Tải bản đầy đủ (.docx) (98 trang)

185 giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn tại công ty cổ phần chứng khoán MB ( MBS)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (465.09 KB, 98 trang )

1
Học viện tài chính

1

Luận văn tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em, các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế
của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn tốt nghiệp
Sinh viên
Bùi Thị Ngân.

SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


2
Học viện tài chính

2

Luận văn tốt nghiệp

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTCK
UBCKNN
SGDCK


TTGDCK
TTCK
TPTV
BLĐ
CVTV

SV: Bùi Thị Ngân

Công ty chứng khoán
Ủy ban chứng khoán nhà nước
Sở giao dịch chứng khoán
Trung tâm giao dịch chứng khoán
Thị trường chứng khoán
Trưởng phòng tư vấn
Ban lãnh đạo
Chuyên viên tư vấn

Lớp: CQ48/17.01


3
Học viện tài chính

3

Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC

SV: Bùi Thị Ngân


Lớp: CQ48/17.01


4
Học viện tài chính

4

Luận văn tốt nghiệp

DANH MỤC BẢNG BIỂU

SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


5
Học viện tài chính

5

Luận văn tốt nghiệp

DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ

SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01



6

6
Học viện tài chính

Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU

1.

Tính cấp thiết của đề tài.

Thị trường chứng khoán nói chung và thị trường chứng khoán Việt Nam
nói riêng luôn luôn đặt ra câu hỏi: “ Làm thế nào để thu hút được nhà đầu tư,
tạo điều kiện cho họ tham gia thị trường và đặc biệt là làm sao giữ được họ
lâu dài”. Đây là một câu hỏi rất khó mà mọi chủ thể tham gia thị trường
chứng khoán đặc biệt là các công ty chứng khoán luôn trăn trở và mong
muốn tìm ra một đáp án tối ưu.
Như chúng ta đã biết, kinh nghiệm thế giới cho thấy để thị trường chứng
khoán hoạt động có hiệu quả và phát triển thì vai trò của công ty chứng khoán
trong việc tư vấn chứng khoán cho khách hàng là một trong những khâu quan
trọng cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư trên thị trường. Đặc biệt đối với thị
trường chứng khoán Việt Nam thì vai trò của các công ty chứng khoán cũng
đã và đang phát huy tác dụng của nó.
Hơn thế nữa, trong các hoạt động của một công ty chứng khoán thì hoạt
động tư vấn chứng khoán có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao văn
hóa đầu tư cho công chúng và trong việc tạo lòng tin của công chúng đầu tư
vào thị trường chứng khoán. Nhờ vai trò quan trọng này mà hoạt động tư vấn
chứng khoán cho các nhà đầu tư của công ty chứng khoán trở nên cấp thiết

và không thể thiếu được. Làm tốt được điều này tức là công ty chứng khoán
đã giải đáp được câu hỏi nêu trên. Tuy nhiên ,trên thực tế, ở thị trường chứng
khoán Việt Nam hiện nay hoạt động tư vấn chứng khoán cho các nhà đầu tư
chưa được các công ty chứng khoán quan tâm đúng mức và ngay cả chính các
nhà đầu tư cũng chưa nhận ra được lợi ích của hoạt động tư vấn chứng khoán.
Đó là những vấn đề mà tất cả mọi người,các cá nhân, tổ chức tham gia thị
trường chứng khoán phải cùng nhau nhìn nhận, xem xét và có những phương

SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


7
Học viện tài chính

7

Luận văn tốt nghiệp

hướng để khai thác tốt những lợi ích, thu được lợi nhuận từ hoạt động đầy
tiềm năng này.
Đồng thời, việc tư vấn cho khách hàng tại các công ty chứng khoán hiện nay
vẫn còn là một lĩnh vực đầy tiềm năng đối với công ty chứng khoán Việt Nam.
Nếu chúng ta không sớm tổ chức được một hệ thống chuẩn mực nghiệp
vụ tư vấn cho các công ty chứng khoán một cách chính xác và kịp thời đến
doanh nghiệp và nhà đầu tư thì không những không đảm bảo được kết quả
hoạt động của thị trường chứng khoán mà còn khó lấy được lòng tin của công
chúng đầu tư tham gia thi trường.
Vì vậy, một đòi hỏi cấp thiết của thị trường chứng khoán là cần có những

công ty chứng khoán làm nhiệm vụ tư vấn, giúp đỡ về chuyên môn cho các
thành phần tham gia thị trường. Ngoài ra, trong quá trình thực tế tiếp xúc tại
MBS tôi nhận thấy rằng: MBS cũng như các công ty chứng khoán khác đang
gặp rất nhiều khó khăn trong việc triển khai hoạt động này.
Xuất phát từ lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “ Giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động tư vấn tại công ty cổ phần chứng khoán MB ( MBS)” làm
chuyên đề tốt nghiệp với mục tiêu nghiên cứu cách thức thực hiện hoạt động
tư vấn và đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn cho các
công ty chứng khoán.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Đề tài này được thực hiện với mục đích nghiên cứu lý luận hoạt động tư

2.

vấn chứng khoán tại công ty chứng khoán nói chung và nghiên cứu thực trạng
hoạt động này đang diễn ra, phương hướng kinh doanh tại MBS nói riêng để
từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển hoạt động này tại công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả hoạt động tư vấn của công ty cổ phần
chứng khoán MB.

SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


8
Học viện tài chính

8


Luận văn tốt nghiệp

Phạm vi nghiên cứu là kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần
chứng khoán MB trong 4 năm 2010, 2011, 2012, 2013.
4. Kết cấu của đề tài.
Đề tài được chia thành 3 chương.
Chương 1: Lý luận chung về công ty chứng khoán và hiệu quả hoạt động
tư vấn của công ty chứng khoán.
Chương 2: Thực trạng hoạt động tư vấn và hiệu quả hoạt động tư vấn tai
công ty cổ phần chứng khoán MB trong những năm qua.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn tại MBS.

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ( CTCK).
1.1.

Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán.
1.1.1. Khái niệm và mô hình tổ chức của CTCK.
1.1.1.1.
Khái niệm CTCK.
Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của
nền kinh tế hiện đại. Chúng ta có thể đo lường và dự tính sự phát triển kinh tế
qua diễn biến trên thị trường chứng khoán. Cùng với sự phát triển của thị
SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01



9
Học viện tài chính

9

Luận văn tốt nghiệp

trường chứng khoán trên thế giới, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng
đang phát triển theo quy luật này. Cho đến nay thị trường chứng khoán Việt
Nam đã trải qua gần 14 năm trong lịch sử phát triển của mình, 14 năm làm
quen với hoạt động của thị trường chứng khoán, 14 năm vượt qua bao thăng
trầm, bao khó khăn thử thách để từng bước phát triển và bước đầu chúng ta đã
thu được những thành tựu đáng kể.
Thành viên của các Sở giao dịch chứng khoán/ Trung tâm giao dịch chứng
khoán là các công ty chứng khoán, thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng
khoán và cung cấp các dịch vụ khác cho nhà đầu tư cũng như các doanh
nghiệp tham gia trên thị trường chứng khoán.
Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian trên thị trường
chứng khoán, thực hiện trung gian tài chính thông qua các hoạt động chủ yếu
như mua bán chứng khoán, môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng
hoa hồng, phát hành và bảo lãnh chứng khoán, tư vấn chứng khoán và quản lý
quỹ đầu tư.
Theo quyết định số 55/2004/QĐ – BTC ngày 17 tháng 06 năm 2004 của
Bộ tài chính thì “ Công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên theo pháp luật Việt Nam để kinh doanh chứng
khoán theo giấy phép kinh doanh chứng khoán do Ủy ban chứng khoán nhà

-

nước cấp”.

Điều kiện để được cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam:
Có phương án hoạt động kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế,

-

xã hội và phát triển ngành chứng khoán.
Có đủ cơ sở vật chất kỹ thuật cho kinh doanh chứng khoán.
Có mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định. Vốn pháp định thường được

-

quy định cụ thể cho từng loại hình nghiệp vụ.
Giám đốc, phó giám đốc ( tổng giám đốc, phó tổng giám đốc), các nhân viên
kinh doanh của công ty chứng khoán phải đáp ứng đầy đủ điều kiện để được
cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán do UBCKNN cấp.

SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


10
Học viện tài chính
-

10

Luận văn tốt nghiệp

Giấy phép bảo lãnh phát hành chỉ được cấp cho công ty có giấy phép tự

doanh.
Quy định về vốn đối với công ty chứng khoán.
Theo khoản 1 điều 18 Nghị định 14/2007/NĐ – CP ngày 19 tháng 01 năm
2007 của chính phủ quy định:
Vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán,
công ty chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công ty chứng

-

khoán nước ngoài tại Việt nam là:
Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam.
Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam.
Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam.
Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Viêt Nam.
1.1.1.2.
Mô hình tổ chức của công ty chứng khoán.
Hiện nay trên thế giới tồn tại hai mô hình tổ chức của công ty chứng
khoán là mô hình công ty chứng khoán đa năng và mô hình công ty chứng
khoán chuyên doanh.
Mô hình công ty chứng khoán đa năng.
Theo mô hình công ty đa năng, công ty chứng khoán là một bộ phận cấu

1.1.1.2.1.

thành của ngân hàng thương mại. Hay nói cách khác, ngân hàng thương mại
kinh doanh trên cả hai lĩnh vực là tiền tệ và chứng khoán.
Ngân hàng thương mại là những công ty có số vốn khổng lồ và sẵn sàng
gia nhập những ngành có lợi nhuận cao. Với lợi thế về kinh nghiệm, vốn và
chuyên môn, ngân hàng thương mại sẽ dễ dàng trong kinh doanh, cung ứng
những dịch vụ tài chính đa dạng phong phú liên quan đến tài chính tiền tệ,

kinh doanh chứng khoán và các hoạt động khác trong lĩnh vực tài chính. Mô
-

hình này được biểu hiện dưới hai hình thức:
Đa năng một phần:
Theo mô hình này các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh
doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động

-

tách rời với kinh doanh tiền tệ.
Đa năng hoàn toàn:

SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


11
Học viện tài chính

11

Luận văn tốt nghiệp

Các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh chứng khoán, kinh doanh

-

bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụ tài chính khác.

Ưu điểm của mô hình này là:
Các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi

-

ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa dạng hóa đầu tư.
Tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị
trường tài chính. Mặt khác, các ngân hàng sẽ tận dụng được lợi thế của mình
là kinh doanh tiền tệ có vốn lớn, cơ sở vật chất hiện đại và hiểu biết rõ về
khách hàng cũng như các doanh nghiệp khi họ thực hiện nghiệp vụ cấp tín

-

-

dụng và tài trợ dự án.
Hạn chế của mô hình này:
Vừa là tổ chức tín dụng vừa là tổ chức kinh doanh chứng khoán, do đó khả
năng chuyên môn không sâu như các công ty chứng khoán chuyên doanh.
Công ty có thể sẽ lợi dụng những ưu thế của mình để lũng đoạn thị trường.
1.1.1.2.2. Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh.
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty
chứng khoán độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận,

-

các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán.
Ưu điểm của mô hình này là:
Hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính trên thị


-

trường, tạo điều kiện cho sự phát triển tự do của thị trường.
Tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán đi vào chuyên môn hóa sâu trong

1.1.2.

lĩnh vực chứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển.
Nguyên tắc hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán.
Hoạt động kinh doanh chứng khoán dựa trên hai nhóm nguyên tắc cơ bản
đó là nguyên tắc tài chính và nguyên tắc đạo đức.
1.1.2.1.
Nguyên tắc tài chính.
Do tính đặc thù trong hoạt động nên hầu hết các nước đều đặt ra những
nguyên tắc, quy định rất chặt chẽ về tài chính đối với các tổ chức kinh doanh
chứng khoán. Thông thường, các tổ chức này phải đảm bảo tuân thủ các tiêu
chí sau:

SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


12
Học viện tài chính
-

12

Luận văn tốt nghiệp


Mức vốn hoạt động: vốn của một tổ chức kinh doanh chứng khoán nhiều hay
ít phụ thuộc vào loại tài sản cần tài trợ, loại tài sản này lại được quyết định
bởi loại hình nghiệp vụ thực hiện. Ví dụ, bảo lãnh phát hành chứng khoán là
hình thức kinh doanh mà tổ chức kinh doanh cần có tiềm lực tài chính mạnh,
có nhiều vốn, nhất là trường hợp tổ chức kinh doanh chứng khoán đứng ra
bảo lãnh những đợt phát hành lớn. Nghiệp vụ bảo lãnh đòi hỏi vốn phải đủ
lớn. Đối với hoạt động tự doanh cũng phải duy trì số lượng lớn các chứng
khoán để thực hiện việc mua vào bán ra, trong khi giá của các chứng khoán
luôn biến động. Còn các hoạt động môi giới, tư vấn tài chính, tư vấn đầu tư
chứng khoán… không cần vốn lớn.
Do kinh doanh chứng khoán là kinh doanh trong một lĩnh vực đặc biệt, có
ảnh hưởng đến lợi ích của công chúng đầu tư nên sự tồn tại ổn định, lâu dài
của tổ chức kinh doanh chứng khoán và sức mạnh tài chính của các tổ chức
này trong một môi trường dễ biến động cần phải được đảm bảo. Vì vậy pháp
luật nhiều nước vẫn quy định điều kiện về mức vốn đối với các tổ chức kinh
doanh chứng khoán. Vốn pháp định của tổ chức kinh doanh chứng khoán
thường được quy định cụ thể cho từng loại hình kinh doanh. Một tổ chức kinh
doanh chứng khoán càng tham gia vào nhiều loại hình thì càng cần phải có
nhiều vốn. Trên cơ sở các yếu tố khác nhau như quy mô thị trường, giao dịch
dự kiến, khả năng tài chính của các tổ chức tham gia thi trường mỗi quốc gia
khác nhau có các quy định khác nhau về mức vốn pháp định đối với các chủ

-

thể kinh doanh chứng khoán.
Cơ cấu vốn: Việc huy động vốn của tổ chức kinh doanh chứng khoán được
thực hiện thông qua việc nhận vốn góp từ các cổ đông ( trường hợp công ty cổ
phần) hoặc huy động từ bên ngoài, tùy theo quy mô và tính chất của nó. Tổ
chức kinh doanh chứng khoán là công ty trách nhiệm hữu hạn phải dựa vào

vốn của các thành viên, vào các khoản vay của ngân hàng hoặc thỏa thuận cho

SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


13
Học viện tài chính

13

Luận văn tốt nghiệp

thuê khác. Việc huy động vốn và cơ cấu vốn của các chủ thể kinh doanh
+

chứng khoán có một số đặc điểm sau:
Tổ chức kinh doanh chứng khoán phụ thuộc nhiều vào các khoản vay ngắn

+

hạn.
Chứng khoán có thể mua bán trao đổi trên thị trường thường chiếm phần lớn
trong tổng giá trị tài sản ( khoảng 40 – 60%) và tổng giá trị cổ phiếu ( khoảng

+
-

90%).

Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản ròng phải duy trì ở mức độ nhất định.
Quản lý vốn và hạn mức kinh doanh: Các nguyên tắc này khác nhau tùy theo
đặc điểm của từng nghiệp vụ mà các tổ chức kinh doanh chứng khoán thực
hiện. Các nguyên tắc về sử dụng vốn mà pháp luật đặt ra đối với các tổ chức
kinh doanh chứng khoán thường bao gồm: cơ cấu vốn ( tỷ lệ nợ so với vốn
chủ sở hữu), mức vốn khả dụng phải duy trì, trích lập quỹ bù đắp rủi ro, quỹ
dự trữ bổ sung vốn điều lệ,…
Đối với việc quản lý hạn mức kinh doanh, tùy theo từng nước mà có các
quy định khác nhau, thông thường các nước quy định một số hạn mức sau để
hạn chế rủi ro đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán cũng như đảm bảo hạn

+

chế các xung đột lợi ích có thể xảy ra:
Hạn chế mức mua sắm tài sản cố định theo một tỷ lệ phần trăm trên vốn điều

+

lệ.
Hạn mức đầu tư vào mỗi loại chứng khoán: thường hạn mức đầu tư váo các
loại chứng khoán niêm yết được đặt cao hơn hạn mức đầu tư vào các loại

+

chứng khoán không niêm yết.
Hạn mức đầu tư vào một số những tài sản rủi ro cao như các loại trái phiếu có định

+

mức tín nhiệm thấp hay cổ phiếu của những công ty đang phát triển.

Hạn mức bảo lãnh phát hành: vì hoạt động bảo lãnh có mức rủi ro tương đối
cao nên quy định hạn mức này nhằm giới hạn tổng mức bảo lãnh trong cùng

+

thời điểm của một tổ chức kinh doanh chứng khoán.
Hạn mức hoặc hạn chế đầu tư vào các quỹ đầu tư do tổ chức kinh doanh
chứng khoán quản lý.
SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


14
Học viện tài chính

SV: Bùi Thị Ngân

14

Luận văn tốt nghiệp

Lớp: CQ48/17.01


15
Học viện tài chính
1.1.2.2.

15


Luận văn tốt nghiệp

Nguyên tắc đạo đức.

Các chủ thể kinh doanh chứng khoán phải tuân thủ các nguyên tắc đạo
đức sau:
-

Tổ chức kinh doanh chứng khoán phải hoạt động trên nguyên tắc trung thực,
tận tụy, bảo vệ và vì quyền lợi, lợi ích hợp pháp của khách hàng, ưu tiên bảo

-

vệ lợi ích của khách hàng trước lợi ích của chính mình.
Tổ chức kinh doanh chứng khoán có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng và chỉ
được tiết lộ thông tin của khách hàng trong trường hợp cơ quan nhà nước có

-

thẩm quyền yêu cầu.
Tổ chức kinh doanh chứng khoán phải giữ nguyên tắc giao dịch công bằng,
không được sử dụng bất kỳ hành động lừa đảo phi pháp nào, có trách nhiệm
thông báo cho khách hàng biết đầy đủ các thông tin khi có những trường hợp

-

có thể xảy ra xung đột lợi ích .
Tổ chức kinh doanh chứng khoán không được dùng tiền của khách hàng làm
nguồn tài chính để kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ


-

cho giao dịch của khách hàng.
Tổ chức kinh doanh chứng khoán phải quản lý tách biệt tài sản của khách

-

hàng với tài sản của mình và tài sản của khách hàng với nhau.
Khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn, tổ chức kinh doanh chứng khoán phải cung
cấp thông tin đầy đủ cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà
khách hàng có thể phải gánh chịu, đồng thời không được khẳng định về lợi

-

nhuận của các khoản đầu tư mà họ tư vấn.
Tổ chức kinh doanh chứng khoán không được phép nhận bất cứ khoản thù lao



nào ngoài các khoản thù lao thông thường cho dịch vụ của mình.
1.1.3. Đặc điểm của công ty chứng khoán.
Về tính chuyên môn hóa và phân cấp quản lý.
Công ty chứng khoán chuyên môn hóa ở mức độ cao trong từng bộ phận
phòng ban. Toàn bộ các nghiệp vụ của công ty chứng khoán đều phục vụ cho
các giao dịch chứng khoán, mỗi một nghiệp vụ lại liên quan đến một lĩnh vực
riêng, các phòng ban khác nhau đảm nhiệm các công việc khác nhau. Giữa
SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01



16
Học viện tài chính

16

Luận văn tốt nghiệp

các phòng ban có một sự độc lập tương đối, mối liên kết không phải mật thiết
hữu cơ như các doanh nghiệp sản xuất khác. Chính vì vậy, hoạt động hay cơ
cấu của phòng ban này không ảnh hưởng nhiều đến phòng ban khác.


Về nhân tố con người.
Công ty chứng khoán dựa vào chất lượng chuyên môn đạo đức nghề
nghiệp của đội ngũ nhân viên và cán bộ quản lý trong công ty. Do đó, ở bất kỳ
thời điểm nào công ty chứng khoán cũng thực sự chú trọng đến nhân tố con
người, thể hiện ở những điểm sau:


-

Lựa chọn nhân viên có năng lực và phù hợp với yêu cầu công việc.
Chú trọng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Có chế độ đãi ngộ và khuyến khích nhân viên.
Về ảnh hưởng của thị trường tài chính.
Công ty chứng khoán tham gia hoạt động trực tiếp trên thị trường chứng
khoán nên bất kỳ một biến động nào của thị trường chứng khoán nói riêng và
thị trường tài chính nói chung đều tác động sâu sắc đến chuyên môn, sản


-

phẩm, dịch vụ và doanh thu của công ty chứng khoán.
Thị trường tài chính, thị trường chứng khoán càng phát triển càng tạo ra nhiều
công cụ tài chính, có thêm nhiều dịch vụ, mở rộng phạm vi kinh doanh, tạo cơ
hội thu lợi nhuận cho công ty chứng khoán. Mặt khác, công ty chứng khoán
không ngừng cải tiến, không ngừng sáng tạo để thích nghi môi trường hoạt
động.

SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


17

17
Học viện tài chính


Luận văn tốt nghiệp

Về cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán.
Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán phụ thuộc vào quy mô kinh
doanh và các nghiệp vụ mà công ty được phép hoạt động. Theo thông lệ quốc
tế, cơ cấu tổ chức của một công ty chứng khoán chia thành hai khối chủ yếu:
khối nghiệp vụ và khối phụ trợ.
Khối nghiệp vụ:
Khối này thực hiện các giao dịch chứng khoán và tạo ra phần lợi nhuận

chủ yếu cho công ty. Khối này gồm có các phòng ban:
+ Phòng tự doanh.
+ Phòng môi giới.
+ Phòng bảo lãnh phát hành.
+ Phòng tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư chứng khoán.
+ Phòng ký quỹ.
Khối phụ trợ:
Khối này không trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh mà có chức
năng phụ trợ cho các nghiệp vụ này. Khối này gồm các phòng ban:
+ Phòng nghiên cứu và phát triển.
+ Phòng phân tích và thông tin thị trường.
+ Phòng kế hoạch công ty.
+ Phòng phát triển sản phẩm mới.
+ Phòng công nghệ thông tin.
+ Phòng pháp chế.
+ Phòng kế toán, thanh toán và kiểm soát nội bộ.
+ Phòng ngân quỹ.
+ Phòng tổng hợp hành chính nhân sự.
1.1.4. Các hoạt động kinh doanh cơ
1.1.4.1.
Hoạt động môi giới chứng

SV: Bùi Thị Ngân

bản của công ty chứng khoán.
khoán.
Lớp: CQ48/17.01


18

Học viện tài chính

18

Luận văn tốt nghiệp

Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh của công ty chứng
khoán trong đó công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao
dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán ( SGDCK),
trung tâm giao dịch chứng khoán ( TTGDCK) hay thị trường OTC mà chính
khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao
dịch đó.
Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán phải mở tài khoản
giao dịch chứng khoán và tiền cho khách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết
giữa khách hàng và công ty. Trong trường hợp khách hàng của công ty chứng
khoán mở tài khoản lưu ký tại tổ chức lưu ký là ngân hàng thương mại hoặc
chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty chứng khoán có trách nhiệm hướng
dẫn các thủ tục giao dịch, mua bán cho khách hàng và phải ký hợp đồng bằng
văn bản với tổ chức lưu ký. Phí môi giới thường được tính phần trăm trên
tổng giá trị của một giao dịch.

SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


19
Học viện tài chính

19


Luận văn tốt nghiệp

Sơ đồ 1: Quy trình giao dịch chứng khoán niêm yết.

Nhà đầu tư

Đại diện giao dịch

CTCK

Đại diện giao dịch

SGD/
TTGDCK

Đại diện giao dịch

Hiện nay có hai loại hình môi giới chứng khoán là môi giới chứng khoán
chưa niêm yết và môi giới chứng khoán niêm yết.
Môi giới chứng khoán niêm yết: Chứng khoán niêm yết là chứng khoán đáp
ứng các yêu cầu về niêm yết theo quy định và được giao dịch tại SGDCK/
TTGDCK. Việc môi giới chứng khoán niêm yết được thực hiện thông qua hệ
thống tài khoản giao dịch chứng khoán theo quy trình giao dịch của SGDCK và
TTGDCK. Mô hình giao dịch chứng khoán niêm yết hiện nay cụ thể như sau:
1.
2.
3.
4.
5.

6.

Khách hàng mở tài khoản giao dịch và đặt lệnh mua, bán chứng khoán.
CTCK kiểm soát số dư tiền và chứng khoán của khách hàng.
Chuyển lệnh cho đại diện giao dịch tại SGD/ TTGDCK.
Đại diện giao dịch nhập lệnh vào hệ thống của SGD/ TTGDCK.
SGD/ TTGDCK thực hiện so khớp lệnh và trả kết quả về CTCK.
CTCK thông báo cho khách hàng kết quả giao dịch đã được thực hiện.

SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


20
Học viện tài chính

20

Luận văn tốt nghiệp

Môi giới chứng khoán chưa niêm yết: Chứng khoán chưa niêm yết là
chứng khoán chưa thực hiện niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên SGD/
TTGDCK. Việc môi giới chứng khoán chưa niêm yết được CTCK thực hiện
thông qua các hợp đồng ủy thác hoặc trung gian mua bán chứng khoán. Thị
trường giao dịch chứng khoán chưa niêm yết đang đầy tiềm năng do hiện nay
số lượng chứng khoán niêm yết còn rất nhỏ so với tổng số lượng chứng khoán
chưa niêm yết.
Các chức năng của hoạt động môi giới chứng khoán:
-


Cung cấp dịch vụ với hai tư cách:
+ Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư: cung cấp cho khách
hàng các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư.
+ Nối liền những người bán và những người mua: đem đến cho khách
hàng tất cả các loại sản phẩm và dịch vụ tài chính.

-

Đáp ứng những nhu cầu tâm lý của khách hàng khi cần thiết: trở thành người
bạn, người chia sẻ những lo âu căng thẳng và đưa ra những lời động viên kịp

-

thời.
Khắc phục trạng thái cảm xúc quá mức ( điển hình là sự sợ hãi và tham lam),

-

để giúp khách hàng có những quyết định tỉnh táo.
Đề xuất thời điểm bán hàng.
Những đặc trưng cơ bản của nghề môi giới chứng khoán:

-

Lao động cật lực, thù lao xứng đáng.
Những phẩm chất cần có: kiên nhẫn, giỏi phân tích tâm lý và ứng xử.
Nỗ lực cá nhân là quyết định, đồng thời không thể thiếu sự hỗ trợ của công ty
trong việc cung cấp thông tin và kết quả phân tích cũng như việc thực hiện
các lệnh của khách hàng.

Nghề môi giới chứng khoán cần các kỹ năng:

-

Kỹ năng truyền đạt thông tin.
Kỹ năng tìm kiếm khách hàng.
Kỹ năng khai thác thông tin.
SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


21
Học viện tài chính
1.1.4.2.

21

Luận văn tốt nghiệp

Hoạt động tự doanh.

Đây là nghiệp vụ mà trong đó CTCK thực hiện mua và bán chứng khoán
cho chính mình.
Với nghiệp vụ tự doanh, CTCK sẽ tham gia mua bán chứng khoán như
một tổ chức độc lập, bằng chính nguồn vốn của công ty, chứ không phải bằng
tài khoản của khách hàng.
Tuy nhiên đây là một hoạt động khó khăn và phức tạp, hoạt động này có
thể mang lại cho CTCK những khoản lợi nhuận lớn nhưng cũng có thể gây ra
những tổn thất không nhỏ. Để thực hiện nghiệp vụ này thành công, ngoài đội

ngũ nhân viên phân tích thị trường có nghiệp vụ giỏi và nhanh nhạy với
những biến động của thị trường, CTCK còn phải có một chế độ phân cấp quản
lý và đưa ra những quyết định đầu tư hợp lý, trong đó việc xây dựng chế độ
phân cấp quản lý và ra quyết định đầu tư là một trong những vấn đề then chốt,
quyết định sự sống còn của CTCK.
Nghiệp vụ tự doanh của CTCK có thể chia thành 2 lĩnh vực:
Thứ nhất, các CTCK thực hiện việc mua, bán chứng khoán niêm yết cho
chính công ty mình. Do CTCK với lợi thế về nghiệp vụ có thể dự đoán trước
diễn biến của thị trường nên để đảm bảo sự công bằng cho khách hàng trong
quá trình giao dịch chứng khoán, CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh giao dịch
của khách hàng trước lệnh tự doanh của công ty.
Thứ hai, các CTCK thực hiện hoạt động tự doanh bằng hình thức mua
chứng khoán chưa niêm yết trên thị trường OTC. Tuy nhiên hoạt động này
phải tuân thủ những hạn mức do pháp luật quy định.
Hoạt động tự doanh hiện nay được xem là một trong những hoạt động
quan trọng nhất của các CTCK tại Việt Nam trong việc nâng cao lợi nhuận.
Tuy nhiên, do nghiệp vụ tự doanh và môi giới dễ nảy sinh xung đột lợi ích

SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


22
Học viện tài chính

22

Luận văn tốt nghiệp


nên các nước thường quy định các CTCK phải tổ chức thực hiện hai nghiệp
vụ ở hai bộ phận riêng biệt nếu CTCK đó thực hiện cả hai nghiệp vụ.
Quy trình nghiệp vụ trong hoạt động tự doanh:
-

Xây dựng chiến lược đầu tư.
Khai thác, tìm kiếm các cơ hội đầu tư.
Phân tích, đánh giá chất lượng các cơ hội đầu tư.
Thực hiện đầu tư.
Quản lý đầu tư và thu hồi vốn.
1.1.4.3.
Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức
phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua
một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua
số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc
hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng.
Tổ chức phát hành được hưởng phí bảo lãnh hoặc tỷ lệ hoa hồng nhất định
trên số tiền thu được từ đợt phát hành.
Hiện nay, trên thế giới có một số hình thức bảo lãnh phát hành sau: bảo
lãnh cam kết chắc chắn, bảo lãnh cố gắng tối đa, bảo lãnh tất cả hoặc không,
bảo lãnh với hạn mức tối thiểu.
Riêng tại Việt Nam hiện nay chỉ áp dụng hình thức bảo lãnh với cam kết
chắc chắn nhằm mục đích bảo vệ nhà đầu tư và gắn kết trách nhiệm của các
CTCK.Điều này gây ra một số khó khăn cho các CTCK trong việc triển khai
nghiệp vụ này.Thực tế chỉ có các CTCK lớn mới có thể thực hiện nghiệp vụ
này vì người bảo lãnh phải có năng lực tài chính mạnh. Theo quy định thì vốn
pháp định cho nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán là 165 tỷ và CTCK
phải có hoạt động tự doanh mới được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát
hành chứng khoán.

1.1.4.4.

Hoạt động tư vấn.

Tư vấn: Là đưa ra những lời khuyên, phân tích các tình huống hay thực
hiện một số công việc có tính cách dịch vụ cho khách hàng.
SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


23
Học viện tài chính

23

Luận văn tốt nghiệp

Các dịch vụ mà công ty chứng khoán cung cấp cho khách hàng có thể ở
trong lĩnh vực tư vấn đầu tư chứng khoán, tư vấn chiến lược và kỹ thuật giao
dịch; tư vấn tái cơ cấu tài chính, chia, tách, sát nhập, hợp nhất doanh nghiệp;
tư vấn cho doanh nghiệp trong việc phát hành và niêm yết chứng khoán; cung
cấp kết quả phân tích chứng khoán và thị trường chứng khoán. Đây là nghiệp
vụ mà vốn của nó chính là kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp
của đội ngũ chuyên viên tư vấn của công ty chứng khoán.
Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán
Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn tài chính và đầu tư chứng
khoán là việc CTCK thông qua hoạt động phân tích để dưa ra các lời khuyên,
phân tích các tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác
liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng. CTCK sẽ

nhận được phí hoa hồng cho công việc tư vấn của mình.


Tư vấn đầu tư
Tư vấn đầu tư là những hoạt động tư vấn về giá trị của chứng khoán nhằm
mục đích thu phí.
Nguyên tắc của hoạt động tư vấn đầu tư

*
*

Không bảo đảm chắc chắn về giá trị của chứng khoán.
Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình có thể là không
hoàn toàn chính xác và khách hàng cần biết rằng nhà tư vấn không chịu trách

*

nhiệm về những lời khuyên đó.
Không được dụ dỗ,mời gọi khách hàng mua một loại chứng khoán nào
đó,những lời tư vấn phải xuất phát từ cơ sở khách quan là sự phân tích tổng



hợp một cách logic, khoa học.
Tư vấn tài chính doanh nghiệp.
Tư vấn tài chính doanh nghiệp là hoạt động trong đó công ty chứng khoán
đóng vai trò như một tổ chức chuyên nghiệp giúp các doanh nghiệp huy động

SV: Bùi Thị Ngân


Lớp: CQ48/17.01


24
Học viện tài chính

24

Luận văn tốt nghiệp

vốn thuận lợi nhất, đồng thời tư vấn cho họ phương thức quản lý tài chính
một cách hiệu quả nhất.
Tư vấn tài chính doanh nghiệp bao gồm các nghiệp vụ cơ bản sau:
-

Tư vấn niêm yết.
Tư vấn cổ phần hóa.
Tư vấn mua bán sáp nhập doanh nghiệp ( M&A).
Đối với các loại hình tư vấn khác, ví dụ như tư vấn pháp luật thì tính
chính xác của lời khuyên là cần thiết và có khả năng diễn ra đúng trên thực tế.
Tuy nhiên, đối với hoạt động tư vấn chứng khoán, do đặc điểm riêng trong
ngành là giá cả thường luôn biến động nên việc tư vấn về giá trị chứng khoán
rất khó khăn, đồng thời có thể xảy ra nhiều mâu thuẫn về lợi ích. Đặc biệt là
với hoạt động này, các nhà tư vấn có thể gây ra những hiểu lầm đáng tiếc về
giá trị và xu hướng giá cả của các loại chứng khoán – việc này có thể do khả
năng của họ hoặc do họ cố tình gây hiểu lầm để kiếm lợi. Do vậy, đây là hoạt
động cần được quản lý chặt chẽ và đòi hỏi phải có những giới hạn nhất định
trong khi thực hiện công việc.
1.1.4.5.


Dịch vụ lưu ký chứng khoán.

Lưu ký chứng khoán là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán cho khách
hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán.
Việc lưu ký chứng khoán này ngoài mục đích giữ hộ chứng khoán còn
thực hiện hộ quyền của khách hàng đó là:
Khi sở hữu chứng khoán nhà đầu tư có một số quyền nhất định (quyền bỏ
phiếu bầu HĐQT; bỏ phiếu quyết định các vấn đề có ảnh hưởng đến toàn bộ
công ty; quyền nhận thu nhập, quyền kiểm tra sổ sách của công ty; quyền
được phân chia tài sản, quyền chuyển đổi cổ phiếu, quyền mua cổ phiếu…) và
được gọi chung là quyền sở hữu chứng khoán. Người sở hữu có thể thực hiện
trực tiếp hay gián tiếp. Trong nhiều trường hợp, thực hiện quyền trực tiếp rất
bất lợi, thủ tục phức tạp nên người sở hữu chứng khoán có thể ủy quyền qua
SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


25
Học viện tài chính

25

Luận văn tốt nghiệp

hệ thống lưu ký. Với những chứng khoán được lưu ký tại trung tâm lưu ký thì
việc thực hiện quyền gián tiếp hết sức đơn giản vì trung tâm lưu ký biết thông
tin về người sở hữu chứng khoán, thực hiện đăng ký sở hữu chứng khoán cho
người nắm giữ.
Các hoạt động khác.

Quản lý thu nhập của khách hàng ( quản lý cổ tức): xuất phát từ việc lưu ký
1.1.4.6.


chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổ tức của
chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách


hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
Cho vay cầm cố chứng khoán: là một hình thức tín dụng mà trong đó người đi
vay dùng số chứng khoán sở hữu hợp pháp của mình làm tài sản cầm cố để



vay tiền nhằm mục đích kinh doanh, tiêu dùng.
Cho vay bảo chứng: Là một hình thức tín dụng mà khách hàng vay tiền để
mua chứng khoán, sau đó dùng số chứng khoán mua được từ tiền vay để làm



tài sản cầm cố cho khoản vay.
Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán: là việc CTCK ứng trước tiền bán
chứng khoán cho khách hàng ngay sau khi lệnh bán chứng khoán của khách
hàng được thực hiện tại SGDCK hoặc TTGDCK.
Ngoài các nghiệp vụ kể trên, công ty chứng khoán còn có thể thực hiện
một số hoạt động khác như: cho vay chứng khoán, quản lý số cổ đông…

1.1.5.

Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán.

1.1.5.1.
Chức năng của công ty chứng khoán.
Trên thị trường chứng khoán, CTCK có 3 chức năng cơ bản sau:



Tạo cơ chế huy động vốn bằng cách làm cầu nối gặp gỡ giữa những người có




tiền nhàn rỗi với những người cần vốn.
Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch.
Tạo ra tính thanh khoản cho các loại chứng khoán.
1.1.5.2.
Vai trò của công ty chứng khoán.
Công ty chứng khoán là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ các công
SV: Bùi Thị Ngân

Lớp: CQ48/17.01


Xem Thêm

×