Tải bản đầy đủ

TUYỂN TẬP CÁC BÁO CÁO KHOA HỌC HỘI NGHỊ SINH HOẠT CHỦ NHIỆM DỰ ÁN LẦN THỨ VI

CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
LIÊN ĐOÀN ĐCTV-ĐCCT MIỀN NAM

TUYỂN TẬP CÁC BÁO CÁO KHOA HỌC
HỘI NGHỊ SINH HOẠT CHỦ NHIỆM DỰ ÁN
LẦN THỨ VI

TP. Hồ Chí Minh, 10-2007


BAN TỔ CHỨC HỘI NGHỊ
Th.S. Phạm Văn Giắng
KS. Trần Văn Khoáng
Th.S. Bùi Trần Vượng
KS. Nguyễn Huy Sửu
KS. Nguyễn Văn Huy
Th.S. Trần Văn Chung

Trưởng ban
Phó trưởng ban
Ủy viên thường trực

Uỷ viên
Uỷ viên
Uỷ viên

BAN BIÊN TẬP
KS. Trần Văn Khoáng
Th.S. Bùi Trần Vượng
TS. Nguyễn Hồng Bàng
Th.S. Trần Văn Chung
Th.S. Phan Chu Nam
Th.S. Phan Văn Tuyến
Th.S. Bùi Tiến Bình
KS. Hoàng Văn Vinh
KS. Bùi Lai Hà
KS. Trần Anh Tuấn

Trưởng ban
Uỷ viên TT
Uỷ viên
Uỷ viên
Uỷ viên
Uỷ viên
Uỷ viên
Uỷ viên
Uỷ viên
Uỷ viên
2


LỜI NÓI ĐẦU
Cầm trên tay cuốn "Tuyển tập các báo cáo khoa học Hội nghị
Chủ nhiệm dự án lần thứ VI" này, chúng ta chợt giật mình
rằng thời gian một năm đã trôi qua thật mau.
Công việc, cuộc sống cuốn chúng ta đi tưởng không có thời
gian nhìn lại. Một ngày nào đó, có lúc bình tâm trở lại, chúng
ta thật vui thấy rằng một phần công việc mình đã thực hiện
vẫn còn được lưu lại trong những Tuyển tập các báo cáo khoa
học Hội nghị Chủ nhiệm dự án hàng năm. Những công việc
với bao nhiêu vui buồn mà chỉ có riêng mình mới nhớ lại
được qua từng hàng chữ tưởng là khô khan trong các báo cáo


khoa học này.
Ban Tổ chức trân trọng giới thiệu với bạn đọc Tuyển tập các
báo cáo khoa học Hội nghị chủ nhiệm dự án lần thứ VI. Tuyển
tập, mặc dù có thể còn hạn chế và thiếu sót về nội dung,
nhưng từng bài báo là tâm huyết của các tác giả muốn gửi
gắm bạn đọc những thông tin và sau đó là mong ước được
thấy hoạt động của Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT miền Nam sẽ
ngày càng đa dạng, phong phú về công việc và chuyên sâu
trong từng lĩnh vực.
Ban tổ chức chân thành cám ơn các tác giả mà thiếu họ sẽ
không có tuyển tập này. Lời cảm ơn đặc biệt cũng xin gửi tới
Ban lãnh đạo Liên đoàn, lãnh đạo các Đoàn và các Phòng
ban đã tạo mọi điều kiện để Tuyển tập này ra mắt bạn đọc.
Cũng xin cảm ơn các thành viên trong Ban biên tập đã chăm
chút sửa từng báo cáo để Tuyển tập đạt mức độ chất lượng
cao.
Ban tổ chức chân thành cảm ơn và tiếp thu các ý kiến đóng
góp của bạn đọc để Tuyển tập các báo cáo khoa học ngày
càng có chất lượng cao hơn.

BAN TỔ CHỨC

3


MỤC LỤC
1. BÀN THÊM VỀ CÁC ĐỀ ÁN ĐỊA CHẤT THUỶ VĂN, ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH................... 6
2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC KHOAN VÀ CÁC Ý KIẾN TRAO ĐỔI .................................. 11
3. GIẢI PHÁP VÀ KINH NGHIỆM THI CÔNG CÁC GIẾNG KHOAN KHAI THÁC CÓ

CHIỀU SÂU LỚN ................................................................................................................................... 17

4. TĂNG CƯỜNG NGUỒN BỔ CẬP CHO NƯỚC DƯỚI ĐẤT BẰNG NƯỚC MƯA....................... 20
5. KẾT QUẢ QUAN TRẮC MỰC NƯỚC NĂM 2007 VÀ XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI MỰC
NƯỚC GIAI ĐOẠN 1997-2007 KHU VỰC TÂY NAM BỘ .............................................................. 32

6. KẾT QUẢ QUAN TRẮC MỰC NƯỚC DƯỚI ĐẤT KHU VỰC PHÍA NAM TỈNH
BÌNH DƯƠNG NĂM 2003 - 2006.......................................................................................................... 38

7. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỦY VĂN VÀ ĐỘNG THÁI MỰC NƯỚC NGẦM VÙNG
TÂY NINH............................................................................................................................................... 43

8. HIỆN TRẠNG CÁC TRẠM VÀ CÁC VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý TRONG CÔNG TÁC
QUAN TRẮC - ĐỀ ÁN QUAN TRẮC QUỐC GIA ĐỘNG THÁI NƯỚC DƯỚI ĐẤT ĐỒNG
BẰNG NAM BỘ ...................................................................................................................................... 51

9. ĐẶC ĐIỂM TẦNG CHỨA NƯỚC PLIOCEN TRÊN VÙNG Ô MÔN-THỐT NỐT, TP
CẦN THƠ QUA TÀI LIỆU THI CÔNG MỘT SỐ LỖ KHOAN THĂM DÒ KẾT HỢP
KHAI THÁC............................................................................................................................................ 54

10 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT TP. CẦN
THƠ VÀ TỈNH HẬU GIANG................................................................................................................ 60

11 TÌNH HÌNH Ô NHIỄM NƯỚC DƯỚI ĐẤT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .................................. 67
12 TIỀM NĂNG KHAI THÁC NƯỚC DƯỚI ĐẤT TẠI CÁC KIỂU PHÂN ĐỚI THỦY
HÓA ĐẶC TRƯNG KHU VỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ....................................................... 72

13 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT VÀ SỰ SUY THOÁI MỰC
NƯỚC DƯỚI ĐẤT TẠI VÙNG DĨ AN – BÌNH DƯƠNG.................................................................. 78

14 Ô NHIỄM CÁC NGUYÊN TỐ VI LƯỢNG TRONG TẦNG CHỨA NƯỚC Q1

2 -3

VÙNG ĐỒNG BẮNG SÔNG CỬU LONG........................................................................................... 82

15 KINH NGHIỆM HÚT NƯỚC THÍ NGHIỆM TRONG LỖ KHOAN TỰ CHẢY .......................... 84
16 ĐÁNH GIÁ TRỮ LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT VÙNG CÔN ĐẢO BẰNG PHƯƠNG
PHÁP MÔ HÌNH .................................................................................................................................... 89

17 XÁC ĐỊNH LƯU LƯỢNG TỐI ƯU CỦA HÀNH LANG KHAI THÁC Ở CÔN ĐẢO
BẰNG PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH ..................................................................................................... 97

18 MÔ HÌNH DÒNG CHẢY NƯỚC DƯỚI ĐẤT VÙNG BẮC BÌNH................................................ 103
19 QUAN TRẮC ĐỘNG THÁI NƯỚC DƯỚI ĐẤT TẠI VÙNG LÊ HỒNG PHONG ...................... 118
20 SỬ DỤNG THSOKM VÀ EXCEL ĐỂ XÁC ĐỊNH BÁN KÍNH ẢNH HƯỞNG R VÀ HỆ
SỐ THẤM K THEO PHƯƠNG PHÁP VẬN ĐỘNG THẤM ỔN ĐỊNH......................................... 128

21 MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH TÍNH CHUYỂN TOẠ ĐỘ THÔNG DỤNG..................................... 136
22 NGHIÊN CỨU XỬ LÝ 2D TÀI LIỆU ĐO SÂU ĐIỆN VÀ MỘT SỐ MINH HỌA ỨNG
DỤNG..................................................................................................................................................... 145

23 ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐO SÂU ĐIỆN 2-D PHÂN CHIA MẶT CẮT ĐỊA ĐIỆN
PHÂN DỊ KÉM...................................................................................................................................... 150

4


24 CÔNG TÁC ĐỊA VẬT LÝ TRONG CÁC GIẾNG KHOAN KHAI THÁC NƯỚC TẦNG
SÂU......................................................................................................................................................... 156

25 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨ:
“NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỨA NƯỚC VÀ TỔNG ĐỘ
KHOÁNG HÓA CỦA NƯỚC DƯỚI ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THEO TÀI
LIỆU ĐỊA VẬT LÝ LỖ KHOAN” ...................................................................................................... 162

26 QUI TRÌNH PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG TÀI LIỆU ĐVL LỖ KHOAN VÀ TÍNH
THÔNG SỐ TẦNG CHỨA NƯỚC KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG .................... 171

27 PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG HÀM HỒI QUY BẰNG BIỂU ĐỒ................................................. 176
28 CHƯƠNG TRÌNH PHÂN TÍCH THẠCH HỌC THEO TÀI LIỆU ĐỊA VẬT LÝ
GIẾNG KHOAN ................................................................................................................................... 181

29 THAY ĐỔI TỶ LỆ ĐỨNG CỦA MẶT CẮT HIỆN CÓ BẰNG PHÉP NẮN HÌNH
TRONG MAPINFO .............................................................................................................................. 187

30 PHƯƠNG PHÁP LẤY GIÁ TRỊ TOẠ ĐỘ VÀ ĐỘ CAO DỰA VÀO BẢN ĐỒ ĐƯỜNG
ĐỒNG MỨC ĐỘ CAO ......................................................................................................................... 192

31 THÍ NGHIỆM CẮT CÁNH HIỆN TRƯỜNG................................................................................... 198
32 HOẠT ĐỘNG ĐỊA CHẤT ĐỘNG LỰC CÔNG TRÌNH VÀ HIỆN TƯỢNG SẠT LỞ
BỜ SÔNG VÙNG THỊ XÃ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP ............................................................. 201

33 GIA TẢI TRƯỚC VÀ TIÊU NƯỚC THẲNG ĐỨNG ...................................................................... 204
34 BẢNG PHÂN CẤP ĐẤT ĐÁ ............................................................................................................... 222
35 MỘT SỐ QUI ĐỊNH MỚI BAN HÀNH............................................................................................. 224

5


BÀN THÊM VỀ CÁC ĐỀ ÁN ĐỊA CHẤT THUỶ VĂN, ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH
KS. Trần Hồng Lĩnh
Tóm tắt: Công tác điều tra và thành lập bản đồ địa chất thuỷ văn, địa chất công trình
đã có các Quy chế hướng dẫn. Quy chế quy định những nội dung cơ bản để áp dụng thống
nhất nhưng vẫn có tính mở để các tác giả phát huy tính năng động sáng tạo của mình. Trong
phạm vi bài này, người viết muốn tham gia một vài ý kiến để được trao đổi và bàn luận thêm
về công tác lập đề án, đo vẽ và báo cáo tổng kết.
Giới thiệu
Từ trước đến nay, hầu hết các đề án địa chất thuỷ văn, địa chất công trình do Liên
đoàn thực hiện có chất lượng khá tốt. Tuy nhiên, kết quả đạt được còn một số mặt hạn chế
do việc rập khuôn máy móc theo quy chế, hướng dẫn. Hơn nữa, ngay trong quy chế cũng
còn vấn đề bất cập, lỗi thời. Để các đề án ngày càng có nội dung phong phú, sát với thực tế
và đạt được mục tiêu thiết thực hơn thì một số vấn đề liên quan đến đề án cần được đổi
mới và bổ sung. Muốn có sự đổi mới và hoàn thiện dần, trước hết cần tập hợp được nhiều ý
kiến đóng góp để đưa ra cùng bàn bạc, thảo luận, thống nhất. Những nội dung sau đây
cũng chỉ nhằm vào mục đích đó.
I. VỀ CÔNG TÁC LẬP ĐỀ ÁN
1. Khảo sát sơ bộ để lập đề án
Mở mới một đề án địa chất xuất phát từ tính cấp thiết và điều kiện khả thi, mục tiêu
và nhiệm vụ được xác định rõ. Đề án được lập dựa theo nhiệm vụ và mục tiêu cần đạt tới.
Để đề án lập sát với điều kiện thực tế, trước tiên phải có đợt khảo sát sơ bộ vùng đề án. Từ
trước đến nay, có nhiều đề án trước khi thành lập có tổ chức khảo sát sơ bộ với đầy đủ
thành phần nhưng chỉ "cưỡi ngựa xem hoa", thậm chí có đề án được lập không qua khảo
sát sơ bộ. Công tác khảo sát sơ bộ để lập đề án không chỉ thông thường là thu thập số liệu
chuyên môn mà còn nhiều nhiệm vụ khác liên quan đến việc chọn phương pháp nghiên
cứu, thiết kế khối lượng, bố trí công trình, tổ chức thi công...
a. Thành phần và thời gian làm việc tại thực địa
Trong một đề án địa chất có rất nhiều dạng công tác được thiết kế nên nhiều người
cho rằng tổ khảo sát lập đề án cũng cần đầy đủ thành phần để thu thập thông tin phục vụ
lập đề án (địa chất, địa chất thuỷ văn, địa chất công trình, khoan, địa vật lý, trắc địa, kế
hoạch ...). Thực tế thì không nhất thiết phải có đầy đủ thành phần như vậy. Tổ công tác
khảo sát lập đề án được đề nghị là từ 3 ÷ 4 người (chủ nhiệm đề án, đội trưởng đo vẽ và 1
đến 2 cán bộ kỹ thuật giúp việc). Thời gian khảo sát khoảng 10 ÷ 15 ngày.
b. Yêu cầu
Trước đây, các tổ khảo sát lập đề án thường chỉ đi quan sát và ghi nhận một số
thông tin chung chung về vùng lập đề án, không ghi nhật ký hành trình, không lên bản đồ
thực địa và ít quan tâm đến việc xác định điều kiện cụ thể để lập dự toán và tổ chức thi
công. Về vấn đề này, tác giả xin có ý kiến như sau:
Khi khảo sát lập để án, chủ nhiệm đề án phải có nhật ký, bản đồ và trong đó thể
hiện đầy đủ thông tin thu thập của đợt khảo sát.
- Thu thập thông tin về chuyên môn
- Thu thập thông tin liên quan đến lập dự toán và điều kiện thi công: cấp địa hình,
cấp giao thông, cấp đất đá cho khoan và khai đào, nền đường cho khoan, cấp nước cho thi
công, đền bù hoa màu... Trong đó hết sức lưu ý một số điểm sau đây:
+ Dự kiến vị trí khoan và khai đào để làm thủ tục sơ bộ về nền đất cho khoan
6


+ Xác định nguồn cấp và đơn giá nước phục vụ thi công
+ Thoả thuận sơ bộ về mức độ đền bù hoa màu (nếu có)
+ Điều kiện chuyển quân trong đất liền (loại đường, trạm thu phí, phà, đò).
+ Điều kiện chuyển quân ở đảo, biển (bến cảng, phương tiện vận chuyển, giá cả
thuê tàu và bốc vác).
+ Điều kiện thông tin liên lạc, tình hình dịch bệnh và những bất thường khác trong
vùng đề án...
2. Chọn phương pháp nghiên cứu và thiết kế khối lượng
Khi đưa ra một dạng công tác, trước hết phải xác định đối tượng nghiên cứu, nêu
được tính cần thiết, nhiệm vụ cụ thể và mục tiêu đạt tới của phương pháp; sau nữa là xem
xét đến tính khả thi của dạng công tác đó. Thiết kế khối lượng phải lý giải được tính vừa
đủ để đạt mục tiêu.
Chúng ta dễ dàng nhận thấy một số dạng công tác như đổ nước thí nghiệm, múc
nước thí nghiệm giếng đào, đo sâu điện... xuất hiện trong tất cả các đề án nhưng mục đích
cuối cùng không biết để làm gì. Gần đây có dạng công tác bơm hút nước thí nghiệm trong
các giếng khoan khai thác nước của dân gặp một số bất cập về điều kiện thi công cũng như
yêu cầu kỹ thuật.
- Về công tác đổ nước thí nghiệm trong hố đào
Thí nghiệm để xác định hệ số thấm của lớp đất trên cùng nhưng sau đó sẽ thấm về
đâu, sử dụng hệ số thấm này vào mục đích gì của đề án thì hầu như không ai giải thích cho
nên có thể nói phần lớn các điểm đổ nước thí nghiệm trong các đề án được bố trí rất tuỳ
tiện. Thực tế thì phương pháp này có 3 mục đích chính. Thứ nhất là dự báo khả năng tiếp
nhận nước khí quyển hoặc nước mặt bổ cập cho tầng chứa nước nằm kế dưới đối tượng thí
nghiệm. Thứ hai là đánh giá mức độ cách nước, chủ yếu chống thấm cho các bãi chứa chất
thải. Thứ ba là dự báo mức độ xâm nhập của nước ngầm vào móng công trình. Điều kiện
thí nghiệm là mực nước ngầm phải sâu. Do vậy, khi chưa xác định cụ thể mục đích, đối
tượng và điều kiện thí nghiệm thì không nên đưa phương pháp này vào.
- Về công tác múc nước thí nghiệm giếng đào
Kết quả của phương pháp này cho biết khả năng cấp nước của giếng, không phản
ánh đúng đặc điểm chứa nước của tầng. Cho nên, mỗi đề án chỉ cần thí nghiệm một số
giếng thật đặc trưng cho đối tượng nghiên cứu khi xác định rõ địa tầng và kết cấu giếng
phù hợp.
- Công tác đo sâu điện
Ý nghĩa của phương pháp thì không ai phủ nhận. Nhưng thực tế cho thấy hiệu quả
của phương pháp mang lại không cao và độ tin cậy thấp (có lẽ do chọn đối tượng nghiên
cứu; điều kiện áp dụng chưa phù hợp; thiếu thông số tham khảo, đối chứng). Đối với công
tác này không nên cứ thiết kế dàn trải theo diện, theo tuyến mà phải biết tập trung vào đối
tượng cụ thể với từng mục đích cụ thể. Ví dụ xác định ranh giới mặn - nhạt của vùng ven
biển, xác định độ sâu gặp đá của vùng lộ. Riêng việc dùng phương pháp đo sâu điện để xác
định mức độ giàu - nghèo của tầng chứa nước khi chưa có tham số tin cậy thì còn nhiều
việc phải bàn dành cho bộ môn địa vật lý Liên đoàn.
- Bơm hút nước thí nghiệm trong các giếng khoan khai thác nước của dân
Gần đây nhất, có dạng công tác hút nước thí nghiệm trong giếng khoan khai thác
nước của dân cũng được thiết kế với khối lượng lớn mà chưa tính đến điều kiện thi công và
hiệu quả của phương pháp. Về các vấn đề này, đối với đề án chưa thi công cần được xem
xét lại cụ thể để có thể điều chỉnh khối lượng hợp lý.
7


3. Thuyết minh đề án
Trong phần này, tác giả chỉ đề cập đến chương "Đánh giá tác động môi trường từ
việc thi công đề án". Đây là chương mà phần lớn các chủ nhiệm đề án thường cho là không
quan trọng nên rơi vào tình trạng viết ra theo cảm tính, nhận xét đánh giá vấn đề một cách
chung chung. Thực tế thì việc thi công một đề án có tác động đến môi trường không đáng
kể. Nhưng không vì thế mà không được đánh giá một cách cụ thể. Một số dạng công tác
khi thi công có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới môi trường như khoan, khai đào,
bơm nước thí nghiệm, phát tuyến địa vật lý và trắc địa. Đối với những dạng công tác này,
trước hết phải đặt vấn đề thi công trong điều kiện bình thường, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật
thì tác động là không đáng kể. Thứ hai là đặt điều kiện khi thi công có một số trường hợp
bất bình thường xảy ra để tìm cách giải quyết.
Một số ví dụ gợi ý:
- Khoan trong khu dân cư, điều kiện thoát nước khó khăn hoặc bơm thí nghiệm gặp
nước mặn: dung dịch khoan, nước mặn bơm lên chắc chắn sẽ ảnh hưởng xâu tới môi
trường, có thể giải quyết bằng cách dùng ống để dẫn đến nơi thải an toàn.
- Công trình khoan, khai đào dù lớn hay nhỏ, sau khi kết thúc nhiệm vụ phải được
trám lấp...
II. VỀ THI CÔNG ĐỀ ÁN
Trong bước thi công đề án, có vài ý kiến về công tác đo vẽ.
1. Nhận xét chung
Mãi đến tận ngày nay, công tác đo vẽ vẫn không có gì đổi mới. Cách mô tả tại 1
điểm khảo sát vẫn chừng ấy mục, cuối mỗi hành trình lại có tổng kết. Nội dung tổng kết
hành trình mang tính hình thức, miễn cưỡng, chung chung, không rút ra được một nhận
xét, đánh giá nào có giá trị. Thực tế cho thấy cái có thể nhặt được trong các nhật ký địa
chất để sử dụng chỉ là những số liệu đo (pH, nhiệt độ, chiều sâu mực nước, lưu lượng… và
những thông tin về đặc điểm đất đá). Chủ nhiệm đề án thì hầu như không trực tiếp đo vẽ,
không có có nhật ký và bản đồ thực địa. Do vậy, khi lập báo cáo tổng kết chủ yếu chỉ dựa
vào tài liệu khoan, tài liệu bơm, tài liệu phân tích mẫu lồng vào bản đồ địa chất để xây
dựng nên bản đồ ĐCTV, bản đồ ĐCCT.
2. Một vài ý kiến trao đổi
- Cách mô tả
Các tổ trưởng đo vẽ thường mắc phải một số lỗi kỹ thuật khi mô tả về địa hình địa
mạo, thảm thực vật, màu sắc đất đá. Về địa hình, địa mạo, có tác giả chỉ nêu được địa hình
dốc về hướng nào, dốc bao nhiêu độ trong khi nội dung chính cần làm rõ là nguồn gốc hình
thành (trầm tích, phun trào, phong hoá...), dạng địa hình (đồng bằng thấp trũng, bãi bồi,
thềm, thung lũng, sườn, đỉnh...), những diễn biến đang xảy ra trên đó (mài mòn, xói mòn,
tích tụ...) thì lại không nêu được. Về thảm thực vật, không thể chỉ liệt kê có những loại cây
gì mà phải khái quát được độ che phủ và mức độ bảo tồn của chúng vì đây là những dấu
hiệu gián tiếp quan trọng để đưa ra nhận xét về đặc điểm ĐCTV, ĐCCT. Về màu sắc đất
đá thì thường bị "loạn màu", nào là xám xanh, xám đen, xám trắng... trong khi yêu cầu là
xác định được màu đặc trưng nhất, chung nhất của đối tượng sau đó mới nêu thêm những
yếu tố phụ như loang lỗ, lốm đốm... Khi nói về địa hình địa mạo, thảm thực vật chung cho
một vùng, một khoảnh nào đó thì dùng ảnh để minh hoạ là cách tốt nhất để giảm việc mô
tả dài dòng. Khi khảo sát thực địa, nếu thấy địa hình phù hợp với đường đồng mức trong
bản đồ thì không nhất thiết phải mô tả dốc về đâu, dốc bao nhiêu độ v.v.
- Tổng kết hành trình
8


Đây là việc làm ngại nhất cho các tổ trưởng đo vẽ. Những người đã từng đọc nhiều
nhật ký địa chất đều thấy rằng có quá nhiều hành trình được tổng kết giống nhau. Và hình
như các tác giả chỉ cố viết ra cho đủ nội dung quy định chứ thực tế chẳng có gì mới để viết
và viết ra không biết giúp được việc gì. Trước đây, một số Nhà địa chất người Pháp khi đi
khảo sát họ không mô tả nhiều nhưng khi nhận xét về một vùng nào đó thì họ nói lên được
rất nhiều điều mà đến nay vẫn nguyên giá trị cả về chuyên môn, cả về điều kiện sinh thái
của vùng lãnh thổ. Còn hiện nay, chúng ta có cả kho nhật ký nhưng không thể nhặt ra được
những thông tin mình muốn ngoài các số liệu thống kê đơn thuần để đưa lên bản đồ. Có lẽ
vì những cái mình muốn bị tan lẫn đâu đó trong mớ bòng bong câu chữ được trói chặt bởi
các qui định tạm thời đã tồn tại hàng thập kỷ.
Về việc này, xin được cùng trao đổi như sau:
+ Không nhất thiết hành trình đo vẽ nào cũng phải tổng kết, lộ trình nào cũng phải
vẽ đường đi. Tổng kết một hành trình không nhất thiết phải viết đầy đủ từ mô tả các phân
vị địa chất, các tầng chứa nước, đặc điểm này, đặc điểm nọ.
+ Cái quan trọng khi đánh giá nhận xét chung tại thực địa phải là những vấn đề mới
cần lưu ý để khai thác sử dụng. Những nội dung không có gì thay đổi so với tài liệu cũ thì
không cần phải nhắc lại làm gì. Có thể gộp nhiều hành trình trong một vùng, một khoảnh
nào đó để đánh giá.
- Một số thông tin khác cần lưu ý khi đo vẽ
+ Vật liệu xây dựng
Cho đến nay có thể nói là hầu hết các loại đất đá đều có thể khai thác làm vật liệu
xây dựng. Vấn đề là mình có nhận ra chúng và thừa nhận ý nghĩa sử dụng hay không.
Trước đây, khi đo vẽ chỉ biết mô tả đất này, đá nọ mà không liên hệ được ý nghĩa khai thác
sử dụng vì cho rằng đây không phải là mục tiêu và nhiệm vụ chính của đề án. Bởi vậy,
chúng ta đã không phát hiện và đăng ký được một điểm vật liệu xây dựng nào có giá trị.
Để rồi, những người không phải là địa chất, họ đi sau chúng ta nhưng lại kiếm được rất
nhiều tiền từ những cái mà chúng ta đã mô tả và thờ ơ với chúng. Thử dạo qua một số công
ty kinh doanh vật liệu xây dựng mới biết họ đang làm gì với những thông tin địa chất. Họ
tìm kiếm, khai thác không chỉ những loại đất đá làm vật liệu xây dựng chính thống như sét
gạch ngói, cao lanh, đá bê tông... mà khai thác cả những loại chúng ta coi là bỏ đi như
cuội, tảng, bazan trụ, đá phiến sét v.v.
Hiện nay đã có hàng loạt công ty kinh doanh vật liệu xây dựng (vật liệu xây dựng
từ đất đá). Tương lai, thị trường về loại vật liệu xây dựng này sẽ là tâm điểm chú ý của các
Nhà đầu tư chứ không phải là khoáng sản quý hiếm. Các Nhà địa chất công trình sẽ nói gì
khi chúng ta còn nhiều cơ hội để tham gia vào lĩnh vực phát hiện và khai thác vật liệu xây
dựng qua việc thi công các đề án, đề tài.
+ Cảnh quan thiên nhiên, di tích văn hoá cổ
Chúng ta là những người có điều kiện đi đến được nhiều nơi nhưng lại rất ít quan
tâm đến việc ghi nhận các cảnh quan thiên nhiên, các di tích về các nền văn hoá cổ. Chúng
ta không thể không có một chút tự ái khi nghe tin các công ty Du lịch công bố một số phát
hiện về cảnh quan thiên nhiên và đưa vào khai thác. Ví dụ như vùng Đá Chĩa ở miền
Trung, thung lũng đá vôi (hang động Mo So) ở Kiên Giang, thác nước Giang Điền ở Đồng
Nai, khu du lịch sinh thái Tràng An ở Ninh Bình... Thiết nghĩ, chúng ta phải là những
người phát hiện ra trước và đăng ký bản quyền mới đúng. Phải chăng đây không phải là
nhiệm vụ của địa chất?. Cảnh quan thiên nhiên, di tích văn hoá còn là 1 trong những nội
dung để xem xét khi đánh giá điều kiện xây dựng và quy hoạch lãnh thổ. Do vậy, khi đo vẽ
không thể bỏ qua những yếu tố này mà cần chú ý quan sát, tìm hiểu, tư duy để ghi nhận và
phản ánh.

9


III. VỀ THÀNH LẬP BÁO CÁO TỔNG KẾT
Về công tác báo cáo tổng kết, xin được trao đổi về việc tổ chức tổ tổng kết và một
vài lưu ý nhỏ trong phần phương hướng khai thác sử dụng nước dưới đất và đất xây dựng.
1. Tổ thành lập báo cáo tổng kết
Thành lập một báo cáo tổng kết không phải chỉ dựa vào những con số thống kê đơn
thuần bằng cách cộng, trừ, nhân, chia.
Để đưa ra được một kết quả đánh giá sát với thực tế phải qua một quá trình tư duy
đến độ chín của những người trực tiếp làm ra nó. Bởi vì không phải thông tin nào ghi nhận
được từ thực tế đều được phản ánh trong nhật ký và sổ sách mà còn nhiều thông tin liên
quan khác còn ủ trong đầu họ. Báo cáo thuyết minh phải đầy đủ nội dung yêu cầu nhưng
cũng chứa cả hồn của các tác giả.
Quan niệm như trên, người viết bài này xin được đề nghị:
- Cần phải xem xét lại quan điểm là cứ có số liệu thì ai cũng tổng kết được.
- Thành phần tổ tổng kết chí ít cũng phải có sự tham gia của các tổ trưởng thực địa.
- Phòng Kỹ thuật Liên đoàn không nên trực tiếp tham gia thành lập báo cáo tổng
kết những đề án không phải do Phòng trực tiếp thi công. Phòng Kỹ thuật chỉ hỗ trợ tổ tổng
kết về mặt kỹ thuật, công nghệ thông tin... thông qua hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra.
2. Về nội dung chương "Phương hướng điều tra, khai thác sử dụng nước dưới
đất và đất xây dựng"
Phương hướng điều tra, khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất và đất xây
dựng là phần có nội dung khó nhất trong báo cáo. Để viết được chương này, đòi hỏi chủ
nhiệm đề án phải đi thực tế nhiều, thông thuộc vùng nghiên cứu và nắm bắt được định
hướng quy hoạch của địa phương. Về nước dưới đất, cần chú ý đến nhu cầu và khả năng
cấp nước, mục đích cấp nước, điều kiện cấp nước... cho từng vùng, từng khoảnh theo cách
phân chia của tác giả. Về đất xây dựng, cần khai thác triệt để những đặc điểm lợi thế của
vùng lãnh thổ từ mặt bằng xây dựng, điều kiện cấp thoát nước, vật liệu xây dựng tại chỗ,
môi trường, cảnh quan, di tích... Và quan trọng là phải có sự liên hệ với các vùng kinh tế
khác.
Trong chương này thường có những ý kiến về vấn đề bảo vệ môi trường. Khi đưa
ra một ý kiến đề nghị hoặc kiến nghị phải có cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý. Thử khảo
sát một ví dụ để hiểu rõ hơn sự chặt chẽ bắt buộc khi đưa ra một ý kiến. Ví dụ trong phần
bảo vệ môi trường đảo Phú Quốc tác giả viết rằng “Cấm đưa giống cây trồng và vật nuôi lạ
vào phát triển nuôi, trồng trên đảo Phú Quốc”. Khi trình duyệt báo cáo ở Cục đã phải tra
cứu hàng loạt văn bản xem Nhà nước có quy định cấm hay không. Cuối cùng cũng tìm
thấy văn bản của Bộ Nông nghiệp quy định về việc này. Và câu trên đã được đề nghị sửa
thành “Nghiêm cấm việc đưa các giống cây trồng, vật nuôi lạ từ các nơi khác đến phát
triển nuôi, trồng trên đảo khi chưa có sự cho phép của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn”.
Tóm lại
Về các đề án địa chất thì còn nhiều việc phải bàn, phải làm. Những nội dung trên
đây chỉ là những ý kiến cá nhân đưa ra để trao đổi và cùng tham khảo với hy vọng ít nhiều
gợi được đôi điều mới về cách nghĩ, cách làm. Biết đâu trong tương lai, Liên đoàn chúng ta
có thể kinh doanh cả vật liệu xây dựng và du lịch từ những đất đá và cảnh quan thiên nhiên
do chúng ta tìm thấy từ các đề án địa chất. Và cũng mong đừng có ai vội nghĩ rằng đó là
điều không thể.

10


MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC KHOAN VÀ CÁC Ý KIẾN TRAO ĐỔI
Th.S. Trần Văn Chung
Phòng Kỹ thuật Liên đoàn
Đặt vấn đề
Công tác khoan đang là một trong những lĩnh vực đem lại uy tín kinh doanh và
doanh thu cao nhất của Liên đoàn. Trong thời gian qua, hàng năm Liên đoàn đã thực hiện
một khối lượng thi công khoan rất lớn, phục vụ tốt cho việc hoàn thành các đề án địa chất.
Bên cạnh đó, Liên đoàn cũng rất chú trọng áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, tạo ra
nhiều sản phẩm có chất lượng và hiệu quả kinh tế cao. Hàng loạt các công trình có chất
lượng cao như giếng khoan LKSP4 của Công ty La Vie, các giếng khoan của Công ty tư
vấn GHD (Australia) tại Bạc Liêu, hệ thống các giếng cấp nước tại Bình Định...là những
minh chứng hùng hồn cho chất lượng và thương hiệu của Liên đoàn. Tuy nhiên, đây là
dạng công việc có chi phí đầu tư tương đối lớn và chứa đựng tính rủi ro cao. Bên cạnh
những thành công to lớn đã đạt được, Liên đoàn cũng đã gặp nhiều vấn đề trong lĩnh vực
thi công khoan, gây nên những tổn thất vật chất và ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của
Liên đoàn. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi muốn thống kê, phân tích và đánh giá
một số vấn đề thường gặp trong công tác khoan để nhằm càng ngày càng nâng cao chất
lượng thi công của Liên đoàn.
1. Một số vấn đề gặp phải khi thiết kế và thi công giếng khoan
Thiết kế giếng khoan là công việc có tính quan trọng sống còn đối với hoạt động
của một giếng khoan trong quá trình vận hành khai thác. Trong các thành phần của giếng
khoan thì ống lọc là bộ phận cơ bản nhất, quyết định trực tiếp đến chất lượng của công
trình. Việc lựa chọn khe hở của ống lọc phải phù hợp với thành phần và độ hạt của vật liệu
tầng chứa nước, cụ thể như sau:
Nếu hệ số đồng nhất của tầng chứa nước lớn hơn 6, kích thước khe hở của ống lọc
cần chọn sao cho giữ lại được từ 30 – 40% hạt của tầng chứa nước.
Nếu hệ số đồng nhất của tầng chứa nước lớn nhỏ hơn 6, kích thước khe hở của ống
lọc cần chọn sao cho giữ lại được từ 40 – 50% hạt của tầng chứa nước.
Kích thước khe hở ống lọc có thể chọn theo bảng sau:
Kích thước khe hở ống lọc, mm
Loại ống lọc

Khi hệ số đồng nhất của đất đá η
≤2

Khi hệ số đồng nhất của đất đá η
≥2

Ống lọc đục lỗ

2,5 - 3d50

3 - 4d50

Ống lọc xẻ rãnh

1,25 – 1d50

1,5 – 2d50

Ống lọc quấn lưới

1,5 – 2d50

2 – 2,5d50

Tuy nhiên, hiện nay ống lọc Liên đoàn sử dụng thường chỉ có khe hở 0,75; 1 và
1,5mm, thêm vào đó việc phân tích thành phần hạt của vật liệu tầng chứa nước thường
không được thực hiện. Vì vậy, giải pháp chủ yếu hiện nay để ngăn ngừa giếng bơm có cát
là các đội khoan thường quấn thêm vào bên ngoài ống lọc một lớp lưới inox để giảm khe
hở của ống lọc. Việc này tạm thời có thể ngăn ngừa cát xâm nhập qua ống lọc, tuy nhiên,
nó cũng làm cho kích thước ngoài của ống lọc lớn ra, gây khó khăn cho quá trình chống
ống, làm giảm diện tích làm việc của ống lọc. Về căn bản, việc lựa chọn khe hở của ống
lọc phải dựa trên kết quả phân tích thành phần hạt của tầng chứa nước.
Đối với các giếng khoan có bọc sỏi, việc lựa chọn khe hở ống lọc và kích thước sỏi
lọc cũng vô cùng quan trọng. Việc lựa chọn kích thước vật liệu lọc phải dựa trên kết quả
11


phân tích thành phần hạt của sỏi lọc và thành phần hạt của tầng chứa nước theo mối quan
hệ sau:

Trong đó D50 – kích thước hạt của sỏi lọc mà nhỏ hơn nó chiếm 50% và d50 – tương
tự như vậy đối với vật liệu tầng chứa nước.
Áp dụng nguyên tắc này, Liên đoàn đã rất thành công trong một số giếng khoan rất
phức tạp như LKSP4 của Công ty La Vie, TH2 khu công nghiệp Tân Hương Tiền
Giang...Bên cạnh đó, đối với một số giếng khoan như S241 Cai Lậy - Tiền Giang và S218
Lai Vung - Đồng Tháp, thành phần hạt của tầng chứa nước rất mịn, việc lựa chọn sỏi lọc
không phù hợp với kích thước hạt của tầng chứa nước, vì vậy, sau khi hoàn thành và đưa
vào sử dụng, giếng khoan luôn bơm có cát. Liên đoàn đã chi phí khá nhiều thời gian và
tiền của vào việc xử lý, khắc phục tình trạng này, song vấn đề không bao giờ được giải
quyết một cách triệt để.
Để tránh tình trạng giếng bơm có cát, việc lấy mẫu và phân tích thành phần hạt của
vật liệu tầng chứa nước có ý nghĩa hết sức quan trọng, từ đó, người thiết kế có thể lựa chọn
khe hở ống lọc và kích thước của sỏi lọc một cách chính xác.

Hình 1. Biểu đồ carôta của giếng khoan G15-S vùng Hóc Môn – TP HCM
Đối với các giếng khoan thi công ở những vùng có điều kiện địa chất-địa chất thủy
văn rất phức tạp hoặc có rất ít dữ liệu lưu trữ, việc lấy mẫu tầng chứa nước dự kiến khai
thác (tối thiểu là lấy mẫu đại diện) có vai trò rất quan trọng trong việc xác định khả năng
chứa nước của đối tượng dự kiến khai thác. Việc thi công giếng khoan G15 (sâu) ở khu
vực Nhà máy nước Hóc Môn là một ví dụ điển hình. Kết quả đo carôta lỗ khoan phá mẫu
thể hiện trên hình 1 cho thấy đoạn từ 165 – 190m có điện trở suất rất cao, đường gamma
bên phải được phân tích và cho rằng thành phần của lớp chứa nước này là cát hạt mịn.
Kết quả giếng khoan được đặt ống lọc trong đoạn chứa nước này, mặc dù được thi
công bằng công nghệ tuần hoàn ngược vẫn cho lưu lượng rất nhỏ (khoảng 25-40m3/h). Rất
nhiều giả thuyết được đặt ra để giải thích cho tình trạng nghèo nước của giếng khoan này,
tuy nhiên, chỉ đến khi một lỗ khoan thăm dò lấy mẫu được thực hiện ngay cạnh giếng G15S, mẫu địa tầng thu thập được cho thấy rằng tầng chứa nước được đặt ống lọc bao gồm cát,
cát mịn, có lẫn cuội có xi măng gắn kết là sét, nén ép chặt, mẫu cứng chắc, khả năng chứa
nước kém thì mọi nghi vấn về công tác thi công của giếng khoan này mới được giải tỏa,
kết thúc mọi nỗ lực xử lý nhằm tăng khả năng cung cấp nước của giếng.
Quá trình thi công cũng có nhiều vấn đề cần trao đổi. Đối với các máy khoan sử
dụng chủ yếu tại Liên đoàn như YPБ-3AM-500, được thiết kế cho khoan thăm dò, vì vậy,
khi sử dụng để khoan các giếng có đường kính lớn về lý thuyết là không phù hợp. Máy
bơm bùn được trang bị cho các bộ máy khoan này thuộc loại có lưu lượng khoảng
350l/phút, vì vậy rất khó để rửa sạch mùn khoan khi đường kính lỗ khoan tăng lên. Để
khắc phục tình trạng này, giải pháp chung là khoan mở rộng thành nhiều cấp đường kính.
12


Theo quan điểm của chúng tôi, mỗi cấp đường kính chỉ mở rộng tối đa 50mm để đảm bảo
an toàn cho hệ thống cần khoan. Nếu khoan doa với cấp đường kính mở quá lớn, momen
xoắn tạo ra sẽ quá lớn đối với cần khoan D50mm, vì vậy cần khoan hoặc các đoạn chuyển
tiếp đường kính trên bộ khoan cụ rất dẽ bị gãy. Thực tế thi công các giếng khoan sâu ở các
vùng Sóc Trăng, Đồng Tháp của Đoàn 804 cũng như Cơ quan Liên đoàn đã gặp rất nhiều
sự cố gãy cần, rơi choòng khoan...khi khoan doa.
Vấn đề sụt lún nền khoan cũng là một trong những chủ đề cần quan tâm bởi phần
lớn các giếng khoan hiện nay được thi công trên những vùng đất yếu, mới san lấp. Thực tế
thi công đã cho thấy có những trường hợp cả nền khoan được gia cố bằng móng bê tông
cốt thép cũng bị sụt lún hoàn toàn. Hình 2 cho thấy nền khoan của lỗ khoan Tân Hương Tiền Giang bị sập hoàn toàn sau khi chống ống xong.
Theo quan điểm của chúng tôi, một nền khoan được gia cố bằng bê tông cốt thép có
bề rộng khoảng 3,5 – 4m cũng không có nhiều ý nghĩa trong việc chóng sập lở. Vấn đề chủ
yếu là trong quá trình thi công, đội khoan cần phải thường xuyên kiểm tra để không cho
nước rửa chảy luồn qua chân ống định hướng, bởi nếu nước chảy ra ngoài ống định hướng
sẽ làm rửa trôi lớp cát san lấp, gây sụt lở nền trên một diện rộng. Ngoài ra, sau khi chống
ống xong, cũng không nên đặt toàn bộ sức nặng của cột ống lên nền khoan, mà cần treo lên
máy trong một khoảng thời gian để cốt ống có thể được giữ yên trong lỗ khoan. Sự cố sụt
nền khoan cũng đã xảy ra tại lỗ khoan Mỹ An do Đoàn 803 thi công

Hình 2. Nền khoan bị sập hoàn toàn. Ảnh Trần Văn Chung
2. Một số vấn đề khi sử dụng ống chống nhựa
Ống chống nhựa PVC được dùng rộng rãi trên thế giới trong kỹ thuật khoan giếng
thăm dò, quan sát và khai thác nước. Tuy nhiên khi áp dụng ở Việt Nam, các vấn đề mà
chúng ta thường gặp phải là:

Ống nhựa PVC ở Việt Nam là loại ống dùng cho các công trình cấp nước
trên mặt, không phải loại chuyên dùng cho các giếng khoan, nơi có nhiệt độ
và áp suất cao.
Chất lượng của ống PVC không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật
Chúng ta thử hình dung chất lượng của 2 loại ống như sau:
- Ống nhựa PVC Bình Minh, đường kính ngoài 140mm, dày 6,7mm, áp suất làm
việc tối đa là 10kgf/cm2 ở nhiệt độ 200C (nguồn Công ty nhựa Bình Minh).
- Ống nhựa PVC 12454 theo tiêu chuẩn ASTM F480 có đường kính ngoài 150mm,
dày 4,8mm, áp suất bóp méo là 20,4kgf/cm2 (Theo Tiêu chuẩn AWWA đối với giếng khai
thác nước)
Để khắc phục những nhược điểm này, các giếng khoan dùng ống nhựa PVC nên
giới hạn chiều sâu trong khoảng 300m và nếu là giếng khai thác đường kính lớn thì chiều
sâu không nên vượt quá 200m. Khi nối ống nhựa với nhau, ngoài keo dán, tuỳ thuộc vào
đường kính ống mà bố trí thêm các đinh vít để tăng cường sức chịu tải của mối nối. Ngoài
ra, đối với các lỗ khoan chống ống nhựa, cần khoan rộng hơn đường kính của mối nối
13


khoảng 2cm để đảm bảo kéo thả cột ống dễ dàng. Thực tế thi công có nhiều trường hợp đứt
ống nhựa trong lỗ khoan mà mới đây nhất là lỗ khoan TD1 Tân Hương - Tiền Giang do
Đoàn 802 thi công.
Do chất lượng ống nhựa không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, vì vậy, trong mọi trường
hợp, không nên thực hiện việc khoan tiếp theo bên trong cột ống nhựa PVC. Sự va đập của
cần khoan vào cột ống trong khi khoan sẽ làm vỡ cột ống, làm hỏng giếng khoan. Trường
hợp của Đoàn 803 khi thi công lỗ khoan tại Mộc Hóa là một ví dụ điển hình.
Đối với các giếng khoan khai thác, việc trám xi măng là rất cần thiết, tuy nhiên, khi
sử dụng ống nhựa cần rất thận trọng trong việc tính toán bơm xi măng. Khi xi măng hòa
trộn với nước và đông kết sẽ tỏa ra một nhiệt lượng đáng kể. Năng lượng thoát ra phụ
thuộc vào lượng xi măng khô hòa tan, càng nhiều xi măng thì nhiệt lượng tỏa ra càng lớn.
Các tính toán thực nghiệm cho thấy rằng khi xi măng đông kết trong một khoảng không
vành xuyến 51mm thì nhiệt độ sẽ tăng lên trong khoảng từ 20 đến 25oC

Hình 3. Vít inox và gia cố đầu nối ống nhựa. Ảnh Trần Văn Chung
Hình 4 cho thấy mức độ tỏa nhiệt của dung dịch xi măng khi nước trộn xi măng có
nhiệt độ 25oC, chiều sâu giếng khoan khoảng 170m và tỷ trọng dung dịch xi măng là
1,84t/m3

Hình 4. Sự tỏa nhiệt của xi măng theo thời gian
Từ đồ thị trên, có thể thấy rằng nhiệt lượng tỏa ra trong quá trình đông kết xi măng
lớn nhất là sau khoảng 5-6 giờ. Các thực nghiệm cho thấy rằng chiều dày của lớp xi măng
trám giếng tốt nhất là không quá 50cm khi sử dụng ống nhựa PVC. Trong trường hợp
chiều dày xi măng quá lớn và bơm lượng xi măng quá cao, nhiệt lượng toả ra sẽ rất lớn và
cột ống nhựa PVC dễ dàng bị bóp méo hoặc làm biến dạng hoàn toàn. Trong quá trình thi
công, Liên đoàn đã từng gặp các trường hợp ống nhựa bị bẹp, hỏng hoàn toàn sau khi bơm
xi măng như lỗ khoan Q8 Quận 8 TP Hồ Chí Minh, lỗ khoan Tân An – Long An. Hình 5
14


cho thấy ống nhựa đường kính 400mm, dày 19,1mm bị biến dạng dưới tác động nhiệt của
dung dịch xi măng.
Các giải pháp chủ yếu để giảm sự cố hư hỏng ống chống nhựa gồm:
Giảm chiều dày của lớp trám xi măng đối với ống nhựa PVC còn khoảng 50mm.
Giảm lượng xi măng cho một đợt còn trám trong khoảng từ 3-5 tấn
Trong một số trường hợp cần sử dụng lượng xi măng tương đối lớn, người ta có thể
pha thêm nước đá vào dung dịch xi măng để giảm nhiệt độ của nó

Hình 5. Ống PVC bị biến dạng. Ảnh Trần Văn Chung.
3. Vấn đề về quản lý thi công
Người quản lý nói chung phải có trình độ, nhiệt tình và cái tâm trong sáng. Quản lý
thi công nói chung và quản lý đội khoan cũng như một gia đình nhỏ, người đứng đầu phải
rạch ròi phân minh, nhất là trong vấn đề tài chính. Đã có những tổ khoan để xảy ra tình
trạng không kịp thời, sòng phẳng trong ăn chia dẫn đến thắc mắc, kiện cáo...như trường
hợp tổ khoan của Đoàn 803, tổ khoan của Cơ quan Liên đoàn.
Các công trình khoan là những hợp đồng kinh tế, trong đó phía thi công phải chịu
những sự kiểm tra, giám sát của các bên có liên quan. Vì vậy, không thể có một công trình
nào từ khi thi công cho đến khi kết thúc mà bên thi công không thông báo cho Chủ đầu tư,
giám sát...như trường hợp thi công lỗ khoan TD2 Tân Hương - Tiền Giang của Đoàn 803.
Vấn đề thiết bị đang là mối quan tâm lớn của Liên đoàn hiện nay. Hầu hết các loại
máy khoan đang sử dụng đều có xuất xứ từ Nga và có thời gian hoạt động trên dưới 30
năm, tuy vậy, hiện nay chúng vẫn đang phải thực hiện các công trình vượt quá khả năng
thiết kế khi sản xuất. Vì vậy, tình trạng máy móc hiện nay là quá kém, không đáp ứng được
yêu cầu kỹ thuật, an toàn lao động của quá trình sản xuất. Thông qua bài viết này, chúng
tôi mong mỏi Liên đoàn có chính sách và những biện pháp thích hợp để tăng cường năng
lực thiết bị thi công.
Để tăng cường hiệu quả thi công, việc quan trọng là cần kích thích năng lực sản
xuất của người lao động thông qua một chính sách tiền lương hợp lý. Theo quan điểm của
chúng tôi, việc giao khoán cần phải được thực hiện triệt để hơn như gia khoán gia công
nhỏ, giao khoán vận chuyển...để các tổ khoan có thể tự chủ động hơn trong việc thực hiện
công việc. Ngoài ra, khi giao khoán cần tính đến điều kiện lao động, sinh hoạt rất khó khăn
gian khổ của anh em công nhân.
4. Một số vấn đề về an toàn lao động
Hầu hết công nhân khoan hiện nay trong Liên đoàn đều đã được đào tạo cơ bản về
ngành nghề và được huấn luyện về kỹ thuật an toàn lao động. Tuy nhiên, thực tế tại các
15


công trình thi công, việc tuân thủ các quy trình, quy phạm an toàn lao động thực sự chưa
được quan tâm đúng mức. Hầu hết đều không sử dụng dây an toàn khi thao tác trên cao
hoặc làm việc trên sàn thợ phụ, hầu hết không đeo găng tay khi làm việc. Việc sử dụng
giày (ủng), mũ bảo hộ không phải lúc nào cũng được thực hiện nghiêm túc. Hậu quả là đã
có một số tai nạn xảy ra, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người lao động. Chúng
tôi đề nghị rằng việc thực hiện an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp phải được tính vào
mức thưởng/phạt trong giá trị giao khoán thông qua việc kiểm tra tình hình sử dụng trang
thiết bị bảo hộ lao động tại công trình.
Kết luận
Mặc dù hiện nay Liên đoàn đang đẩy mạnh các lĩnh vực hoạt động khác như các dự
án nghiên cứu khoa học, điều tra hiện trạng khai thác sử dụng nước...tuy nhiên công tác
khoan vẫn đang giữ một vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của
Liên đoàn. Là đơn vị duy nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường - Cục Địa chất và
Khoáng sản Việt Nam hoạt động ở vùng đồng bằng Nam Bộ, Liên đoàn cần phải duy trì và
phát huy tối đa khả năng và sức mạnh của mình, tạo ra nhiều công trình có chất lượng và
hiệu quả kinh tế cao, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, phù hợp với sự phát triển chung
của khu vực. Muốn vậy, chúng ta cần phải biết những yếu điểm, tồn tại để khắc phục. Bài
viết này cũng không nằm ngoài mục đích đó.

16


GIẢI PHÁP VÀ KINH NGHIỆM THI CÔNG CÁC GIẾNG KHOAN KHAI THÁC
CÓ CHIỀU SÂU LỚN
KS. Phạm Giang
Đoàn ĐCTV-ĐCCT 804
Tóm tắt: Bài báo đưa ra một phân loại các dạng giếng khoan khai thác có chiều sâu
lớn theo lưu lượng khai thác yêu cầu và loại vật liệu ống chống ống lọc sử dụng. Trên cơ sở
đó đưa ra các giải pháp thi công ứng với từng dạng giếng khoan khai thác dựa trên kinh
nghiệm thi công một loạt các giếng khoan có chiều sâu lớn ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu
Long.
1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, việc khai thác nước
từ các giếng khoan tầng sâu (300m – 500m) được các đơn vị kinh tế, các xí nghiệp rất
quan tâm. Một trong những ưu thế của các giếng khoan sâu là có hàm lượng sắt nhỏ, giảm
giá thành của hệ thống xử lý nước và do đó giảm giá thành nguồn nước cấp cho đơn vị, xí
nghiệp sử dụng. Đoàn ĐCTV – ĐCCT 804 là một trong những đơn vị đi đầu trong công
tác thi công các giếng khoan khai thác có chiều sâu lớn đặc biệt là các công trình khoan
khai thác ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu long. Bài báo trình bày một số kinh nghiệm thiết
kế và giải pháp thi công các giếng khoan khai thac có chiều sâu lớn.
2. Kinh nghiệm thiết kế
Qua thực tế thiết kế các giếng khoan có chiều sâu lớn ở các tỉnh Sóc Trăng, Đồng
Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ và Vĩnh Long…có thể nhận thấy rằng, tuỳ theo
theo lưu lượng và khả năng tài chính của khách hàng, có thể thiết kế các các lỗ khoan khai
thác có chiều sâu lớn theo các dạng như sau:
+ Dạng I: Ống thép và ống lọc Inox : Thường được sử dụng cho các giếng có lưu
lượng từ 70m3 đến 100m3 .
+ Dạng II: Ống nhựa và ống lọc nhựa : Thường được sử dụng cho các giếng có lưu
lượng từ 10m3 đến 20m3 .
+ Dạng III: Ống nhựa và ống lọc Inox : Thường được sử dụng cho các giếng có lưu
lượng từ 20m3 đến 60m3 .
+ Dạng IV (kết hợp): Ống khai thác là ống thép, ống dẫn là ống nhựa và ống lọc
Inox, thường được sử dụng cho các giếng có lưu lượng từ 30m3 đến 60m3 .
3. Giải pháp và kinh nghiệm thi công
Các giếng khoan Dạng I:
- Dạng giếng khoan này thường được thi công tại tỉnh Sóc Trăng và cho kết quả tốt,
hiệu suất cao.
- Cột ống thường có trọng lượng lớn (trên 10 tấn) nên các giếng này đều phải chống
ống bằng phương pháp chống phao, sử dụng phao ống đúc xi măng, bi gỗ.
- Do chiều sâu cột ống lớn lên công tác chuẩn bị, xây lắp khoan trường cần đặc biệt
chú trọng và quan tâm, nhiều khi quyết định đến sự thành bại của công trình. Ở vùng Sóc
Trăng, ống định hướng thường chống hết tầng bùn khoảng 20 – 25m, sau đó liên kết đổ bê
tông toàn bộ nền móng, bệ máy giếng khoan với ống định hướng (với kết cấu giếng là
chống ống lộn tu).
17


- Trường hợp kết cấu giếng khai thác là kết cấu chống gối thì công việc xây lắp giai
đoạn đầu bình thường, tiến hành khoan chống ống khai thác khoảng 50m – 60m, bơm ép xi
măng đến miệng ống (thời gian thi công giai đoạn này thường 1 đến 2 ngày) sau đó mới
tiến hành xây lắp, đổ nền móng lại lỗ khoan, liên kết luôn với ống khai thác…
- Do thiết bị máy móc đã cũ, cần khoan sử dụng chủ yếu là Φ 50 và Φ 60,3 không
tương ứng với tỷ lệ đường kính mở rộng giếng khoan vì vậy tuyệt đối không được khoan
vượt cấp dễ làm gãy cần khoan; Hiện đơn vị chỉ sử dụng choòng cánh gia công một đường
kính, không sử dụng các loại choòng cánh có nhiều cấp đường kính (Choòng tầng ), ngoài
ra đơn vị đang thử nghiệm dùng các loại choòng 3 chóp có đường kính lớn từ Φ 200 đến Φ
350, khi sử dụng các dạng choòng này bước đầu ghi nhận độ an toàn thi công cao hơn do
giảm tốc độ tiến của choòng so với dạng choòng cánh.
- Quá trình chống ống các lỗ khoan dạng này phải nhanh, chuẩn xác. Cột ống chống
dạng lỗ khoan này thường dài và nặng (có giếng khoan chiều dài cột ống Φ178 tới 430m
hoặc Φ245 tới 280m, chống đến nóc tầng chứa nước khai thác), vì vậy cần sử dụng loại
ống có ren chất lượng cao.
- Việc chống ống chống, ống lọc được thực hiện bằng cần khoan: Khi chống, cần
khoan được đưa qua ống chống, ống lọc đến sát van đáy, đầu tháo trái đựơc hàn chắc chắn
vào thân cần. Kiểu chống này cho phép phục hồi tầng chứa nước (bơm ép ngược) với chất
lượng cao hơn. Đối với ống lọc do kích thước khe hở chủ yếu có trên thị trường là >
0,75mm, để ngăn ngừa cát, ống lọc thường được quấn 1-2 lớp lưới Inox khe hở 1mm , thủ
thuật này giúp cho công trình đảm bảo chất lượng – cát ít khi vào giếng trong quá trình
khai thác.
Các giếng khoan dạng II
- Đây là những giếng khoan thăm dò, hoặc khai thác nhỏ theo yêu cầu của các đơn
vị, gia đình…thường có đường kính ống khai thác từ Φ90 đến Φ168mm, đường kính ống
dẫn và ống lọc từ Φ60 đến Φ90mm;
- Thiết bị thi công các giếng này thường là thiết bị khoan tự chế có khả năng khoan
phá đến 500m, loại máy khoan này có hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng được yêu cầu của thị
trường. Một trong những yêu cầu quan trọng khi thi công các giếng này là: Giếng khoan
được chống ngay sau khi có tài liệu phân tích carota.
- Với kết cấu ống dẫn, ống lọc Φ 60mm: Thường tiến hành chống theo kiểu dây,
mỗi dây ống có chiều dài khoảng 100m, phần nối giữa các dây ống ngoài việc dán nhựa
còn được gia cố bằng vít đinh;
- Với các kết cấu ống khác: Thường chống từng ống, tất cả đều được bắn vít tại
điểm nối. Phần ống lắng được thiết kế tạo sự lưu thông cột dung dịch trong quá trình
chống.
- Sau khi chống ống, giếng khoan được bơm ép rửa ngược ngay, thời gian bơm rửa
từ 3 – 5 ca máy tùy thực tế của giếng, chất lượng của công tác này ảnh hưởng quyết định
đến chất lượng của công trình bởi với kết cấu giếng kiểu này việc xử lý tầng chứa nước
cực kỳ khó khăn và phức tạp… Sau khi bơm ép xong tổ thi công thường nghỉ 01 – 02 ngày
làm công tác chuẩn bị và chờ cho thành giếng ổn định mới tiến hành bơm rửa giếng bằng
máy ép khí.
Các giếng khoan dạng III
- Dạng giếng khoan này thường được thi công tại các tỉnh Đồng Tháp, An Giang…
cho các các xí nghiệp thủy sản. Ưu thế của dạng III là giá thành hạ, đáp ứng được một số
18


yêu cầu kỹ thuật chuyên ngành thủy sản…lưu lượng yêu cầu của các đơn vị khai thác
thường từ 40 đến 60m3/h.
- Chất lượng ống chống đóng vai trò rất quan trọng đến sự thành bại công trình;
Chúng tôi thường chọn ống chống có áp lực chịu nén từ 10 bar – 12,5 bar; Ống PVC Đệ
Nhất có chất lượng khá ổn định.
- Khi thi công các giếng kiểu này bắt buộc phải có ống định hướng khống chế tầng
đất phủ, thường dài từ 4 – 6m.
- Do công tác tác phục hồi tầng chứa nước bằng biện pháp sục pít tông bị hạn chế,
công tác bơm ép rửa ngược phục hồi tầng chứa nước đóng vai trò quyết định đến chất
lượng công trình được đặc biệt lưu ý. Sau khi bơm rửa ép ngược từ 3 – 4 kíp máy, tiến
hành bơm rửa giếng bằng máy bơm ép khí ngay, kết quả hầu hết các giếng đều đạt lưu
lượng theo thiết kế hoặc lớn hơn mà không phải tiến hành các biện pháp khác;
- Để tránh ống bị bóp do chênh lệch áp khi bắt đầu bơm thổi ép khí; thường thả ống
thép có đường kính bằng ống dẫn trong ống khai thác đến đoạn chuyển tiếp ống dẫn và
bơm trong ống thép. Ống này cũng có thể dùng để sục pít tông khi cần thiết xử lý tăng lưu
lượng của giếng.
Các giếng khoan dạng IV
- Các giếng Dạng IV thường được thiết kế và thi công ở TP.Cần Thơ, tỉnh An
Giang, tỉnh Đồng Tháp… Đây là một trong những dạng giếng khoan an toàn trong thi
công, giá cả phù hợp và có tính cạnh tranh cao, dễ được các đơn vị, đối tác chấp nhận;
- Giếng được khoan và chống ống khai thác từ 50m – 60m, đồng thời được bơm ép
xi măng lên đến miệng trong thời gian từ 2 – 3 ngày. Khi liên kết gia cố nền móng với cột
ống khai thác sẽ cho một khoan trường vững chãi, an toàn cho công tác thi công giai đoạn
tiếp theo.
- Với dạng giếng khoan này, ống dẫn được chống suốt lên miệng giếng khoan, phần
gối trong ống khai thác thường có một đoạn ống thép 4-5m để tăng độ liên kết khi trám xi
măng. Cột ống từ điểm tháo trái lên miệng giếng khoan là ống thép nhằm phục vụ xử lý
sục pít tông phục hồi tầng chứa nước.
4. Kết luận
Công tác khoan là một trong những chuyên ngành kỹ thuật phức tạp và có độ rủi ro
cao. Việc thường xuyên trao đổi kỹ thuật thiết kế và kinh nghiệm thi công là một trong
những việc làm quan trọng và cần thiết đối với hoạt động chung của Liên đoàn. Với các
giải pháp thiết kế và kinh nghiệm thi công một số dạng giếng khai thác có chiều sâu lớn,
Đoàn ĐCTV-ĐCCT 804 đã và đang thi công thành công các dạng giếng khoan trình bày ở
trên. Tuy nhiên yếu tố quyết định nhất đến sự thành công của công trình vẫn chính là con
người được giao nhiệm vụ, họ phải có chuyên môn cao, nhiệt tình với công việc, phải tập
trung được lực lượng, gắn kết các thành viên trong đội tổ như cái nôi trong gia đình; Ngoài
ra phương pháp tổ chức thi công khoa học, cán bộ kỹ thuật thi công có tâm với công
việc…là yếu tố không kém phần quan trọng mang đến sự thành công của công trình./.

19


TĂNG CƯỜNG NGUỒN BỔ CẬP CHO NƯỚC DƯỚI ĐẤT BẰNG NƯỚC MƯA
Phạm Văn Giắng
Bùi Trần Vượng
Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT miền Nam
Tóm tắt: Thu gom nước mưa là một công nghệ có từ lâu đời và ngày càng phổ biến.
Có nhiều công nghệ, phương pháp và thiết kế có từ thời xa xưa để thu gom nước mưa trục
tiếp cũng như có nhiều phương pháp để tăng cường bổ cập và chứa nước mưa trong các
tầng chứa nước dưới mặt đất. Các công nghệ thay đổi phụ thuộc vào đặc điểm ĐC-ĐCTV
của vùng. Bài báo nêu tóm tắt sự cần thiết, các ưu điểm, các khía cạnh cần quan tâm và các
công nghệ thu gom nước mưa.
Thu gom nước mưa để tăng cường tài nguyên nước
Thu gom nước mưa là công nghệ thu và chứa nước mưa trên mặt hoặc dưới mặt đất
trước khi nó bị mất vào dòng chảy mặt. Tài nguyên nước được bổ cập có thể sử dụng khi
cần thiết. Bổ cập cho nước dưới đất có thể thực hiện được thông qua thu gom nước mưa,
nước mưa trên mái nhà, chuyển và thu gom nước mưa vào các bể chứa, sân chơi, công viên
và các khu đất trống
Là thu gom và sử dụng nước mưa từ trên bề mặt của lưu vực. Một công nghệ cổ
xưa được thực hiện theo những hình thức mới. Thu gom nước mưa đang được phục hưng
trên thế giới nhưng nó có lịch sử từ lâu đời. Các dụng cụ thu gom nước mưa đã có từ 4000
năm trước.
Sự cần thiết của thu gom nước mưa
Thu gom nước mưa là cần thiết bởi vì:
Nước mặt không đủ đáp ứng yêu cầu và chúng ta phải phũ thuộc vào nước dưới
đất.
Quá trình đô thị hóa qáu nhanh, nước mưa thấm xuống lòng đất giảm mạnh và Bổ
cập cho nước dưới đất đã bị giảm
Khai thác nước dưới đất đã làm giảm mực nước dưới đất
Để tăng cường lượng nước dưới đất vào thời gian và địa điểm đặc biệt
Ngăn chặn sự xâm nhập của nước biển
Cải thiện chất lượng nước trong các tầng chứa nước
Cải thiện lớp phủ thực vật
Nâng cao mực nước trong các giếng khai thác đã bị khô
Các ưu điểm của thu gom nước mưa:
Chi phí bổ cập bằng các bể chứa ngầm thấp hơn các bể chứa trên mặt.
Các tầng chứa nước ngoài việc chứa nước còn hoạt động như các hệ thống phân
phối nước.
Không lãng phí đất để xây dựng các bể chứa trên mặt và không phải di dời dân cư
Nước dưới đất không trực tiếp bị bốc hơi và nhiễm bẩn
Chứa nước dưới lòng đất thân thiện với môi trường hơn chứa trên mặt
Tăng cường mức độ giàu nước của tầng chứa nước
Giảm các nguy cơ bị lụt
Tăng mực nước dưới đất
Giảm thiểu ảnh hưởng của hạn hán
Giảm sói mòn đất

20


Các điều kiện lý tưởng để thu gom nước mưa
Không đủ không gian để xây các bể chứa trên mặt, đặc biệt đối với vùng đô thị
Mực nước nằm đủ sâu (>8m) và có sẵn không gian ngầm
Địa tầng có tính thấm nằm nông hoặc sâu trung bình
Nước dưới đất có chất lượng kém, và mục đích đặt ra là phải cải tạo chất lượng
nước
Nơi có thể có sự xâm nhập của nước mặt, đặc biệt các vùng ven biển
Tốc độ bốc hơi từ các khối nước mặt là cao
Các khía cạnh cần cân nhắc khi thiết kế hệ thống thu gom nước mưa
Đặc điểm ĐCTV của vùng, bao gồm bản chất và qui mô tầng chứa nước, lớp đất
phủ, địa hình, chiều sâu tới mực nước, đặc điểm hóa học của nước dưới đất
Nguồn nước để bổ cập, một trong những đòi hỏi đầu tiền để bổ cập cho nước dưới
đất, được đánh giá dưới dạng dòng chảy mặt dư thừa theo mùa
Hiện trạng sử dụng đất, các khu công nghiệp, các vành đai xanh, diện tích mái nhà
Đặc điểm khí hậu như thời gian mưa, kiểu mưa và cường độ mưa
Các vùng có tiềm năng thu gom nước mưa:
Vùng mực nước dưới đất thường xuyên bị giảm
Vùng có nhiều tầng chứa nước chưa bão hòa
Vùng nước dưới đất không có đủ vào các tháng cạn kiệt
Vùng đô thị hóa nhanh, thấm của nước mưa vào đất giảm mạnh và Bổ cập cho
nước dưới đất bị cạn kiệt
Các công nghệ thu gom nước mưa
Có hai công nghệ thu gom nước mưa:
Chứa nước mưa trên bề mặt dùng trong tương lai
Bổ cập cho tầng chứa nước.
Chứa nước mưa trên bề mặt là công nghệ truyền thống và các cấu trúc được sử
dụng là các bể chứa, hồ chứa, các đập ngăn, các tường chắn v,v..., bổ cập cho nước dưới
đất là khái niệm mới đối với thu gom nước mưa và các cấu trúc được dùng là:
Các hố bổ cập
Các hào rãnh
Các giếng đáo
Các lỗ khoan
Các hầm thẳng đứng
Các hào ngang kết hợp với lỗ khoan
Các đập chắn
Các hồ thấm
Các đập đất
Thu gom nước mưa trong các vùng đô thị
Trong các vùng đô thị, nước mưa từ các mái nhà, các vùng chưa lót vỉa hè thường
bị lãng phí. Nước này có thể bổ cập cho tầng chứa nước và có thể sử dụng khi cần thiết. Hệ
thống thu gom nước mưa cần được thiết kế theo cách không chiếm dụng nhiều không gian
xây dựng hệ thống bổ cập và thu gom. Một vài công nghệ thu gom nước mưa từ mái nhà
trong các vùng đô thị được mô tả dưới đây:
Thu gom nước mưa từ mái thông qua các hố bổ cập (Recharge Pit)
Trong các vùng trầm tích sông nới các đá có tính thấm lộ trên mặt hoặc nằm ở độ
sâu không lớn, thu gom nước mưa có thể thực hiện thông qua các hố bổ cập. Công nghệ
21


này thích hợp cho các toà nhà có
diện tích mái 100 m2 và được xây
dựng để bổ cập cho các tầng chứa
nước nằm nông.
Các hố bổ cập có hình dạng
và kích thước bất kỳ và thường có
chiều rộng 1 đến 2 m và chiều sâu 2
đến 3m được lấp bằng cuội (kích
thước 5 đến 20cm), sỏi (kích thước 5
đến 10mm) và cát thô (kích thước
1,5 đến 2mm) dưới dạng chọn lọc.
Cuội ở đáy hố, sỏi ở giữa và cát ở
trên cùng để hàm lượng bột trong
dòng chảy mặt sẽ lắng đọng trên mặt của lớp cát thô và có thể loại bỏ dễ dàng. Đối với
diện tích mái nhà nhò, các hố này có thể được lấp bằng gạch, đá vỡ.
Nên phủ một tấm lưới trên mái nhà để ngăn cản lá cây hoặc chất thải rắn đi vào hố,
cũng nên có một bể lắng ở mặt đất để ngăn cản các hạt mịn đi vào hố bổ cập. Nên định kỳ
vệ sinh bề mặt của lớp cát trên cùng để
dy trì tốc độ bổ cập. Cũng nên có bộ phận
xả trước hố bổ cập để loại bỏ các cơn
mưa đầu tiên.
Thu gom nước mưa thông qua các
lỗ khoan có sẵn
Trong vùng khi các tầng chứa
nước nằm nông và có sẵn các lỗ khoan
khoan vào tầng chứa nước nằm sâu, thu
gom nước mưa từ mái nhà có thể thông
qua các lỗ khoan hiện hữu để bổ cập cho
tầng chứa nước sâu hơn.
Ống dẫn PVC dường kính 10cm
nối với máng từ mái nhà để gom nước mưa. Bỏ lượng nước mưa của cơn mưa đầu tiên quá
đáy của ống dẫn. Sau khi đóng ống dẫn, nước mưa của các cơn mưa tiếp theo được gom
qua ống chữ T tới một thiết bị lọc PVC trên đường dẫn. Thiết bị này lọc nước trước khi
cho nước vào lỗ khoan. Thiết bị lọc dài 1đến 1,2m, làm bằng ống PVC. Đường kính thay
đổi tùy thuộc vào diện tích của mái nhà, đường
kính 15 cm nếu diện tích mái nhỏ hơn 150 m2,
đường kính 20cm nếu diện tích mái lớn hơn.
Thiết bị lọc có hai đầu chuyển tiếp 6,25 cm ở cả
hai đầu. Trong thiết bị chia làm 3 phần ngăn
cách bằng màng lọc PVC để các vật liệu không
bị trộn lẫn với nhau. Trong phần thứ nhất lấp
bằng sỏi (6-10mm), phần ở giữa lấp bằng cuội
(12-20mm) và phần cuối bằng cuội lớn hơn
(20-40mm).
Nếu diện tích mái nhà rộng hơn nữa, có
thể thay thiết bị lọc bằng hố lọc. Nước mưa từ
mái nhà được đư đến hố thu gom nằm trên mặt
đất. Các hố thu gom này được nối với hố lọc
thông qua các ống đặt có độ dốc 1:15. Các hố lọc có thể thay đổi hình dạng và kích thước
phụ thuộc vào dòng chảy mặt và được lấp bằng cuội ở đáy, sỏi ở giữa và cát ở trên cùng
22


với chiều dày mỗi lớp thay đổi từ 0,30 đến 0,50m và ngăn cách bằng các tấm thấm. Hố bổ
cập được chia làm 2 bể, vật liệu lọc trong một bể và bể khác để rỗng để chứa nước đã được
lọc bị tràn và để quan trắc chất lượng nước đã được lọc. Một ống nối với giếng bổ cập ở
đáy của hố bổ cập để bổ cập nước đã được lọc vào lỗ khoan.
Bổ cập nước mưa tại các vùng nông thôn
Trong các vùng nông thôn, thu gom nước mưa nên xem xét ờ qui mô một lưu vực
sông suối. Công nghệ bồn thấm trên mặt khá phổ biến vì không gian cho hệ thống như vậy
là có sẵn và số lượng nước Bổ cập cũng rất lớn
Các công nghệ sau đây có thể sử dụng để tiết kiệm nước mưa bị bỏ phí chảy qua
các sườn dốc, sông, suối nhỏ và kênh.
Thu gom nước mưa qua các chốt tại rãnh xói
Các chốt tại rãnh xói được xây bằng đá, sét, bụi cây tại địa phương qua các rãnh xói
và suối nhỏ chảy xuống sườn đồi mang nước vào các lưu vực nhỏ trong mùa mưa. Các
chốt này giúp bảo toàn đất và độ ẩm của đất. Vị trí của các chốt có thể chọn ở bất kỳ chỗ
nào có rãnh xói, suối cho phép tích trữ đủ nước phía sau chốt
Thu gom nước mưa qua các đập nằm ở cùng độ cao
Các đập nằm ở cùng độ cao là phương pháp hiệu quả để bảo toàn độ ẩm của đất của
một lưu vực trong một thời gian dài. Phương pháp này thích hợp cho các vùng có lượng
mưa thấp, nơi dòng chảy mặt theo mùa có thể được ngăn lại bằng cách xây dựng các đập
trên đất dốc ở cùng một độ cao
Nước chảy bị chặn lại trước khi nó đạt tới vận tốc có thể gây xói mòn bằng cách
giữ khoảng cách thích hợp giữa các đập. Khỏng cách độ cao giữa các đập phụ thuộc vào độ
dốc của khu vực và tính thấm của đất. Đất có tính thấm càng nhỏ khoảng cách giữa các
đập càng gần. Các đập nằm ở cùng độ cao thích hợp tcho những vùng có độ dốc trung
bình.
Thu gom nước mưa qua các đập ngăn
Các đập ngăn được xây dựng
qua các suối nhỏ có độ dốc bé. Tại vị trí
được chọn, bề dày thấm nước của lòng
suối hoặc vỏ phong hóa phải đủ lớn để
tạo điều kiện chứa nước trong khoảng
thời gian ngắn. Nước được chứa trong
các cấu trúc này không bị bị giới hạn
trong suối, chiều cao thường nhỏ hơn
2m, lượng nước dư thừa có thể chảy tràn
qua mặt đập. Để khai thác tối đa dòng
chảy trong suối, nên xây dựng một loạt
các đập như vậy để có sự Bổ cập ở qui
mô khu vực. Các bao xi măng được lấp
bằng sét và xếp thành các bức tường cũng là một con đập chắn qua các suối nhỏ. Ở phía
thượng nguồn các bao sét có thể xếp thành một sườn dốc để tăng tính ổn định của đập.
Hố bổ cập
Hố bổ cập được đào hay khoan. Đường kính hố bồ cập từ 0,5 đến 3m tùy theo
lượng nước cần bổ cập. Áp dụng tại những nơi tầng chứa nước nông nằm bên dưới lớp sét
phủ bề mặt. Hố bổ cập được lấp bằng cuội, sạn sỏi và cát thô. Hố nên dừng ở địa tầng có
tính thấm cao hơn (lớp cát). Độ sâu hố bổ cập từ 10 đến 15m bên dưới mực nước ngầm.

23


Mương bổ cập
Mương cổ cập được áp dụng ở những thành
tạo có tính thấm cao, bề dày đủ lớn và nằm nông.
Mương bổ cập nằm nông được lấp bằng cuội sỏi.
Được xây dựng cắt ngang qua những sườn dốc.
Chiều rộng mương từ 0,5 đến 1m, chiều sâu từ 1
đến 1.5m
Lợi ích của việc thu gom nước mưa
Là một giải pháp lý tưởng cho những khu
vực không có đủ nguồn nước
Mực nước dưới đất sẽ được dâng lên
Giảm thiểu tác động của hạn hán và chống
hạn.
Giảm lượng nước chảy tràn khi kênh dẫn
nước mưa bị tắt.
Giảm ngập lụt đường phố
Tăng chất lượng nguồn nước
Giảm xói mòn
Tiết kiệm năng lượng trong khai thác nước dưới đất - mỗi một mét dâng mực nước
sẽ tiết kiệm được khoảng 0.40KHW điện.
Các thành phần cơ bản của hệ thống thu gom nước mưa đô thị
Một hệ thống thu gom nước mưa đô thị cơ bản gồm các thành phần (xem Hình 1):
1. Bề mặt hứng nước mưa
2. Lưới che máng xối
3. Máng xối và ống xối: để dẫn
nước từ mái tới bể chứa
4. Bộ phận lọc lá cây, loại bỏ
nước từ cơn mưa đầu tiên và
rửa mái: loại bỏ vụn đá, bụi, lá
cây trước khi vào bể chứa
5. Thiết bị chuyển đổi hướng
dòng chảy
6. Bộ phận lọc trước khi vào bể
chứa
7. Một hoặc nhiều bể chứa
8. Lưới chống côn trùng và ống
xả tràn bể chứa
9. Hệ thống van kiểm soát tự
động mực nước trong bể chứa
10. Hệ thống bơm
Hình 1- Các thành phần cơ bản của hệ thống thu gom nước mưa

24


1- Bề mặt hứng nước mưa

Hình 2. Ngói bằng các vật liệu khác nhau
Mái nhà hoặc công sở là lựa chọn đầu tiên. Chất lượng nước của các bề mặt mái
nhà khác nhau là hàm số của loại vật liệu làm mái, điều kiện khí hậu và môi trường xung
quanh.
Kim loại: Số lượng nước mưa có thể thu gom từ mái một phần nào phụ thuộc vào
cấu trúc của mái: mái càng phẳng càng tốt. Vật liệu mái thường dùng để thu gom nước
mưa là thép lá phủ một lớp hợp kim của nhôm (55%) và kẽm (45%) có tên thương mại là
Galvalume.
Ngói sét.bê tông: Ngói sét và bê tông đều có lỗ hổng thích hợp cho hệ thống thu
gom phục vụ ăn uống hoặc không ăn uống, nhưng có thể bị tổn thất 10% do cấu trúc, so
bốc hơi. Để giảm tổn thất nước, ngói có thể phủ hoặc sơn bằng một chất bịt kín.
Ván lợp composite: Do lọc các độc tố, tấm lợp composite không thích hợp cho hệ
thống thu gom cho mục đích ăn uống, chỉ có thể dùng cho mục đích tưới. Mái composite
có tổn thất 10% do bốc hơi.
Ván lợp bằng gỗ, nhựa đường, sỏi: Những loại vật liệu làm mái này là hiếm và chỉ
thích hợp cho thu gom nước mưa phục vụ tưới do các thành phần độc. Đá phiến có bề mặt rất trơn
làm bề mặt hứng nước mưa lý tưởng phục vụ cấp nước ăn uống, tuy nhiên chi phí cao .
2- Máng xối và ống xối
Máng xối để thu gom nước mưa
chảy khỏi mái hiên. Có một vài loại
máng xối đúc liền một mảnh, không có
đường nối. Để phục vụ mục đích ăn
uống, không dùng chì làm mối hàn
máng xối và không dùng máng xối kim
loại cũ. Nước mưa axít có thể hoà tan
chì và làm nhiễm bẩn cấp nước.
Hình 3- Máng xối
Vật liệu làm máng xối và ống xối phổ biến nhất là PVC, nhựa dẻo, ống nhôm đúc,
thép tráng kẽm. Máng xối bằng ống nhôm đúc đắt hơn so với các loại vật liệu khác. Ngoài
vật liệu, các thành phần cần thiết khác đối với máng xối nằm ngang là chỗ thoát nước từ
máng xối xuống dưới và ít nhất hai co 45o để gắn ống xối với tường nhà.
Kích thước và lắp đặt máng xối
Khi sử dụng mái nhà làm bề mặt hứng nước mưa, chú ý rằng mái nhà có một hoặc
nhiều “thung lũng”. Một thung lũng mái xuất hiện ở nơi hai mái nhà gặp nhau. Phụ thuộc
vào kích thước của diện tích mái, độ dốc mái và cường độ mưa, phần của máng xối nằm ở
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×