xuyên tại khoa Nội bệnh viên trường Đại Học Y Dược Huế.
 Bệnh nhân dùng thuốc huyết áp đầy đủ, đúng giờ. Huyết áp ổn định sau uống
thuốc khoảng 140/100mmHg.
b. Tiền sử răng miệng:
 R26 vỡ lớn đã lâu (bệnh nhân không nhớ rõ thời gian) do ăn nhai . Bệnh nhân lúc
đầu đau nhiều và tự mua thuốc dùng tại nhà (không rõ loại). Sau đó có đau thêm 23 đợt. Bệnh nhân không có thời gian nên không đi khám.


 Bệnh nhân chưa từng khám và điều trị răng miệng trước đây.
 Chải răng ngày 2 lần vào buổi sáng và tối với động tác chải ngang.
 Có dùng tăm xỉa răng sau bữa ăn.
 Không dùng nước súc miệng và chỉ nha khoa.
 Bệnh nhân có thói quen nghiến răng khi ngủ nhiều năm (do người nhà ghi nhận).


B. Gia đình:
Chưa phát hiện các bệnh lý nội, ngoại khoa và các bệnh Răng hàm mặt đặc biệt.
IV. THĂM KHÁM HIỆN TẠI:
1. Toàn thân:
 Bệnh nhân tỉnh táo tiếp xúc tốt.
 Tổng trạng chung trung bình.
 Da niêm mạc hồng hào.
 Hạch ngoại biên không sờ thấy.
Mạch

72 lần/phút

Nhiệt độ

37 độ C

Huyết áp

170/110 mmHg (quên uống thuốc huyết áp vào buổi sáng)

Nhịp thở

20 lần/phút

2. Các cơ quan:
Chưa phát hiện bất thường
3. Khám chuyên khoa răng hàm mặt:
a. Khám ngoài mặt:
o

Mặt cân xứng qua đường giữa.

o Màu sắc da bình thường.
o Không có khối sưng bất thường.
o Không sờ thấy hạch ngoại biên.
o Tuyến nước bọt: không sưng, không đau khi thăm khám.
b. Khám khớp thái dương hàm:
o
Cử động khớp thái dương hàm hai bên bình thường.
o
Hàm dưới vận động trong giới hạn bình thường, đường đóng hàm thẳng.
o
Không đau, không có tiếng kêu bất thường ở ổ khớp khi vận động hàm
dưới.
o
Há miệng tối đa:
#45mm
c. Khám trong miệng
 Khám mô mềm

Môi má lưỡi bình thường.

Khẩu cái mềm, lưỡi gà, amidan bình thường.

Không có vết chợt, loét hay các tổn thương bất thường khác.
 Lỗ ống Stenon bình thường, không viêm tấy, không sưng đau, không loét hay sùi
trên bề mặt lỗ ống.

Các lỗ đổ tuyến nước bọt khác chưa phát hiện bất thường.
 Khám khớp cắn:
• Tương quan khớp cắn theo Angle:
- Tương quan R16 - R46: hạng I
- Tương quan R26 – R36: hạng I
• Tương quan răng nanh:
- Tương quan R13: hạng III
- Tương quan R23: hạng III
o Độ cắn phủ, độ cắn chìa:


Độ cắn phủ

Độ cắn chìa

R11, R41: 0 mm
R21, R31: 1 mm

R11, R41: 0 mm
R21, R31: 1 mm

 Khám mô nha chu
• Triệu chứng cơ năng: thỉnh thoảng có chảy máu khi chải răng.
• Triệu chứng thực thể:
 Vùng I, III:
 Mảng bám và cao răng:
- Mặt ngoài: Cao răng trên nướu và mảng bám phủ > 2/3 bề mặt thân răng và một ít cao răng
dưới nướu.
- Mặt trong: Cao răng trên nướu và mảng bám phủ < 1/3 bề mặt thân răng và một ít cao răng
dưới nướu.

 Tình trạng mô nha chu:
- Màu sắc: hơi đỏ, mất lấm tấm da cam.
- Hình thái: gai nướu mất hình tháp đặc trưng.
- Chảy máu khi thăm khám.
- Độ đàn hồi: hơi bở, kém săn chắc.
- Không có tụt nướu.
- Không có túi nha chu.
 Vùng II:
 Mảng bám và cao răng:
- Mặt ngoài: Không có cao răng trên nướu và dưới nướu.
- Mặt trong: Cao răng trên nướu và mảng bám phủ < 1/3 bề mặt thân răng và một ít cao răng
dưới nướu. R12, 11, 21, 22 có vết dính.

 Tình trạng mô nha chu:
- Màu sắc: đỏ hồng, có lấm tấm da cam.
- Hình thái: gai nướu nhọn, viền nướu bám sát vào bề mặt thân răng.
- Chảy máu khi thăm khám mặt trong.
- Độ đàn hồi: nướu săn chắc và đàn hồi tốt.
- Không có tụt nướu.
- Không có túi nha chu.




Vùng IV, V, VI:
 Mảng bám và cao răng:
- Mặt ngoài: Không có cao răng trên nướu và dưới nướu.
- Mặt trong: Cao răng trên nướu và mảng bám phủ > 2/3 bề mặt thân răng và một ít cao răng
dưới nướu.

 Tình trạng mô nha chu:
 Mặt ngoài:
- Màu sắc: đỏ hồng, có lấm tấm da cam.
- Hình thái: gai nướu nhọn, viền nướu bám sát vào bề mặt thân răng.
- Không chảy máu khi thăm khám.
- Độ đàn hồi: nướu săn chắc và đàn hồi tốt.
- Không có tụt nướu.
- Không có túi nha chu.
 Mặt trong:
- Màu sắc: hơi đỏ, mất lấm tấm da cam.
- Hình thái: gai nướu mất hình tháp đặc trưng.
- Chảy máu khi thăm khám.
- Độ đàn hồi: hơi bở, kém săn chắc.
- Không có tụt nướu.
- Không có túi nha chu
 Khám răng
 Phân hàm 1:
 R17: mặt nhai có vết nứt theo chiều gần – xa từ gờ bên gần đến gờ bên xa (dọc theo rãnh
trung tâm, băng qua gờ chéo). Đường nứt liên tục, không nham nhở. Thăm khám bằng thám
trâm có thể tách thân răng thành 2 phần riêng biệt: ngoài và trong. Vết nứt dọc đi từ mặt bên
gần đến mặt bên xa, liên tục và đi sâu xuống phía dưới nướu, đã thông vào buồng tủy. Đồng
thời lúc thăm khám có máu đỏ tươi chảy ra và bệnh nhân đau.Mảnh răng phía trong lung lay
theo chiều ngoài - trong khoảng 2mm, có lung lay theo chiều dọc. Mảnh răng phía ngoài có
lung lay nhẹ theo ngoài - trong, không lung lay theo chiều dọc. Gõ ngang đau; gõ dọc mảnh
răng phía ngoài đau, mảnh răng phía trong không đau.
 Rìa cắn và mặt lưỡi các răng trước và mặt nhai các răng sau còn lại bị mòn, mất các múi ,
rãnh tự nhiên, ở giữa lộ ngà màu vàng sẫm. Thăm khám bằng thám trâm thấy cứng và bệnh
nhân không có cảm giác. Các răng không có lỗ sâu, thăm khám bằng thám trâm không mắc
kẹt hay sụp lỗ, không lung lay, gõ ngang, gõ dọc không đau.


 Phân hàm 2:
 R26:
- Vỡ lớn 1/3 thân răng phía trong đã vào buồng tủy, kích thước #6x4mm. Đường vỡ dưới
nướu khoảng 0,5mm. Thăm khám bằng thám trâm và xịt hơi không ê buốt hay đau. Răng
không lung lay. Gõ ngang gõ dọc không đau. Vùng phần mềm tương ứng không có lỗ dò.
- Kích thước mô răng còn lại: #7x6mm
- Thăm khám bằng thám trâm vào buồng tủy có mùi hôi thối.
- Mặt nhai còn lại bị mòn, mất các múi , rãnh tự nhiên, ở giữa lộ ngà màu vàng sẫm.
 Rìa cắn và mặt lưỡi các răng trước và mặt nhai các răng sau còn lại bị mòn, mất các múi ,
rãnh tự nhiên, ở giữa lộ ngà màu vàng sẫm. Thăm khám bằng thám trâm thấy cứng và bệnh
nhân không có cảm giác. Các răng không có lỗ sâu, thăm khám bằng thám trâm không mắc
kẹt hay sụp lỗ, không lung lay, gõ ngang, gõ dọc không đau.

 Phân hàm 3:
 Rìa cắn và mặt lưỡi các răng trước và mặt nhai các răng sau bị mòn, mất các múi , rãnh tự
nhiên, ở giữa lộ ngà màu vàng sẫm. Thăm khám bằng thám trâm thấy cứng và bệnh nhân
không có cảm giác. Các răng không có lỗ sâu, thăm khám bằng thám trâm không mắc kẹt hay
sụp lỗ, không lung lay, gõ ngang, gõ dọc không đau.
Phân hàm 4:
 Rìa cắn và mặt lưỡi các răng trước và mặt nhai các răng sau bị mòn, mất các múi , rãnh tự
nhiên, ở giữa lộ ngà màu vàng sẫm. Thăm khám bằng thám trâm thấy cứng và bệnh nhân
không có cảm giác. Các răng không có lỗ sâu, thăm khám bằng thám trâm không mắc kẹt hay
sụp lỗ, không lung lay, gõ ngang, gõ dọc không đau.

SƠ ĐỒ RĂNG

V. CẬN LÂM SÀNG: Chưa có chỉ định.


VI. TÓM TẮT - BIỆN LUẬN - CHẨN ĐOÁN:
1. Tóm tắt:
Bệnh nhân nam 44 tuổi, vào viện vì lí do răng sau hàm trên bên phải nứt, lung lay và đau.
Qua hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng, em rút ra các dấu chứng sau:
 Dấu chứng nứt dọc R17:
 Bệnh sử: Cách ngày đến khám 2 ngày, bệnh nhân cắn thức ăn cứng (cua) ở vùng răng sau
bên phải và thấy vùng này đau dữ dội. Bệnh nhân tự soi gương tại nhà thấy răng sau hàm
trên bên phải bị nứt, lung lay và có chảy máu.
 Khám răng:
 Mặt nhai có vết nứt liên tục theo chiều gần – xa từ gờ bên gần đến gờ bên xa.
Dùng thám trâm có thể tách thân răng thành 2 phần ngoài và trong, quan sát được
vết nứt dọc đi từ mặt bên gần đến mặt bên xa, liên tục và đi sâu xuống phía dưới
nướu, đã thông vào buồng tủy, có máu đỏ tươi chảy ra và đau.
 Lúc thăm khám bệnh nhân đau.
 Răng lung lay độ 3.
 Dấu chứng hoại tử tủy R26:
 Tiền sử răng miệng: Răng 26 bị vỡ lớn do ăn nhai đã lâu. Bệnh nhân lúc đầu đau nhiều và
sau đó có đau thêm 2-3 đợt.
 Khám răng:
 Vỡ lớn 1/3 thân răng phía trong đã vào buồng tủy, kích thước #6x4mm.
 Thăm khám bằng thám trâm vào buồng tủy có mùi hôi thối.
 Thăm khám bằng thám trâm và xịt hơi không ê buốt hay đau.
 Gõ ngang gõ dọc không đau.
 Răng không lung lay.
 Vùng phần mềm tương ứng không có lỗ dò.
 Dấu chứng mòn rìa cắn, mặt lưỡi, mặt nhai 2 hàm:
 Tiền sử răng miệng: bệnh nhân có thói quen nghiến răng khi ngủ đã rất nhiều năm.
 Khám răng:
 Rìa cắn, mặt lưỡi các răng trước và mặt nhai các răng sau bị mòn, mất các múi ,
rãnh tự nhiên, ở giữa lộ ngà màu vàng sẫm.
 Thăm khám bằng thám trâm thấy cứng và bệnh nhân không có cảm giác.
 Dấu chứng viêm nướu do cao răng:
 Cao răng (trên, dưới nướu) và mảng bám nhiều ở các vùng lục phân I, III; mặt trong
vùng lục phân II, IV, V, VI.
 Vùng nướu tương ứng các vùng này hơi đỏ, mất lấm tấm da cam, giảm độ săn chắc,
thăm khám có chảy máu.

 Chẩn đoán sơ bộ:




R17 nứt dọc
R26 hoại tử tủy
Mòn rìa cắn, mặt lưỡi, mặt nhai 2 hàm




Viêm nướu do cao răng


2. Biện luận:
 R17 nứt dọc:
a, Về triệu chứng lâm sàng: tổn thương nứt dọc thân răng đã rõ
- Mặt nhai có vết nứt theo chiều gần – xa từ gờ bên gần đến gờ bên xa (dọc theo rãnh
trung tâm, băng qua gờ chéo).
- Đường nứt liên tục, không nham nhở.
- Thăm khám bằng thám trâm đã vào buồng tủy, đường nứt liên tục và đi sâu xuống phía
dưới nướu, có thể tách thân răng thành 2 phần riêng biệt: ngoài và trong. Cả 2 mảnh đều lung
lay theo chiều ngang. Mảnh răng phía trong có lung lay theo chiều dọc.
Như vậy, thân răng đã bị nứt dọc hoàn toàn theo chiều gần – xa. Do thân răng đã bị tách thành
2 phần riêng biệt (trong và ngoài) nên khả năng đường nứt đã đi hết sàn tủy xuống vùng chẽ
chân răng. Để đánh giá chắc chắn em đề nghị chụp phim cận chóp R17 ở nhiều góc độ.
 Bên cạnh đó, lúc bị tổn thương bệnh nhân có chảy máu và đau nhức dữ dội, thăm khám
lâm sàng răng có máu tươi chảy ra, gõ ngang đau. Em nghĩ đây là các triệu chứng của tình
trạng viêm tủy cấp:
- Chấn thương rất mạnh gây nứt răng là nguyên nhân trực tiếp gây tổn thương tủy.
- Chảy máu và đau: hệ thống mạch máu trong mô tủy bị tổn thương trực tiếp do răng bị
nứt và xung huyết trong quá trình viêm. Các nhánh thần kinh trong mô tủy cũng bị tổn thương
trực tiếp nên gây đau khi thời điểm bị nứt và khi thăm khám.
- Gõ ngang đau: tăng tiết dịch viêm, xung huyết, tăng tuần hoàn gây chèn ép thần kinh.
Bệnh nhân khai sau khi bị tổn thương đã tự mua thuốc giảm đau uống tại nhà và tình trạng
đau thuyên giảm. Tuy nhiên, thuốc giảm đau ít đáp ứng trong trường hợp nứt vỡ và chấn
thương răng như trường hợp này. Có thể tình trạng viêm tủy cấp đang tiến triển rất nhanh và
nặng nề hơn (do đường nứt khiến vi khuẩn xâm nhập dễ dàng) khiến mức độ nuôi dưỡng và
thụ cảm thần kinh kém dần đi. Đường nứt cũng làm giảm áp lực trong buồng tủy cho nên triệu
chứng đau ở trường hợp này không nặng nề như các trường hợp viêm tủy cấp thông thường.
 Ngoài ra, khi gõ dọc mảnh thân răng phía trong bệnh nhân đau. Đồng thời răng lung lay
theo chiều ngang khoảng 2mm, mảnh thân răng trong lung lay theo chiều dọc. Như vậy, các
tổ chức quanh răng cũng đã bị tổn thương (dây chằng nha chu, xương ổ răng). Cần đánh giá
trên phim cận chóp R17 đã đề nghị ở trên, đặc biệt phải đánh giá xem xoang hàm trên có bị
tổn thương hay không.
b, Về nguyên nhân và cơ chế: Bệnh nhân cắn thức ăn cứng (cua) bằng vùng răng này, tạo một lực
tác động mạnh theo chiều dọc khiến răng bị nứt. Theo đánh giá lâm sàng, các răng ở 2 hàm
đều bị mòn mặt nhai lộ ngà vì vậy độ cứng chắc của răng bị giảm. Đặc biệt, vùng hố rãnh là
vùng chịu lực nhiều, cấu tạo giải phẫu là vùng giao nhau giữa các múi răng vì vậy dễ bị nứt
gãy khi chịu tải lực lớn.
c, Hướng điều trị: Nhổ răng và phục hình sau khi lành thương hoàn toàn.
- Răng đã nứt dọc thân răng, đường gãy dưới nướu, chia răng thành 2 mảnh riêng biệt, răng
lung lay độ 3 và viêm tủy cấp không thể điều trị nội nha bảo tồn được.
- Cần phải nhổ bỏ sớm để tránh gây nhiễm trùng và nguy cơ lan rộng nguy hiểm cho các tổ
chức xung quanh.


- Phục hình răng mất để thực hiện chức năng ăn nhai.
 R26 hoại tử tủy:
a, Về triệu chứng lâm sàng: triệu chứng của hoại tử tủy răng đã rõ
- Vỡ lớn 1/3 thân răng phía trong đã vào buồng tủy.
- Thăm khám bằng thám trâm và xịt hơi không ê buốt hay đau.
- Gõ ngang và gõ dọc không đau.
- Thăm khám bằng thám trâm vào buồng tủy có mùi hôi thối.
- Vùng phần mềm tương ứng không có lỗ dò.
 Ở bệnh nhân này, em không nghĩ đến tình trạng viêm quanh chóp cấp do gõ dọc bệnh
nhân không đau đồng thời không có các triệu chứng toàn thân như mệt mỏi, sốt cao, dấu hiệu
nhiễm trùng. Em cũng không nghĩ đến tình trạng viêm quanh chóp mãn do gõ ngang, gõ dọc
bệnh nhân không đau, vùng phần mềm tương ứng không có lỗ dò. Để kiểm tra tình trạng răng,
mô nha chu và làm rõ chẩn đoán phân biệt trên em đề nghị chụp phim cận chóp răng 26.
Tủy hoại tử

VQC cấp

VQC mãn

Gõ dọc

Không đau

Đau nhiều

Đau ít

Gõ ngang

Không đau

Đau ít

Đau ít

Mô mềm
tương ứng
X quang

-

-

Laminadura mất liên
tục.

Dây chằng nha chu
bình thường/ dày
lên.

Có lỗ dò
Vùng thấu
quanh chóp.

quang

b, Về nguyên nhân và cơ chế: Bệnh nhân khai răng 26 bị vỡ lớn do ăn nhai đã lâu, lúc đầu đau
nhiều và sau đó có đau thêm 2-3 đợt. Như vậy do ngoại lực tác động khiến múi răng bị vỡ
men ngà chạm tủy, tủy bị tổn thương và bị kích thích dần dần tiến triển thành hoại tử tủy.
 Mòn rìa cắn, mặt lưỡi, mặt nhai 2 hàm:
a, Về triệu chứng lâm sàng: Rìa cắn, mặt lưỡi các răng trước và mặt nhai các răng sau ở cả hai
hàm bị mòn, mất các múi, rãnh tự nhiên, ở giữa lộ ngà màu vàng sẫm.
b, Về nguyên nhân và cơ chế: Ở trường hợp này, người nhà bệnh nhân ghi nhận thói quen nghiến
răng khi ngủ đã nhiều năm. Nghiến răng là thói quen cận chức năng có thể gây mòn răng; mẻ
răng; nhạy cảm răng (nhẹ hay nặng tùy vào tổn thương mòn răng); đau tai nhưng không có
tổn thương ở tai; mỏi, căng cơ hàm, đau khi ăn nhai ở một bên mặt. Nguyên nhân chủ yếu là
stress, não bộ căng thẳng kéo dài, do những vướng víu của khớp cắn không chuẩn hoặc có chi
tiết thừa, do rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương, do những thói quen như uống rượu,
hút thuốc lá, do bị suy dinh dưỡng,… Ở bệnh nhân này, môi trường (công trường, nhà máy)
ồn ào và công việc nhiều căng thẳng có thể là nguyên nhân khiến bệnh nhân cảm thấy áp lực
gây ra thói quen nghiến răng khi ngủ.


 Viêm nướu do cao răng:
a, Về triệu chứng lâm sàng:
- Cao răng (trên, dưới nướu) và mảng bám nhiều ở mặt ngoài các vùng lục phân I, III; mặt
trong vùng lục phân II, IV, V, VI.
- Vùng nướu tương ứng các vùng này hơi đỏ, mất lấm tấm da cam, giảm độ săn chắc, thăm
khám có chảy máu.
b, Về nguyên nhân và cơ chế:
- Bệnh nhân chưa khám và điều trị răng miệng lần nào. Đồng thời việc vệ sinh răng miệng
chưa tốt: động tác chải răng không đúng cách (chải ngang), không dùng nước súc miệng
hay chỉ nha khoa, không đi thăm khám răng miệng định kỳ. Chính các nguyên nhân trên
dẫn đến sự tích tụ mảng bám và cao răng từ rất lâu.
- Cao răng là nơi vi khuẩn trú ngụ, kích thích một loạt các phản ứng đặc hiệu và không đặc
hiệu của mô cha chu, dẫn đến phản ứng viêm tại chỗ (nướu mất lấm tấm da cam, hơi đỏ,
giảm độ săn chắc, ...).
2. Chẩn đoán xác định:
1. R17 nứt dọc.
2. R26 hoại tử tủy.
3. Mòn rìa cắn, mặt lưỡi, mặt nhai 2 hàm.
4. Viêm nướu do cao răng.
VII. KẾ HOẠCH ĐIỀU TRỊ:
Ở bệnh nhân có bệnh toàn thân liên quan: cao huyết áp
- Bệnh nhân bị cao huyết áp đã 2 năm và đang điều trị bằng thuốc, huyết áp ổn định sau
uống thuốc khoảng 140/100mmHg.
- Sáng 25/5/2018, bệnh nhân quên uống thuốc huyết áp nên huyết áp hiện tại lúc thăm
khám là 170/110mmHg.
Đối với bệnh nhân cao huyết áp, các thủ thuật nha khoa có thể gây ra nhiều biến chứng
nguy hiểm: máu chảy nhiều khi phẫu thuật, tai biến mạch máu não... Huyết áp hiện tại của bệnh
nhân là 170/110 mmHg là rất cao so với mức ổn định, không thể tiến hành gây tê nhổ răng được.
Cần cho bệnh nhân về nghỉ ngơi, tiếp tục sử dụng thuốc điều trị huyết áp đầy đủ. Hẹn lịch tái
khám và tiến hành gây tê nhổ răng nếu huyết áp ổn định vào ngày khác.
1. Điều trị lần 1: Vệ sinh răng miệng – Cạo cao răng. Tư vấn điều trị mòn răng.
2. Điều trị lần 2 (khi huyết áp đã ổn định): Nhổ R17 và tư vấn phục hình.
3. Điều trị lần 3 (sau điều trị lần 2 khoảng 1 tuần): Điều trị tủy R26 và phục hình thân răng.
VIII. ĐIỀU TRỊ CỤ THỂ:
1. Viêm nướu do cao răng: Chỉ định vệ sinh răng miệng – Cạo cao răng.
-

Cho bệnh nhân lấy cao răng hai hàm, đánh bóng và xử lý bề mặt gốc răng.


-

Hướng dẫn bệnh nhân vệ sinh răng miệng hàng ngày: chải răng đúng cách, sử dụng nước
súc miệng, sử dụng chỉ nha khoa,... và lấy cao răng định kỳ 6 tháng/lần.

2. Mòn rìa cắn, mặt lưỡi, mặt nhai 2 hàm:
- Máng nhai chống nghiến răng: đây là một giải pháp điều trị phổ biến trên thế giới, vì nó
giúp giãn cơ, giảm tình trạng co thắt của các cơ nhai, bảo vệ hàm răng không bị gãy vỡ, di
chuyển vị trí lồi cầu xương hàm dưới vào vị trí thích hợp.
- Tư vấn bệnh nhân nghỉ ngơi thư giãn, ăn uống đủ chất và ngủ đủ giấc.
- Ngoài ra, mòn răng có nguy cơ dẫn đến nứt gãy răng cao. Cần dặn dò bệnh nhân không sử
dụng răng để cắn những đồ cứng; không nên nhai một bên (nếu dồn hết áp lực vào một
bên thì rất dễ bị nứt); nhai thức ăn một cách cẩn thận, ăn chậm, nhai kỹ.
3. R17 nứt dọc: Chỉ định nhổ.
Trước khi nhổ cần đánh giá trên phim cận chóp: số lượng chân, hướng chia chân, vị trí
tương quan với xoang hàm, vết nứt gãy chân răng nếu có.
Do răng này đã lung lay nhiều (độ 3) nên việc can thiệp nhổ khá đơn giản: sử dụng
phương pháp nhổ răng bằng nạy.
 Các bước thủ thuật:
(1)
Gây tê : Gây tê cận chóp.
(2)
Dùng nạy kiểm tra độ tê và bóc tách nướu.
(3)
Lung lay răng bằng nạy
(4)
Đặt kìm và bắt chặt chân răng (nếu cần)
(5)
Lung lay răng bằng kìm ( nếu cần)
(6)
Nhổ răng thật sự
(7)
Nạo sạch mô viêm nhiễm quanh chóp.
(8)
Sát khuẩn ổ răng bằng oxy già hoặc betadine pha loãng.
(9)
Cho bệnh nhân cắn chặt gòn.Theo dõi tình trạng bệnh nhân 15-20 phút.
 Trong quá trình nhổ phải sử dụng loại thuốc tê có thuốc co mạch nồng độ thấp (1: 100,000
hoặc 1 : 200,000); đồng thời phải động viên, trấn an tinh thần bệnh nhân trong quá trình nhổ.
 Dặn dò bệnh nhân sau nhổ răng:
- Cắn chặt gòn, nuốt nước bọt trong khoảng từ 45 – 60 phút.
- Sau khi nhả gòn, nếu còn chảy máu, dùng gòn dự phòng cắn chặt thêm 30 – 45 phút nữa.
- Không nên ngậm hay súc nước muối tự pha trong 2 ngày đầu sau nhổ.
- Tránh ăn nhai trực tiếp lên chỗ mới nhổ, tránh ăn đồ nóng.
- Chải răng bình thường, giữ vệ sinh răng miệng sạch sẽ và uống thuốc theo đơn.
- Nếu có gì bất thường lập tức thông báo lại với bác sĩ điều trị.
 Kê đơn thuốc:
- Gerdogyl 125 mg x 20 viên
Uống ngày 4 viên chia làm 2 lần.
- Diclofenac 50 mg x 10 viên
Uống ngày 2 viên chia làm 2 lần.
- Vitamin C 50 mg x 10 viên
Uống ngày 2 viên chia làm 2 lần.


4. R26 hoại tử tủy: Chỉ định điều trị tủy và phục hình thân răng.
Việc điều trị tủy cần chia ra nhiều giai đoạn. Lần hẹn tái khám thứ 3 cần lấy sạch tủy răng
và trám tạm với Ca(OH)2 và Eugenat sau đó hẹn bệnh nhân đến điều trị tiếp tục.
Tuy nhiên cần lưu ý ở răng này, vỡ lớn 1/3 thân răng phía trong, kích thước #6x4 mm và
đường vỡ dưới nướu khoảng 0,5 mm. Vùng mô răng mất là rất lớn đồng thời răng sau điều trị
tủy rất giòn và dễ vỡ, vì vậy cần đóng chốt tạo cùi răng sau đó bọc mão để bào vệ sau khi điều
trị tủy hoàn tất.
IX. TIÊN LƯỢNG: KHÁ
- Bệnh nhân có bệnh lý cao huyết áp nhưng sử dụng thuốc đều đặn vì vậy HA bệnh nhân
tương đối ổn định nên việc nhổ răng cho lần hẹn tiếp theo là dễ dàng và ít gặp các biến chứng.
- Mức độ mòn răng trên bệnh nhân là trung bình, cần can thiệp kịp thời của bác sĩ, hợp tác
điều trị tích cực của bệnh nhân và sự theo dõi của người nhà để loại bỏ yếu tố nguyên nhân.




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×