Tải bản đầy đủ

CHUYỂN ĐỔI KHÁNG SINH ĐƯỜNGTIÊM/ĐƯỜNG UỐNG (IV/PO) ÁP DỤNGTRONG THỰC HÀNH LÂM SÀNGPGS.TS.DS NGUYỄN HOÀNG ANH

CHUYỂN ĐỔI KHÁNG SINH ĐƯỜNG
TIÊM/ĐƯỜNG UỐNG (IV/PO) ÁP DỤNG
TRONG THỰC HÀNH LÂM SÀNG
PGS.TS.DS NGUYỄN HOÀNG ANH
Giám đốc TT Quốc gia DI & ADR
Hà nội, ngày 12-12-2019
Hội trường Bệnh viện Phổi TW
Ehats No: VN19003286
Internal approved date: 12/2019
SAVN.LEV.19.12.2331


CHUYỂN ĐỔI KHÁNG SINH ĐƯỜNG TIÊM
/ĐƯỜNG UỐNG (IV/PO) ÁP DỤNG TRONG
THỰC HÀNH LÂM SÀNG
Nguyễn Hoàng Anh
- Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi ADR
-

Bộ môn Dược lý, Trường Đại học Dược Hà nội


-

Đơn vị Dược lâm sàng và Thông tin thuốc, Khoa Dược, bệnh viện Bạch mai
Sinh hoạt chuyên môn, bệnh viện Phổi Trung ương, tháng 12/2019


Kháng sinh đường uống có vai trò trong thực hành
lâm sàng: cơ sở lý thuyết


Kháng sinh đường uống có vai trò trong thực hành
lâm sàng: cơ sở lý thuyết


Kháng sinh đường uống có vai trò trong lâm sàng ung thư?
Sốt giảm bạch cầu trung tính

2016

 Tổng kết 22 TNLS với 3142 đợt sốt giảm BCTT trên 2372 bệnh nhân ung
thư (loại trừ bệnh bạch cầu cấp) có huyết động ổn định, không có suy
tạng, viêm phổi, NK liên quan đến catheter/đường truyền trung tâm hay NK
da-mô mềm nặng.
 Tỷ lệ tử vong tương tự ở 2 nhóm dùng kháng sinh IV và PO: RR = 0,95
(CI95%: 0,54-1,68). Tỷ lệ thất bại điều trị tương tự: RR = 0,96 (CI95%:
0,86-1,06)
 Kết luận: kháng sinh uống có thể áp dụng được cho bệnh nhân có nguy cơ
thấp (cần xác định cẩn thận).


TIẾP CẬN LỰA CHỌN KHÁNG SINH TRÊN BỆNH NHÂN GIẢM BẠCH
CẦU TRUNG TÍNH: XÁC ĐỊNH NHÓM CÓ NGUY CƠ THẤP


TIẾP CẬN LỰA CHỌN KHÁNG SINH UỐNG TRÊN BỆNH NHÂN GIẢM
BẠCH CẦU TRUNG TÍNH: XÁC ĐỊNH NHÓM CÓ NGUY CƠ THẤP

12/40 (30%) đợt sốt giảm
BCTT có thể cân nhắc
kháng sinh uống dựa trên



phân tầng nguy cơ và
đánh giá chặt bệnh nhân

Poprawski DM et al. Intern Med. J 2018; 48: 1533-1535.


Chuyển đường tiêm/đường uống: cơ sở lý thuyết

Kháng sinh dùng trong Hồi sức tích cực. Hội HSCC và Chống độc. 2017


Chuyển đường tiêm/đường uống: cơ sở lý thuyết

Kháng sinh dùng trong Hồi sức tích cực. Hội HSCC và Chống độc. 2017


Chuyển đường tiêm/đường uống: cơ sở lý thuyết
Hướng tiếp cận mới trong điều trị nhiễm khuẩn tại bệnh viện


Kháng sinh điều trị VPCĐ người lớn nhập viện tại
Việt nam: thực trạng






Khảo sát trên 649 bệnh án
CAP (64,1% nhẹ, 23%
trung bình và 9,2% năng
tại 10 bệnh viện).
Kháng sinh chủ yếu dùng
đường tĩnh mạch, đa số
phối hợp (54,4% 2 kháng
sinh, 3,1% 3 kháng sinh)
không phụ thuộc vào mức
độ nặng.
C3G là kháng sinh được
kê đơn nhiều nhất, thường
phối hợp với quinolon.
Trinh HT et al. Pharmacoepidemiol. Drug Saf. 2015; 24: 129-136


Kháng sinh điều trị VPCĐ trẻ em nhập viện tại Việt nam:
thực trạng






Khảo sát trên 202 bệnh án
VPCĐ trẻ em từ 6 tháng
đến 5 tuổi nhập viện
(56,9% viêm phổi, 43,1%
viêm phổi nặng) tại 1 bệnh
viện đa khoa tuyến huyện
miền núi phía Bắc
Kháng sinh 100% đường
tĩnh mạch không phụ
thuộc vào mức độ nặng.
C3G là kháng sinh được
kê đơn nhiều nhất, thường
phối hợp với aminosid.
Nguyễn Văn Hội, luận văn DS chuyên khoa cấp I, trường ĐH Dược Hà nội, 2017


Chuyển đường tiêm/đường uống: cơ sở lý thuyết
Thực tế sử dụng KS tĩnh mạch kéo dài trong VPCĐ Nhi nhập viện

Kết quả khảo sát ý kiến
từ 69 BS chuyên khoa
Nhi tại Đà nẵng

Nguyen TKP et al. J. Paediatr. Child Health 2019; doi: 10.1111/jpc.14413


Chuyển đường tiêm/đường uống: lý do
Lợi ích kinh tế của chuyển kháng sinh đường tiêm/đường
uống: viêm phổi cộng đồng
801 US$ tổng cộng


Chuyển đường tiêm/đường uống: lợi ích
Lợi ích kinh tế của chuyển kháng sinh đường tiêm/đường
uống: levofloxacin

Kuti JL et al. Am. J. Health-Syst. Pharm 2002; 59: 2209-2215.


Chuyển đường tiêm/đường uống: lợi ích
 Lợi ích cho BN
- Thích hợp hơn, thoải mái hơn
- Ít tác dụng KMM liên quan đến tiêm TM (huyết khối, NK catheter và
NK huyết, đau, quá tải dịch)
- Quay lại hoạt động bình thường sớm hơn
- Thời gian nằm viện ngắn hơn, nguy cơ nhiễm chéo và nhiễm khuẩn
mắc phải ở BV thấp hơn
 Lợi ích kinh tế cho bệnh viện

- Giảm vật tư y tế tiêu hao cho quá trình tiêm
- Giảm rác thải y tế cần xử lý
- Giá thành đường uống rẻ hơn

- Giảm giá thành cho tồn trữ thuốc tại kho
- Giảm khối lượng công việc của cán bộ y tế
- Giảm thời gian nằm điều trị của BN
Beique L, Zvonar R. Can. J. Hosp. Pharm 2015; 68: 318-326.


Chuyển đường tiêm/đường uống: điều kiện chuyển tiếp
Tiêu chí chuyển đường tiêm/đường uống: Viêm phổi mắc
phải tại cộng đồng


Chuyển đường tiêm/đường uống: điều kiện chuyển tiếp

Nathwani D et al. Implementing criteria-based early swicth/early discharge programme: a
European perspectives. Clin. Microbiol. Infect. 2015; 21: S47-S55.


Chuyển đường tiêm/đường uống: cơ sở lý thuyết
Chú ý các trường hợp hấp thu đường uống không đảm bảo

Kuper K. Intravenous to oral therapy conversion; American Society of Health-System
Pharmacists; 2008. p. 347-60


Chuyển đường tiêm/đường uống: điều kiện chuyển tiếp

Akhloufi H et al. J. Antimicrob. Chemother. 2016; doi:10.1093/jac/dkw470


Chuyển đường tiêm/đường uống: chọn kháng sinh nào?
SKD đường uống của một số kháng sinh thông dụng

Nguồn: J. Hosp. Infect. 2001; 48: 249-257


Chuyển đường tiêm/đường uống: cơ sở lý thuyết
Chuyển đổi kháng sinh tiêm uống: các mức chuyển đổi
 Tiếp nối tiêm uống (sequential): Chuyển đổi từ đường tiêm sang
đường uống cùng hoạt chất (ví dụ FQ tiêm => FQ uống)
 Đổi kháng sinh tiêm uống (switch): Chuyển đổi từ đường tiêm
sang đường uống nhưng kháng sinh đường uống có thể là hoạt
chất khác, có cùng hoạt lực và phổ tác dụng (ví dụ C3G => FQ,
vancomycin=>linezolid)
 Xuống thang (scale down): Chuyển đổi từ đường tiêm sang thuốc
đường uống khác có thể cùng loại, cùng nhóm hoặc khác nhóm với
thuốc đường tiêm. Tuy nhiên, tần suất, liều dùng và phổ tác dụng có
thể không hoàn toàn tương tự như thuốc đường tiêm (ví dụ C3G
tiêm => C3G uống)


Chuyển đường tiêm/đường uống: chọn kháng sinh
Tiêu chí chuyển đường tiêm/đường uống: Thuốc có cả
dạng tiêm và uống phù hợp cho chuyển đường dùng
 Nhóm 1: Kháng sinh có SKD đường uống cao (>90%), hấp thu tốt và
dung nạp tốt ở liều tương tự liều IV: levofloxacin, moxifloxacin,
linezolid, fluconazol, cotrimoxazol, metronidazol
 Nhóm 2: Kháng sinh có SKD đường uống thấp hơn (70-80%) nhưng

có thể bù trừ bằng tăng liều: ciprofloxacin, voriconazol.
Nhóm 1-2 có thể sử dụng ban đầu qua đường uống cho các NK không đe

dọa tính mạng, bệnh nhân có huyết động ổn định và không có vấn đề về
hấp thu, có thể sử dụng trong chuyển tiếp IV/PO nếu đáp ứng điều kiện
lâm sàng


Chuyển đường tiêm/đường uống: chọn kháng sinh
Tiêu chí chuyển đường tiêm/đường uống: Thuốc có cả
dạng tiêm và uống phù hợp cho chuyển đường dùng
 Nhóm 3: Kháng sinh có SKD đường uống cao (>90%), nhưng có liều
tối đa đường uống thấp hơn so với liều IV (do dung nạp tiêu hóa kém):
clindamycin, cephalexin, amoxicillin
 Nhóm 4: Kháng sinh có SKD đường uống thấp hơn và liều tối đa
đường uống thấp hơn liều IV: ví dụ oxacillin, cloxacillin, cefuroxim
Nhóm 3-4 có thể sử dụng trong chuyển tiếp IV/PO theo nguyên tắc:
 Kết hợp tác dụng kháng sinh với cơ chế đề kháng của hệ miễn dịch

 Hiệu quả có thể đạt ở nồng độ thấp sau khi NK cơ bản đã được giải
quyết bằng kháng sinh IV ban đầu


Chuyển đường tiêm/đường uống: thực hành
Tiêu chí chuyển đường tiêm/đường uống: Thuốc có cả
dạng tiêm và uống phù hợp cho chuyển đường dùng

Nguồn: Can. J. Hosp. Pharm. 2015; 68: 318-326


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×