Tải bản đầy đủ

Bài giảng CƠ SỞ DỮ LIỆU

KHƯƠNG THỊ QUỲNH

Bài giảng

CƠ SỞ DỮ LIỆU

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2017


2


LỜI NÓI ĐẦU
Các hệ cơ sở dữ liệu đóng vai trò quan trọng trong việc ứng dụng công
nghệ thông tin vào cuộc sống hàng ngày của xã hội hiện đại. Cùng với sự tiến bộ
của kỹ thuật, nhiều ứng dụng mới của cơ sở dữ liệu cuxng đang được phát triển
mạnh. Để có thể thiết kế, cài đặt và ứng dụng tốt các hệ cơ sở dữ liệu, trước hết
cần hiểu rõ các khái niệm cơ bản cần thiết. Bài giảng Cơ sở dữ liệu nhằm trang
bị cho sinh viên các kỹ thuật cơ bản của cơ sở dữ liệu truyền thống. Với những
kiến thức đó, sinh viên có thể xây dựng được các cơ sở dữ liệu truyền thống để
đưa vào ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày và cũng là cơ sở để nghiên cứu

sâu hơn, tạo ra các cơ sở dữ liệu đáp ứng với các yêu cầu ứng dụng mới. Bài
giảng gồm 5 chương:
Chương 1. Tổng quan về cơ sở dữ liệu
Chương này trình bày các khái niệm cơ bản về hệ cơ sở dữ liệu như cơ sở
dữ liệu, hệ quản trị cơ sở dữ liệu, mô hình cơ sở dữ liệu, ngôn ngữ và giao diện,
con người sử dụng hệ cơ sở dữ liệu. Thông qua chương này, người đọc nắm
được định nghĩa và ý nghĩa của các thuật ngữ dùng trong hệ cơ sở dữ liệu.
Chương 2. Mô hình thực thể liên kết
Chương này trình bày các khái niệm cơ bản của mô hình thực thể liên kết
và cách thiết kế mô hình.
Chương 3. Mô hình cơ sở dữ liệu quan hệ
Chương này giúp sinh viên làm quen với các khái niệm cơ bản về mô hình
cơ sở dữ liệu quan hệ, các ràng buộc trên mô hình và cách thiết kế cơ sở dữ liệu
quan hệ bằng việc chuyển đổi từ mô hình thực thể liên kết. Ngoài ra, cung cấp
cho sinh viên các kiến thức về các phép toán đại số quan hệ cơ bản.
Chương 4. Phụ thuộc hàm và chuẩn hóa cơ sở dữ liệu quan hệ
Chương này đề cập tới định nghĩa và tính chất của các phụ thuộc hàm, các
dạng chuẩn của quan hệ, các phương pháp tách (chuẩn hóa) quan hệ.
Chương 5. SQL
Chương này giới thiệu các câu lệnh cơ bản của ngôn ngữ truy vấn SQL.
Bài giảng có ích cho các sinh viên ngành Hệ thống thông tin cũng như tất cả
những ai muốn tìm hiểu về cơ sở dữ liệu.
3


Mặc dù đã cố gắng trình bày các vấn đề một cách chính xác và dễ hiểu,
tuy nhiên do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, chắc chắn bài giảng vẫn còn
nhiều thiếu sót. Mặt khác, đây là một bài giảng nhập môn nên không có điều
kiện để trình bày nhiều khía cạnh khác của cơ sở dữ liệu như quản trị cơ sở dữ
liệu, an ninh cơ sở dữ liệu,… Tác giả rất mong nhận được các ý kiến đóng góp
của độc giả để trong lần tái bản sau, bài giảng sẽ được hoàn chỉnh hơn.
Tác giả

4


Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Trong nhiều năm gần đây, thuật ngữ cơ sở dữ liệu – Database đã trở nên
quen thuộc trong nhiều lĩnh vực. Các ứng dụng tin học và quản lý ngày càng


nhiều và đa dạng, hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội,…đều đã ứng dụng thành
tựu mới của tin học vào phục vụ công tác chuyên môn của mình. Chính vì lẽ đó
mà ngày càng nhiều người quan tâm đến thiết kế, xây dựng và ứng dụng cơ sở
dữ liệu.
Trong chương này, chúng ta sẽ tìm hiểu thế nào là cơ sở dữ liệu, hệ quản
trị cơ sở dữ liệu, các mô hình cơ sở dữ liệu và các khái niệm cơ bản khác.
1.1. Dữ liệu
Dữ liệu (Data) là những mô tả về sự vật, con người và sự kiện trong thế
giới thực mà chúng ta gặp hàng ngày bằng nhiều cách thể hiện khác nhau.
Một số dạng thường dùng để biểu diễn dữ liệu như văn bản (Text), số
(Number), biểu tượng (Symbol), hình ảnh (Image), âm thanh (Audio), phim ảnh
(Video).
(Ngoài định nghĩa trên còn có nhiều định nghĩa khác về dữ liệu).
1.2. Thông tin
Thông tin (Information) cũng như dữ liệu, nó có rất nhiều cách định
nghĩa khác nhau. Một định nghĩa bao quát hơn cả là xem thông tin là dữ liệu
được đặt vào ngữ cảnh với một hình thức thích hợp và có lợi cho người sử
dụng cuối cùng.
Ví dụ:
Có các dữ liệu về giá vàng ở các ngày trong tháng; nếu ta biểu diễn giá
vàng bằng 1 điểm giá trị trên mặt phẳng theo trục thời gian với ngày/tháng tăng
dần từ trái sang phải, sẽ nhận được thông tin về “sự biến động của giá vàng
trong tháng” mà khi để ở dạng bảng thường không thể nhận được thông tin biến
động này.
1.3. Cơ sở dữ liệu
1.3.1. Tại sao cần tới các hệ CSDL?
Trước khi các hệ cơ sở dữ liệu(CSDL) ra đời, mỗi chương trình ứng dụng
đều có một tệp dữ liệu tương ứng và mỗi khi chương trình ứng dụng cần được
5


sửa đổi hoặc mở rộng thì tệp dữ liệu tương ứng cũng phải thay đổi theo. Cho đến
nay vẫn còn một số đơn vị kinh tế, hành chính sự nghiệp… sử dụng mô hình hệ
thống các tệp tin cổ điển. Các tệp tin này được tổ chức riêng rẽ, phục vụ cho
mục đích của một đơn vị hoặc một số đơn vị con trực thuộc cụ thể, không có
một mô hình tổng thể cho toàn bộ đơn vị. Việc sử dụng hệ thống các tệp tin để
lưu trữ dữ liệu một cách riêng lẻ có một số các ưu điểm và khuyết điểm.
- Ưu điểm:
+ Việc xây dựng hệ thống các tệp tin riêng tại từng đơn vị quản lý ít tốn thời
gian bởi khối lượng thông tin cần quản lý và khai thác là nhỏ, không đòi hỏi đầu
tư vật chất và chất xám nhiều, do đó triển khai ứng dụng nhanh.
+ Thông tin được khai thác chỉ phục vụ mục đích hẹp nên khả năng đáp ứng
nhanh chóng, kịp thời.
- Nhược điểm:
+ Thông tin được tổ chức riêng rẽ ở nhiều nơi nên việc cập nhật dễ làm mất
tính nhất quán dữ liệu, dễ xảy ra tình trạng dữ liệu bị trùng lặp, số lượng dữ
liệu tăng nhanh.
+ Hệ thống thông tin được tổ chức thành các hệ thống tệp tin riêng lẻ nên thiếu
sự chia sẻ thông tin giữa các nơi.
Như vậy, chúng ta nhận thấy việc tổ chức dữ liệu theo hệ thống tệp tin
hoàn toàn không phù hợp với những hệ thốngthông tin lớn. Việc xây dựng một
hệ thống thông tin đảm bảo được tính chất nhất quán về mặt dữ liệu, đáp ứng
được nhu cầu khai thác đồng thời của nhiều người là thực sự cần thiết.
1.3.2. Định nghĩa cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu và kỹ thuật cơ sở dữ liệu đã có ảnh hưởng rất lớn đến việc
sử dụng máy tính. Có thể nói rằng cơ sở dữ liệu đóng vai trò quan trọng trong
mọi lĩnh vực có sử dụng máy tính như giáo dục, thương mại, kỹ nghệ, khoa học,
thư viện,… Thuật ngữ cơ sở dữ liệu trở thành một thuật ngữ phổ biến. Như vậy,
cơ sở dữ liệu là gì?
Một cơ sở dữ liệu(CSDL)là một tập hợp các dữ liệu dùng chung(1), có liên
quan với nhau, cùng với mô tả của chúng, được thiết kế cho nhu cầu thông tin
của một tổ chức.
1

Khái niệm dùng chung, chia sẻ dữ liệu được dùng rộng rãi trong nhiều ứng dụng với nghĩa nhiều người dùng
cùng truy cập một dữ liệu tại cùng một thời điểm

6


Ví dụ:
Để quản lý việc học tập trong một môi trường đại học, các dữ liệu là các
thông tin về sinh viên, về các môn học, điểm thi… Chúng ta tổ chức các dữ liệu
đó thành các bảng và lưu giữ chúng vào sổ sách hoặc sử dụng một phần mềm
máy tính để lưu giữ chúng trên máy tính. Ta có một tập các dữ liệu có liên quan
đến nhau và mang nhiều ý nghĩa, đó là một cơ sở dữ liệu.
1.3.3. Các tính chất của CSDL
Một cơ sở dữ liệu có các tính chất sau:
1. Một cơ sở dữ liệu biểu thị một khía cạnh nào đó của thế giới thực như
hoạt động của một công ty, một nhà trường, một ngân hàng… Những thay đổi
của thế giới thực phải được phản ánh một cách trung thực vào trong cơ sở dữ
liệu. Những thông tin được đưa vào trong cơ sở dữ liệu tạo thành một không
gian cơ sở dữ liệu hoặc là một “thế giới thu nhỏ”.
2. Một cơ sở dữ liệu là một tập hợp dữ liệu liên kết với nhau một cách
logic và mang một ý nghĩa cố hữu nào đó. Một cơ sở dữ liệu không phải là một
tập hợp tuỳ tiện.
3. Một cơ sở dữ liệu được thiết kế và được phổ biến cho một mục đích
riêng. Nó có một nhóm người sử dụng có chủ định và có một số ứng dụng được
xác định phù hợp với mối quan tâm của người sử dụng.
Nói cách khác, một cơ sở dữ liệu có một nguồn cung cấp dữ liệu, một
mức độ tương tác với các sự kiện trong thế giới thực và một nhóm người quan
tâm tích cực đến các nội dung của nó.
Một cơ sở dữ liệu có thể có cỡ tuỳ ý và có độ phức tạp thay đổi. Có những
cơ sở dữ liệu chỉ gồm vài trăm bản ghi (như cơ sở dữ liệu phục vụ việc quản lý
lương ở một cơ quan nhỏ), và có những cơ sở dữ liệu có dung lượng rất lớn (như
các cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc tính cước điện thoại, quản lý nhân sự trên
một phạm vi lớn). Các cơ sở dữ liệu phải được tổ chức quản lý sao cho những
người sử dụng có thể tìm kiếm dữ liệu, cập nhật dữ liệu và lấy dữ liệu ra khi cần
thiết. Một cơ sở dữ liệu có thể được tạo ra và duy trì một cách thủ công và cũng
có thể được tin học hoá. Một cơ sở dữ liệu tin học hoá được tạo ra và duy trì
bằng một nhóm chương trình ứng dụng hoặc bằng một hệ quản trị cơ sở dữ liệu.
7


1.4. Hệ quản trị CSDL
1.4.1. Định nghĩa hệ quản trị CSDL
Một hệ quản trị cơ sở dữ liệu (Database Management System) là tập hợp
chương trình giúp cho người sử dụng tạo ra, duy trì và khai thác một cơ sở dữ
liệu. Nó là một hệ thống phần mềm phổ dụng, làm đơn giản hóa quá trình định
nghĩa, xây dựng và thao tác cơ sở dữ liệu cho các ứng dụng khác nhau. Hay nói
cách khác, hệ quản trị cơ sở dữ liệu (HQTCSDL) là phần mềm tương tác với các
chương trình ứng dụng của người dùng và cơ sở dữ liệu.
- Định nghĩa một cơ sở dữ liệu bao gồm việc đặc tả các kiểu dữ liệu, các
cấu trúc và các ràng buộc cho các dữ liệu sẽ được lưu trữ trong cơ sở.
- Xây dựng một cơ sở dữ liệu là quá trình lưu trữ các dữ liệu trên các
phương tiện lưu trữ được hệ quản trị cơ sở dữ liệu kiểm soát.
- Thao tác một cơ sở dữ liệu bao gồm các chức năng như truy vấn cơ sở dữ
liệu để lấy ra các dữ liệu cụ thể, cập nhật cơ sở dữ liệu để phản ánh các thay đổi
trong thế giới nhỏ và tạo ra các báo cáo từ các dữ liệu.

Hình 1.1.Mối quan hệ giữa CSDL, HQTCSDL và ứng dụng
Các hệ quản trị cơ sở dữ liệu dùng để thể hiện một cơ sở dữ liệu tin học hoá
có thểlà một phần mềm đóng gói hoặc có thể là chuyên dụng (là một tập các
phần mềm được tạo ra với một mục đích riêng).
Ví dụ:
Microsoft Office Access, Microsoft SQL Server, Oracle, Foxpro, IBM DB2….
1.4.2. Các chức năng của một hệ quản trị cơ sở dữ liệu
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu có các chức năng cơ bản như sau:

8


 Quản lý từ điển dữ liệu:
Hệ quản trị quản lý tất cả các dữ liệu dùng để mô tả dữ liệu. Nó lưu các
định nghĩa về cấu trúc và quan hệ trong từ điển dữ liệu. Cho phép thực hiện trừu
tượng hóa dữ liệu nhằm đảm bảo tính độc lập dữ liệu và độc lập cấu trúc.
 Quản lý lưu trữ:
Hệ quản trị tạo ra các cấu trúc phức tạp để lưu trữ từ những dữ liệu cơ bản
đơn giản đến phức tạp, từ các định nghĩa về biểu mẫu, biểu báo đến các ràng
buộc dữ liệu và các đoạn mã chương trình.
 Quản lý nhập xuất:
Hệ quản trị biến đổi dữ liệu phù hợp với cấu trúc lưu trữ, nhờ đó ta không
cần quan tâm đến định dạng vật lý của dữ liệu và kết xuất dữ liệu ra theo các yêu
cầu logic của người sử dụng.
 Quản lý bảo mật:
Hệ quảntrị tạo ra một hệ thống bảo mật kiểm soát quyền sử dụng của người
dùng.
 Điều khiển truy xuất nhiều người dùng:
Hệ quản trị tạo ra các cấu trúc phức tạp dùng các giải thuật tinh vi nhằm
bảo đảm cơ sở dữ liệu luôn luôn nhất quán.
 Quản lý sao lưu và phục hồi cơ sở dữ liệu:
Hệ quản trị cung cấp các thủ tục sao lưu và phục hồi dữ liệu đảm bảo dữ
liệu an toàn và toàn vẹn khi xảy ra các sự cố hoặc khi có yêu cầu từ người dùng.
 Quản lý sự toàn vẹn dữ liệu:
Hệ quản trị cung cấp cơ chế nhằm giảm dư thừa và tăng sự nhất quán, đặc
biệt trong cơ sở dữ liệu nhiều người dùng.
 Ngôn ngữ truy xuất cơ sở dữ liệu và giao diện lập trình ứng dụng:
Hệ quản trị cung cấp cơ chế truy xuất dữ liệu qua ngôn ngữ truy xuất cơ sở
dữ liệu là ngôn ngữ hỏi gồm: ngôn ngữ định nghĩa dữ liệu DDL (Data
Defitintion Language) và ngôn ngữ thao tác dữ liệu DML (Data Manipulation
Language). Nó cũng cung cấp giao diện cho các ngôn ngữ lập trình.
 Giao diện giao tiếp với cơ sở dữ liệu:
Hệ quản trị cung cấp các thủ tục giao tiếp đặc biệt được thiết kế cho phép
cơ sở dữ liệu đáp ứng các yêu cầu của người dùng cuối trong môi trường mạng.
1.4.3. Các thành phần của một hệ quản trị cơ sở dữ liệu
Nhằm mục đích cung cấp các chức năng và dịch vụ kể trên, các hệ quản
9


trị cơ sở dữ liệu là các hệ thống phần mềm tinh vi và có độ phức tạp cao. Một hệ
quản trị CSDL được chia thành một số thành phần, mỗi thành phần là một
modul phần mềm chịu một số trách nhiệm cụ thể.

Hình 1.2. Thành phần của hệ quản trị CSDL
Về cơ bản, hệ quản trị cơ sở dữ liệu có các thành phần sau:
Bộ xử lý câu hỏi (Query Processor): Là một thành phần chính của hệ
quản trị CSDL với nhiệm vụ dịch các câu lệnh trong ngôn ngữ truy vấn thành
các câu lệnh ở mức thấp để chuyển cho bộ quản lý CSDL.
 Bộ quản lý CSDL (Database Mangager): giao tiếp với các chương trình
ứng dụng của người dùng và các câu lệnh truy vấn. Nó tiếp nhận các yêu cầu
truy vấn và kiểm tra các lược đồ ngoài và lược đồ khái niệm(1) để xác định
những bản ghi khái niệm nào đã được yêu cầu. Sau đó nó gọi đến bộ phận quản
lý tệp tin để thực hiện yêu cầu. Có thể nhìn thấy chi tiết hơn các thành phần tạo
nên bộ quản lý CSDL ở hình 1.3, gồm:
- Trình quản lý quyền truy cập (Authorization Control);
- Trình xử lý câu lệnh (Command Processor);
- Trình kiểm tra tính toàn vẹn (Integrity Checker);
- Trình tối ưu hóa câu hỏi (Query Optimizer);


1

Các loại lược đồ ngoài, lược đồ khái niệm sẽ được đề cập trong mục 1.7 Kiến trúc hệ cơ sở dữ liệu

10


- Trình quản lý giao tác (Transaction Manager);
- Trình lập lịch (Scheduler): điều khiển thứ tự thực hiện các thao tác
của các giao tác có liên quan đến nhau để đảm bảo chúng không làm ảnh hưởng
đến nhau, có nghĩa là giải quyết những xung đột trong hoạt động đồng thời của
nhiều giao tác;
- Trình quản lý việc khôi phục dữ liệu (Recovery Manager);
- Trình quản lý bộ nhớ đệm.
 Bộ tiền xử lý DML (DML Preprocessor): Chuyển các câu lệnh thao tác
dữ liệu DML (Data Manipulation Language) nhúng trong một chương trình ứng
dụng thành các lời gọi thủ tục chuẩn trong ngôn ngữ chủ. Nó phải tương tác với
bộ xử lý câu hỏi để sinh ra mã thích hợp.
 Bộ biên dịch DDL (Data Defition Language Compiler): chuyển các câu
lệnh định nghĩa dữ liệu DDL sang thành một tập các bảng chứa siêu dữ liệu
(meta-data). Các bảng này được lưu giữ trong hệ thống từ điển dữ liệu(1)
(Catalog).
 Bộ quản lý từ điển dữ liệu (Catalog Manager): Quản lý các truy cập đến
từ điển dữ liệu và bảo trì hệ thống từ điển dữ liệu. Hầu hết các thành phần của
Hệ quản trị CSDL đều truy cập đến hệ thống từ điển dữ liệu.

Hình 1.3. Thành phần bộ quản lý dữ liệu
1

Một từ điển dữ liệu là một tệp tin chứa các siêu dữ liệu, là các dữ liệu về dữ liệu. Tệp này được tham khảo
trước khi dữ liệu thực sự được đọc hay được sửa đổi trong hệ CSDL.

11


1.5.Hệ thống cơ sở dữ liệu (Database System)
1.5.1.Khái niệm
Hệ thống cơ sở dữ liệu là hệ thống thông tin1 cho phép người sử dụng
dùng chung các dữ liệu có trong hệ thống.
Ví dụ:
Hệ thống quản lý đào tạo, Hệ thống quản lý nhân sự, Hệ thống quản lý
sinh viên, Hệ thống quản lý thư viện, Hệ thống quản lý khách sạn….
1.5.2.Các thành phần của hệ thống cơ sở dữ liệu
Nhìn tổng quát, hệ thống cơ sở dữ liệu gồm 4 thành phần cơ bản:
1. Cơ sở dữ liệu
2. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu
3. Chương trình ứng dụng: Các chương trình, phần mềm cho phép người
sử dụng truy cập dữ liệu
4. Người sử dụng:Người dùng cuối, Người quản trị cơ sở dữ liệu, Người
phát triển hệ thống

Hình 1.4. Môi trường hệ cơ sở dữ liệu
1.5.3. Con người trong hệ cơ sở dữ liệu
Với một cơ sở dữ liệu lớn, rất nhiều người tham gia vào việc thiết kế, sử
1

Hệ thống thông tin được xác định như một tập hợp các thành phần được tổ chức để thu thập, xử lý, lưu trữ,
phân phối và biểu diễn thông tin, trợ giúp việc ra quyết định và kiểm soát hoạt động trong một tổ chức

12


dụng và duy trì CSDL. Những người liên quan đến hệ cơ sở dữ liệu được chia
thành hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất gồm những người mà công việc của họ
liên quan thường xuyên đến cơ sở dữ liệu, đó là những người quản trị cơ sở dữ
liệu, thiết kế cơ sở dữ liệu, sử dụng cơ sở dữ liệu, phân tích hệ thống và lập
trình ứng dụng. Nhóm thứ hai gồm những người làm việc để duy trì môi trường
hệ cơ sở dữ liệu nhưng không quan tâm đến bản thân cơ sở dữ liệu, đó là những
người thiết kế và cài đặt hệ quản trị cơ sở dữ liệu, phát triển công cụ, thao tác
viên và bảo trì.
a. Người quản trị hệ cơ sở dữ liệu (Database Administrator)
Trong một tổ chức có nhiều người cùng sử dụng các tài nguyên, cần phải
có một người giám sát và quản lý. Trong môi trường hệ cơ sở dữ liệu, các tài
nguyên là cơ sở dữ liệu, hệ quản trị cơ sở dữ liệu và các phần mềm liên quan.
Người quản trị hệ cơ sở dữ liệu là người chịu trách nhiệm quản lý các tài
nguyên đó. Người này chịu trách nhiệm về việc cho phép truy cập CSDL, tổ
chức và hướng dẫn việc sử dụng cơ sở dữ liệu, cấp các phần mềm và phần cứng
theo yêu cầu.
b. Người thiết kế cơ sở dữ liệu (Database Designer)
Người này chịu trách nhiệm xác định các dữ liệu sẽ được lưu giữ trong cơ
sở dữ liệu, chọn lựa cấu trúc tương ứng để trình bày và lưu trữ các dữ liệu này.
Những nhiệm vụ này được thực hiện trước khi cơ sở dữ liệu được thực sự xây
dựng và tạo lập dữ liệu. Người thiết kế có trách nhiệm liên hệ với mọi người sẽ
dùng cơ sở dữ liệu để hiểu được các đòi hỏi của họ và đưa ra một thiết kế thoả
mãn các yêu cầu đó. Anh ta cũng có nhiệm vụ giao thiệp với các nhóm người sử
dụng và có khả năng hỗ trợ các yêu cầu của các nhóm.
c. Những người sử dụng (End User)
Những người sử dụng là những người mà công việc của họ đòi hỏi truy
cập đến cơ sở dữ liệu để truy vấn, cập nhật và sinh ra các thông tin; CSDL tồn
tại chủ yếu dựa trên cách sử dụng của họ. Có thể chia những người sử dụng
thành hai nhóm chính: những người sử dụng thụ động (tức là những người sử
dụng không có nhiều kiến thức về hệ cơ sở dữ liệu) và những người sử dụng chủ
động (là những người có hiểu biết tốt về hệ cơ sở dữ liệu).
Chức năng công việc của những người sử dụng thụ động (chiếm phần lớn
những người sử dụng) gắn liền với việc truy vấn và cập nhật thường xuyên cơ sở
13


dữ liệu bằng cách sử dụng các câu hỏi và các cập nhật chuẩn (gọi là các giao tác
định sẵn) đã được lập trình và kiểm tra cẩn thận. Những người này chỉ cần học
một ít về các phương tiện do hệ quản trị cơ sở dữ liệu cung cấp và hiểu các kiểu
giao tác chuẩn đã được thiết kế và cài đặt là đủ.
Những người sử dụng chủ động có hiểu biết tốt về hệ cơ sở dữ liệu, họ có
thể tự cài đặt các ứng dụng riêng của mình để làm thoả mãn các yêu cầu phức
tạp của họ.
d. Người phân tích hệ thống và lập trình ứng dụng
Người phân tích hệ thống xác định các yêu cầu của những người sử dụng
(chủ yếu là những người sử dụng thụ động) để đặc tả các chương trình phù hợp
với yêu cầu của họ.
Người viết chương trình ứng dụng thể hiện các đặc tả của những người
phân tích thành chương trình, sau đó kiểm thử, sửa lỗi làm tài liệu và bảo trì các
giao tác định sẵn.
e. Người thiết kế và cài đặt hệ quản trị dữ liệu
Đó là những người thiết kế, cài đặt các mô đun, giao diện của hệ quản trị
cơ sở dữ liệu thành các phần mềm đóng gói. Một hệ quản trị cơ sở dữ liệu là một
hệ thống phần mềm phức tạp bao gồm nhiều thành phần (mô đun). Đó là các mô
đun cài đặt từ điển dữ liệu, ngôn ngữ truy vấn, bộ xử lý giao diện, truy cập dữ
liệu, kiểm tra cạnh tranh, phục hồi và an toàn. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu phải
giao tiếp với các hệ thống phần mềm khác như hệ điều hành và các chương trình
dịch cho nhiều ngôn ngữ khác nhau.
f. Những người phát triển công cụ
Là những người thiết kế và cài đặt các công cụ (tool), đó là các phần mềm
đóng gói làm dễ việc thiết kế và sử dụng cơ sở dữ liệu.
g. Các thao tác viên và những người bảo trì
Là những người chịu trách nhiệm về việc chạy và bảo trì phần cứng và
phần mềm của hệ thống.
1.6. Mô hình dữ liệu, lược đồ và thể hiện
Các loại cấu trúc cơ sở dữ liệu và mối liên hệ giữa chúng đóng vai trò rất
lớn trong việc xác định tính hiệu quả của hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Vì vậy, thiết
kế cơ sở dữ liệu trở thành hoạt động chính trong môi trường cơ sở dữ liệu.
14


Việc thiết kế cơ sở dữ liệu được thực hiện đơn giản hơn nhiều khi ta sử
dụng các mô hình. Các mô hình là sự trừu tượng đơn giản của các sự kiện trong
thế giới thực. Các trừu tượng như vậy cho phép ta khảo sát các đặc điểm của các
thực thể và các mối liên hệ được tạo ra giữa các thực thể đó. Việc thiết kế các
mô hình tốt sẽ đưa ra các cơ sở dữ liệu tốt và trên cơ sở đó sẽ có các ứng dụng
tốt. Ngược lại, mô hình không tốt sẽ đưa đến thiết kế cơ sở dữ liệu tồi và dẫn
đến các ứng dụng không đúng.
1.6.1. Các loại mô hình cơ sở dữ liệu
Một mô hình cơ sở dữ liệu là một tập hợp các khái niệm dùng để biểu diễn
các cấu trúc của cơ sở dữ liệu. Cấu trúc của một cơ sở dữ liệu là các kiểu dữ
liệu, các mối liên kết và các ràng buộc phải tuân theo trên các dữ liệu. Nhiều mô
hình còn có thêm một tập hợp các phép toán cơ bản để đặc tả các thao tác trên
cơ sở dữ liệu.
Chúng ta có thể phân loại các mô hình dữ liệu dựa trên các khái niệm mà
chúng sử dụng để mô tả các cấu trúc cơ sở dữ liệu.
+ Các mô hình dữ liệu bậc cao hoặc mô hình dữ liệu mức quan niệm cung
cấp các khái niệm gắn liền với cách cảm nhận dữ liệu của nhiều người sử dụng.
Các mô hình này tập trung vào bản chất logic của biểu diễn dữ liệu, nó quan
tâm đến cái được biểu diễn trong cơ sở dữ liệu chứ không phải cách biểu diễn
dữ liệu.
Trong Chương 2 chúng ta sẽ nghiên cứu một mô hình dữ liệu mức quan
niệm, mô hình thực thể liên kết, gọi tắt là mô hình ER (Entity Relationship). Mô
hình này sử dụng các khái niệm thực thể, thuộc tính, mối liên kết để diễn đạt các
đối tượng của thế giới thực.
+ Các mô hình dữ liệu bậc thấp hoặc các mô hình dữ liệu vật lý cung cấp các
khái niệm mô tả chi tiết về việc các dữ liệu được lưu trữ trong máy tính như thế
nào như khuôn dạng bản ghi, sắp xếp bản ghi, đường truy cập… Các khái niệm
do mô hình dữ liệu vật lý cung cấp nói chung có ý nghĩa đối với các chuyên gia
máy tính chứ không có ý nghĩa mấy đối với người sử dụng thông thường.
+ Ở giữa hai loại mô hình này là một lớp các mô hình dữ liệu thể hiện,
chúng cung cấp những khái niệm mà người sử dụng có thể hiểu được và không
xa với cách tổ chức dữ liệu bên trong máy tính. Người ta còn gọi loại mô hình
dữ liệu này là loại mô hình dữ liệu mức logic. Các mô hình dữ liệu thể hiện che
15


giấu một số chi tiết về việc lưu trữ dữ liệu nhưng có thể được cài đặt trực tiếp
trên hệ thống máy tính.
Các mô hình dữ liệu thể hiện là các mô hình được sử dụng thường xuyên
nhất trong các hệ cơ sở dữ liệu thương mại. Ba mô hình nổi tiếng thuộc loại này
là mô hình quan hệ, mô hình mạng và mô hình phân cấp. Các mô hình mạng và
mô hình phân cấp ra đời trước và được sử dụng rộng rãi trong quá khứ (trước
năm 1970). Vào đầu năm 1970, mô hình quan hệ ra đời. Do tính ưu việt của nó,
mô hình quan hệ dần dần thay thế các mô hình mạng và phân cấp. Chúng ta sẽ
nghiên cứu về mô hình quan hệ trong Chương 3. Ngoài 3 mô hình kể trên, hiện
nay mô hình dữ liệu hướng đối tượng cũng đang được phát triển, hoàn thiện và
dần trở thành xu thế mới.
1.6.2.Lược đồ và trạng thái CSDL
Trong một mô hình dữ liệu cần phải phân biệt rõ giữa mô tả của cơ sở dữ
liệu và bản thân cơ sở dữ liệu.
Mô tả của một cơ sở dữ liệu được gọi là lược đồ cơ sở dữ liệu, nó được xác
định rõ trong quá trình thiết kế cơ sở dữ liệu và không bị thay đổi thường xuyên.
Đa số các mô hình dữ liệu có các quy ước hiển thị các lược đồ. Hiển thị của một
lược đồ được gọi là biểu đồ của lược đồ đó. Một biểu đồ lược đồ chỉ thể hiện một
vài khía cạnh của lược đồ như là các kiểu bản ghi, các mục dữ liệu và một số kiểu
ràng buộc. Các khía cạnh khác không được thể hiện trong biểu đồ lược đồ.
Các dữ liệu trong một cơ sở dữ liệu có thể thay đổi một cách thường xuyên.
Các dữ liệu trong một cơ sở dữ liệu tại một thời điểm cụ thể được gọi là một
trạng thái cơ sở dữ liệu hoặc là ảnh (snapshot) của cơ sở dữ liệu. Nhiều trạng
thái quan hệ có thể được xây dựng để làm tương ứng với một lược đồ cơ sở dữ
liệu cụ thể. Mỗi khi chúng ta chèn vào hoặc loại bỏ một bản ghi, sửa đổi giá trị
của một mục dữ liệu trong một bản ghi, chúng ta đã làm thay đổi trạng thái của
cơ sở dữ liệu sang một trạng thái khác.
Việc phân biệt giữa lược đồ cơ sở dữ liệu và trạng thái cơ sở dữ liệu là rất
quan trọng. Khi chúng ta định nghĩa một cơ sở dữ liệu mới, ta chỉ đặc tả lược đồ
cơ sở dữ liệu cho hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Tại thời điểm này, trạng thái của cơ
sở dữ liệu là một trạng thái rỗng, không có dữ liệu. Chúng ta nhận được trạng
thái ban đầu của cơ sở dữ liệu khi ta nhập dữ liệu lần đầu tiên. Từ đó trở đi, mỗi
khi một phép toán cập nhật được thực hiện đối với cơ sở dữ liệu, chúng ta nhận
16


được một trạng thái cơ sở dữ liệu khác. Tại mọi thời điểm, cơ sở dữ liệu có một
trạng thái hiện tại. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu có trách nhiệm đảm bảo rằng mỗi
trạng thái cơ sở dữ liệu là một trạng thái vững chắc, nghĩa là một trạng thái thoả
mãn cấu trúc và các ràng buộc được đặc tả trong lược đồ. Vì vậy, việc đặc tả
một lược đồ đúng đắn cho hệ quản trị cơ sở dữ liệu là một việc làm cực kỳ quan
trọng và lược đồ phải được thiết kế một cách cẩn thận. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu
lưu trữ các mô tả của các cấu trúc lược đồ và các ràng buộc – còn gọi là siêu dữ
liệu (metadata) – vào trong từ điển (catalog) của hệ quản trị sao cho phần mềm
hệ quản trị cơ sở dữ liệu có thể tham khảo đến lược đồ khi nó cần.
1.7. Kiến trúc hệ cơ sở dữ liệu
Theo ANSI-SPARC(1) có 3 mức biểu diễn một hệ cơ sở dữ liệu, gọi là
kiến trúc 3 lược đồ. Mục đích của lược đồ 3 mức là tách rời các ứng dụng của
người dùng và cơ sở dữ liệu vật lý hay nói cách khác, mô hình kiến trúc 3 mức
cho phép tạo ra sự độc lập giữa bản thân dữ liệu và việc xử lý dữ liệu.
a. Mức vật lý – Mức trong
Mức này mô tả dữ liệu thực sự lưu trữ như thế nào trong CSDL. Đây là
mức thể hiện các cài đặt có tính chất vật lí của CSDL để đạt được tối ưu trong
các lần thực hiện các thao tác tìm kiếm và lưu trữ. Mức này phản ánh các cấu
trúc dữ liệu, các tổ chức tệp được dùng cho việc lưu trữ dữ liệu trên các thiết bị
nhớ thứ cấp.
b. Mức logic – Mức quan niệm
Mức này mô tả những dữ liệu nào được lưu trữ trong CSDL và có những
mối quan hệ nào giữa chúng. Nói một cách cụ thể hơn, mức logic biểu diễn các
thực thể trong thế giới thật, các đặc trưng và mối quan hệ giữa các thực thể đó.
Mức này cho thấy các ràng buộc trên dữ liệu, các thông tin về ngữ nghĩa của dữ
liệu, các thông tin về an ninh và toàn vẹn dữ liệu. Tuy nhiên, mức này chỉ quan tâm
đến cái gì được lưu trữ trong CSDL chứ không quan tâm đến cách thức lưu trữ.
Một mô hình dữ liệu bậc cao hoặc một mô hình dữ liệu thể hiện có thể
được sử dụng ở mức này.
c. Mức khung nhìn – Mức ngoài
Mức ngoài gồm một số các lược đồ ngoài hoặc các khung nhìn của người
1

ANSI-SPARC (American National Standards Institute, Standards Planning And Requirements
Committee): Viện tiêu chuẩn quốc gia Mỹ - Ủy ban nhu cầu và kế hoạch Mỹ

17


dùng. Mỗi lược đồ ngoài mô tả một phần của cơ sở dữ liệu mà một nhóm người
sử dụng quan tâm và nó che dấu đối với nhóm này phần còn lại của CSDL. Một
mô hình dữ liệu bậc cao,hoặc một mô hình dữ liệu thể hiện có thể được sử dụng
ở mức này.
Tóm lại, mức khung nhìn là cách cảm nhận của người dùng về dữ liệu,
mức vật lí là cách cảm nhận của hệ quản trị CSDL và hệ điều hành về dữ liệu.
Mức logic nằm giữa mức khung nhìn và mức vật lí, có thể coi đây là cách cảm
nhận của toàn thể cộng đồng người sử dụng về dữ liệu. Tại mức logic tồn tại cả
hai ánh xạ đến hai mức còn lại, tạo nên một sự độc lập đối với nhau của hai mức
đó. Hình 1.5 mô tả và minh họa kiến trúc lược đồ 3 mức của cơ sở dữ liệu.
MỨC KHUNG NHÌN
Khung nhìn 1

Khung nhìn 2

Khung nhìn n

MỨC QUAN NIỆM

MỨC LOGIC

Hình 1.5. Minh họa kiến trúc lược đồ 3 mức
1.8. Sự độc lập dữ liệu
Kiến trúc lược đồ 3 mức có thể được sử dụng để giải thích khái niệm độc
lập dữ liệu. Độc lập dữ liệu có thể hiểu như là khả năng thay đổi lược đồ tại một
mức của một hệ cơ sở dữ liệu mà không làm thay đổi lược đồ ở mức cao hơn
tiếp theo. Có hai loại độc lập dữ liệu:
a. Độc lập dữ liệu ở mức vật lí
Độc lập dữ liệu ở mức vật lí là khả năng sửa đổi lược đồ vật lí mà không
làm thay đổi lược đồ khái niệm và như vậy cũng không đòi hỏi viết lại các
chương trình ứng dụng. Các thay đổi đối với lược đồ trong có thể cần thiết bởi
18


vì một số file vật lí phải được tổ chức lại. Ví dụ, bằng cách tạo ra các cấu trúc
truy cập phụ để cải thiện thao tác lấy ra hoặc cập nhật. Nếu các dữ liệu trước đó
còn lại trong cơ sở dữ liệu, chúng ta sẽ không làm thay đổi lược đồ khái niệm.
b. Độc lập dữ liệu ở mức logic
Độc lập dữ liệu là khả năng thay đổi lược đồ quan niệm mà không làm
thay đổi các khung nhìn hoặc các chương trình ứng dụng. Các sửa đổi ở mức
logic là cần thiết mỗi khi cấu trúc logic của CSDL cần phải thay đổi, chẳng hạn
cần thêm hay bớt các thực thể nào đó, các thuộc tính hay các mối quan hệ của
chúng. Dĩ nhiên những người dùng có chạm đến những thông tin đã thay đổi này
sẽ được thông báo về sự thay đổi nhưng điều quan trọng là những người dùng
khác sẽ không bị ảnh hưởng gì.
Độc lập dữ liệu logic khó thực hiện hơn độc lập dữ liệu vật lí vì các
chương trình ứng dụng phụ thuộc nhiều vào cấu trúc logic của dữ liệu mà chúng
truy cập.
Khái niệm độc lập dữ liệu trong nhiều mặt tương tự với khái niệm kiểu dữ
liệu trừu tượng trong các ngôn ngữ lập trình hiện đại. Cả hai đều giấu người
dùng những chi tiết cài đặt, cho phép người dùng tập trung vào cấu trúc chung
hơn là tập trung vào các chi tiết cài đặt ở mức thấp.

19


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT
1. Hồ Thuần và Hồ Cẩm Hà (2009). Các hệ cơ sở dữ liệu lí thuyết và thực hành,
NXB. Giáo dục.
2. Đỗ Trung Tuấn (1999). Cơ sở dữ liệu. NXB Giáo dục.
3. Nguyễn Tuệ (2009). Giáo trình nhập môn hệ cơ sở dữ liệu. NXB Giáo dục.
4. Nguyễn Văn Vỵ (2009). Giáo trình phân tích thiết kế các hệ thống thông tin,
NXB Giáo dục.
5. Trần Đức Quang (2002).Mô hình hóa và thiết kế dữ liệu. NXB Thống kê.
TIẾNG ANH
6. Fred R., McFadden, Jefrey A.Hoffer (1994). Modern Database Management.
CA: Benjamin/Cumings.
7. Jam A.O’Brien (1993). Management Information System. A Managerial End
User Prrrspective. IRWIN. USA.

20


CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
Câu 1. Định nghĩa các thuật ngữ: Cơ sở dữ liệu, Hệ quản trị cơ sở dữ liệu, Hệ cơ

sở dữ liệu, Từ điển cơ sở dữ liệu, Mô hình cơ sở dữ liệu.
Câu 2. Hãy nêu ra các điểm khác nhau chính giữa một hệ thống xử lý tệp tin cổ

điển và một hệ quản trị CSDL.
Câu 3. Nêu các tính chất của một cơ sở dữ liệu.
Câu 4. Nêu các chức năng của một hệ quản trị cơ sở dữ liệu.
Câu 5. Định nghĩa mô hình cơ sở dữ liệu và phân loại.
Câu 6. Cho biết mục đích của việc mô hình hóa CSDL. Chỉ ra sự khác nhau

giữa mô hình logic và mô hình vật lý.
Câu 7. Mô tả các thành phần chính của một hệ quản trị CSDL và chỉ ra các chức

năng của chúng.
Câu 8. Giải thích thuật ngữ độc lập dữ liệu và sự quan trọng của tính độc lập dữ

liệu trong môi trường của một hệ cơ sở dữ liệu. Hãy giải thích sự khác nhau giữa
tính độc lập vật lí và tính độc lập logic.
Câu 9. Hãy liệt kê ra các bước cơ bản mà anh/chị sẽ vạch ra khi xây dựng một

CSDL cho một tổ chức nào đó.

21


Chương 2
MÔ HÌNH THỰC THỂ LIÊN KẾT
Chương này giới thiệu mô hình thực thể liên kết, còn được gọi là mô hình
thực thể mối quan hệ, gọi tắt là ER(1) (Entity Relationship Model). Đây là một
mô hình dữ liệu mức quan niệm phổ biến, tập trung vào các cấu trúc dữ liệu và
các ràng buộc. Mô hình này thường được sử dụng để thiết kế các ứng dụng cơ sở
dữ liệu và nhiều công cụ thiết kế cơ sở dữ liệu sử dụng các khái niệm của nó.
2.1. Sử dụng mô hình quan niệm bậc cao để thiết kế CSDL

Hình 2.1. Các giai đoạn thiết kế cơ sở dữ liệu
Hình trên chỉ ra tiến trình thiết kế cơ sở dữ liệu một cách đơn giản. Bước
đầu tiên là tập hợp các yêu cầu và phân tích. Mục tiêu của phân tích dữ liệu là
xác định các đơn vị thông tin cơ bản cần thiết của tổ chức, mô tả cấu trúc và mối
1

Năm 1976, lần đầu tiên P.P.Chen giới thiệu mô hình này trong bài báo “The entity relationshiop model toward a
unified view of data”, ACM Trans on Database System 1:1,pp 9-36

22


quan hệ giữa chúng để tạo nên mô hình dữ liệu quan niệm giao tiếp với người sử
dụng, nhằm xác định đúng đắn và đầy đủ yêu cầu thông tin của hệ thống. Trong
bước này, người thiết kế cơ sở dữ liệu phỏng vấn những người sử dụng cơ sở dữ
liệu để hiểu và làm tài liệu về các yêu cầu về dữ liệu của họ. Kết quả của bước
này là một tập hợp ghi chép súc tích về các yêu cầu của những người sử dụng.
Những yêu cầu sẽ được đặc tả càng đầy đủ và chi tiết càng tốt. Song song với
việc đặc tả các yêu cầu dữ liệu, cần phải đặc tả các yêu cầu về chức năng của
ứng dụng: đó là các thao tác do người sử dụng định nghĩa sẽ được áp dụng đối
với cơ sở dữ liệu.
Mỗi khi tất cả các yêu cầu đã được thu thập và phân tích, bước tiếp theo là
tạo ra lược đồ quan niệm cho cơ sở dữ liệu bằng cách sử dụng mô hình dữ liệu
quan niệm mức cao. Bước này gọi là thiết kế quan niệm. Lược đồ quan niệm là
một mô tả súc tích về các yêu cầu dữ liệu của những người sử dụng. Nó bao
gồm các mô tả chi tiết của các kiểu thực thể, kiểu liên kết và các ràng buộc,
chúng được biểu diễn bằng các khái niệm do các mô hình dữ liệu bậc cao cung
cấp. Vì những khái niệm này không chứa các chi tiết cài đặt, chúng thường dễ
hiểu và có thể sử dụng chúng để giao lưu với những người sử dụng. Lược đồ
quan niệm mức cao cũng có thể được sử dụng như một dẫn chứng để đảm bảo
rằng tất cả các đòi hỏi của người sử dụng đều thỏa mãn và các đòi hỏi này không
chứa các mâu thuẫn. Giải pháp này cho phép những người thiết kế cơ sở dữ liệu
tập trung vào việc đặc tả các tính chất của dữ liệu mà không cần quan tâm đến
các chi tiết lưu trữ. Một thiết kế cơ sở dữ liệu quan niệm tốt sẽ làm dễ cho công
việc của những người thiết kế cơ sở dữ liệu.
Trong quá trình (hoặc sau khi) thiết kế lược đồ quan niệm, chúng ta có thể
sử dụng các phép toán cơ bản của mô hình dữ liệu để đặc tả các thao tác của
người sử dụng được xác định trong khi phân tích chức năng. Điều đó cũng giúp
khẳng định rằng lược đồ quan niệm thỏa mãn mọi yêu cầu chức năng được xác
định. Nếu có một số yêu cầu chức năng không thể nêu ra được trong lược đồ ban
đầu thì ở bước này có thể có sự sửa đổi lược đồ quan niệm cho phù hợp.
Bước tiếp theo trong việc thiết kế cơ sở dữ liệu là việc cài đặt một cơ sở
dữ liệu bằng cách sử dụng một hệ quản trị cơ sở dữ liệu có sẵn. Hầu hết các hệ
quản trị cơ sở dữ liệu sử dụng một mô hình dữ liệu cài đặt (thể hiện), chẳng hạn
23


như mô hình quan hệ hoặc đối tượng, vì vậy lược đồ quan niệm được chuyển từ
mô hình dữ liệu bậc cao thành mô hình dữ liệu cài đặt. Bước này gọi là thiết kế
logic hoặc là ánh xạ mô hình dữ liệu. Kết quả của bước này là một lược đồ cơ sở
dữ liệu dưới dạng một mô hình dữ liệu cài đặt của hệ quản trị cơ sở dữ liệu.
Bước cuối cùng trong thiết kế cơ sở dữ liệu là thiết kế vật lý. Trong bước
này ta phải chỉ ra các cấu trúc bên trong, các đường dẫn truy cập, tổ chức tệp
cho các tệp cơ sở dữ liệu. Song song với các hoạt động đó, các chương trình ứng
dụng cũng được thiết kế và cài đặt như là các giao tác (transaction) cơ sở dữ liệu
tương ứng với các đặc tả giao tác mức cao.
2.2. Các thành phần cơ bản của mô hình ER
Ba thành phần của mô hình ER là tập thực thể, các mối quan hệ giữa các
tập thực thể và các thuộc tính của chúng.
2.2.1. Thực thể, tập thực thể
Một thực thể là một đối tượng trong thế giới thật, tồn tại thực sự và độc
lập.Một thực thể có thể là cụ thể, tức là chúng ta có thể cảm nhận được bằng các
giác quan, hoặc có thể là trừu tượng, tức là cái mà chúng ta không cảm nhận
được bằng các giác quan nhưng có thể nhận biết được bằng nhận thức.
Ví dụ:

Thực thể cụ thể như:
Sinh viên Nguyễn Văn Thành
Khách hàng Nguyễn Tuấn Hùng
Thực thể trừu tượng như:
Khoa Kinh tế và quản trị kinh doanh
Tài khoản số 711A26693277
Tập thực thể (hay còn gọi là kiểu thực thể)là một tập hợp các thực thể có

cùng những đặc trưng chung mà ta quan tâm.
Một thực thể là một thể hiện trong một tập thực thể, hay nói cách khác
mỗi thực thể là một cá thể (hay còn gọi là bản thể) của tập thực thể đó. Chẳng
hạn, tập thực thể Nhân viên có các đặc trưng sau: Mã nhân viên, Tên nhân viên,
Địa chỉ. Trong khi đó, mỗi nhân viên cụ thể được thể hiện bằng các giá trị cụ thể
tương ứng của các đặc trưng kể trên.
24


Ví dụ:
Các đặc trưng của thực thể

Một thực thể

Mã nhân viên

624-17-8790

Tên nhân viên

Nguyễn Thành Trung

Ngày sinh

21/10/1980

Địa chỉ

Ngõ 65/7 Bạch Đằng, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Mỗi tập thực thể chỉ mô tả một lần trong mô hình dữ liệu. Trong khi đó,
có nhiều thể hiện của nó xuất hiện trong thế giới thực mà ta cần lưu giữ nó.
Bảng 2.1 cho các so sánh giữa tập thực thể và thực thể.
Bảng 2.1. Bảng so sánh giữa thực thể và tập thực thể
Tiêu chí

Thực thể

Tập thực thể

Khái niệm Chỉ một đối tượng cụ thể

Chỉ một tập (một lớp) các đối tượng

Số lượng

Một

Nhiều

Bản chất

Dữ liệu

Khung chứa dữ liệu

Thể hiện

Bộ các giá trị tương ứng
với các đặc trưng

Tên thực thể và tên các đặc trưng

Mỗi tập thực thể được gán một tên. Tên tập thực thể là một mệnh đề danh
từ. Trong mô hình ER, một tập thực thể được biểu diễn bằng một hình chữ nhật
có tên bên trong.
TÊN TẬP
THỰC THỂ
2.2.2. Thuộc tính
a. Khái niệm
Thuộc tính là các đặc trưng của tập thực thể. Mỗi tập thực thể có một tập
các thuộc tính gắn kết với nó.
Ví dụ:
Tập thực thể Sinh viên có các thuộc tính: Mã Sinh Viên, Họ Tên Sinh
Viên, Địa Chỉ, Số Điện Thoại mà các trường đại học quan tâm để quản lý sinh
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×