Tải bản đầy đủ

ĐỀ ÁN MỞ NGÀNH ĐÀO TẠO ĐIỀU DƯỠNG TRÌNH ĐỘ TIẾN SĨ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

ĐỀ ÁN MỞ NGÀNH ĐÀO TẠO
ĐIỀU DƯỠNG TRÌNH ĐỘ TIẾN SĨ

NAM ĐỊNH, 2019


MỤC LỤC

Tờ trình…………………………………………………………………………………..1
Phần 1: SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN ........................................................... 3
1. Giới thiệu sơ lược về cơ sở đào tạo. ....................................................................................... 3
2. Kết quả khảo sát, phân tích, đánh giá nhu cầu về nguồn nhân lực điều dưỡng trình
độ tiến sĩ. ................................................................................................................................................... 6
3. Giới thiệu về đơn vị chuyên môn sẽ trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ đào tạo ngành
đăng ký đào tạo. ...................................................................................................................................... 7

4. Lý do đề nghị mở ngành đào tạo trình độ tiến sĩ. ................................................................ 9
Phần 2. NĂNG LỰC CỦA CƠ SỞ ĐÀO TẠO ....................................................................... 18
1. Khái quát chung về quá trình đào tạo ................................................................................... 18
2. Đội ngũ giảng viên, cán bộ cơ hữu ....................................................................................... 21
3. Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo .............................................................................................. 62
Phần 3. CHƯƠNG TRÌNH VÀ KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO ................................................. 169
1. Chương trình đào tạo .............................................................................................................. 170
2. Kế hoạch tuyển sinh, đào tạo và đảm bảo chất lượng đào tạo ..................................... 189

2


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐH ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐỊNH
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------Nam Định., ngày

tháng năm 2019

ĐỀ ÁN MỞ NGÀNH ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ TIẾN SĨ
Tên ngành đào tạo: Điều dưỡng
Mã số: 9.72.03.01
Trình độ đào tạo: Tiến sĩ

Phần 1: SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1. Giới thiệu sơ lược về cơ sở đào tạo
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định được thành lập trên cơ sở Trường Cao đẳng
Y tế Nam Định, tiền thân là Trường Y sĩ Nam Hà thành lập từ năm 1960. Năm 2004,
Trường được nâng cấp thành Trường đại học và trở thành Trường đại học chuyên ngành
điều dưỡng đầu tiên tại Việt Nam theo Quyết định số 24/2004/QĐ-TTg ngày 26/02/2004
của Thủ tướng Chính phủ. Trường là đơn vị trực thuộc Bộ Y tế, chịu sự quản lý Nhà
nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có chức năng đào tạo cán bộ điều dưỡng ở bậc đại
học, sau đại học; đào tạo và bồi dưỡng giảng viên, giáo viên điều dưỡng cho các cơ sở
đào tạo điều dưỡng các tỉnh. Nhà trường là trung tâm nghiên cứu khoa học về điều
dưỡng, tăng cường phát triển nhân lực điều dưỡng và hội nhập với khu vực và trên thế
giới, phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội.


Tên tiếng Việt: TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
Tên tiếng Anh: NAMDINH UNIVERSITY OF NURSING
Tên viết tắt tiếng Việt: ĐHĐD NĐ; tiếng Anh: NDUN
Cơ quan chủ quản: Bộ Y tế
Địa chỉ : 257 Hàn Thuyên - Thành phố Nam Định - Tỉnh Nam Định
Số điện thoại : (0228) 3649666 - 3638184
Email : dieuduong@ndun.edu.vn

Fax : (0228) 3643669

Website : http://www.ndun.edu.vn

Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định có sứ mạng “Phát triển công tác giáo dụcđào tạo, nghiên cứu khoa học về điều dưỡng, hộ sinh và nhóm ngành khoa học sức khỏe
theo hướng đào tạo nguồn nhân lực về điều dưỡng, hộ sinh có chất lượng cao để nâng
3


cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, trở thành một trong những trung tâm đào
tạo nguồn nhân lực y tế về điều dưỡng có uy tín trong nước và quốc tế”, với tầm nhìn:
“Đào tạo đội ngũ nhân lực y tế có chất lượng cao, trong đó trọng tâm là nhân lực điều
dưỡng, hộ sinh nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng về bảo vệ, chăm sóc
và nâng cao sức khỏe của nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước trong thời kỳ đổi mới. Trường trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu
có uy tín trong khu vực về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng, hộ sinh và các nhóm
ngành khoa học sức khỏe chất lượng cao”.
Trong những năm qua, Nhà trường tập trung vào những giá trị cốt lõi đó là “Trường
coi trọng tính năng động, sáng tạo, trung thực, tinh thần trách nhiệm, khả năng sống và
làm việc trong môi trường cạnh tranh”. Nhiệm vụ của Nhà trường đào tạo đội ngũ nhân
lực y tế có chất lượng cao, trong đó trọng tâm là nhân lực điều dưỡng, hộ sinh nhằm đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của
nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ
đổi mới. Trường trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu có uy tín trong khu vực về
đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng, hộ sinh và các nhóm ngành khoa học sức khỏe chất
lượng cao. Hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và các hoạt
động khác của Nhà trường nhằm mang lại những lợi ích với chất lượng tốt nhất cho cộng
đồng và xã hội. Nhà trường đã đào tạo cho đất nước hàng vạn điều dưỡng, hộ sinh, hàng
trăm thạc sĩ điều dưỡng và điều dưỡng chuyên khoa cấp 1. Phần lớn điều dưỡng viên, hộ
sinh viên của các bệnh viện trong cả nước đều tốt nghiệp từ Nhà trường. Trường Đại học
Điều dưỡng Nam Định hướng tới mô hình đại học đa ngành trong nhóm ngành khoa học
sức khỏe, phát triển công tác giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học về điều dưỡng, hộ
sinh và nhóm ngành khoa học sức khỏe theo hướng đào tạo nguồn nhân lực về điều
dưỡng, hộ sinh có chất lượng cao. Qua đó, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân
dân, trở thành một trong những trung tâm đào tạo nguồn nhân lực y tế về điều dưỡng có
uy tín trong nước và quốc tế; có năng lực hội nhập khu vực và quốc tế; là địa chỉ tin cậy
của người học.
Mục tiêu
Từng bước xây dựng và phát triển trường Đại học Điều dưỡng Nam Định trở
thành trường Đại học đa ngành, là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực y tế có chất lượng
cao của vùng Nam Đồng bằng sông Hồng, trong đó đào tạo và nghiên cứu khoa học
4


ngành Điều dưỡng là nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu và có đào tạo một số nhóm ngành
khác về khoa học sức khỏe để đáp ứng nhu cầu chăm sóc và nâng cao sức khoẻ phục vụ
nhân dân theo nhu cầu xã hội và định hướng phát triển nguồn nhân lực y tế của Việt
Nam.
Mục tiêu cụ thể
1. Từng bước phát triển quy mô của nhà trường qua từng giai đoạn;
2. Nâng cao chất lượng đào tạo Điều dưỡng, Hộ sinh đạt chuẩn với trình độ khu
vực và quốc tế; Tập trung xây dựng và đào tạo các chuyên ngành về Điều dưỡng, đặc
biệt đào tạo Điều dưỡng chuyên khoa sâu và đặc thù đáp ứng công tác chăm sóc sức
khoẻ nhân dân; Phát triển đào tạo Điều dưỡng - Hộ sinh ở trình độ sau đại học;
3. Năm 2020, triển khai đào tạo một số ngành thuộc nhóm ngành khoa học sức
khoẻ nhằm đáp ứng sự thiếu hụt nhân lực y tế của đất nước;
4. Phát triển và đẩy mạnh Nghiên cứu khoa học, tăng cường hợp tác trong nước
và quốc tế trên các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ và cung cấp các dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ trong đó trọng tâm là các lĩnh vực liên quan đến khoa học Điều
dưỡng;
5. Từng bước kiện toàn lại cơ cấu, tổ chức nhân lực của nhà trường để phù hợp
với với nhu cầu phát triển của Nhà trường qua từng giai đoạn cụ thể;
6. Từng bước đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng quy mô đào tạo và
nghiên cứu khoa học phù hợp với nhu cầu phát triển của Nhà trường qua từng giai đoạn
cụ thể.
Trường đại học Điều dưỡng Nam Định được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
cho phép đào tạo thí điểm Điều dưỡng trình độ thạc sĩ theo Quyết định số 4134/QĐBGDĐT ngày 01 tháng 10 năm 2014. Chương trình đào tạo Điều dưỡng trình độ thạc sĩ
tại Việt Nam lần đầu tiên được phát triển bởi Trường đại học Điều dưỡng Nam Định với
sự giúp đỡ của Trường đại học Chulalongkorn (Thái Lan), Hội Điều dưỡng Việt nam và
một số chuyên gia Điều dưỡng đến từ các quốc gia có nền Điều dưỡng tiên tiến như Anh;
Mỹ, Úc.
Đến nay, Trường đã đào tạo được 03 khoá học viên tốt nghiệp Thạc sĩ và được Bộ
Giáo dục Đào tạo chính thức giao nhiệm vụ đào tạo Điều dưỡng trình độ Thạc sĩ (mã
ngành 8720301) theo quyết định số 967/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 3 năm 2018 của Bộ
trưởng
5


Cùng với đó là sự ủng hộ rất cao từ phía Bộ Y tế (Thông báo số 795/TB-BYT của
Thứ trưởng Bộ Y tế) nhà trường cũng nhận được sự cam kết của các trường đại học đào
tạo tiến sĩ điều dưỡng ở các nước trên thế giới như trường Đại học Điều dưỡng, Đại học
Polytechnic, Hồng Kong và trường Đại học Điều dưỡng Louise Herrington - Đại học
Baylor Hoa Kỳ trong xây dựng và triển khai chương trình đào tạo tiến sĩ điều dưỡng.
2. Kết quả khảo sát, phân tích, đánh giá nhu cầu về nguồn nhân lực điều dưỡng
trình độ tiến sĩ.
Thực hiện Nghị quyết của Hội đồng Khoa học – Đào tạo, Trường đại học Điều
dưỡng Nam Định đã ban hành kế hoach xây dựng đề án mở ngành đào tạo Điều dưỡng
trình độ tiến sĩ theo Quyết định số 1544/QĐ – ĐDN ngày 08/8/2018.
Một trong những hoạt động quan trọng trong kế hoạch thực hiện đề án là khảo sát,
phân tích, đánh giá nhu cầu về nguồn nhân lực điều dưỡng trình độ tiến sĩ.
Phân tích số liệu khảo sát 17 đơn vị (51 cán bộ quản lý và 174 cựu học viên) sử
dụng nguồn nhân lực Điều dưỡng trong cả nước (tập trung chủ yếu vào các bệnh viện
Trung ương và các cơ sở đào tạo) về năng lực cần có và nhu cầu đào tạo của Điều dưỡng
trình độ tiến sĩ cho thấy: Nhu cầu về Điều dưỡng trình độ tiến sĩ của cơ sở sử dụng lao
động là rất lớn (82,4%); nhu cầu này ở cán bộ điều dưỡng là 56,3% . Đối với các cơ sở
sử dụng lao động, nhu cầu đào tạo Điều dưỡng trình độ tiến sĩ là rất cấp thiết, toàn bộ
(100%) số cơ sở có nhu cầu đào tạo trong năm 2019 (45%); 2020 (31%) và năm 2021
(24%)
Chỉ tiêu 4, mục tiêu 3 của Chương trình hành động quốc gia về tăng cường công
tác điều dưỡng hộ sinh giai đoạn từ 2012 – 2020 (Quyết định số 1215/QĐ-BYT, ngày 12
tháng 4 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế) ghi rõ: Năm 2015, có 15 tiến sĩ điều dưỡng,
hộ sinh và đến năm 2020, có 50 tiến sĩ Điều dưỡng, Hộ sinh. Trên thực tế hiện nay năm
2019, cả nước đang có khoảng 12 tiến sĩ điều dưỡng, như vậy để đạt được mục tiêu đề ra,
Việt Nam cần phải tăng cường cho công tác đào tạo tiến sĩ điều dưỡng nhiều hơn nữa. Số
lượng người đi nghiên cứu sinh điều dưỡng ở nước ngoài tuy đã có tăng lên nhưng con
số này cũng còn rất hạn chế vì những khó khăn về kinh tế, ngôn ngữ, gia đình….Chính
vì vậy việc mở ngành đào tạo điều dưỡng trình độ tiến sĩ ở trường Đại học Điều dưỡng
Nam Định là rất cần thiết và kịp thời trong giai đoạn hiện nay.

6


3. Giới thiệu về đơn vị chuyên môn sẽ trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ đào tạo ngành
đăng ký đào tạo.
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định là đơn vị trực thuộc Bộ Y tế, chịu sự quản
lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường được tổ chức thành 3 cấp: Trường/
Khoa/Bộ môn. Tuy nhiên, do đặc thù của Trường đại học khối ngành sức khoẻ, một
chương trình đào tạo sẽ có sự tham gia của toàn bộ cán bộ giảng viên toàn Trường.
3.1. Về đội ngũ giảng viên:
Hiện nay, Nhà trường có 195 giảng viên cơ hữu, với 01 Phó giáo sư, 13 tiến sĩ và
108 thạc sĩ. Năm 2018, Trường đã bổ nhiệm 10 Phó giáo sư, nhà trường có gần 20 tiến
sĩ là giảng viên thỉnh giảng trong nước; và 19 giảng viên thỉnh giảng nước ngoài có
chuyên ngành điều dưỡng (phụ lục). Hơn nữa, trường hiện có 12 nghiên cứu sinh, trong
đó có 02 nghiên cứu sinh chuyên ngành điều dưỡng đang học tập ở nước ngoài chuẩn bị
tốt nghiệp (năm 2019). Đồng thời, trong quy hoạch cán bộ của trường, mỗi năm có từ 2-3
giảng viên được đào tạo trình độ tiến sĩ điều dưỡng.
3.2 Cơ sở vật chất
Hiện tại, các hoạt động của Nhà trường được bố trí ở các khu nhà Hiệu bộ 9 tầng,
khu thực hành tiền lâm sàng, Thư viện, khu giảng đường và cùng trong khuôn viên liên
hoàn nối tiếp nhau với hệ thống đường nội bộ chạy bao xung quanh toàn trường. Nhà
trường có 120 phòng làm việc phục vụ đủ cho các phòng ban chức năng, có 25 phòng
học lý thuyết từ 50 đến 150 chỗ ngồi, 01 hội trường lớn với 450 chỗ ngồi đáp ứng đủ cho
hoạt động giảng dạy và học tập. Nhà trường có 55 phòng thực hành, thí nghiệm (bao
gồm tất cả các phòng thực hành, thí nghiệm, phòng máy tính trong toàn trường) trong đó
có 14 phòng thực hành thuộc Khoa Điều dưỡng - Hộ sinh về việc thực hiện các chăm sóc
cơ bản cho người bệnh. Trung tâm Thực hành tiền lâm sàng được bố trí ở khu nhà 03
tầng với tổng diện tích sàn xây dựng là 3342 m2 phục vụ trực tiếp với 11 phòng thực
hành mô phỏng về thực hành chăm sóc theo chuyên khoa như: cấp cứu nội khoa, cấp cứu
nhi khoa, chăm sóc nội khoa, ngoại, khoa, nhi khoa và sản phụ khoa. Các trang thiết bị
của trung tâm thực hành tiền lâm sàng được cung cấp bởi nguồn kinh phí nhà trường và
dự án ADB; việc xây dựng và lắp đặt tại trung tâm được tư vấn hỗ trợ của các chuyên gia
tại trường Đại học Điều dưỡng Louise Herrington – Đại học Baylor Hoa Kỳ.
Nhà trường đã trang bị 415 bộ máy tính để bàn, 05 máy chủ, 67 máy tính xách tay,
đáp ứng nhu cầu sử dụng cho các khoa, phòng, bộ môn, trung tâm và phòng thực hành
7


(05 phòng). Số lượng máy tính, máy chiếu phục vụ giảng dạy tại khu giảng đường 25 bộ
đủ cho 25 phòng học. Tất cả các máy tính làm việc đều được kết nối mạng LAN và hệ
thống đường truyền cáp quang (05 đường truyền) với dung lượng 70Mbps của VNPT và
Viettel. Trung tâm Thực hành tiền lâm sàng được đầu tư hệ thống trang thiết bị thực
hành mô phỏng có kết nối CNTT, giúp người học có môi trường thực hành giống với
thực tế bệnh viện, đáp ứng nhu cầu thực hành tay nghề trước khi người học được thực
tập tại bệnh viện.
Trang thông tin điện tử của trường: www.ndun.edu.vn. Nhà trường ban hành quy
định về Quy chế tổ chức và hoạt động của ban biên tập, ban kỹ thuật website của nhà
trường (phụ lục). Các đơn vị trong toàn trường có trách nhiệm cung cấp nội dung thông
tin hàng ngày, tuần, tháng, quý, năm về ban biên tập và ban kỹ thuật website để cập nhật
về các thông tin liên quan đến các hoạt động của các đơn vị.
3.3 Thư viện:
Hiện tại, Thư viện nhà trường có tổng số đầu tài liệu là 4152 với 4093 cuốn, trong
đó số tài liệu điện tử là 627; giáo trình là 156 đầu cuốn, sách tham khảo 504 đầu cuốn.
Toà nhà Thư viện gồm 3 tầng với diện tích khoảng 812m2, bao gồm cả sảnh nghỉ và khu
vực nghiên cứu. Trong đó, hệ thống phòng đọc có 02 phòng (phòng đọc học viên, phòng
đọc sau đại học), 01 phòng mượn trả tài liệu, 01 phòng thư viện điện tử. Tất cả các phòng
chức năng được kết nối mạng LAN, mạng Internet, có hệ thống Wifi, các máy tính của
cán bộ được cài đặt phần mềm Quản lý thư viện Ilibme 5.0. Hàng năm, bạn đọc lên Thư
viện sử dụng các dịch vụ khoảng 8000 lượt. Ngoài ra, Thư viện Nhà trường đã liên kết,
hợp tác với cơ sở dữ liệu 17 trường y dược thông qua trang thư viện ảo của Trường Đại
học Y Hà nội và cơ sở dữ liệu Hinary của tổ chức Y tế thế giới.
Hiện này Nhà Trường hiện đang tiến hành đặt mua cơ sở dữ liệu của các tạp chí uy
tín trên thế giới về Điều dưỡng làm tài liệu tham khảo cho giảng viên và người học phục
vụ cho nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
3.4 Cơ sở thực hành của nhà trường
Bệnh viện Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định với quy mô 50 giường bệnh, có
diện tích mặt bằng là 2339,3 m2 và diện tích xây dựng là 4587,8 m2. Bệnh viện gồm 5
phòng chức năng, 07 khoa lâm sàng và 01 khoa dược. Bệnh viện hiện đang xây dựng và
dự kiến sẽ đi vào hoạt động trong năm 2019.

8


Trường tổ chức mời giảng các giảng viên từ các cơ sở thực hành tham gia giảng
dạy thực hành lâm sàng, năm 2018 có 56 giảng viên kiêm giảng của Trường từ các cơ sở
thực hành tham gia giảng dạy sau đại học. Hiện nay nhà trường có ký hợp đồng nguyên
tắc và đang gửi học viên Sau đại học thực hành lâm sàng tại các bệnh viện:
- Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
- Bệnh viện Bạch Mai
- Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
- Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
- Bệnh viện Nhi trung ương
3.5 Nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nghiên cứu khoa học về lĩnh vực điều dưỡng là
điểm mạnh của nhà trường. Tính trong 5 năm trở lại đây nhà được đã có 349 đề tài các
cấp từ Bộ đến cơ sở được tiến hành và nghiệm thu với kết quả từ khá trở lên với sự tham
gia của 159 cán bộ. Trong 5 năm trở lại đây số lượng các bài bảo, sản phẩm khoa học
tăng lên rõ rệt với 315 bài báo về lĩnh vực điều dưỡng đã được đăng trên các tạp chí uy
tín trong nước và quốc tế.
Tháng 01 năm 2018 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng của Trường chính thức ra mắt,
đến nay đã xuất bản được 04 số với trên 150 bài báo khoa học. Trong năm 2019, tạp chí
sẽ hoàn thiện hồ sơ để trình Hội đồng chức danh giáo sư tính điểm.
4. Lý do đề nghị mở ngành đào tạo trình độ tiến sĩ.
Nhu cầu đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Điều dưỡng tại Việt Nam hiện nay là rất cấp
bách vì:
4.1. Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực điều dưỡng trình độ cao ở Việt Nam
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế khách quan và ngày
càng phát triển mạnh mẽ trên thế giới nhờ có sự phát triển của khoa học công nghệ. Ngày
nay, toàn cầu hóa và hội nhập không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế mà còn mở rộng
phạm vi sang cả lĩnh vực văn hóa, giáo dục và xã hội, đòi hỏi giáo dục Việt Nam từng
bước đổi mới, dần tiếp cận nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định là trường với nhiệm vụ trọng tâm là đào
tạo nguồn nhân lực điều dưỡng do vậy việc đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ Điều dưỡng nhằm đáp
ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội về nguồn nhân lực Điều dưỡng chất lượng cao là một
trong những nhiệm vụ tất yếu của Nhà trường. Để góp phần chuẩn bị nguồn lực giảng
9


viên điều dưỡng và điều dưỡng viên đáp ứng nhu cầu xã hội thì việc mở ngành đào tạo
tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam là nhiệm vụ tiên quyết và cấp bách của trường đại học đầu
tiên và duy nhất đào tạo chuyên sau về điều dưỡng – Trường Đại học điều dưỡng Nam
Định là điều vô cùng quan trọng và cần thiết.
4.2. Yêu cầu nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Trên phạm vi toàn thế giới, chúng ta đang chứng kiến một cuộc cách mạng về
tăng tuổi thọ, tuổi thọ trung bình của con người đã tăng thêm hơn 30 năm. Sự tăng nhanh
của dân số trong nửa đầu thế kỷ 21 đồng nghĩa với tỷ lệ người cao tuổi sẽ tăng từ 10 lên
15%; 600 triệu người năm 2000 lên 2 tỷ người năm 2025. Các nước đang phát triển sẽ là
nơi có tỷ lệ người cao tuổi tăng cao nhất và nhanh nhất.
Việt Nam hiện nay có cấu trúc dân số trẻ, điều này kéo theo tỷ lệ nhóm phụ nữ
bước vào tuổi sinh đẻ cũng rất lớn, sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nhu cầu sử dụng các dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản và nhi khoa. Tuy nhiên, tỷ lệ người cao tuổi cũng đang có
xu hướng tăng nhanh, dự báo sẽ tăng gấp đôi từ 8,1% năm 1999 lên đến 16,6% năm
2029.1
Cùng với sự gia tăng của tuổi thọ trung bình, mô hình bệnh tật của nước ta cũng
đang thay đổi nhanh chóng. Một mặt chúng ta vẫn phải đương đầu với các bệnh lây
truyền, thì mặt khác, chúng ta đang phải đối phó với sự gia tăng nhanh chóng của các
bệnh không lây nhiễm, tai nạn, ngộ độc, chấn thương, bệnh tim mạch, ung thư, đái tháo
đường, rối loạn tâm thần, suy dinh dưỡng, béo phì…Vì vậy, dịch vụ chăm sóc Điều
dưỡng trở nên thiết yếu với mọi người, mọi gia đình.
Bên cạnh đó, kinh tế ngày càng phát triển, nhận thức và thái độ về sức khỏe của
người dân thay đổi, đòi hỏi nâng cao chuẩn mực chăm sóc Điều dưỡng không chỉ bó hẹp
ở chất lượng dịch vụ mà còn quan tâm đến các khía cạnh khác như: thời gian, không
gian, địa điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc.
Nhu cầu chăm sóc Điều dưỡng được dự đoán sẽ tăng lên nhiều lần vào cuối thập
niên thứ hai của thế kỷ XXI, dần dần sẽ trở nên cân bằng với nhu cầu khám chữa bệnh.
Điều này đòi hỏi cần có chiến lược phát triển nguồn nhân lực Điều dưỡng trình độ cao để
đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong đó không phủ nhận vai trò tiên phong và chủ đạo của
trường Đại học Điều dưỡng trong việc đào tạo nguồn nhân lực Điều dưỡng chất lượng
cao: Thạc sĩ Điều dưỡng, Tiến sĩ Điều dưỡng
1

http://danso.giadinh.net.vn/

10


4.3.Vai trò của người điều dưỡng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe
Trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ, vai trò của người điều dưỡng đã được Tổ chức
Y tế thế giới đã khẳng định: “Điều dưỡng là một mắt xích quan trọng của công tác chăm
sóc sức khỏe. Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ do người điều dưỡng - hộ sinh cung cấp tác
động lớn tới sự hài lòng của người bệnh” và đưa ra khuyến cáo “Ở bất cứ quốc gia nào,
muốn nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe thì phải chú ý phát triển công tác điều
dưỡng”. Người điều dưỡng là một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống nhân lực y
tế và đóng góp trực tiếp vào việc giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ biến chứng, tử vong và rút
ngắn số ngày điều trị của người bệnh. Xét trên phạm vi rộng, điều dưỡng viên đóng vai
trò quan trọng không chỉ trong cơ cấu nhân lực của các cơ sở khám chữa bệnh, mà còn là
thành phần nhân lực không thể thiếu trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng (với tư
cách hướng dẫn viên) cũng như trong công tác đào tạo (với tư cách giảng viên hoặc trợ
giảng).
Để quy định chức năng, nhiệm vụ của điều dưỡng viên, các văn bản chuyên môn
của ngành y tế đã xuất phát từ quan điểm điều dưỡng là một ngành độc lập trong lĩnh
vực khoa học y tế. Quán triệt quan điểm đó, xét trong phạm vi đào tạo, rất cần một đội
ngũ giảng viên chuyên trách chịu trách nhiệm giảng dạy về khoa học điều dưỡng, đủ
năng lực và phẩm chất, nắm vững lý luận và thông thạo kỹ năng thực hành – thực sự
chuyên nghiệp về điều dưỡng.
Hiện tại, đội ngũ giảng viên giảng dạy ngành điều dưỡng không những đang thiếu
về số lượng mà, xét về chất lượng, đang có nhiều hạn chế. Đội ngũ giảng viên, giáo viên
giảng dạy ngành điều dưỡng tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp phần đông vẫn
là các bác sỹ (không được đào tạo chuyên về điều dưỡng). Số lượng giảng viên/ giáo
viên được đào tạo chuyên về điều dưỡng - có bằng đại học điều dưỡng - còn chiếm tỷ lệ
khiêm tốn. Rõ ràng, khan hiếm giảng viên được đào tạo chuyên sâu về điều dưỡng đang
là một vấn đề bức xúc và để tăng cường đội ngũ giảng viên giảng dạy môn học điều
dưỡng được đào tạo chuyên sâu đúng chuyên ngành, thì không thể dừng ở trình độ đại
học mà bắt buộc phải có trình độ thạc sỹ và tiến sỹ điều dưỡng để đáp ứng nhu cầu của
các cơ sở đào tạo.
Bên cạnh đó, từ năm 2018 với việc tăng cường và mở rộng đào tạo điều dưỡng
trình độ thạc sĩ trong cả nước, số trường đào tạo thạc sĩ tăng lên cùng với số lượng người
học ngày một tăng. Nhu cầu về giảng viên giảng dạy cho các chương trình đào tạo thạc sĩ
11


này cũng tăng lên. Để giảng dạy các môn ngành và chuyên ngành về điều dưỡng trong
chương trình thạc sĩ điều dưỡng, người giảng viên phải là điều dưỡng có trình độ tiến sĩ.
Do vậy, có một cơ sở đào tạo về điều dưỡng có trình độ tiến sĩ là một yêu cầu tất yếu của
xã hội hiện nay.
4.4. Thực trạng công tác đào tạo ngành điều dưỡng trình độ tiến sỹ
Điều dưỡng là một ngành mới tại Việt Nam, chỉ mới hơn 20 năm phát triển ngành,
kể từ năm 1995, khi Trường Đại học Y Hà Nội đào tạo khóa 1 điều dưỡng trình độ đại
học, đến năm 2007 mới có khóa đào tạo Thạc sĩ điều dưỡng đầu tiên được đào tạo tại
trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh với hình thức liên kết. Tính đến
12/2018, tại Việt Nam có 08 cơ sở đào tạo Điều dưỡng trình độ Sau đại học ở trình độ
Thạc sĩ (4 cơ sở đào tạo đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo chương trình
thạc sỹ điều dưỡng: Trường Đại học Y Dược TPHCM bắt đầu từ năm 2011, Trường Đại
học Điều dưỡng Nam Định từ năm 2015, Trường Đại học Y Hà Nội từ năm 2016 và
Trường Đại học Thăng Long từ năm 2017) và Chuyên khoa cấp I và chưa có cơ sở nào
Đào tạo Điều dưỡng trình độ Tiến sĩ. Tính đến thời điểm hiện tại, cả nước có hơn 200
học viên đang theo học chương trình đào tạo thạc sỹ điều dưỡng trong nước và gần 100
học viên đang theo học tại cơ sở đào tạo tại nước ngoài và/hoặc đang theo học các
chương trình quốc tế (liên kết đào tạo theo phương thức kết hợp giữa chương trình trong
nước với chương trình của một cơ sở đào tạo nước ngoài do một cơ sở trong nước chủ trì
phối hợp với một cơ sở đào tạo nước ngoài cùng tổ chức thực hiện).
Cũng trong thời gian qua, theo yêu cầu đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao, một số cơ sở đào tạo đã cử giảng viên tham dự các chương trình đào tạo tiến
sỹ điều dưỡng tại Thái Lan, Úc, Vương quốc Anh … Tính đến nay có khoảng 10 người
đã hoàn thành chương trình tiến sỹ điều dưỡng và về công tác tại các cơ sở đào tạo
(Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định: 02 người, Trường Đại học Y Dược TPHCM:
02 người, Trường Đại học Y Hà Nội: 02 người, Trường Đại học Thăng Long: 02 người,
Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch: 01 người, Trường Đại học Quốc tế Hồng
Bàng: 01 người). Tuy nhiên, số lượng chưa đủ để đảm bảo các tiêu chí mở ngành điều
dưỡng trình độ đại học, thạc sỹ theo quy định về đội ngũ giảng viên để mở ngành của Bộ
Giáo dục và Đào tạo. Để được mở ngành đào tạo, các trường vẫn phải mượn đội ngũ
giảng viên là giáo sư, phó giáo sư có trình độ tiến sỹ các ngành gần (chủ yếu là các
ngành thuộc nhóm y khoa theo danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV trình độ thạc sỹ, tiến
12


sỹ của Bộ Giáo dục và Đào tạo) và một số giảng viên người nước ngoài của các trường
hỗ trợ theo Dự án (như Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và Trường Đại học Y
Dược TPHCM đang thực hiện).
Trong khi đó, tại một số nước như Nhật Bản, từ năm 1993, các trường đào tạo
điều dưỡng trình độ sau đại học ở Nhật Bản, bắt đâu tăng. Tại thời điểm đó, toàn nước
Nhật có 7 khóa đào tạo thạc sĩ và 3 khóa đào tạo tiến sĩ. Sau năm1993, số lượng các khóa
đào tạo thạc sĩ tăng dần, và đến năm 2018 đã có 175 khóa đào tạo thạc sĩ với 2,722 sinh
viên thạc sĩ. Số lượng các khóa đào tạo tiến sĩ cũng tăng, và đến năm 2018 đã có 94 khóa
đào tạo tiến sĩ với 625 nghiên cứu sinh. Tại Hoa Kỳ, chương trình đào tạo tiến sĩ điều
dưỡng bắt đầu từ năm 1945. Các chương trình tiến sĩ điều dưỡng được chia thành hai loại
chính: chương trình tập trung vào nghiên cứu và chương trình tập trung vào thực hành.
Hầu hết các chương trình tập trung vào nghiên cứu đều cấp bằng Tiến sĩ (PhD), trong
khi một số ít chương trình cấp bằng Tiến sĩ về khoa học điều dưỡng (DNS, DSN hoặc
DNSc).
4.5. Xu hướng hội nhập quốc tế về đào tạo điều dưỡng
Hiện nay trên thế giới, nhu cầu đào tạo điều dưỡng viên nói chung và đào taọ tiến
sĩ điều dưỡng gia tăng một cách nhanh chóng nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu chăm
sóc người bệnh một cách toàn diện hơn.
Các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á đã ký các thỏa thuận khung về công nhận
dịch vụ Y, Điều dưỡng và Nha khoa, theo đó tiến tới thừa nhận và cho phép công dân
của các nước thành viên có chứng chỉ hành nghề hợp pháp được hành nghề Y, điều
dưỡng, Nha khoa ở các nước thành viên. Các Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (Mutual
Recognition Agreement-MRA) để hỗ trợ cho sự di cư điều dưỡng trên phạm vi khu vực
và toàn cầu đã trở thành mối quan tâm của các chính phủ, được đặt ra trong tiến trình hội
nhập và đã trở thành cam kết của các chính phủ.
Chuyên ngành Điều dưỡng - một ngành dịch vụ thiết yếu cần cho mọi người, mọi
gia đình đã và đang phát triển thành một ngành học đa khoa có nhiều chuyên khoa sau
đại học. Tuy nhiên sự phát triển không đồng đều và đa dạng của ngành Điều dưỡng trong
tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế tất yếu sẽ dẫn đến nhu cầu chuẩn hóa hệ thống đào
tạo, chuẩn hóa trình độ Điều dưỡng viên để tạo điều kiện cho việc mở rộng môi trường
làm việc và sự công nhận lẫn nhau về trình độ điều dưỡng giữa các nước khu vực. Điều
này một lần nữa khẳng định sự tiên phong trong mở mà ngành Tiến sĩ Điều dưỡng tại
13


trường Điều dưỡng Nam Định là một chủ trương đúng đắn và phù hợp với thực tiễn
khách quan; khẳng định sự cần thiết có sự tham gia của yếu tố giảng viên nước ngoài
trong chương trình đào tạo và một chế tài đầu tư hợp lý cho việc phát triển nguồn nhân
lực giảng viên có trình độ cao.
4.6. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tiến sĩ Điều dưỡng trên Thế giới
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tính đến năm 2006, trên Thế giới
ước tính thiếu gần 4,3 triệu Bác sĩ, Hộ sinh, Điều dưỡng viên và nhân viên hỗ trợ y tế. Ở
Hoa Kỳ hiện nay đang thiếu khoảng 116.000 Điều dưỡng viên làm việc trong các bệnh
viện và khoảng 100.000 Điều dưỡng viên làm việc tại các Viện Dưỡng lão. Ở Canada, dự
báo trong 5 năm tới sẽ thiếu khoảng 71.000 Điều dưỡng viên. Tại Nhật Bản ước tính
trong vòng 10 năm tới, sẽ cần từ 400.000 đến 600.000 Điều dưỡng, hộ lý chăm sóc cho
người cao tuổi. 2
Sau thế chiến thứ II, năm 1948 chứng chỉ hành nghề của điều dưỡng tại Nhật Bản
(bao gồm điều dưỡng sức khở cộng đồng và hộ sinh) trở thành chứng chỉ quốc gia. Việc
đào tạo Điều dưỡng trình độ Đại học được bắt đầu vào thập niên 50 (Sakagaki 2015). Từ
năm 1993, các trường đào tạo điều dưỡng trình độ sau đại học ở Nhật Bản, bắt đâu tăng.
Tại thời điểm đó, toàn nước Nhật có 7 khóa đào tạo thạc sĩ và 3 khóa đào tạo tiến sĩ. Sau
năm1993, số lượng các khóa đào tạo thạc sĩ tăng dần, và đến năm 2018 đã có 175 khóa
đào tạo thạc sĩ với 2,722 sinh viên thạc sĩ. Số lượng các khóa đào tạo tiến sĩ cũng tăng,
và đến năm 2018 đã có 94 khóa đào tạo tiến sĩ với 625 nghiên cứu sinh

2

World Health Statistics 2011

14


(Trích dẫn từ bài trình bày của GS.TS. Masaki Moriyama trình bày tại Hội thảo đào tạo
điều dưỡng trình độ tiến sĩ_ Trường đại học Điều dưỡng Nam Định).
Tại Mỹ: Các chương trình tiến sĩ điều dưỡng được chia thành hai loại chính:
chương trình tập trung vào nghiên cứu và chương trình tập trung vào thực hành. Hầu hết
các chương trình tập trung vào nghiên cứu đều cấp bằng Tiến sĩ (PhD), trong khi một số
ít chương trình cấp bằng Tiến sĩ về khoa học điều dưỡng (DNS, DSN hoặc DNSc).
4.7. Nhu cầu nhân lực điều dưỡng trình độ tiến sỹ ở Việt Nam
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động Thương binh – Xã hội
và Bộ Y tế, trên toàn quốc, hiện tại có 17 trường đại học đang đào tạo ngành điều dưỡng
trình độ đại học và gần 50 cơ sở đào tạo ngành điều dưỡng trình độ cao đẳng. Tính theo
các tiêu chuẩn quy định về mở ngành đào tạo trình độ đại học, cao đẳng của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, Bộ Lao động Thương binh – Xã hội thì số lượng giảng viên ít nhất để duy trì
công tác đào tạo các chương trình trên cần có từ 20 đến 30 tiến sỹ ngành điều dưỡng và
gần 200 thạc sỹ điều dưỡng.
Tính đến thời điểm hiện tại, số lượng tiến sỹ điều dưỡng đã có là chưa đủ. Về số
lượng thạc sỹ, tuy trong thời gian qua trên toàn quốc đã có hơn 400 thạc sỹ được đào tạo
trong và ngoài nước, nhưng trải rộng khắp nước. Dự kiến đến năm 2020, khi triển khai
đúng các yêu cầu về duy trì ngành đào tạo đã được mở quy định tại Thông tư nói trên,
tổng lượng giảng viên có trình độ thạc sỹ là 250 người và lượng tiến sỹ là 35 người và
chưa tính đội ngũ giảng viên để giảng dạy các chương trình thạc sỹ thêm khoảng 5 tiến
sỹ đúng ngành/ trường. Như vậy, cần phải tăng cường đào tạo đội ngũ điều dưỡng trình
độ thạc sỹ và tiến sỹ ngành điều dưỡng.
Tuy nhiên, như chúng ta đều biết, để làm một điều dưỡng chuyên nghiệp, cần phải
có kỹ năng thực hành tốt. Thời lượng thực hành trong toàn bộ chương trình đào tạo cử
nhân điều dưỡng (trình độ đại học) chiếm trên 60%. Như vậy, ngoài đội ngũ giảng viên
giảng dạy ở cơ sở đào tạo thì vẫn cần một lượng lớn giảng viên hoặc người trợ giảng tại
các cơ sở thực hành (cơ sở điều trị hoặc các bệnh viện, phòng khám). Nên số lượng
giảng viên ngoài trình độ chuyên môn còn cần có các kỹ năng ngành nghề chuẩn để đào
tạo đội ngũ điều dưỡng viên đảm bảo chất lượng.
Bên cạnh đó, theo mô tả nhiệm vụ của điều dưỡng viên hạng II tại Thông tư liên
tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV có tiêu chuẩn trình độ đào tạo, bồi dưỡng là chuyên
khoa cấp I hoặc thạc sỹ chuyên ngành điều dưỡng và nhiệm vụ về đào tạo, nghiên cứu
15


khoa học và phát triển nghề nghiệp. Như vậy, các cơ sở cũng cần xây dựng chương trình
đào tạo đảm bảo đáp ứng các yêu cầu xã hội cho cả các giảng viên đào tạo ngành điều
dưỡng và cho cả các điều dưỡng viên hạng II công tác tại các cơ sở điều trị. Đáp ứng yêu
cầu thực tế trước mắt, vị trí điều dưỡng hạng I chưa được quy định Thông tư này. Tuy
nhiên, theo sự phát triển của xã hội, trong tương lai cũng cần phải hoàn thiện các văn bản
quy định vị trí, vai trò và nhiệm vụ cho điều dưỡng hạng I, tương ứng với tiến sỹ điều
dưỡng.
Căn cứ vào nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân Việt Nam trong thời gian tới,
căn cứ vào nhu cầu nguồn nhân lực trình độ tiến sỹ điều dưỡng cho các cơ sở khám chữa
bệnh và cơ sở đào tạo điều dưỡng, căn cứ vào định hướng phát triển và hội nhập quốc tế
của ngành điều dưỡng, trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ được giao và năng lực của đội ngũ
cán bộ giảng viên, cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc dạy và học, Trường Đại học Điều
dưỡng Nam Định đã xây dựng Đề án đề nghị cho phép đào tạo ngành điều dưỡng trình
độ tiến sỹ và hồ sơ đề nghị cho phép đào tạo cũng đã được đưa lên trang web của Nhà
trường tại địa chỉ: www.ndun.edu.vn
Để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực tiến sỹ điều dưỡng cho các cơ sở khám chữa
bệnh cũng như các cơ sở đào tạo điều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đề
nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo tiến sĩ điều dưỡng.
4.8. Đánh giá thuận lợi và khó khăn
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định là Đại học chuyên ngành về Điều dưỡng
duy nhất ở Việt Nam. Trong bối cảnh thiếu hụt nghiêm trọng về nguồn nhân lực Điều
dưỡng trên phạm vi toàn cầu nói chung và Việt nam nói riêng, đây vừa là cơ hội vừa là
thách thức của Nhà trường trong lộ trình thực hiện sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực Y tế
(trọng tâm là Điều dưỡng) chất lượng cao có khả năng hội nhập quốc tế. Cơ hội là Nhà
trường đào tạo và cung ứng ra thị trường lao động sản phẩm đào tạo đầu ra và được thị
trường lao động “lựa chọn” với một tỷ lệ cao do khan hiếm về nguồn nhân lực. Tuy
nhiên Nhà trường gặp nhiều thách thức về về nguồn lực giảng viên tham gia giảng dạy ở
trình độ cao, đặc biệt là Tiến sĩ Điều dưỡng. Nguyên nhân của thực trạng này:
Thứ nhất, Ở Việt Nam hiện nay chưa có cơ sở nào đào tạo Tiến sĩ Điều dưỡng.
Vì vậy để có nguồn giảng viên đào trình độ cao Nhà trường chọn giải pháp gửi giảng
viên đi đào tạo tại các cơ sở giáo dục ở nước ngoài. Tuy nhiên các giảng viên thường
song hành đảm nhận hai vai trò: vừa là thầy thuốc, hướng dẫn sinh viên thực hành tại
16


bệnh viện vừa là giảng viên đại học. Do vậy việc định hướng cho họ đi học nghiên cứu
sinh để nâng cao học vị là rất khó khăn không chỉ về yếu tố ngoại ngữ mà còn cả quyết
tâm để họ dành thời gian tập trung nghiên cứu nếu không có chính sách khuyến khích
thích đáng và môi trường làm việc tích cực. Đây chính là lý do Nhà trường phải gửi 07
giảng viên học tập nâng cao trình độ ở Thái Lan trong đó có 02 nghiên cứu sinh; 05 Cao
học về Điều dưỡng (hiện nay các học viên đã hoàn thành khoá học và 02 trong số 5 thạc
sĩ hiện đang làm nghiên cứu sinh tại Hồng Kong và Thái Lan)
Thứ hai, nguồn tài chính hạn chế không đủ khuyến khích giảng viên tham gia học
tập nâng cao trình độ. Khắc phục tình trạng trên, Nhà trường chọn giải pháp mời giảng
viên nước ngoài tham gia giảng dạy một số môn học của chương trình đào tạo Tiến sỹ.
Nhằm hỗ trợ giảng viên nhà trường cũng như các nghiên cứu sinh trong chương trình
Tiến sĩ điều dưỡng thực hiện nghiên cứu và công bố các nghiên cứu trong các diễn đàn
khoa học trong nước và trên thế giới.

Bộ Y tế (2013), Quyết định số 1215/QĐ - BYT ngày 12 tháng 4 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y
tế ban hành Chương trình hành động quốc qia về tăng cường công tác điều dưỡng, hộ
sinh giai đoạn 2012 - 2020,
Bộ Y tế (2015), quyết định số 2992/QĐ-BYT ngày 17 tháng 7 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế
ban hành kế hoạch phát triển nhân lực trong hệ thống khám bệnh, chữa bệnh giai đoạn
2015 – 2020.
Bộ Y tế (2017), Tóm tắt số liệu thống kê y tế 2011-2015. NXB Y học. Hà Nội, tr14
Bộ Y tế (2014), quyết định 2999/QĐ-BYT ngày 12 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê
duyệt Quy hoạch tổng thể Trường đại học Điều dưỡng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm
2030
Nguyễn Phương Hiền ( 2018),Thực trạng công tác đào tạo và như cầu điều dưỡng viên có
trình độ thạc sĩ, tiến sĩ ở Việt Nam. Hội thảo đào tạo điều dưỡng trình độ tiến sĩ. Trường
đại học Điều dưỡng Nam Định. Năm 2018
Masaki Moriyama (2018), Một số kinh nghiệm trong đào tạo tiến sĩ điều dưỡng ở Nhật Bản.
Hội thảo đào tạo điều dưỡng trình độ tiến sĩ. Trường đại học Điều dưỡng Nam Định.
Năm 2018
P.F Cipriano (2006), "Introducing the new voice of nurses", American Nurse Today Journal,.
October, 2006. Vol 1(No 1.).
17


Phần 2. NĂNG LỰC CỦA CƠ SỞ ĐÀO TẠO
1. Khái quát chung về quá trình đào tạo
1.1 Quá trình đào tạo của nhà trường
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định hiện đang có 4 ngành đào tạo là điều
dưỡng, hộ sinh, y tế công cộng và dinh dưỡng. Trong đó, chỉ có ngành điều dưỡng là có
hình thức đào tạo liên thông vừa làm – vừa học, còn tất cả các ngành khác đều có hình
thức đào tạo chính quy. Các trình độ đào tạo của các ngành cụ thể như sau:
- Ngành điều dưỡng hiện nhà trường đang đào tạo các trình độ: cao đẳng, đại học,
chuyên khoa cấp I và thạc sĩ.
- Ngành hộ sinh hiện đang đào tạo các trình độ: cao đẳng và đại học
- Ngành dinh dưỡng và y tế công cộng đang đào tạo ở trình độ đại học.
1.2. Quy mô đào tạo của Trường hiện nay
Từ năm 2005, Nhà trường được giao nhiệm vụ đào tạo Đại học điều dưỡng với các
hình thức chính quy, liên thông vừa học – vừa làm. Năm 2005, nhà trường tuyển sinh
khóa 1 đại học điều dưỡng chính quy và đến nay đã có 10 khóa đào tạo ra trường.
Năm 2012, Bộ Y tế giao nhiệm vụ cho nhà trường đào tạo điều dưỡng chuyên khoa
cấp I với các chuyên ngành: Nội người lớn; Ngoại người lớn, Nhi, Sản - Phụ khoa, Tâm
thần và Y tế cộng đồng. Hiện nay nhà trường đã đào tạo đến khóa thứ 7 và đã có 05 khóa
tốt nghiệp ra trường.
Năm 2014, Bộ Giáo dục và đào tạo giao nhiệm vụ cho nhà trường đào tạo Thạc sĩ
điều dưỡng, hiện nhà trường đã đào tạo đến khóa thứ 5 và đã có 3 khóa tốt nghiệp. Trong
chương trình đào tạo thạc sĩ điều dưỡng nhà trường có mời các giảng viên điều dưỡng ở
các trường đại học có đào tạo điều dưỡng ở các nước như: Hoa Kỳ, Thái Lan, Nhật Bản
tham gia giảng dạy các học phần chuyên ngành.
Bên cạnh, việc đào tạo ngành điều dưỡng, nhà trường cũng được Bộ Giáo dục và
Đào tạo giao nhiệm vụ cho nhà trường đào tạo Cử nhân dinh dưỡng, Cử nhân Y tế công
cộng và Đại học Hộ sinh.
Bảng 2.1 Số lượng sinh viên – học viên hiện nhà trường đang đào tạo
TT
1

Đối tượng đào tạo
Cao học Điều dưỡng

18

Hình thức đào tạo

Số lượng

Chính quy

57


Đối tượng đào tạo

TT

Hình thức đào tạo

Số lượng

2

Điều dưỡng chuyên khoa cấp 1

Chính quy

200

3

Đại học Điều dưỡng

Chính quy

2173

4

Đại học Hộ sinh

Chính quy

119

5

Đại học Y tế công cộng

Chính quy

13

6

Đại học Dinh dưỡng

Chính quy

17

7

Cao đẳng Điều dưỡng

Chính quy

37

8

Cao đẳng Hộ sinh

Chính quy

22

9

Đại học liên thông từ trung cấp

Liên thông chính quy

251

10

Đại học liên thông VLVH từ cao đẳng

Liên thông VLVH

438

11

Đại học liên thông VLVH từ trung cấp

Liên thông VLVH

407

12

Đại học VLVH

Liên thông VLVH

74

Bảng 2.2 Thực trạng tốt nghiệp của người học ngành điều dưỡng
trong 5 năm gần đây
Đối tượng
Số lượng sinh viên
ĐDDH tốt nghiệp
hệ chính quy n (%)
Số lượng học viên
ĐDCKI tốt nghiệp
n (%)

Năm tốt nghiệp
2013-2014 2014-2015 2015-2016 2016-2017 2017-2018
532

579

539

695

674

(93,50)

(94,92)

(95,06)

(94,81)

(91,57)

83

57

32

53

73

(100)

(100)

(100)

(100)

(100)

86 (100)

48 (97,96)

Số lượng học viên
Cao học tốt nghiệp
n (%)
Đối với bậc đào tạo Cao học Điều dưỡng, được sự cho phép điểm của Bộ Giáo dục
và Đào tạo Nhà trường đào tạo Thí điểm tuyển sinh khóa đầu tiên năm 2014, nhưng có
sự điều chỉnh thời điểm tuyển sinh Cao học khóa 1 là tháng 01 năm 2015 là 30 học viên
trúng tuyển và tuyển sinh Cao học Điều dưỡng khóa 2 là tháng 10 năm 2015. Như vậy,
trong năm 2015 nhà trường tuyển sinh 02 khóa Cao học điều dưỡng với tổng số học viên
19


trúng tuyển là 86 học viên và sau 02 năm đào tạo, đến năm 2017 thì tổng số học viên đã
tốt nghiệp là 86 học viên (100%). Năm 2018 tổng số học viên Cao học đã tốt nghiệp là
48 học viên (97,96%).
Từ năm 2015 đến nay Nhà trường đã tổ chức 04 lần khảo sát tỉ lệ sinh viên có việc
làm sau tốt nghiệp, kết quả cụ thể như sau:
Bảng 2.3 Thực trạng có việc làm sau tốt nghiệp của sinh viên ngành điều dưỡng
TT

1

2

3

4

Đối tượng khảo sát
Đại học điều dưỡng
chính quy K7.
Đại học điều dưỡng
chính quy K8.
Đại học điều dưỡng
chính quy K8.
Đại học điều dưỡng
chính quy K9.

Năm

Thời điểm khảo

Kết quả có việc

khảo sát

sát sau tốt nghiệp

làm sau tốt nghiệp

12 tháng sau tốt

2016

nghiệp
6 tháng sau tốt

2016

nghiệp
12 tháng sau tốt

2017

nghiệp
12 tháng sau tốt

2018

nghiệp

58,41%

67,90%

82,53%

91,27%

Tuy nhiên, hiện nay Nhà trường mới chỉ xác lập được thông tin về tỉ lệ việc làm sau
tốt nghiệp của người học, các thông tin về vị trí làm việc, mức thu nhập trung bình, đơn
vị công tác của người học sau tốt nghiệp vẫn chưa được khảo sát. Ngoài ra, tuy nhà
trường đang đào tạo 04 mã ngành ở trình độ đại học bao gồm: Điều dưỡng, y tế công
cộng, hộ sinh và dinh dưỡng, nhưng cho đến nay mới chỉ có đối tượng đại học điều
dưỡng tốt nghiệp ra trường, do vậy chưa có thông tin để đối sánh giữa các chương trình
đào tạo của Nhà trường về tỉ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp. Để tăng tỷ lệ sinh
viên có việc làm sau tốt nghiệp, Nhà trường đã tổ chức nhiều cuộc họp, hội thảo, hội
nghị để thảo luận phân tích nguyên nhân và đề xuất các giải pháp khắc phục. Các giải
pháp được đề xuất để giúp tăng tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp được xác lập
như: thành lập Ban Chuyên trách hỗ trợ việc làm cho sinh viên, tổ chức các hội chợ việc
làm, tư vấn định hướng nghề nghiệp cho sinh viên, thông báo về việc tuyển dụng nhân
lực của các đơn vị, mời các đơn vị có nhu cầu tuyển dụng lao động về giới thiệu cơ hội
việc làm cho sinh viên. Những thành tựu của Nhà trường đã khẳng định sự phát triển của
Nhà trường phù hợp với sự nghiệp đổi mới giáo dục của cả nước và xu hướng phát triển,
20


hội nhập.
2. Đội ngũ giảng viên, cán bộ cơ hữu
2.1 Giảng viên, cán bộ cơ hữu
Sau gần 60 năm hình thành và phát triển, 15 năm nâng cấp trở thành trường đại
học, đến nay, Nhà trường hiện có 312 công chức, viên chức cơ hữu và người lao động,
trong đó có 195 giảng viên cơ hữu trong đó có 01 Phó Giáo sư, 13 tiến sĩ, 108 thạc sĩ.
Trong đó , trong đó 01 tiến sĩ đúng chuyên ngành điều dưỡng và 01 phó giáo sư và 07
tiến sĩ chuyên ngành y học là chuyên ngành gần với chuyên ngành điều dưỡng. Hiện tại
nhà trường đang có 07 người đang học nghiên cứu sinh, trong đó có 02 nghiên cứu sinh
điều dưỡng sẽ tốt nghiệp vào năm 2019. Bên cạnh đội ngũ giảng viên cơ hữu để phục vụ
đào tạo điều dưỡng trình độ sau đại học, Nhà trường còn mời được các giảng viên có
trình độ tiến sĩ Điều dưỡng từ các trường Đại học có đào tạo về Tiến sĩ Điều dưỡng có uy
tín như: Trường Đại học Birmingham City (Vương quốc Anh), Trường Đại học Điều
dưỡng Louise Herrington – Đại học Baylor (Hoa Kỳ), Trường Đại học Chulalongkorn
(Thái Lan), Trường Đại học Kyushu (Nhật Bản), Trường Đại học Polytechnic (Hồng
Kong) là những trường có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực đào tạo điều dưỡng trình
độ Thạc sĩ và tiến sĩ.
Đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy trình độ Thạc sĩ của Nhà trường có trình độ
chuyên môn cao và hầu hết đã được đi tham quan, học tập ở các cơ sở trong và ngoài
nước để học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy
Điều dưỡng.

21


Bảng 2.4. Danh sách giảng viên, nhà khoa học cơ hữu tham gia đào tạo các học phần
trong chương trình đào tạo Điều dưỡng trình độ Tiến sĩ

T
T

Họ và tên

Năm
sinh

Chức
vụ hiện
tại

Học

Học vị,

hàm,

nước,

năm

năm tốt

phong

nghiệp,

Tham

Thành tích

Ngành/

gia đào

khoa học

Chuyên

tạo SĐH

ngành

(năm,
CSĐT)

Đề

Các

Tham gia giảng dạy học phần

tài bài báo
Nhận định thể chất & sức khỏe,
Học thuyết Điều dưỡng, Nghiên

1

Lê Thanh Tùng

1969

Phó

Tiến sĩ,

Hiệu

Giáo

Việt

trưởng

sư,

Nam,

2018

2011

Y học
(sản
khoa)

cứu khoa học điều dưỡng, Điều

2012,
Trường
ĐHĐD


dưỡng sản phụ khoa, Quản lý
16

33

chất lượng chăm sóc, Phương
pháp nghiên cứu lâm sàng trong
điều dưỡng, Phương pháp dạy –
học lâm sàng, Quản lý chất
lượng chăm sóc sản phụ khoa

22


T
T

Họ và tên

Năm
sinh

Chức
vụ hiện
tại

Học

Học vị,

hàm,

nước,

năm

năm tốt

phong

nghiệp,

Tham

Thành tích

Ngành/

gia đào

khoa học

Chuyên

tạo SĐH

ngành

(năm,
CSĐT)

Đề

Tham gia giảng dạy học phần
Các

tài bài báo
Nhận định thể chất & sức khỏe,
Học thuyết Điều dưỡng, Thực
hành điều dưỡng nâng cao, Thực
hành dựa trên bằng chứng,
Nghiên cứu khoa học điều
dưỡng, Quản lý & lãnh đạo điều

2

Ngô Huy Hoàng

1964

Phó

Tiến sĩ,

hiệu

Anh,

trưởng

2012

Y học

dưỡng, Điều dưỡng người lớn

2012,
Trường
ĐHĐD


09

13

nội khoa, Điều dưỡng lão khoa,
Quản lý chất lượng chăm sóc,
Phương pháp nghiên cứu lâm
sàng trong điều dưỡng, Thực
hành điều dưỡng dựa vào bằng
chứng nâng cao, Quản lý chất
lượng chăm sóc người bệnh nội,
Quản lý chất lượng chăm sóc
người cao tuổi

23


T
T

Họ và tên

Năm
sinh

Chức
vụ hiện
tại

Học

Học vị,

hàm,

nước,

năm

năm tốt

phong

nghiệp,

Tham

Thành tích

Ngành/

gia đào

khoa học

Chuyên

tạo SĐH

ngành

(năm,
CSĐT)

Đề

Tham gia giảng dạy học phần
Các

tài bài báo
Nhận định thể chất & sức khỏe,

Phó
3

Vũ Văn Thành

1962

hiệu
trưởng

Tiến sĩ,

Chính sách y tế &HTCSSKVN,

2012,

Việt

Y học

Trường

nam,

(vi sinh)

ĐHĐD

05

14



2012

Điều dưỡng nhi khoa, Điều
dưỡng thảm họa, Vi sinh vật –
Ký sinh trùng, Quản lý chất
lượng chăm sóc trẻ em
Nhận định thể chất & sức khỏe,

Phó
4

Trương Tuấn Anh

1969

hiệu
trưởng

Tiến sĩ
Việt

Y học
(thần

Nam,

kinh)

2012

Học thuyết Điều dưỡng, Điều

2012,
Trường
ĐHĐD


dưỡng tâm thần, Điều dưỡng
09

11

thần kinh, Quản lý chất lượng
chăm sóc người bệnh thần kinh,
Quản lý chất lượng chăm sóc
người bệnh tâm thần

24


T
T

Họ và tên

Năm
sinh

Chức
vụ hiện
tại

Học

Học vị,

hàm,

nước,

năm

năm tốt

phong

nghiệp,

Tham

Thành tích

Ngành/

gia đào

khoa học

Chuyên

tạo SĐH

ngành

(năm,
CSĐT)

Đề

Tham gia giảng dạy học phần
Các

tài bài báo
Kinh tế y tế, Thống kê y học
nâng cao, Nhận định thể chất &
sức khỏe, Thực hành dựa trên
bằng chứng, Nghiên cứu khoa
học điều dưỡng, Quản lý & lãnh

Trưởng

5

Trần Văn Long

1964

phòng,

Tiến sĩ,

trưởng

Việt

khoa,

Nam,

trưởng

2016

Y tế
công
cộng

bộ môn

đạo điều dưỡng, Chính sách y tế

2012,
Trường
ĐHĐD


&HTCSSKVN, Điều dưỡng
07

06

cộng đồng, Điều dưỡng thảm
họa, Điều dưỡng lão khoa, Dinh
dưỡng tiết chế, Phát triển công
cụ nghiên cứu, Phương pháp
nghiên cứu lâm sàng trong điều
dưỡng, Nghiên cứu phát triển
chính sách y tế, Quản lý chất
lượng chăm sóc người cao tuổi

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×