Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

Hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp huyện từ thực tiễn Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.31 MB, 83 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ THỊ KIM CHI

HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TỪ THỰC TIỄN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, năm 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HỒ THỊ KIM CHI

HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TỪ THỰC TIỄN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380104

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN VĂN ĐỘ

HÀ NỘI, năm 2020



LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoạn luận văn thạc sĩ “Hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự
của Tòa án nhân dân cấp huyện từ thực tiễn Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học do bản thân tôi tự thực hiện
với sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Văn Độ. Kết quả trong luận văn là trung
thực và chưa được công bố tại bất kỳ công trình khoa học nào.

Tác giả

Hồ Thị Kim Chi


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS

: Bộ luật Dân sự

BLHS

: Bộ luật Hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT

: Cơ quan điều tra


ĐTV

: Điều tra viên

HĐTP

: Hội đồng Thẩm phán

HĐXX

: Hội đồng xét xử

KSV

: Kiểm sát viên

TAND

: Tòa án nhân dân

TANDTC

: Tòa án nhân dân tối cao

TTHS

: Tố tụng hình sự

UBTP


: Ủy ban Thẩm phán

VKS

: Viện kiểm sát

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC

: Viện kiểm sát nhân dân tối cao


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỦY
BẢN ÁN SƠ THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ .................................. 8
1.1. Lý luận về hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự........................................ 8
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự ................ 8
1.1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự
................................................................................................................. 19
1.1.3. Mục đích, ý nghĩa của việc hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự ....... 21
1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về huỷ bản án sơ thẩm vụ án
hình sự ......................................................................................................... 24
1.2.1. Khái quát pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ 1945 đến khi Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành về hủy bản án........... 24
1.2.2. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về hủy bản án sơ

thẩm vụ án hình sự ................................................................................... 27
Chương 2: THỰC TIỄN HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ PHÚC THẨM CỦA TOÀ ÁN NHÂN
DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH........................................................... 30
2.1. Tình hình hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự tại Thành phố Hồ Chí
Minh ............................................................................................................ 30
2.2. Kết quả hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự để điều tra lại hoặc xét xử
lại ................................................................................................................. 31
2.2.1. Huỷ bản án do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự ........ 31
2.2.2. Hủy bản án do sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng các quy
định của BLHS ......................................................................................... 38
2.2.3. Huỷ bản án do hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm hoặc
không đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự..................................... 45


2.3. Nguyên nhân của việc hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự để điều tra lại,
xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án ..................................................................... 46
2.3.1. Nguyên nhân do những bất cập, hạn chế của pháp luật và hướng
dẫn áp dụng pháp luật ............................................................................ 46
2.3.2. Nguyên nhân xuất phát từ chất lượng hoạt động tố tụng ............. 47
2.3.3. Các nguyên nhân khác .................................................................. 56
Chương 3: YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG
HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TRONG XÉT XỬ PHÚC
THẨM ............................................................................................................ 60
3.1. Yêu cầu hạn chế tình trạng huỷ bản án sơ thẩm vụ án hình sự ........... 60
3.1.1. Yêu cầu Cải cách tư pháp. ............................................................ 60
3.1.2. Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo vệ công lý………..62
3.1.3. Yêu cầu bảo vệ quyền con người…………………………………..62
3.1.4. Yêu cầu phòng ngừa và chống tội phạm ....................................... 62
3.2. Các giải pháp hạn chế tình trạng huỷ bản án sơ thẩm vụ án hình sự... 64

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện và hướng dẫn thực hiện các quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự ................................................................................. 64
3.2.2. Nâng cao năng lực, trách nhiệm nghề nghiệp của người tiến hành
tố tụng...................................................................................................... 66
3.2.3. Tăng cường phối hợp, chế ước giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
................................................................................................................. 67
3.2.4. Các giải pháp khác ....................................................................... 67
KẾT LUẬN .................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động xét xử của Tòa án là một trong những chức năng quan trọng
của Nhà nước nhằm đảm bảo trật tự, giáo dục mọi người ý thức tuân theo
pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Việt Nam đang trên con
đường đổi mới đất nước hướng đến xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong những năm qua,
cùng với quá trình cải cách sâu sắc và toàn diện nền hành chính nhà nước ở
nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến cải cách tư pháp nói chung và
nhất là cải cách tố tụng hình sự, vì đây là công cụ sắc bén và đầy hiệu lực của
Nhà nước, thông qua đó đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh
chính trị trật tự an toàn xã hội, bảo vệ pháp luật và pháp chế Xã hội chủ nghĩa,
đồng thời đó là chỗ dựa của nhân dân bảo vệ công lý, bảo vệ quyền công dân,
quyền con người, bảo đảm không làm oan, làm sai đối với người vô tội đồng
thời mọi hành vi phạm tội đều được xử lý nghiêm minh đúng pháp luật.
Những yêu cầu đó được thể hiện sâu sắc trong các Nghị quyết của Đảng qua
các kỳ đại hội và nhất là trong Nghị quyết 08, Nghị quyết 49 –NQ/TW ngày

02/6/2005 của Bộ Chính trị. Với yêu cầu đó, các cơ quan tố tụng đã phấn đấu
đạt nhiều kết quả đáng kể, thể hiện qua chất lượng điều tra, truy tố có nhiều
chuyển biến tích cực; tình trạng bắt giữ người tràn lan, truy tố oan sai được
hạn chế đến mức thấp nhất, công tác xét xử được thận trọng, hoạt động tranh
tụng được nâng cao, phiên tòa dân chủ, công khai, khách quan được phát huy.
Tuy nhiên, hoạt động xét xử các vụ án hình sự trong giai đoạn sơ thẩm
vẫn chưa đạt được yêu cầu, mục tiêu đề ra vì vẫn còn phát sinh rất nhiều bản
án bị Tòa án cấp trên tuyên hủy, sửa theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm
hoặc tái thẩm. Để khắc phục tình trạng này thì từng cấp xét xử phải đảm bảo
xét xử vụ án đúng về cả nội dung lẫn tố tụng, trong đó việc Tòa án cấp trên
1


thực hiện các quyền như: giữ nguyên bản án, sửa bản án hay hủy bản án của
Tòa án cấp dưới khi xét xử vụ án hình sự luôn được đòi hỏi phải tuân thủ
nghiêm chỉnh pháp luật.
Mỗi quyết định của Tòa án cấp trên về hủy bản án hay sửa bản án hình
sự của Tòa án cấp dưới đều có ý nghĩa, tác động quan trọng đến quá trình giải
quyết vụ án hoặc sai sót trong việc áp dụng pháp luật. Nếu như việc hủy bản
án của Tòa án sơ thẩm do có những tình tiết mới phát sinh liên quan đến việc
giải quyết vụ án thì việc hủy bản án (trừ trường hợp hủy và đình chỉ vụ án)
chủ yếu là nhằm tạo điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp dưới
khắc phục những vi phạm pháp luật nghiêm trọng để điều tra, xét xử lại hoặc
chỉ để xét xử lại đúng đắn vụ án.
Nếu đánh giá việc hủy bản án hình sự ở góc độ liên hệ cùng với hiệu
lực thi hành của bản án thì bản án bị hủy thì phải quay trở lại giai đoạn tố tụng
trước đó, có thể phải điều tra lại hoặc xét xử lại, do đó làm cho nhiều vụ án
phải được xử lý lại, kéo dài thời hạn tố tụng gây thiệt hại không nhỏ đến tiền
của của nhà nước, xã hội, quyền lợi của người tham gia tố tụng và nhất là sự
thiếu lòng tin của nhân dân vào công lý.

Như vậy, việc nghiên cứu lý luận, phân tích pháp luật và đánh giá thực
tiễn tìm ra giải pháp hạn chế đến mức thấp nhất các bản án hình sự bị hủy là
yêu cầu đặt ra cấp thiết, nó không chỉ là tiêu chí để đánh giá chất lượng điều
tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng mà còn là cơ sở để đánh
giá tính thực tiễn của pháp luật tố tụng hình sự, hiệu quả về mặt chính trị, xã
hội trong công tác phòng, chống tội phạm.
Tất cả những vấn đề trên đây là lý do mà học viên chọn Đề tài “Hủy
bản án sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp huyện từ thực tiễn
Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
luật học.
2


2. Tình hình nghiên cứu
Hủy bản án hình sự là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu luật và những người làm công tác thực tiễn. Tuy nhiên, cách tiếp
cận được thực hiện ở các mức độ khác nhau. Có thể giới thiệu một số công
trình nghiên cứu có tính lý luận, điển hình như:
Công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Thực trạng hoạt động xét xử
phúc thẩm và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử phúc
thẩm của các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao” (2006) của TANDTC
có nội dung làm rõ một số qui định của pháp luật tố tụng đồng thời phân tích
thực trạng hoạt động, chất lượng, hiệu quả xét xử phúc thẩm của các Tòa
phúc thẩm TANDTC và từ đó đưa ra một số giải pháp.
Ở cấp độ tiến sĩ, đã có các Luận án “Chức năng xét xử trong tố tụng
hình sự Việt Nam” (2008) của tác giả Lê Tiến Châu nghiên cứu toàn diện về
chức năng xét xử nói chung trong tố tụng hình sự, trong đó đề cập một số vấn
đề về chức năng xét xử trong xét xử phúc thẩm; Luận án “Áp dụng pháp luật
trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay” (2003)
của tác giả Lê Xuân Thân, trong đó có phân tích về thực tiễn áp dụng pháp

luật tại Tòa án cấp phúc thẩm; Luận án “Phúc thẩm trong tố tụng hình sự”
(2004) của tác giả Nguyễn Đức Mai nghiên cứu một cách toàn diện về phúc
thẩm trong tố tụng hình sự nói chung; Luận án "Thẩm quyền của các cấp Tòa
án trong tố tụng hình sự” (2002) của tác giả Nguyễn Văn Huyên có đề cập
một số nội dung về quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm.
Ở cấp độ thạc sĩ, đã có các Luận văn “Thủ tục xét xử phúc thẩm theo
luật tố tụng hình sự Việt Nam” (1998) của tác giả Nguyễn Gia Cương; Luận
văn “Giai đoạn xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam những vấn
đề lý luận và thực tiễn” (2001) của tác giả Huỳnh Lập Thành; Luận văn
“Phạm vi xét xử phúc thẩm và thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm theo
3


pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” (2007) của tác giả Bùi Ngọc Hòa; Luận
văn “Quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt
Nam”của tác giả Nguyễn Tiến Pháp; Luận văn “Nguyên tắc thực hiện chế độ
hai cấp xét xử trong bối cảnh cải cách tư pháp ở Việt Nam” của tác giả Ngô
Mạnh Cường;... có những nội dung phân tích các quy định của BLTTHS về
quyền hạn xét xử phúc thẩm, trong đó có đề cập đến vấn đề hủy bản án.
Sau khi có BLTTHS 2003 có một số bài nghiên cứu trên các báo, tạp
chí như: Tạp chí Tòa án số 20; Đinh Văn Quế (2004),“Những trường hợp Tòa
án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm”; Tạp chí Tòa án số 8; Hoàng Thị Liên
(2005), “Xử lý thế nào trong trường hợp tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ
thẩm để điều tra lại theo hướng nặng hơn đối với bị cáo”; Tạp chí Tòa án số
17; Đỗ Đại Hữu (2006),“Xác định Tòa án xét xử lại, khi Tòa án tối cao hủy
bản án, quyết định của Tòa cấp dưới”, Tạp chí Nghiêu cứu lập pháp số 72;
Phạm Thanh Hải (2007),“Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy bản án sơ thẩm,
đình chỉ giải quyết vụ án”, Tạp chí Tòa án số 4; Vũ Gia Lâm (2012),“Về
quyền hủy bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại của Tòa án
cấp phúc thẩm”, Tạp chí Luật học số 11; Đinh Văn Quế (2013),“Tòa án cấp

phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo hướng có tội – những vấn đề
lý luận và thực tiễn”, Tạp chí dân chủ và Pháp luật số 5…; Ngoài ra đề tài
này còn được đề cập tới ở một số tài liệu khác như Giáo trình luật TTHS của
Trường đại học luật Hà Nội năm 2013 và các sách chuyên khảo về kỹ năng
xét xử.
Nghiên cứu các công trình khoa học trên cho thấy vấn đề hủy bản án
hình sự đã được các nhà khoa học, những người làm công tác thực tiễn quan
tâm. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa trình bày chuyên sâu về hủy bản án ở
các giai đoạn xét xử khác nhau, cũng như chưa đánh giá sâu mối quan hệ giữa
áp dụng luật tố tụng và luật nội dung trong quy định về hủy bản án hình sự.
4


Ngoài ra, có những công trình nghiên cứu vấn đề hủy bản án hình sự đã
không còn phù hợp so với pháp luật hiện hành và thực tiễn. Nghiên cứu vấn
đề hủy bản án theo tố tụng hình sự Việt Nam nhìn từ pháp luật hiện hành để
đánh giá thực trạng trong bối cảnh cải cách tư pháp sâu, rộng như hiện nay là
yêu cầu cần thiết nên có thể khẳng định rằng cho đến nay chưa có đề tài nào
nghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể về những vấn đề nói trên.

5


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu và làm sáng tỏ những
vấn đề lý luận và thực tiễn về hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự trong tố tụng
hình sự Việt Nam, đề xuất một số giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định
pháp luật về hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp
huyện.
Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra và giải quyết một số nhiệm

vụ chính sau đây:
- Làm rõ các vấn đề lý luận về hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự;
- Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chế
định hủy bản án hình sự qua các thời kỳ.
- Đánh giá thực tiễn hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân
dân thành phố Hồ Chí Minh.
- Đưa ra các giải pháp khắc tình trạng huỷ bản án sơ thẩm trong tố tụng
hình sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề về lý luận, quy định của
pháp luật và thực tiễn truy tố của VKS, xét xử của Tòa án về hủy bản án hình sự
chưa có hiệu lực pháp luật và đã có hiệu lực pháp luật.

Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu là những bản án mà Tòa án cấp
phúc thẩm TAND TP.Hồ Chí Minh tuyên hủy bản án sơ thẩm của Tòa án
nhân dân quận, huyện (cấp huyện) để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ
án trong 3 năm (2017 -2019).

6


5. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử của Triết học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng và Nhà nước về Nhà nước pháp quyền, về Cải cách tư
pháp.
Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể là phân tích, tổng
hợp, thống kê, khảo sát thực tiễn và vụ việc điển hình... để thực hiện Đề tài.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Về ý nghĩa lý luận, luận văn góp phần làm sáng tỏ khái niệm, căn cứ,

mục đích, ý nghĩa của việc hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự. Từ đó làm rõ
hơn ý nghĩa lý luận về quyền hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự trong thẩm
quyền xét xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh.
Về ý nghĩa thực tiễn, Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà
hoạt động thực tiễn, nhất là các Thẩm phán xét xử sơ thẩm cũng như phúc
thẩm nhằm nâng cao trình độ, rút kinh nghiệm cho hoạt động của mình.
Luận văn cũng có thể được sử dụng trong giảng dạy, học tập môn Tố
tụng hình sự.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm có ba chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về hủy bản án sơ thẩm
trong tố tụng hình sự.
- Chương 2: Thực tiễn hủy bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành
phố Hồ Chí Minh..
- Chương 3: Yêu cầu và giải pháp hạn chế tình trạng hủy bản án sơ
thẩm.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỦY BẢN ÁN SƠ
THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Lý luận về hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1.1. Khái niệm chung về huỷ bản án
Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra khái niệm về hủy
bản án sơ thẩm vụ án hình sự.
Theo từ điển Tiếng Việt thì “hủy” là “làm cho không còn tồn tại hoặc

không còn có giá trị nữa”. Bản án (trong trường hợp này là bản án hình sự) là
văn bản áp dụng pháp luật thể hiện phán quyết của Tòa án trong xét xử vụ án
hình sự. Theo cách hiểu này thì “hủy bản án” là cách thức làm cho một bản án
chưa có hiệu lực pháp luật của của Tòa án cấp sơ thẩm không còn giá trị nữa
để có hiệu lực thi hành (huỷ ở cấp phúc thẩm) hay làm cho bản án đã có hiệu
lực thi hành không còn hiệu lực thi hành nữa (huỷ ở thủ tục giám đốc thẩm,
tái thẩm). Cùng với việc huỷ bản án là một loạt vấn đề đặt ra tiếp theo là vì
sao phải hủy bản án (căn cứ huỷ bản án)? Chủ thể nào được trao thẩm quyền
hủy bản án? Hậu quả pháp lý của việc hủy bản án là gì?...
Trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, huỷ bản án được hiểu là huỷ
toàn bộ bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang có hiệu lực pháp luật
hoặc huỷ một phần bản án đó, nếu các phần khác của bản án không ảnh
hưởng đến phần bản án bị huỷ.
Trong tố tụng hình sự Việt Nam khi nói đến thuật ngữ “hủy bản án” sơ
thẩm hình sự cấp quận, huyện là nói đến thẩm quyền của HĐXX cấp phúc
thẩm hoặc giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định trong pháp luật hình sự.
Với những nội dung nêu trên, có thể đưa ra khái niệm hủy bản án trong
tố tụng hình sự: “Hủy bản án là một trong những quyền hạn của Tòa án cấp
8


trên trong quá trình xét xử phúc thẩm vụ án hoặc xét lại bản án theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp dưới theo thủ tục luật định, nếu xét
thấy có căn cứ theo quy định của pháp luật, nhằm hủy bỏ một phần hay toàn
bộ bản án đó để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án”.
1.1.1.2. Hủy bản án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Theo Từ điển Luật học thì Tòa án cấp phúc thẩm có thẩm quyền hủy
bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ để điều tra lại hoặc xét xử lại và hủy bản án sơ
thẩm, đình chỉ vụ án. Khi hủy án sơ thẩm để xét xử lại, Tòa án cấp phúc thẩm
không quyết định trước những chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm cần phải

chấp nhận hoặc cần phải phản bác bỏ; cũng như, không quyết định trước về
điều khoản bộ luật và chế tài mà Tòa án cấp sơ thẩm sẽ phải áp dụng. Đối với
trường hợp hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án, nếu Tòa án cấp phúc thẩm
xét thấy không có sự việc phạm tội hoặc hành vi của bị cáo không cấu thành
tội phạm thì ra quyết định hủy bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo vô tội và đình
chỉ vụ án [41, tr.404].
Hủy bản án, quyết định của Tòa án là một biện pháp quan trong góp
phần hạn chế tình trạng oan, sai trong các bản án, quyết định của Tòa án;
nhằm bảo vệ quyền con người, đảm bảo tính đúng đắn các phán quyết của
Toà án trong giải quyết các vụ án hình sự.
Cách thức trình tự tiến hành xét xử lại vụ án hoặc xem xét lại quyết
định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án chưa có hiệu lực
pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Mục đích của việc xét xử phúc thẩm là nhằm kiểm tra lại tính hợp
pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của những người tham gia tố tụng, sửa chữa những sai lầm và vi
phạm của tòa án sơ thẩm nhằm bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật.

9


Việc xét xử phúc thẩm chỉ phát sinh khi có kháng cáo của những người
có quyền kháng cáo hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân. Hội đồng
xét xử chỉ xét xử đối với những vụ án mà bản án bị kháng cáo, kháng nghị.
Phần còn lại không bị kháng cáo, kháng nghị chỉ được xem xét nếu có điểm
cần được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Khi xét xử Tòa án cấp phúc thẩm có quyền bác kháng cáo, kháng nghị
và giữ nguyên bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét
xử lại. Bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật
ngay sau khi tuyên án.

Trong khoa học Luật tố tụng hình sự đưa ra nhiều khái niệm xét xử
phúc thẩm. Tuy các khái niệm đó có cách diễn đạt khác nhau, nhưng đều khá
thống nhất về những yếu tố cơ bản xuất phát từ tinh thần quy định của
BLTTHS [30, Điều 30]. Theo tinh thần đó, xét xử phúc thẩm được hiểu là
một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại
vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với
vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị nhằm kiểm
tra tính có căn cứ, tính hợp pháp và khắc phục những sai lầm của Tòa án cấp
sơ thẩm, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân [6, tr.227], [38, tr.406].
Đối tượng xét xử phúc thẩm là toàn bộ hay một phần nội dung bản án
sơ thẩm đã tuyên đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo,
kháng nghị. Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm cũng có thể xem xét những phần
khác của bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có liên quan đến
kháng cáo. Nếu có kháng cáo về những vấn đề chưa được xét xử ở cấp sơ
thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm cũng không có trách nhiệm phải giải quyết.
Tòa án xét xử phúc thẩm có nhiệm vụ xem xét, đánh giá lại sự thật của vụ án
trên cơ sở những chứng cứ cũ và chứng cứ mới được bổ sung ở cấp phúc
10


thẩm, đồng thời thực hiện chức năng giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối
với Tòa án cấp dưới, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án,
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Trong quá trình thực hiện hai
nhiệm vụ này, Tòa án cấp phúc thẩm có khả năng phát hiện, khắc phục và sửa
chữa những sai lầm, thiếu sót trong việc xét xử sơ thẩm, đồng thời thông qua
việc phát hiện sửa chữa sai lầm này thì Tòa án cấp phúc thẩm đã hướng dẫn
Tòa án cấp dưới, đảm bảo việc áp dụng pháp luật đúng đắn và thống nhất.
Sau khi xem xét, đánh giá toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án và được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX phúc thẩm có các quyền sau: Một

là, không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;
Hai là, sửa bản án sơ thẩm; Ba là, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án
để điều tra lại hoặc xét xử lại; Bốn là, hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
[30, Điều 355].
Trong quyền hạn của tòa án cấp phúc thẩm nêu trên thì quyền giữ
nguyên bản án sơ thẩm là do Toà án cấp sơ thẩm không có vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng và áp dụng pháp luận đúng đắn (có căn cứ và hợp pháp).
Còn thẩm quyền “sửa bản án” và “hủy bản án” do có nhiều căn cứ khác nhau
cần bàn đến:
- Nếu như Tòa cấp phúc thẩm nhận thấy những tài liệu, chứng cứ thu
thập trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã đầy đủ, không cần phải
bổ sung gì nữa, nhưng có căn cứ xác định bản án sơ thẩm áp dụng không
đúng các quy định của pháp luật hoặc có những tình tiết mới phát sinh liên
quan đến việc giải quyết vụ án sau khi xét xử sơ thẩm thì Tòa án cấp phúc
thẩm khắc phục hạn chế, thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật của Tòa án
cấp sơ thẩm bằng cách sửa quyết định của bản án sơ thẩm theo hướng có lợi
hoặc không có lợi cho bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn dân sự….
Việc sửa bản án có thể gồm: tăng hay giảm hình phạt; mức bồi thường thiệt
11


hại; sửa quyết định xử lý vật chứng hay miễn trách nhiệm hình sự do chuyển
biến tình hình hay hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;...
- Đối với thẩm quyền hủy bản án trong giai đoạn phúc thẩm là khi Tòa
án cấp phúc thẩm phát hiện bản án của Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc chứng minh (thu thập, đánh giá chứng
cứ), trong việc áp dụng pháp luật nội dung hay ở vi phạm tố tụng khác ở mức
độ đáng kể; đồng thời những vi phạm này Tòa án cấp phúc không thể khắc
phục được thì hủy bỏ bản án sơ thẩm này. Tùy theo tính chất vi phạm của bản
án sơ thẩm mà Tòa án cấp phúc thẩm quyết định hủy bản án để điều tra lại,

xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án.
+ Quyết định hủy bản án để điều tra lại là trường hợp Tòa án cấp phúc
thẩm nhận thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ như: Có hành vi
phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những hình thức khác của
hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có
lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích
động cơ phạm tội; Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự
của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thẩn của bị can, bị cáo; Tính chất và
mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; Nguyên nhân và điều kiện phạm
tội; Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ rách nhiệm hình sự, miễn
hình phạt. Đối chiếu với những quy định trên chủ tọa phiên tòa cũng cần xem
xét những vấn đề như: Các thủ tục trong điều tra, truy tố đã bảo đảm đúng và
đầy đủ theo quy định của pháp luật hay không; Hành vi của các bị cáo có đủ
dấu hiệu cấu thành tội phạm hay không; tội danh và điều khoản mà VKS truy
tố có phù hợp không; Có cần xử lý vật chứng hoặc áp dụng biện pháp bảo
đảm việc bồi thường thiệt hại trước khi xét xử không… Việc điều tra không
đầy đủ làm cho việc xác định sự thật vụ án không được khách quan và toàn
diện. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ hủy án sơ thẩm để điều tra lại khi việc điều tra
12


ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà những vấn đề chưa đầy đủ ảnh hưởng đến
xác định sự thật vụ án còn nếu không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật vụ
án thì không được hủy bản án sơ thẩm. Ngoài điều kiện điều tra không đầy đủ
thì việc hủy bản án sơ thẩm còn phải bảo đảm điều kiện là Tòa án cấp phúc
thẩm không thể bổ sung được, còn nếu có khả năng bổ sung thì bản án sơ
thẩm không bị hủy mà Tòa án cấp phúc thẩm phải bổ sung, ví dụ: nếu trong
giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo có biểu hiện tâm thần mà trước đó bị cáo
không có thì Tòa cấp phúc thẩm phải trưng cầu giám định để xác định năng
lực trách nhiệm hình sự của bị cáo, chứ không lấy lý do này để hủy án sơ

thẩm. Việc điều tra không đầy đủ thường hay gắn liền vi phạm thủ tục tố tụng
như: truy tìm vật chứng, xác định dấu vết, định giá tài sản,…
+ Quyết định hủy bản án để xét xử lại từ cấp sơ thẩm là trường hợp vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong xét xử sơ thẩm (như HĐXX sơ thẩm
không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố
tụng...) có sai lầm trong áp dụng luật nội dung nhưng Toà án cấp sơ thẩm
không tự mình sửa được nhằm bảo đảm nguyên tắc không làm xấu đi tình
trạng bị cáo và bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo. Ví dụ, người được Tòa án
cấp sơ thẩm tuyên không phạm tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã
phạm tội.
- Ngoài quyền hạn hủy bản án để điều tra, xét xử lại, Tòa án cấp phúc
thẩm còn có quyền hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án, bao gồm hai trường
hợp:
+ Trường hợp hủy bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo không phạm tội và
đình chỉ vụ án là khi Tòa án cấp phúc thẩm với tư cách là một cấp xét xử, có
quyền ra bản án hình sự xác định bị cáo có phạm tội hay không. Vì vậy nếu
có căn cứ khẳng định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu
thành tội phạm, Tòa án cấp phúc thẩm tự mình tuyên bị cáo không có tội và
13


đình chỉ vụ án để đảm bảo kịp thời khôi phục danh dự và đảm bảo quyền lợi
cho bị cáo.
+ Trường hợp hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là khi Tòa án cấp
phúc thẩm xác định có một trong các căn cứ không đủ điều kiện truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội như bị cáo chưa đến tuổi chịu
trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hay
quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; hết thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự; bị cáo chết trong giai đoạn xét xử phúc thẩm… Các căn cứ
trên cũng chính là các căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự và cũng là

những sai lầm, vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS và BLTTHS.
Những căn cứ này có thể xuất hiện trước khi khởi tố vụ án mà các cơ quan
tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không phát hiện được nên vẫn kết án bị cáo
nhưng cũng có thể xuất hiện sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử.
Như vậy, hủy bản án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm là quyền của
Hội đồng xét xử phúc thẩm trong quá trình xem xét bản án chưa có hiệu lực
pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, xét thấy có căn
cứ theo quy định của pháp luật, nhằm hủy bỏ một phần hay toàn bộ nội dung
bản án đó để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án.
1.1.1.3. Các đặc điểm huỷ bản án sơ thẩm vụ án hình sự
Từ các khái niệm huỷ bản án nói chung, huỷ bản án trong xét xử phúc
thẩm đã phân tích trên, có thể thấy hủy bản án trong tố tụng hình sự có một số
đặc điểm sau:
Thứ nhất, hủy bản án là một trong các quyền hạn mà pháp luật tố tụng
quy định cho Tòa án cấp trên khi xét xử lại những vụ án hình sự mà bản án bị
kháng cáo, kháng nghị.
Theo Từ điển luật học, thẩm quyền là “quyền đầy đủ để xét đoán, định
đoạt vấn đề gì” còn theo tác giả Phạm Hồng Hải thì “thẩm quyền là quyền
14


được thực hiện những hành vi pháp lý mà pháp luật quy định cho tổ chức
hoặc nhân viên Nhà nước” [8, tr.148], do đó có thể hiểu rằng thẩm quyền là
quyền của tổ chức, cá nhân được thực hiện những hành vi nhất định được
pháp luật quy định, hành vi thực hiện quyền là hành vi pháp lý. Như vậy, bên
cạnh các quyền như giữ nguyên bản án, sửa bản án… thì hủy bản án là một
trong các quyền mà pháp luật tố tụng hình sự quy định cho Tòa án cấp trên
khi xét xử phúc thẩm vụ án hình sự được quyết định trong bản án.
Cơ sở để Tòa án cấp trên thực thi quyền này là khi bản án của Tòa án
cấp dưới bị kháng cáo hay kháng nghị làm phát sinh thủ tục phúc thẩm. Thủ

tục phúc thẩm được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc hai cấp xét xử, nội dung
của nguyên tắc này là bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị phải được xét
xử lại ở cấp phúc thẩm, còn nếu không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời
hạn pháp luật quy định thì có hiệu lực thi hành.
Thứ hai, quyền hủy bản án được thực hiện khi có các căn cứ theo luật
định.
Đây được xem là đặc điểm quan trọng nhất của quy định về hủy bản án.
So với BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS năm 2015 đã có sự thay đổi, bổ sung
đầy đủ hơn các trường hợp để Tòa án cấp trên làm căn cứ thực hiện quyền
hủy bản án. Các trường hợp này được quy định tại các Điều 358, 359 (thủ tục
phúc thẩm) nên có thể khái quát căn cứ hủy bản án thành ba nhóm chính sau:
- Khi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
So với BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS năm 2015 có bổ sung quy định
giải thích thế nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng [30, điểm o khoản 1
điều 4]. Theo khái niệm này vi phạm gồm hai đặc điểm: 1/ đó là phải có hành
vi không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng thực hiện không đúng, không đầy
đủ những quy định bắt buộc trong BLTTHS khi tiến hành tố tụng của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và 2/ đồng thời những hành vi
15


này phải xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị
hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự… hoặc làm cho việc giải quyết vụ án
thiếu khách quan toàn diện.
Việc xác định vi phạm tố tụng nào là nghiêm trọng tùy thuộc vào các
yếu tố như: nội dung vụ án, những quy định của luật hoặc quan điểm của mỗi
cơ quan tiến hành tố tụng. Có vi phạm trong vụ án này là nghiêm trọng nhưng
đối với vụ án khác thì lại chưa phải nghiêm trọng, ví dụ như: việc lấy lời khai
của người làm chứng dưới 16 tuổi không mời cha mẹ tham dự là vi phạm.
Nhưng nếu người làm chứng này chỉ là một trong nhiều người làm chứng

khác cùng khai giống nhau về một sự việc thì vi phạm này không ảnh hưởng
đến việc xác định sự thật của vụ án. Còn vụ án chỉ có duy nhất một người làm
chứng dưới 16 tuổi thì vi phạm này lại là nghiêm trọng…; Có những vi phạm
chỉ cần căn cứ vào quy định của BLTTHS cũng biết là nghiêm trọng, ví dụ
như: Thẩm phán, Hội thẩm tham gia HĐXX là người theo quy định BLTTHS
phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi, nhưng cũng có những vi phạm
phải qua đánh giá mới xác định có nghiêm trọng hay không, ví dụ như: người
làm chứng vắng mặt mà sự vắng mặt của họ sẽ trở ngại cho việc xác định sự
thật của vụ án thì việc xét xử vắng mặt người làm chứng là vi phạm nghiêm
trọng. Còn sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật
của vụ án thì vi phạm đó không phải là nghiêm trọng. Ngoài ra còn có những
vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm cho rằng vi phạm là chưa
nghiêm trọng nhưng Tòa án cấp trên lại cho rằng là nghiêm trọng. Như vậy,
để đánh giá một vi phạm là nghiêm trọng thủ tục tố tụng hay không thì phải
gắn vi phạm đó với những tình tiết, yếu tố liên quan khác phát sinh trong từng
vụ án cụ thể.
Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng có thể xảy ra ở các giai đoạn tố
tụng: điều tra, truy tố và xét xử, tùy vào vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
16


xảy ra ở giai đoạn nào thì Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án để điều tra lại
hoặc xét xử lại ở giai đoạn đó.
- Khi có sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng BLHS.
BLHS quy định tội phạm và hình phạt, để xác định tội phạm thì các cơ
quan tiến hành tố tụng phải có nghĩa vụ chứng minh và trên cơ sở đó ra các
quyết định áp dụng pháp luật bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;
không làm oan người không phạm tội; không bỏ lọt tội phạm; mức hình phạt
tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội...
Trong quá trình xét xử của mình, nếu xét thấy có căn cứ cho rằng VKS,

Tòa án cấp sơ thẩm những vi phạm nghiêm trọng trong áp dụng BLHS như:
truy tố, xét xử không đúng tội danh, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội hay
xác định sai khung hình phạt, áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự, cho hưởng án treo, quyết định hình phạt, áp dụng biện pháp tư
pháp không đúng, hành vi không cấu thành tội phạm… mà Tòa án cấp phúc
thẩm không thể khắc phục được được thì có quyền hủy bản án để điều tra, xét
xử lại hoặc đình chỉ vụ án. Điều đó cũng có nghĩa là khi thực hiện quyền hủy
bản án về tội phạm và hình phạt cũng phải căn cứ vào quy định của BLHS.
- Khi có sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật khác.
BLTTHS năm 2015 bổ sung một trường hợp hủy bản án sơ thẩm để xét
xử lại là do “bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp
luật nhưng không thuộc trường hợp HĐXX phúc thẩm sửa bản án …” [30,
Điều 358], hay sửa đổi căn cứ hủy bản án để điều tra, xét xử lại là “Có sai lầm
nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS” [30, Điều 273] thành “Có sai lầm
nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật” [30, Điều 371]. Việc bổ sung vấn
đề vi phạm pháp luật nói chung hoặc thay thế từ “Bộ luật hình sự” bằng từ
“pháp luật” cho thấy quan điểm của nhà làm luật là những sai lầm nghiêm
trọng không chỉ đối với BLTTHS hay BLHS mà còn đối với các quy định của
17


pháp luật nói chung gồm cả Luật dân sự, Luật hành chính, Luật giao thông
đường bộ… Vì vậy, khi xét xử vụ án hình sự thì Tòa án cấp trên vừa phải căn
cứ vào quy định của BLHS, BLTTHS vừa phải căn cứ vào các ngành luật
khác có liên quan đến vụ án để xem xét đánh giá tính có căn cứ trong bản án
của Tòa án cấp dưới, nếu phát hiện có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp
dụng pháp luật hoặc có những tình tiết mới phát sinh thì buộc phải hủy bản án
của Tòa án cấp dưới.
Thứ ba, bản án bị hủy là bản án chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục
phúc thẩm là tất cả các bản án đều có thể trở thành đối tượng bị xem xét. Tuy

nhiên, mặc dù Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm,
nhưng trong BLTTHS thì nguyên tắc này không hoàn toàn được tuân thủ khi
quy định cho phép Hội đồng giám đốc thẩm và tái thẩm vừa được quyền hủy
bản án mà còn quyền sửa bản án có hiệu lực pháp luật trong một số trường
hợp [30, Điều 393]; điều này cho thấy Tòa án xét xử giám đốc thẩm được coi
như là cấp xét xử thứ ba, chưa thể hiện là một thủ tục thủ tục giám đốc thẩm
(thủ tục phá án) sẽ ảnh hưởng đến tính ổn định trong các phán quyết đã có
hiệu lực pháp luật.
Thứ tư, hậu quả pháp lý của việc hủy bản án là chấm dứt sự tồn tại một
phần hoặc toàn bộ bản án chưa có hiệu lực pháp luật để giải quyết lại hoặc
huỷ bỏ bản án đó.
Quyền hủy bản án của Tòa án cấp trên còn phải được xem xét trong
phạm vi xét xử của từng thủ tục cụ thể. Đối với thủ tục phúc thẩm thì phạm vi
xét xử được xác định như sau: “Tòa án cấp phúc thấm xem xét phần nội dung
của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết, có
thể xem xét các phần khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng
nghị” [30, Điều 345]. Do đó, theo quy định của luật, Tòa cấp phúc thẩm
không chỉ được phép xét xử lại vụ án khi có kháng cáo, kháng nghị mà còn
18


phải xét xử trong phạm vi kháng cáo, kháng nghị. Việc xem xét các phần
khác của vụ án không bị kháng cáo, kháng nghị chỉ được thực hiện nếu xét
thấy cần thiết, đó là khi xét thấy ở phần không bị kháng cáo, kháng nghị có
điểm cần được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
1.1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hủy bản án sơ thẩm vụ án hình
sự
1.1.2.1. Cơ sở lý luận
Trong tố tụng hình sự có nhiều chức năng, trong đó có ba chức năng cơ
bản là chức năng buộc tội của VKS, chức năng bào chữa và chức năng xét xử

của Tòa án. Mỗi chức năng tồn tại độc lập nhưng có mối quan hệ mật thiết
với nhau, kiểm soát lẫn nhau, trong đó chức năng xét xử của Tòa án đóng vai
trò chủ đạo và trung tâm, nhằm giải quyết được nhiệm vụ chung của tố tụng
hình sự là “bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi
hành vi phạm tội, phòng ngừa ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm,
không làm oan người vô tội”, đồng thời “góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục
mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm” [30, Điều 2]. TAND được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử với
chế độ xét xử hai cấp được đảm bảo, nếu bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng
nghị thì vụ án được xét xử phúc thẩm. Như vậy, để giải quyết một vụ án hình
sự một cách chính xác có thể phải thông qua một hay nhiều cấp Tòa án khác
nhau, tựa như việc sàng lọc qua nhiều thang bậc khác nhau nhằm đi đến mục
đích của tố tụng hình sự là “xác định sự thật của vụ án một cách khách quan,
toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác
định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của
người bị buộc tội” [30, Điều 15].
19


Xem Thêm

×