Tải bản đầy đủ

KHẢO SÁT MÔ HÌNH BỆNH TẬT CHUYỂN TUYẾN TẠI KHOA NHI – BỆNH VIỆN BÌNH THẠNH NĂM 2016 - 2018

ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH
BỆNH VIỆN QUẬN BÌNH THẠNH
------------

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
(CẤP CƠ SỞ)

KHẢO SÁT
MÔ HÌNH BỆNH TẬT CHUYỂN TUYẾN
TẠI KHOA NHI – BỆNH VIỆN BÌNH THẠNH
NĂM 2016 - 2018

Tên chủ nhiệm 1 : BSCK1. Nguyễn Thị Thanh Hoa
Tên chủ nhiệm 2 : BSCK1. Vũ Thị Ngọc Mai

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2019


MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ........................................................................... 4
1.

Mục tiêu tổng quát: ............................................................................... 4

2.

Mục tiêu cụ thể:..................................................................................... 4

Chương 1: TỔNG QUAN Y VĂN................................................................. 5
VÀI NÉT CHUNG VỀ QUẬN BÌNH THẠNH ............................................ 6
ĐẶC ĐIỂM KHOA NHI - BỆNH VIỆN BÌNH THẠNH ............................ 7
ĐẠI CƯƠNG: .................................................................................................. 9
3.

Một số khái niệm: .................................................................................. 9

4.

Thủ tục khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế:.................................... 10

5.
6.
7.

Quyền của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế:..................... 11
Nguyên tắc phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh: ....................................................................... 11
Các tuyến chuyên môn kỹ thuật: ......................................................... 11

8.

Chuyển tuyến điều trị: ......................................................................... 13

9.

Các hình thức chuyển tuyến: ............................................................... 13

10. Điều kiện chuyển tuyến: ...................................................................... 13
11. Thủ tục chuyển tuyến: ......................................................................... 15


THỰC TRẠNG QUÁ TẢI BỆNH VIỆN .................................................... 16
MÔ HÌNH BỆNH TẬT HIỆN NAY ............................................................ 20
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................. 24
12. Thiết kế nghiên cứu: ............................................................................ 25
13. Đối tượng nghiên cứu: ........................................................................ 25
14. Cỡ mẫu: lấy trọn ................................................................................. 25
15. Địa điểm, thời gian nghiên cứu: ......................................................... 25
16. Liệt kê và định nghĩa biến số: ............................................................. 25
17. Thu thập dữ kiện: ................................................................................ 26
18. Xử lý và phân tích dữ kiện: ................................................................. 26
19. Vấn đề Y đức: ...................................................................................... 26
20. Điều kiện cơ sở vật chất:..................................................................... 26
Chương 3: KẾT QUẢ.................................................................................... 27

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


Chương 4: BÀN LUẬN ................................................................................. 49
KẾT LUẬN ................................................................................................... 52
KIẾN NGHỊ ................................................................................................... 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO. ........................................................................... 54

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BHYT

: Bảo hiểm y tế

BYT

: Bộ Y tế

BV

: Bệnh viện

BVC

: Bệnh viện Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới Quảng Bình

BVBMTE

: Bảo vệ bà mẹ trẻ em

CP

: Chính phủ

CSSKBĐ

: Chăm sóc sức khỏe ban đầu

CT-BYT

: Chỉ thị Bộ y tế

KBCB

: Khám bệnh, chữa bệnh

KH-BV

: Kế hoạch bệnh viện

KHHGĐ

: Kế hoạch hóa gia đình



: Nghị định

NKHHCT

: Nhiễm khuẩn hô hấp cấp trên



: Quyết định

QĐ-TTg

: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

TT

: Thông tư

TTB

: Trang thiết bị

TYT

: Trạm y tế

UBND

: Ủy ban nhân dân

UNICEF

: Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc

WHO

: Tổ chức Y tế thế giới

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


-1-

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhi khoa là một ngành của Y học chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe
trẻ em từ lúc mới sinh cho đến 14-21 tuổi, tùy thuộc vào mỗi Quốc gia. Ở Việt
Nam Nhi khoa chăm sóc sức khỏe cho trẻ em từ Sơ sinh đến 16 tuổi. Nhi khoa
khác biệt với Y học người lớn về nhiều lĩnh vực. Sự khác biệt về kích thước cơ
thể tương ứng sự khác biệt về sự trưởng thành. Các bác sĩ Nhi khoa chuyên
ngành phải được đào tạo thêm về các chuyên khoa. Hành nghề chuyên khoa
trong Nhi khoa tương tự như một số lĩnh vực hành nghề các chuyên khoa của
người lớn, nhưng có sự khác biệt lớn về mô hình bệnh tật.
Chiến lược chăm sóc sức khỏe ban đầu đã được Tổ chức Y tế Thế giới
đề ra tại Hội Nghị Alma- Ata vào năm 1978 nhằm thực hiện mục tiêu “Sức khỏe
cho mọi người năm 2000”, nhiều quốc gia đã chấp nhận và thực hiện có kết quả.
Việt Nam chúng ta cũng đã thực hiện và từng bước thành công. Trong lĩnh vực
nhi khoa Bộ Y Tế cũng đã vận dụng CSSKBĐ của WHO vào việc chăm sóc sức
khỏe trẻ em đồng thời Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) cũng đã đề
xướng CSSKBĐ cho trẻ em.
Trong những năm gần đây, tình hình chăm sóc sức khỏe trẻ em ngày
càng được nâng cao. Tỷ lệ trẻ bệnh được chăm sóc tại các cơ sở y tế ngày càng
tăng do:


Trình độ dân trí ngày càng cao.



Ý thức về chăm sóc sức khỏe và lòng tin vào các cơ sở y tế của phụ

huynh


Các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với trẻ em ngày càng nhiều,

nhất là đối với những trẻ < 6 tuổi.


Giáo dục truyền thông về sức khỏe đã có kết quả nhất định



Cơ sở vật chất, thuốc và nhân lực ngày càng đầy đủ và tốt hơn.

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


-2−

Những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, các phương pháp chữa bệnh mới và

nhiều loại vắc xin phòng bệnh mới được sản xuất góp phần làm thay đổi mô
hình bệnh tật từ trước đến nay.
Mô hình bệnh tật của một quốc gia, một cộng đồng là sự phản ánh tình
hình sức khỏe, tình hình kinh tế-xã hội của quốc gia hay cộng đồng đó. Việc xác
định mô hình bệnh tật, mô hình chuyển viện là việc làm hết sức cần thiết, nó
giúp cho ngành y tế, cho bệnh viện xây dựng kế hoạch chăm sóc sức khỏe nhân
dân một cách toàn diện.
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu về khám chữa bệnh của nhân dân ngày
càng cao, vấn đề chăm sóc sức khỏe cũng có nhiều thay đổi. Với trình độ dân trí
ngày càng được nâng cao, việc tiếp cận dễ dàng với các thông tin về bệnh tật, về
phương pháp chẩn đoán, điều trị mới, giao thông thuận lợi, người dân luôn
mong muốn, hỏi được chẩn đoán, điều trị bằng các kỹ thuật tốt hơn, được chăm
sóc vào thời điểm thuận lợi hơn, thái độ phục vụ ân cần, chu đáo, bệnh phòng
đầy đủ tiện nghi hơn, phương thức quản lý và chi trả viện phí giản tiện hơn, sẵn
sàng từ chối những dịch vụ y tế mà hiệu quả không rõ ràng, lựa chọn các sơ sở
khám, chữa bệnh mà bản thân cho là tốt hơn. Tâm lý chung của người bệnh nói
chung và người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế nói riêng ở tuyến dưới muốn chuyển
lên tuyến trên để điều trị. Do đó, tình trạng vượt tuyến ngày càng nhiều gây ra
lãng phí tốn kém cho người bệnh và gia đình người bệnh cũng như dẫn đến tình
trạng quá tải cho các bệnh viện tuyến trên. Các cơ sở khám, chữa bệnh đã và
đang nỗ lực để có thể từng bước đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của
người bệnh và cộng đồng.
Hiện nay các nghiên cứu, tổng kết về vấn đề chuyển tuyến chưa được đề
cập nhiều, chính vì vậy việc thực hiện nghiên cứu này là thực sự cần thiết. Kết
quả của đề tài sẽ giúp cho lãnh đạo các bệnh viện nắm được thực trạng của công
tác chuyển tuyến ở đơn vị mình về các thủ tục, điều kiện chuyển tuyến của
người bệnh đã làm tốt chưa, số lượng người bệnh chuyển tuyến như thế nào,

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


-3nhiều hay ít so với các đơn vị bạn, số ca chuyển đúng tuyến và vượt tuyến ra
sao.
Với các các cơ sở Khám và chữa bệnh thì người bệnh là trung tâm,
không có người bệnh đến khám và chữa bệnh, họ cứ xin chuyển viện đến các
tuyến cao hơn thì sẽ ảnh hưởng nhiều đến các đơn vị đó về nhiều lĩnh vực như
vỡ quỹ khám chữa bệnh, gây quá tải cho các bệnh viện tuyến trên.... Bên cạnh
đó đề tài này giúp lãnh đạo bệnh viện có biện pháp khắc phục và hạn chế số
lượng người bệnh phải chuyển tuyến trên. Từ đó người bệnh được hưởng các
dịch vụ khám và chữa bệnh ngay tại cơ sở, giảm thời gian nằm viện, giảm chi
phí điều trị và một phần nào đó sẽ làm giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên.
Xác định được tầm quan trọng của công tác chuyển tuyến chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại Khoa
Nhi bệnh viện Bình Thạnh năm 2016 - 2018. Qua đó:
● Giúp cho lãnh đạo bệnh viện nắm được thực trạng của công tác
chuyển tuyến ở đơn vị từ đó đưa ra biện pháp khắc phục và kiểm soát
tình hình chuyển viện tại cơ sở.
● Định hướng phát triển của Bệnh viện nói chung và khoa Nhi nói
riêng trong thời gian tới. Chuẩn bị cơ số thuốc, trang thiết bị, vật tư y tế,
danh mục kỹ thuật, và nhân sự phù hợp. Tập huấn đào tạo tại chỗ, ngoài
bệnh viện, ngắn hạn hoặc trung, dài hạn cho bác sĩ, điều dưỡng khoa
Nhi.
● Thu dung điều trị một số bệnh nhằm nâng cao năng lực tại chỗ, giảm
tỷ lệ chuyển viện, giảm chi phí nguồn quỹ BHYT của bệnh viện do phải
chi trả cho điều trị tuyến trên, góp phần giảm tải cho tuyến trên, giảm
thời gian và chi phí khám chữa bệnh, tránh gây phiền hà cho người bệnh,
tăng chất lượng dịch vụ y tế, tăng sự hài lòng của người bệnh đối với
bệnh viện .

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


-4MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.

Mục tiêu tổng quát:



Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển viện tại khoa Nhi – Bệnh viện Bình

Thạnh từ 01/01/2016 đến 31/12/2018.
2.

Mục tiêu cụ thể:



Xác định mô hình chuyển tuyến tại khoa Nhi.



Khảo sát sự dao động lượng bệnh nhi đến khám chuyển viện trong các

năm.


Khảo sát tỷ lệ các nhóm bệnh chuyển viện trong các năm.

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


-5-

Chương 1:

TỔNG QUAN Y VĂN

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


-6VÀI NÉT CHUNG VỀ QUẬN BÌNH THẠNH
Quận Bình Thạnh nằm ở hướng đông của thành phố, phía nam giáp quận
1, phía tây giáp các quận 3, quận Phú Nhuận, quận Gò Vấp, phía đông giáp sông
Sài Gòn (bên kia sông là quận Thủ Đức). Diện tích 2.056 ha.
Cùng với sông Sài Gòn, quận Bình Thạnh còn có các hệ thống kênh
rạch: Thị Nghè, Cầu Bông, Văn Thánh, Thanh Đa, Hố Tàu, Thủ Tắc … do đó
những hộ dân sống ven sông, trên các kênh rạch này vẫn còn sử dụng nước sông
rạch làm nước sinh hoạt hằng ngày và vẫn còn tình trạng vứt rác, làm các cầu
thống nước thải, cầu tiêu trên sông. Đây là điều kiện thuận lợi làm cho các bệnh
truyền nhiễm: sốt xuất huyết, tiêu chảy cấp … khó có thể kiểm soát được.
Theo thống kê năm 2009 dân số trên địa bàn Quận là 451.526 người, tỉ lệ
trẻ từ 0 – 16 tuổi chiếm khoảng hơn 25% .Có 21 dân tộc, đa số là người Kinh
Hiện nay nền kinh tế công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp
– dịch vụ - du lịch là nền kinh chủ yếu của quận Bình Thạnh nhưng vẫn còn một
bộ phận người dân vẫn còn làm nông nghiệp, tập trung chủ yếu ở các phường
13, 27, 28.
Trên địa bàn quận có hai bệnh viện lớn do Thành phố quản lý là bệnh
viện Nhân Dân Gia Định và bệnh viện Ung Bướu

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


-7ĐẶC ĐIỂM KHOA NHI - BỆNH VIỆN BÌNH THẠNH
Thực hiện quyết định số 11/2007/QĐ-UBND ngày 23/01/2007 của
UBND TP Hồ Chí Minh về việc thành lập Bệnh viện Bình Thạnh trực thuộc
UBND quận Bình Thạnh, bệnh viện Bình Thạnh được thành lập trên cơ sở sắp
xếp lại Trung tâm y tế quận Bình Thạnh trước đây. Quyết định số 10/2007/QĐUBND Ngày 11/04/2007 của UBND quận Bình Thạnh về việc ban hành quy chế
tổ chức và hoạt động của bệnh viện Bình Thạnh. Bệnh viện Bình Thạnh bắt đầu
bước vào hoạt động với mô hình bệnh viện hạng II. Khoa Nhi cũng đã bắt đầu
thành lập từ đó trên cơ sở tách ra từ Phòng Sức khỏe trẻ em thuộc Đội
BVBMTE và KHHGĐ.
Căn cứ kế hoạch số 400/KH-BV ngày 04 tháng 7 năm 2016 của bệnh
viện quận Bình Thạnh về định hướng phát triển chuyên môn bệnh viện giai đoạn
2016-2020.
Theo kế hoạch số 1015/KH-BV ngày 09 tháng 11 năm 2018 của bệnh
viện quận Bình Thạnh thì định hướng phát triển chuyên môn lĩnh vực khoa nhi
hoạt động theo mô hình ngoại trú, bảo đảm năng lực khám, cấp cứu chuyển viện
kịp thời (viêm não màng não, não mô cầu, sốc sốt xuất huyết, tay chân miệng độ
2b…), điều trị bệnh cấp tính ở trẻ nhỏ tại cộng đồng, các dịch bệnh chưa biến
chứng.
Hiện nay, Khoa Nhi hoạt động với mô hình phòng khám, chăm sóc và
điều trị ban ngày cho trẻ em có thẻ BHYT, cũng như những trẻ không có thẻ
BHYT từ 0 – 16 tuổi với:




Nhân sự:


6 bác sĩ Chuyên khoa I Nhi.



6 điều dưỡng.

Cơ sở vật chất:


04 phòng khám BHYT.



02 phòng khám tự chọn theo yêu cầu.



05 giường chăm sóc và điều trị ban ngày.

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


-8●



01 khu vực thủ thuật.

Thời gian làm việc :


7 ngày trong tuần



Thời gian:
o Từ thứ 2 đến thứ 6:


Sáng từ 7giờ00 đến 11giờ30



Chiều từ 13giờ00 đến 18giờ00

o Thứ 7 và Chủ nhật:


Sáng từ 7giờ00 đến 11giờ30



Chiều từ 13giờ00 đến 16giờ00

o Khám sàng lọc cấp cứu nhi theo yêu cầu công việc: đến 21 giờ
các ngày trong tuần.

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


-9ĐẠI CƯƠNG:
Ở Việt Nam, Bộ Y tế phân chia theo trình độ chuyên môn, kỹ thuật gồm
4 tuyến: tuyến Trung ương (Tuyến 1), tuyến tỉnh (Tuyến 2), tuyến huyện (Tuyến
3) và tuyến cơ sở (Tuyến 4). Trong đó, tuyến trung ương chỉ đạo tuyến tỉnh,
tuyến tỉnh chỉ đạo tuyến huyện, tuyến huyện chỉ đạo tuyến xã.
Với cách phân tuyến chuyên môn, kỹ thuật như vậy, trong quá trình điều
trị và chăm sóc người bệnh, nếu bệnh của họ không phù hợp với năng lực chẩn
đoán và điều trị, danh mục kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền về y tế phê duyệt hoặc phù hợp nhưng do điều
kiện khách quan, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó không đủ điều kiện để chẩn
đoán và điều trị thì sẽ chuyển người bệnh lên tuyến liền kề theo trình tự: tuyến 4
chuyển lên tuyến 3, tuyến 3 chuyển lên tuyến 2 và tuyến 2 chuyển lên tuyến 1.
Với người bệnh có thẻ BHYT cũng được chuyển theo nguyên tắc tương tự: từ
tuyến khám chữa bệnh ban đầu lên tuyến liền kề.
3.

Một số khái niệm:



Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể,

khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để
chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận.


Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được

công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục
hồi chức năng cho người bệnh.


Người bệnh là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.



Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà

nước có thẩm quyền cấp cho người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của
Luật này (sau đây gọi chung là chứng chỉ hành nghề).


Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà

nước có thẩm quyền cấp cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện hoạt
động theo quy định của Luật này (sau đây gọi chung là giấy phép hoạt động).
“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


- 10 −

Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là người đã được cấp chứng chỉ

hành nghề và thực hiện khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi chung là người hành
nghề).


Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp

giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.


Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm

sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện.


Quỹ bảo hiểm y tế là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng bảo

hiểm y tế và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí khám
bệnh, chữa bệnh cho ngừời tham gia bảo hiểm y tế, chi phí quản lý bộ máy của
tổ chức bảo hiểm y tế và những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan đến bảo
hiểm y tế.


Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu là cơ sở khám bệnh,

chữa bệnh đầu tiên theo đăng ký của người tham gia bảo hiểm y tế và được ghi
trên thẻ bảo hiểm y tế.


Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế là cơ sở y tế có ký hợp đồng

khám bệnh, chữa bệnh với tổ chức bảo hiểm y tế.
4.

Thủ tục khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế:



Khi đi khám bệnh, chữa bệnh phải xuất trình thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT)

còn giá trị sử dụng và giấy tờ tùy thân có ảnh hợp lệ. Đối với trẻ em dưới 6 tuổi
chỉ xuất trình thẻ BHYT còn giá trị sử dụng.


Trường hợp cấp cứu, người tham gia bảo hiểm y tế được khám bệnh,

chữa bệnh tại bất kỳ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào và phải xuất trình thẻ bảo
hiểm y tế cùng với giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này trước khi ra viện.


Trường hợp chuyển tuyến điều trị: Được chuyển tuyến chuyên môn kỹ

thuật theo quy định trong trường hợp cơ sở KCB BHYT vượt quá khả năng điều
trị hoặc các dịch vụ kỹ thuật đơn vị không triển khai thực hiện. Người bệnh phải

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


- 11 xuất trình thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) còn giá trị sử dụng và giấy tờ tùy thân có
ảnh hợp lệ và giấy chuyển viện của cơ sở KCB chuyển tuyến.

5.

Quyền của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế:



Yêu cầu tổ chức bảo hiểm y tế cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin

có liên quan đến người tham gia bảo hiểm y tế, kinh phí khám bệnh, chữa bệnh
cho người tham gia bảo hiểm y tế tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.


Được tổ chức bảo hiểm y tế tạm ứng kinh phí và thanh toán chi phí khám

bệnh, chữa bệnh theo hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh đã ký.


Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tổ chức, cá nhân vi

phạm pháp luật về bảo hiểm y tế.
6.

Nguyên tắc phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở

khám bệnh, chữa bệnh:


Phân tuyến chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh (Phân

tuyến kỹ thuật) là phân loại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thành các tuyến chuyên
môn kỹ thuật quy định tại Điều 81 của Luật khám bệnh, chữa bệnh.


Căn cứ vào yêu cầu về phạm vi hoạt động chuyên môn, quy mô hoạt

động, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực và năng lực thực hiện kỹ
thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để phân tuyến chuyên môn, kỹ thuật.


Việc phân tuyến chuyên môn kỹ thuật không làm hạn chế sự phát triển

kỹ thuật của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
7.

Các tuyến chuyên môn kỹ thuật:



Tuyến trung ương (tuyến 1) bao gồm các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

sau đây:


Bệnh viện hạng đặc biệt



Bệnh viện hạng I trực thuộc Bộ Y tế

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


- 12 ●

Bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc

Trung ương (sau đây viết tắt là Sở Y tế) hoặc thuộc các Bộ, ngành khác
được Bộ Y tế giao nhiệm vụ là tuyến cuối về chuyên môn kỹ thuật


Tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (tuyến 2) bao gồm các cơ

sở khám bệnh, chữa bệnh sau đây:


Bệnh viện xếp hạng II trở xuống trực thuộc Bộ Y tế



Bệnh viện hạng I, hạng II trực thuộc Sở Y tế hoặc thuộc các Bộ,

ngành khác, trừ Bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương.


Tuyến huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (tuyến 3) bao gồm

các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau đây:


Bệnh viện hạng III, hạng IV, bệnh viện chưa xếp hạng, trung tâm y

tế huyện có chức năng khám bệnh, chữa bệnh ở những địa phương chưa
có bệnh viện huyện, bệnh xá công an tỉnh.



Phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa, nhà hộ sinh.

Tuyến xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là tuyến 4) bao gồm các cơ sở

khám bệnh, chữa bệnh sau đây:





Trạm y tế xã, phường, thị trấn



Trạm xá, trạm y tế của cơ quan, đơn vị, tổ chức



Phòng khám bác sĩ gia đình.

Phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư

nhân:


Căn cứ năng lực thực hiện kỹ thuật, phạm vi hoạt động chuyên

môn, hình thức tổ chức, quy mô hoạt động, điều kiện cơ sở vật chất,
trang thiết bị, nhân lực của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, cơ
quan nhà nước có thẩm quyền (Bộ Y tế hoặc Sở Y tế) cấp giấy phép hoạt
động cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân quyết định (bằng văn
bản) tuyến chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư
nhân phù hợp với quy định của Thông tư 14/2014/TTBYT.

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


- 13 8.

Chuyển tuyến điều trị:



Theo Nghị định số 146/2018/NĐ-CP của Chính Phủ, quy định chi tiết và

hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của luật bảo hiểm y tế.


Theo công văn số 1114/BV của bệnh viện Bình Thạnh về việc triển khai

một số nội dung Nghị định 146/2018/NĐ-CP.


Trường hợp vượt quá khả năng chuyên môn kỹ thuật thì cơ sở khám

bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế có trách nhiệm chuyển người bệnh kịp thời đến
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế khác theo quy định về chuyển tuyến
chuyên môn kỹ thuật.
9.

Các hình thức chuyển tuyến:



Chuyển người bệnh từ tuyến dưới lên tuyến trên:


Chuyển người bệnh từ tuyến dưới lên tuyến trên liền kề theo trình

tự: tuyến 4 chuyển lên tuyến 3, tuyến 3 chuyển lên tuyến 2, tuyến 2
chuyển lên tuyến 1.


Chuyển người bệnh không theo trình tự quy định tại Điểm a khoản

này nếu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng đủ điều kiện theo quy định
tại Điểm b khoản 1 Điều 5 thông tư 14/2014/ TT-BYT ngày 14/4/2014.


Chuyển người bệnh từ tuyến trên về tuyến dưới.



Chuyển người bệnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong cùng

tuyến.
10. Điều kiện chuyển tuyến:



Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyển ngừời bệnh từ tuyến dưới lên tuyến

trên khi đáp ứng các điều kiện sau:


Bệnh không phù hợp với năng lực chẩn đoán và điều trị, danh mục

kỹ thuật của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cơ quan Nhà nước

Thẩm quyền về Y tế phê duyệt hoặc bệnh phù hợp với năng lực chẩn
đoán và điều trị, danh mục kỹ thuật của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


- 14 đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về Y tế phê duyệt nhưng do
điều kiện khách quan, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó không đủ điều
kiện để chẩn đoán và điều trị.


Căn cứ vào danh mục kỹ thuật đã được cơ quan Nhà nước có thẩm

quyền về Y tế phê duyệt, nếu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên
liền kề không có dịch vụ kỹ thuật phù hợp thì cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh tuyến dưới được chuyển lên tuyến cao hơn.


Trước khi chuyển tuyến người bệnh phải được hội chẩn và có chỉ

định chuyển tuyến trừ phòng khám và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
tuyến 4.


Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyển người bệnh từ tuyến trên về tuyến

dưới phù hợp khi người bệnh đã được chẩn đoán và điều trị qua giai đoạn cấp
cứu, xác định tình trạng bệnh đã thuyên giảm, có thể tiếp tục điều trị ở tuyến
dưới.


Điều kiện chuyển người bệnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cùng

tuyến:


Bệnh không phù hợp với danh mục kỹ thuật của các cơ sở khám

bệnh, chữa bệnh đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về Y tế phê
duyệt hoặc bệnh phù hợp với danh mục kỹ thuật của các cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về Y tế phê
duyệt nhưng do điều kiện khách quan, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó
không đủ điều kiện để chẩn đoán và điều trị.


Bệnh phù hợp với danh mục kỹ thuật của các cơ sở khám bệnh,

chữa bệnh cùng tuyến dự kiến chuyển đến đã được cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền về Y tế phê duyệt.


Chuyển tuyến giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên các địa bàn

giáp ranh để bảo đảm điều kiện thuận lợi cho người bệnh:


Giám đốc Sở Y tế hướng dẫn cụ thể việc chuyển tuyến đối với các

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn giáp ranh trong tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương thuộc thẩm quyền quản lý.
“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


- 15 ●

Giám đốc các Sở Y tế thống nhất, phối hợp cụ thể việc chuyển

tuyến đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn giáp ranh
giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc thẩm quyền quản
lý.


Khái niệm chuyển đúng tuyến, vượt tuyến: Các trường hợp chuyển

người bệnh theo Quy định tại các mục trên của điều kiện chuyển tuyến
gọi là chuyển đúng tuyến và ngược lại gọi là vượt tuyến.
11. Thủ tục chuyển tuyến:



Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện chuyển tuyến tuân theo các thủ

tục sau:


Thông báo và giải thích rõ lý do chuyển tuyến cho người bệnh hoặc

người đại diện hợp pháp của người bệnh


Ký giấy chuyển tuyến theo mẫu quy định;



Trường hợp người bệnh cấp cứu, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần

liên hệ với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh dự kiến chuyển đến, kiểm tra
lần cuối cùng tình trạng người bệnh trước khi chuyển, chuẩn bị sẵn sàng
phương tiện để cấp cứu người bệnh trên đường vận chuyển;


Trường hợp người bệnh cần sự hỗ trợ kỹ thuật của cơ sở khám

bệnh, chữa bệnh dự kiến chuyển người bệnh đến, cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh chuyển người bệnh đi phải thông báo cụ thể về tình trạng người
bệnh và những yêu cầu hỗ trợ để cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi
chuyển đến có biện pháp xử trí phù hợp.


Giao giấy chuyển tuyến cho người hộ tống hoặc người bệnh hoặc

người đại diện hợp pháp của người bệnh để chuyển tới cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh dự kiến chuyển đến.


Bàn giao người bệnh, giấy chuyển tuyến cho cơ sở khám bệnh,

chữa bệnh nơi chuyển đến.


Thông tin về chuyển tuyến được các cơ sở y tế chuyển đi và nơi

nhận người bệnh chuyển đến lưu giữ theo quy định của Bộ Y tế.

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


- 16 THỰC TRẠNG QUÁ TẢI BỆNH VIỆN:


Vấn đề quá tải ở bệnh viện tuyến trên trong nhiều năm qua đã và đang là

vấn đề nổi cộm: 2 - 3 người bệnh chung một giường là tình trạng diễn ra ở nhiều
bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh, công suất giường bệnh lên tới 120160%, đặc biệt tại các bệnh viện Trung ương ở hai thành phố lớn đối với các
chuyên khoa ung bướu, tim mạch, ngoại chấn thương, sản, nhi, đa khoa như: K,
Bạch Mai, Chợ Rẫy, Nhi Trung ương, Phụ sản Trung ương, bệnh viện Từ Dũ,
Ung bướu, Nhi đồng 1, Nhi đồng 2…công suất sử dụng giường vượt 165%,
thậm trí trên 200%.


Để giải quyết các bất cập nêu trên, trong nhiều năm qua ngành y tế đã có

nhiều giải pháp, tăng cường hoạt động chỉ đạo tuyến, đào tạo, chuyển giao kỹ
thuật nhằm không ngừng nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tuyến dưới
là một trong các giải pháp quan trọng


Nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế trong những năm gần đây đã được

Bộ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh bao gồm: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về
y tế; tập trung thực hiện Đề án giảm quá tải bệnh viện, Đề án 1816, Bệnh viện
vệ tinh, Bác sĩ gia đình; Nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh và sự hài
lòng của người bệnh; Khẩn trương triển khai Đề án thực hiện lộ trình tiến tới
BHYT toàn dân; Thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ, viên chức
ngành y tế; Chủ động giám sát dịch tễ để phát hiện, phòng chống sớm, không để
các dịch bệnh lớn xảy ra, đặc biệt là các bệnh dịch mới phát sinh; Triển khai
thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, DS-KHHGĐ,
HIV/AIDS, an toàn thực phẩm; Đẩy mạnh hoạt động quản lý môi trường y tế;
Phối hợp thực hiện nghiêm các cơ chế, chính sách kiểm soát an toàn thực phẩm;
Tập trung giảm sinh ở vùng có mức sinh cao, duy trì mức sinh thấp hợp lý;
Giảm tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh; Mở rộng sàng lọc trước sinh, sàng lọc
sơ sinh, tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân; Đổi mới cơ chế hoạt động, cơ
chế tài chính của các bệnh viện công, gắn với nâng cao chất lượng dịch vụ; Bảo
đảm đủ thuốc thiết yếu phục vụ công tác điều trị; Kiểm soát việc đấu thầu, sử
“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


- 17 dụng thuốc; giá thuốc, chất lượng thuốc chữa bệnh; Nâng cao hiệu quả công tác
thông tin, giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi về CSSK; Cải cách hành
chính trong quy trình cấp phép chứng chỉ hành nghề y dược, cấp phép đăng ký
lưu hành thuốc; Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý.


Thời gian qua Ngành Y tế đã nỗ lực nhiều trong công tác bảo vệ và chăm

sóc sức khỏe nhân dân, tuy nhiên Ngành đang đứng trước thử thách lớn là “chất
lượng dịch vụ y tế, y đức, công bằng, chi phí y tế và đặc biệt là quá tải bệnh
nhân tại các bệnh viện”, mà các cấp lãnh đạo trong và ngoài Ngành rất quan
tâm. Y tế nhà nước hiện nay chiếm 96,5% trong tổng số BV, trong đó BV hạng
1 và hạng 2 chỉ có 10,7%, đây là những BV thường xuyên bị quá tải, như Thủ
tướng chính phủ phát biểu ngày 13/06/2004: “Vấn nạn lớn của Ngành y tế hiện
nay là quá tải bệnh nhân tại bệnh viện”. Tuyến trên quá tải bệnh nhân, trong khi
đó tuyến y tế cơ sở chưa đạt chỉ tiêu, hệ quả của cả hai tuyến sẽ tụt hậu so với xu
hướng chung của y tế thế giới.


Trong kết quả báo cáo tổng quan ngành y tế, Bộ Y tế cũng đã tổng kết

Đề án giảm quá tải bệnh viện giai đoạn 2013-2020 đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt. Bộ Y tế cũng đã phê duyệt đề án bệnh viện vệ tinh và đề án Bác
sĩ gia đình. Năm 2012, cả nước đã tăng thêm 14269 giường bệnh, kế hoạch đạt
tỷ lệ 22,4 giường trên 10000, tăng 1,4 giường so với năm 2011. Số lượt khám
bệnh và điều trị nội trú tăng lần lượt 6,8 và 6,0%; số ngày điều trị trung bình
giảm nhẹ từ 7,1 xuống 7,0. Công suất sử dụng giường bệnh chung các tuyến
giảm từ 100,5% xuống còn 99,4%.


Tiếp tục thực hiện quy hoạch mạng lưới bệnh viện theo Quyết định

30/2008/QĐ-TTg và đang hoàn thiện quy hoạch phát triển ngành y tế. Triển khai
các đề án nâng cấp cơ sở vật chất, TTB, chủ yếu ở tuyến y tế cơ sở. Gắn đầu tư
nâng cấp các TYT xã đạt tiêu chí quốc gia với Chương trình mục tiêu quốc gia
Xây dựng nông thôn mới. Thực hiện các biện pháp tăng cường năng lực cán bộ
y tế, quy định chức năng nhiệm vụ của y tế thôn bản. Năm 2012 đã cấp phép cho

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


- 18 5 bệnh viện tư nhân mới, cấp 45.415 chứng chỉ hành nghề và cấp giấy phép hoạt
động cho 3000 đơn vị (16% kế hoạch đến năm 2015).


Triển khai Chỉ thị số 05/CT-BYT về nâng cao chất lượng dịch vụ KCB;

ban hành các thông tư hướng dẫn quản lý chất lượng dịch vụ KCB, hướng dẫn
quản lý chất lượng xét nghiệm và triển khai đào tạo đội ngũ giảng viên về quản
lý chất lượng xét nghiệm.


Bộ Y tế đã ban hành nhiều tiêu chuẩn chuyên môn trong lĩnh vực KCB;

đang xây dựng quy định về quy trình KCB và quy định chuyển tuyến; cập nhật
bổ sung hơn 1000 quy trình kỹ thuật trong KCB, đang nghiệm thu 2000 quy
trình kỹ thuật mới. Xây dựng và thí điểm hàng trăm quy trình hướng dẫn KCB ở
tuyến xã trong năm 2013.


Với rất nhiều những kết quả và tiến bộ đã nêu trên, Bộ Y tế đã cố gắng

để giảm tải bệnh viện, nỗ lực để không có hiện tượng bệnh nhân nằm ghép, quá
tải ở tuyến trên. Tuy nhiên, số giường bệnh tăng chưa theo kịp sự gia tăng về số
lượt khám và điều trị nên tình trạng quá tải vẫn chưa được cải thiện đáng kể.
Công suất sử dụng giường bệnh tuyến trung ương còn cao, đặc biệt ở chuyên
khoa ung bướu, nhi, tim mạch, phụ sản, nội tiết. Quy định về chức năng nhiệm
vụ của các đơn vị y tế tuyến huyện còn nhiều bất cập. Điều kiện bảo đảm hoạt
động ở tuyến dưới (nhân lực, TTB, cơ sở hạ tầng) còn gặp khó khăn. Chất lượng
dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu. Các văn bản quy phạm pháp luật, công cụ chính
sách về chất lượng dịch vụ y tế chưa hoàn thiện. Chưa triển khai việc kiểm định
chất lượng KCB. Nhiều dịch vụ kỹ thuật và hướng dẫn chuyên môn còn thiếu và
chưa được cập nhật thường xuyên, thiếu cơ chế tham gia của hội chuyên ngành.
Thiếu các tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả. Hoạt động kiểm tra giám sát
còn hạn chế, thiếu hệ thống giám sát mang tính chất dự phòng. Thiếu thông tin
thường quy cho các chỉ số theo dõi, đánh giá. Những khó khăn, hạn chế này vẫn
làm cho các bệnh viện công lập, nhất là bệnh viện tuyến cơ sở còn chưa được
người dân tin tưởng, tìm đến. Các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương luôn
phải tiếp nhận số lượng bệnh nhân nhiều hơn khả năng đáp ứng dẫn tới quá tải
“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


- 19 bệnh viện tuyến trên, trong khi các bệnh viện tuyến dưới chưa hoạt động đủ
công suất giường bệnh.


Một nghiên cứu về tình hình chuyển tuyến sơ sinh từ các cơ sở y tế đến

khoa cấp cứu bệnh viện nhi đồng I của tác giả Hoàng Trọng Kim tại Thành phố
Hồ Chí Minh cho thấy số bệnh nhân được chuyển từ các tỉnh gấp 2,5 lần bệnh
nhân ở thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có 68,5% được chuyển từ bệnh viện
tỉnh, chủ yếu từ các phòng sinh của các khoa sản, khoa Nhi của bệnh viện đa
khoa.


Một nghiên cứu về thực trạng chuyển tuyến của các bệnh nhân bảo hiểm

y tế từ bệnh viện huyện lên bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình có tới 95,8% bệnh
nhân được chuyển đúng tuyến. Báo cáo của Cục quản lý Khám chữa Bệnh báo
cáo 85,02%, đây là một tỷ lệ khá cao bệnh nhân được chuyển đúng tuyến. Việc
được chuyển đúng tuyến sẽ giúp bệnh nhân được hưởng các quyền lợi của bảo
hiểm y tế nhưng đồng thời cũng làm cho bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình ngày
càng quá tải.


Theo nghiên cứu của tác giả Phùng Thị Hồng Hà và cộng sự , đánh giá

sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ y tế tại Bệnh viện Việt Nam - Cu Ba
Đồng Hới Quảng Bình (BVC) cho thấy đa số bệnh nhân có xu hướng chuyển đi
các bệnh viện tuyến cao hơn (từ Quảng Bình vào Huế). Tìm hiểu nguyên nhân
của vấn đề này, tác giả đã cho thấy sự khác biệt về chất lượng dịch vụ y tế tại
BVC và bệnh viện Trung ương Huế với độ tin cậy khá cao. Đa số người bệnh
đánh giá rất cao chất lượng dịch vụ của bệnh viện Trung ương Huế và luôn có
xu hướng chuyển đến đây điều trị dù có vượt tuyến. Một nguyên nhân khác cũng
được đưa ra trong nghiên cứu, đó là chất lượng của đội ngũ cán bộ y tế của bệnh
viện và hiệu quả khám chữa bệnh, theo tác giả Phùng Thị Hồng Hà thì đây là
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng dòng bệnh nhân từ Quảng Bình vào
Huế để chữa bệnh ngày càng nhiều.

“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


- 20 MÔ HÌNH BỆNH TẬT HIỆN NAY


Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hóa đang diễn ra ở

nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, cơ cấu bệnh tật tử vong toàn cầu đã
có sự chuyển dịch. Mô hình bệnh tật thay đổi do sự biến đổi khí hậu, quá trình
phát triển công nghiệp hóa, sự ô nhiễm môi trường.


Tất cả quốc gia trên thế giới đều phải đối mặt với gánh nặng bệnh tật kép

là bệnh lây nhiễm và bệnh không lây nhiễm. Trong khi tỷ lệ mắc các bệnh lây
nhiễm giảm thì tỷ lệ mắc các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, đái tháo
đường, ung thư, rối loạn tâm thần… lại gia tăng đến mức báo động.


Theo WHO, hơn 90% trẻ em chết dưới 5 tuổi là ở các nước đang phát

triển. Nguyên nhân chủ yếu là chết sơ sinh, viêm phổi và tiêu chảy. Những
nguyên nhân này có thể phòng ngừa bằng vaccin.


Theo báo cáo của Bộ Y tế, mô hình bệnh tật nước ta phân loại theo ba

nhóm: nhiễm trùng, không nhiễm trùng và tai nạn thương tích.


Mô hình bệnh tật và tử vong của Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh

giống mô hình bệnh tật và tử vong của các nước kém phát triển theo đánh giá và
thống kê của WHO năm 2005.


Chiến lược chăm sóc sức khỏe ban đầu đã được Tổ chức Y tế Thế giới

đề ra tại Hội Nghị Alma- Ata vào năm 1978 nhằm thực hiện mục tiêu “Sức khỏe
cho mọi người năm 2000”, nhiều quốc gia đã chấp nhận và thực hiện có kết quả.
Việt Nam chúng ta cũng đã thực hiện và từng bước thành công. Trong lĩnh vực
nhi khoa Bộ Y Tế cũng đã vận dụng CSSKBĐ của TCYTTG vào việc chăm sóc
sức khỏe trẻ em đồng thời Quỷ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) cũng đã
đề xướng CSSKBĐ cho trẻ em.


Mục tiêu sức khỏe trẻ em từ nay đến năm 2020: Theo nghị quyết 37/CP

ngày 20/6/1996 của chính phủ, mục tiêu sức khỏe trẻ em đến năm 2000 và 2020
là:


Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi xuống 35 ‰ vào năm 2000 và 15 – 18

‰ vào năm 2020.
“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


- 21 ●

Hạ thấp tỷ lệ SDD của trẻ em dưới 5 tuổi xuống 30% vào năm 2000

và 15% vào năm 2020.


Phấn đấu chiều cao trung bình của nam đạt 165cm và nữ là 155cm

vào năm 2020.


Thanh toán các rối loạn do thiếu iode vào năm 2005, tỷ lệ bướu cổ

ở trẻ em 8 – 10 tuổi còn dưới 5%.


Thanh toán các bệnh bại liệt, uốn ván sơ sinh vào năm 2000.



Thanh toán cơ bản bệnh dại, sốt rét, tả, thương hàn, dịch hạch, viêm

gan B, viêm não Nhật Bản vào năm 2020. Trước mắt phải khống chế tớï
mức thấp nhất tỷ lệ mắc và chết các bệnh trên.


Mô hình bệnh tật của trẻ em nước ta chủ yếu là mô hình bệnh tật của

nước đang phát triển, đứng hàng đầu là các bệnh nhiễm khuẩn và suy dinh
dưỡng. Trong các bệnh nhiễm khuẩn đứng hàng đầu vẫn là các bệnh NKHHCT,
bệnh tiêu chảy cấp và một số bệnh dịch như sốt rét , sốt xuất huyết, thương hàn,
viêm gan do virus, viêm não...


Theo thống kê của Bộ Y Tế 2008 thì các bệnh mắc cao nhất ở nước ta

theo thứ tự là: Viêm phổi, viêm Amiđan và họng cấp, viêm phế quản và tiểu phế
quản, tiêu chảy, tăng huyết áp, sốt siêu vi, viêm dạ dày.


Công trình “Nghiên cứu thực trạng sức khỏe và mô hình bệnh tật trẻ em

Việt Nam đề xuất các biện pháp khắc phục” của GS – TS Nguyễn Thu Nhạn làm
chủ nhiệm đề tài thực hiện ở 10 tỉnh thành trong cả nước ở trẻ từ 10 – 15 tuổi
trong 2 năm 1998 – 1999 đưa ra các tổng kết sau:


Các bệnh nằm trong chương trình tiêm chủng đã giảm hẳn ở cộng

đồng và bệnh viện.


Các bệnh đường tiêu hóa, hô hấp có tỷ lệ cao nhất (tiêu hóa 34%,

hô hấp 33%), trong đó chủ yếu là bệnh viêm đường hô hấp trên, bệnh
răng miệng, tình hình bệnh suy dinh dưỡng, bệnh hô hấp do thiếu
vitamin đã giảm hẳn, chủ yếu là bệnh suy dinh dưỡng nhẹ nhưng bệnh
bướu cổ còn tỷ lệ cao. (Bệnh răng miệng: 81,4% , suy dinh dưỡng 11,6%
trong đó suy dinh dưỡng độ 3 thể phù chỉ còn 0,01% , thiếu vitamin A:
“Khảo sát mô hình bệnh tật chuyển tuyến tại khoa Nhi”


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×