Tải bản đầy đủ

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ NỔI BẬT LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT - BẢO VỆ THỰC VẬT

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHCN NỔI BẬT - LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT - BẢO VỆ THỰC VẬT

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ NỔI BẬT
LĨNH VỰC
TRỒNG TRỌT - BẢO VỆ THỰC VẬT
GIAI ĐOẠN 2013 - 2015

NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
1


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

2


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHCN NỔI BẬT - LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT - BẢO VỆ THỰC VẬT


LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện chủ trương “Ðổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế”
theo Nghị quyết Ðại hội Ðảng lần thứ XI, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã
trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Ðề án “Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng
nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” tại Quyết định số 899/QÐ-TTg ngày 10
tháng 6 năm 2013.
Qua ba năm thực hiện Ðề án (2013-2015), toàn ngành Nông nghiệp và phát triển
nông thôn đã nghiêm túc triển khai thực hiện các chủ trương, chỉ đạo của Ðảng, Chính
phủ; bám sát tình hình thực tiễn; phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành và địa phương
triển khai toàn diện các nhiệm vụ được giao và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Tái
cơ cấu ngành được triển khai tích cực, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt trong
nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, tập trung ưu tiên các sản phẩm chủ
lực, có giá trị kinh tế và tiềm năng xuất khẩu cao; ứng dụng giống mới, quy trình công
nghệ, tiến bộ kỹ thuật mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và an toàn thực phẩm,
kiểm soát tốt dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; dự báo và ứng phó có hiệu quả với các
diễn biến bất thường của thời tiết, đặc biệt là hạn hán, xâm nhập mặn và lũ lụt; các loại
mặt hàng nông lâm thủy sản đạt giá trị cao phục vụ xuất khẩu.
Nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu,
kháng bệnh, chất lượng cao hơn đã được nghiên cứu chọn, tạo ra và ứng dụng vào thực
tiễn; các quy trình công nghệ, tiến bộ kỹ thuật trong canh tác, phòng trừ bệnh tổng hợp,
tưới tiết kiệm, chế độ dinh dưỡng… đã được chuyển giao và lan tỏa rộng trong sản xuất,
góp phần giảm chi phí đầu tư, tăng lợi nhuận và nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản
xuất nông nghiệp.
Từ kết quả các đề tài nghiên cứu trong Ðề án, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn tổ chức biên soạn và xuất bản ấn phẩm “Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ
nổi bật lĩnh vực Trồng trọt - Bảo vệ thực vật giai đoạn 2013-2015” với sự tham gia đóng
góp quý báu của đông đảo các nhà khoa học thuộc lĩnh vực nông nghiệp và phát triển
nông thôn. Hy vọng ấn phẩm này sẽ cung cấp những thông tin bổ ích, cập nhật cho các
nhà quản lý, khoa học, khuyến nông, doanh nghiệp và người nông dân áp dụng vào thực
3


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

tiễn sản xuất, góp phần thực hiện thành công Ðề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp Việt
Nam theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Do thời gian có hạn nên một số công trình nghiên cứu tiêu biểu chưa kịp tổng hợp
đưa vào trong lần xuất bản này, chúng tôi hy vọng các công trình đó sẽ được đăng tải
trên các ấn phẩm khác để kết quả nghiên cứu khoa học đến được với bạn đọc và đời sống
xã hội.


Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

4


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHCN NỔI BẬT - LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT - BẢO VỆ THỰC VẬT

KẾT QUẢ BẢO TỒN, KHAI THÁC
NGUỒN GEN CÂY TRỒNG NÔNG NGHIỆP
GIAI ĐOẠN 2013 - 2015
ThS. Vũ Xuân Trường, TS. Vũ Đăng Toàn, PGS. TS. Lã Tuấn Nghĩa1
TÓM TẮT
Trong giai đoạn 2013 - 2015, Trung tâm Tài nguyên thực vật đã thực hiện lưu giữ an
toàn trên 38.000 mẫu giống. Nhân giống, đánh giá được 4.831 lượt mẫu giống, Tư liệu hóa
thông tin về các tính trạng nông sinh học cho 15.534 mẫu giống; cấp phát 7.038 lượt mẫu
giống phục vụ công tác nghiên cứu giảng dạy; Một số nguồn gen địa phương quý đã được
phục tráng và khai thác phát triển trực tiếp như: Bí xanh chữ Thập, bí đá Trái dài, mướp
đắng Xanh (tại Bình Định, Nghệ An); húng Láng, sen Tây Hồ (tại Hà Nội); lúa Khẩu Ký,
Khẩu Nẩm Pua (tại Lai Châu, Lạng Sơn), lúa Di Hương (Hải Phòng), Khẩu Cẩm Xẳng,
Khẩu Cẩm Ngâu (tại Nghệ An, Hà Tĩnh); bưởi Đường, bưởi Trụ, bưởi Quế Dương (tại
Bình Định, Hà Nội); lạc đỏ Điện Biên, lạc đỏ Bắc Giang (tại Điện Biên, Bắc Giang, Hòa
Bình) đã đem lại giá trị kinh tế gia tăng 20 - 30% so với các giống cây trồng đang phổ biến
tại địa phương.
Từ khóa: Tài nguyên thực vật, bảo tồn, khai thác nguồn gen.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên thực vật có ý nghĩa và vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người,
đây là nền tảng của đa dạng sinh học, đảm bảo cho phát triển bền vững và chống nghèo
đói. Nhiệm vụ bảo tồn tài nguyên di truyền cây trồng nông nghiệp được tiến hành từ sau
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tập chung chủ yếu vào lúa và cây cao su ở miền Nam.
Viện Khảo cứu trồng trọt (1952), Học viện Nông Lâm (1953) và Viện Khoa học Kỹ thuật
Nông nghiệp Việt Nam từ 1956 đã chú trọng thu thập, đánh giá một số tập đoàn cây trồng,
trong đó nhiều mẫu giống được lưu giữ đến nay ở Ngân hàng gen Cây trồng Quốc gia tại
Trung tâm Tài nguyên thực vật[6].
1

Trung tâm Tài nguyên thực vật, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.
5


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Việt Nam được biết đến là một quốc gia giàu có về tài nguyên sinh vật, mức độ đa
dạng sinh học của các loài động, thực vật ở nước ta được xếp thứ 16 trên toàn thế giới,
trong đó: thực vật có 13.766 loài (11.373 loài thực vật bậc cao và 2.393 loài thực vật bậc
thấp). Trong số các loài thực vật thì 10% là các loài bản địa, đặc hữu, quý hiếm; nhiều
loài có giá trị sử dụng cao như dùng làm thực phẩm, chữa bệnh, thức ăn cho gia súc và
lấy gỗ[5].
Trong giai đoạn 2013 - 2015, công tác bảo tồn tài nguyên thực vật đã đạt được kết quả
quan trọng trong công tác lưu giữ, nhân giống đánh giá, tư liệu hóa thông tin và khai thác
sử dụng nguồn gen như lúa, rau, đậu mang lại hiệu quả cao.
2. KẾT QUẢ BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC NGUỒN GEN GIAI ĐOẠN 2013 - 2015
2.1. Kết quả bảo tồn nguồn gen thực vật nông nghiệp giai đoạn 2013 - 2015
2.1.1. Thu thập và nhập nội nguồn gen
Hàng năm, công tác thu thập nguồn gen luôn được tổ chức và tiến hành trên phạm vi
cả nước. Trong thời gian từ 2013 - 2015, Trung tâm Tài nguyên thực vật đã thu thập được
trên 5.000 mẫu nguồn gen của trên 100 loài cây trồng thuộc các nhóm cây: ngũ cốc, đậu
đỗ, rau, gia vị, cây có củ và các cây khác; trong đó đã thu mới 22 loài ở các vùng như: vùng
Tây Bắc (khu vực lòng hồ thủy điện Sơn La và vùng phụ cận), Đông Bắc, các tỉnh đồng
bằng sông Hồng, khu vực Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Nam Bộ.
Các đơn vị trong hệ thống bảo tồn tài nguyên thực vật cũng có các hoạt động thu
thập trong cả nước, các hoạt động thu thập được tiến hành như: thu thập bổ sung nguồn
gen lúa hoang dại do Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long thực hiện; thu thập bổ sung
nguồn gen cây ăn quả do Viện Cây ăn quả miền Nam; thu thập bổ sung nguồn gen chè do
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc. Các nguồn gen thu thập
được lưu giữ tại các đơn vị mạng lưới và đều được nhập vào cơ sở dữ liệu chung của toàn
hệ thống.
Trên thế giới, khoảng năm 1975 chỉ có 10 nước có chương trình thu thập, bảo quản thì
đến năm 1991 đã có trên 100 nước có chương trình quốc gia thu thập, bảo quản, lưu giữ
các nguồn gen và giống. Năm 1995 toàn bộ các ngân hàng gen trên thế giới bảo quản trên
4,5 triệu mẫu giống thì đến năm 2010 đã có hơn 6 triệu mẫu giống của các loài cây trồng
đã được thu thập bảo quản. Các nước kinh tế phát triển ngày càng đặc biệt quan tâm đến
công tác bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật.
2.1.2. Lưu giữ nguồn gen
Nguồn gen cây trồng nông nghiệp được tổ chức lưu giữ tại Ngân hàng gen cây trồng
Quốc gia tại Trung tâm Tài nguyên thực vật và các đơn vị mạng lưới trong toàn hệ thống
với số lượng 38.344 mẫu giống (bảng 1). Số lượng mẫu giống đang được lưu giữ so với
các ngân hàng gen trên thế giới được đánh giá có mức đa dạng cao về lượng giống cũng
6


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHCN NỔI BẬT - LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT - BẢO VỆ THỰC VẬT

như số loài lưu giữ, như: Ngân hàng gen tại Hàn Quốc với cơ sở vật chất, trang thiết
bị hiện đại đang thực hiện lưu giữ trên 500.000 mẫu giống, 50.000 mẫu nguồn gen vi
sinh vật với các hình thức lưu giữ bảo quản trong kho lạnh ở các chế độ: trung hạn
(4 0C, độ ẩm 40%), dài hạn (-18 0C, độ ẩm tương đối 40%), bảo quản sâu/nitơ lỏng
(-86 0C đến -196%); Ngân hàng gen lúa Quốc tế (IRRI) tại Philipin hiện lưu trữ hơn
127.000 mẫu giống lúa từ khắp nơi trên thế giới [7].
Những giống nguồn gen này thường có các tính trạng quý chưa được khai thác để tạo
ra các giống lúa canh tác theo hướng bền vững trong một môi trường ngày càng bất lợi
do các thay đổi khí hậu toàn cầu. Các tính trạng được tập trung khai thác cho việc cải tiến
giống bao gồm chọn giống chất lượng, chống chịu sâu bệnh hại và môi trường bất thuận.
- Lưu giữ ngoại vi (ex-situ)
Bảo tồn ex-situ là phương pháp bảo tồn quan trọng và phổ biến nhất của việc bảo tồn
nguồn gen cây trồng phục vụ mục tiêu lương thực và nông nghiệp.Trong tổng số 38.344
mẫu giống có hơn 26.000 mẫu giống của 120 loài cây trồng được lưu giữ tại Ngân hàng
gen hạt giống (kho lạnh) ở ba chế độ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, bao gồm: Nhóm
cây ngũ cốc (11.356 mẫu giống); Nhóm cây rau, gia vị (8.859 mẫu giống); Nhóm cây đậu
đỗ (6.296 mẫu giống). Các nguồn gen cây có củ (3.570 mẫu giống), cây ăn quả, cây công
nghiệp (7.633 mẫu giống), nấm (78 mẫu giống), hoa cây cảnh (434 mẫu giống), cây cải
tạo đất và cây thức ăn gia súc (102 mẫu giống) được lưu giữ trên đồng ruộng, trong nhà
lưới tại Trung tâm Tài nguyên thực vật và các đơn vị mạng lưới. Lưu giữ nguồn gen trong
Ngân hàng in-vitro cho 150 mẫu giống khoai môn sọ và 07 mẫu giống cỏ ngọt tại Trung
tâm Tài nguyên thực vật (bảng 1).
Bảng 1. Danh mục nguồn gen thực vật nông nghiệp được bảo tồn
TT

Đối tượng

Nguồn gốc

Số lượng

Phương pháp
bảo tồn

1

Cây ngũ cốc

Địa phương và nhập nội

11.356

Ex-situ, ADN

2

Rau, gia vị, nấm

Địa phương và nhập nội

8.947

Ex-situ, in-vitro

3

Cây ăn quả, cây công
nghiệp, dâu, tằm

Địa phương và nhập nội

7.633

Ex-situ, in-situ,
ADN

4

Cây có củ

Địa phương và nhập nội

3.570

Ex-situ, in-vitro

5

Cây đậu đỗ

Địa phương và nhập nội

6.296

Ex-situ

6

Cây hoa

Địa phương và nhập nội

434

Ex-situ, in-vitro

7

Cây cải tạo đất và
thức ăn gia súc

Địa phương và nhập nội

102

Ex-situ

8

Cây khác

Địa phương và nhập nội

6

Ex-situ

Cộng

38.344

7


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Hiện có hơn 1.750 ngân hàng gen riêng biệt với 130 ngân hàng gen lưu giữ trên 10.000
mẫu nguồn gen/mỗi ngân hàng. Ngoài ra, trên toàn thế giới còn có các bộ sưu tập bảo tồn
chuyển vị đáng kể trong các vườn thực vật, trong đó có hơn 2.500 mẫu nguồn gen. Ngân
hàng gen được xây dựng trên tất cả các châu lục, tuy nhiên số lượng ngân hàng gen ở châu
Phi tương đối ít so với phần còn lại của thế giới[7].
Theo Trần Đình Long (2010), thế giới đang bảo tồn ex-situ khoảng trên dưới 6 triệu
mẫu giống, trong số đó 83% của các ngân hàng gen cây trồng các nước Mỹ, Nga, Trung
Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Đức, Hàn Quốc, Úc, Canada; 11% của các tổ chức quốc tế như
CIMMIT, CIAT, AVRDC, CIP, v.v...[7].
Như vậy, với số lượng nguồn gen hiện đang lưu giữ, Ngân hàng gen cây trồng Quốc
gia Việt Nam được đánh giá có số lượng mẫu giống tương đối lớn và đa dạng.
- Lưu giữ nội vi (in-situ/on-farm conservation)
Công tác bảo tồn nội vi đã được Trung tâm Tài nguyên thực vật tiến hành từ năm
2010. Mục tiêu của nhiệm vụ là tổ chức bảo tồn nguồn gen cây trồng đặc hữu tại một số
địa phương trong cả nước[3]. Cho đến nay có 67 nguồn gen của các tập đoàn: bưởi, nhãn,
rau địa phương được lưu giữ nội vi tại các tỉnh như: Hưng Yên, Hà Nội, Ninh Bình, Nam
Định, Lạng Sơn.
Các khu bảo tồn in-situ lưu giữ các nguồn gen tiềm năng quan trọng và hữu ích,
nhiều trong số đó chưa được đánh giá hết tầm quan trọng. Sự tồn tại của các điểm bảo tồn
này cho phép các quá trình chọn lọc và thích nghi có thể làm phát sinh những đặc điểm
di truyền mới để tiếp tục để thích nghi với các áp lực của môi trường. Những khu vực này
có thể là nguồn cung cấp các tính trạng di truyền không được lưu giữ trong các bộ sưu tập
ex-situ. Bảo tồn in-situ cũng có thể cung cấp các nguyên liệu sống cho nghiên cứu sự đa
dạng di truyền của các loài hoang dại là tổ tiên của cây trồng hiện đại.
Trên thế giới, công tác bảo tồn in-situ đã, đang được đầu tư phát triển và tập trung
lưu giữ nguồn gen cây hoang dại như khu vực Trung Á, Turkmenistan có 19 vùng bao
gồm hơn 1.000 ha, Azerbaijan có 15 vùng bao gồm 6.501 ha, và Kyrgyzstan 680 ha. Brazil,
Trung tâm CENARGEN đã thành lập 10 khu dự trữ di truyền để bảo tồn các loài cây gỗ,
cây ăn quả, cây lấy hạt, thức ăn gia súc và các loài cọ và họ hàng hoang dại của cây trồng
như sắn và đậu phộng[7].
2.1.3. Đánh giá nguồn gen
- Đánh giá ban đầu (characterization)
Đánh giá ban đầu chủ yếu tập trung vào mô tả đặc điểm hình thái của các nguồn gen.
Số lượng nguồn gen được đánh giá ban đầu trong giai đoạn 2013 - 2015 là 5.770, đánh giá
chi tiết 3.301 lượt nguồn gen (bảng 2).
- Đánh giá chi tiết (evaluation)
Kết quả của công tác đánh giá nguồn gen, đặc biệt là đánh giá chi tiết rất có ý nghĩa
trong khai thác và phát triển nguồn gen. Đánh giá chi tiết nguồn gen được tập trung vào
đặc tính nông học như: khả năng chống chịu với sâu bệnh (rầy nâu, đạo ôn, bạc lá ở lúa;
8


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHCN NỔI BẬT - LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT - BẢO VỆ THỰC VẬT

sâu ở ngô, đậu đỗ, v.v...) và điều kiện môi trường bất thuận (nóng, lạnh, mặn, hạn). Trong
giai đoạn 2013 - 2015, tổng số 5.770 lượt nguồn gen được đánh giá các đặc tính chất lượng,
chịu hạn, mặn, chống sâu bệnh hại và đa dạng di truyền lần lượt là 1.745, 786, và 340.
Bảng 2. Kết quả đánh giá nguồn gen giai đoạn 2013 - 2015
TT

Nội dung

I

Mô tả, Đánh giá đặc điểm nông sinh học

Qua các năm
(lượt mẫu giống)
2013
2014
2015
2.180

2.030

1.366

1.030

II

Đánh giá chi tiết

1

Đánh giá chất lượng

350

2

Đánh giá chịu mặn, hạn

3
4

1.560

Tổng
5.770

905

3.301

700

695

1.745

586

150

50

786

Đánh giá sâu bệnh

340

0

0

340

Đánh giá đa dạng di truyền

90

180

160

430

2.1.4. Tư liệu và thông tin nguồn gen
Vai trò quan trọng của thông tin trong việc bảo tồn, sử dụng tài nguyên di truyền thực
vật phục vụ mục tiêu lương thực và nông nghiệp và các tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực
này được phản ánh trong công tác quản lý thông tin ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế.
Dữ liệu có được từ thu thập, nhân giống, đánh giá, khai thác nguồn gen, v.v... đã được
xử lý để đưa vào quản lý thống nhất trong toàn bộ hệ thống tài nguyên di truyền thực vật
quốc gia. Trong giai đoạn 2013 - 2015, cơ sở dữ liệu đã quản lý thống nhất hơn 8.363 bản
ghi dữ liệu đăng ký, lai lịch; Hoàn thiện dữ liệu thu thập nguồn gen của 13.819 lượt mẫu
giống; Dữ liệu hình ảnh của 16.959 mẫu nguồn gen (bảng 3).
Bảng 3. Kết quả cập nhật cơ sở dữ liệu thông tin tài nguyên thực vật
TT

Nội dung

Qua các năm
(lượt mẫu giống)
2013
2014
2015

Tổng

1

Dữ liệu mô tả đánh giá tính trạng nông sinh học

4.684

3.224

455

8.363

2

Dữ liệu đánh giá chi tiết

1.456

1.120

1.410

3.986

3

Dữ liệu hình ảnh nguồn gen

9.700

6.819

440

16.959

4

Dữ liệu thu thập nguồn gen

5.466

4.959

3.394

13.819

Công tác thông tin nguồn gen luôn được quan tâm phổ biến tới cộng đồng thông qua
các bài viết, sách xuất bản như: “Danh mục nguồn gen lúa đang được bảo tồn tại hệ thống
bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật nông nghiệp Việt Nam”; tạp chí chuyên đề về “Tài
nguyên thực vật”. Bên cạnh đó các lớp tập huấn, hội nghị, hội thảo cũng thường xuyên
9


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

được tổ chức phục vụ cho công tác bảo tồn và khai thác nguồn gen. Đặc biệt Website “Tài
nguyên di truyền thực vật Việt Nam” đang được Trung tâm Tài nguyên thực vật quản lý
được vận hành ổn định, tin bài cập nhật; được cộng đồng quan tâm, mỗi tháng có khoảng
trên 4.000 lượt người truy cập.
2.2. Khai thác phát triển nguồn gen
Công tác khai thác, phát triển nguồn gen là một trong những hoạt động quan
trọng của công tác bảo tồn, góp phần thực hiện bảo tồn bền vững nguồn gen. Cùng
với các hoạt động lưu giữ, nhân giống, tư liệu hóa nguồn gen, v.v... hoạt động phát
triển các nguồn gen địa phương có tiềm năng (năng suất, chất lượng, v.v...) đang được
lưu giữ trong Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia đã được phát triển mạnh trong giai
đoạn 2013 - 2015.
Trong những năm trước giai đoạn 2013 - 2015, công tác phát triển trực tiếp nguồn
gen để đưa vào sản xuất tạo hàng hóa là hướng đi được cả hệ thống quan tâm và triển khai.
Thông qua kết quả đánh giá nguồn gen đang được bảo tồn, Trung tâm Tài nguyên thực
vật đã xác định và bình tuyển được nhiều giống cây trồng triển vọng phục vụ sản xuất
như: lúa Tám đa dòng (T3), lúa Nếp, lúa Chịu hạn, lúa Tẻ thơm (LT3), lúa KD19; một số
giống khoai môn sọ như: KS5, KS4, KM-1; một số giống đậu tương; một số giống rau địa
ph­ương như: húng Láng; một số giống hoa; gừng - riềng; giống khoai lang ăn củ và khoai
lang ăn lá làm rau dinh dưỡng. Các giống khoai sọ KS4, giống hoa Đuôi chồn đỏ đã được
công nhận là giống quốc gia; ba giống khoai lang rau: KLR1, KLR3, KLR5 và khoai môn
nước KM-1 đã được công nhận sản xuất thử.
Các nguồn gen đã và đang được nghiên cứu khai thác, sử dụng, phát triển nguồn
gen tại các địa phương trên cả nước như: bí xanh Chữ thập, bí đá Trái dài, mướp đắng
Xanh (tại Bình Định, Nghệ An); lúa Khẩu Ký, Khẩu Nẩm Pua (tại Lai Châu, Lạng Sơn),
lúa Di hương (Hải Phòng), Khẩu Cẩm Xẳng, Khẩu Cẩm Ngâu (tại Nghệ An, Hà Tĩnh);
bưởi Đường, bưởi Trụ, bưởi Quế Dương (tại Bình Định, Hà Nội); lạc đỏ Điện Biên, lạc
đỏ Bắc Giang (tại Điện Biên, Bắc Giang, Hòa Bình). Hoạt động khai thác phát triển
nguồn gen này luôn gắn liền với cộng đồng dân cư, đảm bảo được lợi ích kinh tế của
người dân sở hữu nguồn gen, nâng cao hiệu quả kinh tế từ 10 - 15%, đa dạng hóa nguồn
gen trong sản xuất, đa dạng hóa nguồn thu, góp phần tăng tính bền vững của sản xuất
nông nghiệp[5].
Với quy trình kỹ thuật canh tác mới được nghiên cứu và áp dụng. Cùng với hạt giống
đã được phục tráng, năng suất của các giống lúa Khẩu Mang, Khẩu Ký, Khẩu Nẩm Pua,
Tan nương cao hơn 15 - 17% so với giống ngoài sản xuất (giống chưa phục tráng) tại các
địa phương như Lai Châu, Lạng Sơn, Sơn La do đó đã góp phần nâng cao được hiệu quả
sản xuất.
Kết quả nghiên cứu biện pháp kỹ thuật, xây dựng mô hình sản xuất bí đá Trái dài và
mướp đắng Xanh tại Nghệ An đã tăng hiệu quả sản xuất trên 20% với việc tăng năng suất
đạt 33%[1].
10


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHCN NỔI BẬT - LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT - BẢO VỆ THỰC VẬT

Thực hiện nghiên cứu về nguồn gen bưởi, khi áp các quy trình kỹ thuật, phòng trừ sâu
bệnh hại, các giống bưởi Đường, bưởi Trụ, buởi Quế Dương tại Hà Nội, Quảng Nam đã
tăng được hiệu quả kinh tế từ 20 - 30%[2].
Các kết quả nghiên cứu về các giống lúa, bí xanh, mướp đắng, bưởi tại các địa phương
Lai Châu, Nghệ An, Quảng Nam, v.v... đã góp phần tăng hiệu quả của sản xuất nói chung,
đa dạng hóa nguồn gen, góp phần tăng tính bền vững của công tác bảo tồn nói riêng.
2. KẾT LUẬN
Đã thu thập được trên 5.000 mẫu giống của gần 100 loài cây trồng trên cả nước. Lưu
giữ an toàn 38.344 mẫu giống của các loại cây trồng nhóm ngũ cốc, đậu đỗ, rau, gia vị, cây
có củ, cây ăn quả, cây công nghiệp, cây hoa, nấm trong hệ thống bảo tồn. Thực hiện đánh
giá ban đầu được 5.770 nguồn gen, đánh giá chi tiết 3.301 nguồn gen. Cơ sở dữ liệu quản
lý thống nhất với 8.363 bản ghi dữ liệu đăng ký, lai lịch; Hoàn thiện dữ liệu thu thập nguồn
gen của 13.819 lượt mẫu giống; Dữ liệu hình ảnh của 16.959 mẫu nguồn gen giai đoạn
2013 - 2015. Áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới được xây dựng, đã tăng được năng suất
15 - 33%, tăng hiệu quả kinh tế 20 - 30% cho một số giống lúa, bí xanh, mướp đắng, bưởi
tại các địa phương Lạng Sơn, Lai Châu, Sơn La, Hà Nội, Nghệ An, Quảng Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Tạ Kinh Bính và cộng sự (2016), Báo cáo tổng hợp kết quả khoa học và công nghệ
thực hiện nhiệm vụ khai thác và phát triển nguồn gen, Trung tâm Tài nguyên
thực vật.
2.Vũ Mạnh Hải và cộng sự (2016), Báo cáo tổng hợp kết quả khoa học và công nghệ
thực hiện nhiệm vụ khai thác và phát triển nguồn gen, Trung tâm Tài nguyên
thực vật.
3.Trần Đình Long (2010), Vai trò của tài nguyên di truyền thực vật trong chọn giống cây
trồng và phát triển nông nghiêp, Hội thảo tăng cường bảo tồn tài nguyên di truyền
thực vật phục vụ mục tiêu lương thực và nông nghiệp hướng tới Năm đa dạng sinh
học quốc tế năm 2010, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
4.Trần Danh Sửu (2015), Báo cáo tổng hợp kết quả khoa học và công nghệ thực hiện
nhiệm vụ khai thác và phát triển nguồn gen, Trung tâm Tài nguyên thực vật.
5.Vũ Đăng Toàn, Lã Tuấn Nghĩa (2016). Kết quả bảo tồn, khai thác nguồn gen thực vật
nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2015, Nxb Nông nghiệp (2): 174-180.
6.Lưu Ngọc Trình, Lê Khả Tường (2010), Kết quả bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn
gen cây trồng ở Việt Nam 2005 - 2009, Hội nghị tổng kết công tác nghiên cứu khoa học
công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội.
7.FAO (2011), Action Plan on Second Global Resources Plant Genitic Conservation For
Food and Agriculture, Rome, 2011.
11


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

RESULTS OF PLANT RESOURCES CONSERVING AND EXPLORATING
AT PERIOS 2013 - 2015
Vu Xuan Truong, Vu Dang Toan, La Tuan Nghia
ABSTRACT
During the 2013 - 2015 period, Plant Resources Center has conserved safely about
38.000 accessions. 4.831 accessions have multiplicated and evaluated. 15.534 accessions
have agro-biologically characterized and PGR database of these accessions have managed
by the Vietnamese-English software. 7.038 accessions have allocated for the purpose of
studying. Some rare plant genetic resources in the localities have recovered and exploited
such as: Chu Thap, Da Trai Dai whiter gourd, Xanh bitter gourd (Binh Dinh and Nghe An
provinces); Lang spices, Tay Ho lotus (Ha Noi); khau Ky, khau Nam Pua rice (Lai Chau
and Lang Son provinces), Di Huong rice(Hai Phong province), khau Cam Xang, khau
Cam Ngaurice (Nghe An and Ha Tinh province); Duong, Tru, Que Dương pomelo (Binh
Dinh and Ha Noi); Dien Bien, Bac Giang red ground nus (Dien Bien, Bac Giang, Hoa Binh
provinces), in which the economic value increased by 20 - 30% in comparison with other
common varieties in these localities.
Keywords: Plant resources, conservation and exploration.

Phản biện: PGS. TS. Lê Khả Tường

12


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHCN NỔI BẬT - LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT - BẢO VỆ THỰC VẬT

ẢNH HƯỞNG CỦA VẬT LIỆU CHE PHỦ ĐẾN NĂNG SUẤT
VÀ HIỆU QUẢ CANH TÁC CÂY NGHỆ VÀNG Ở VIỆT NAM
PGS. TS. Lê Khả Tường1

TÓM TẮT
Hiện nay cây nghệ vàng đã và đang được quan tâm đặc biệt trong công tác khai thác,
phát triển nhằm tăng nhanh sản lượng, từng bước đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và
xuất khẩu. Tuy nhiên sản xuất nghệ ở nước ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách
thức do biến đổi khí hậu. Đó là sự khô hạn kéo dài gắn liền với nhiệt độ tăng cao trong mùa
hè, sự suy thoái của độ phì đất, sự xâm lấn của cỏ dại và các dịch hại khác. Trên cơ sở thực
hiện đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu tuyển chọn và phát triển giống gừng, nghệ năng suất cao,
chất lượng tốt cho các tỉnh phía Bắc”, Trung tâm Tài nguyên thực vật đã tiến hành xác định
biện pháp che phủ thích hợp cho cây nghệ nhằm khắc phục những hạn chế trên. Kết quả
cho thấy trong điều kiện che phủ rơm rạ hay nilon đen, khối lượng củ/khóm và năng suất
thực thu đã tăng lên đáng kể, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với canh tác truyền thống
không che phủ. Trong đó mô hình che phủ nilon đen đạt giá trị cao nhất về năng suất thực
thu, tổng thu nhập, lãi thuần so với đối chứng. Áp dụng kỹ thuật che phủ mặt luống bằng
rơm rạ hay nilon đen sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các vùng sản xuất nghệ ở nước ta.
Từ khóa: cây nghệ, che phủ, hiệu quả cao, nilon đen, rơm rạ.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Các nhà khoa học thế giới đã công nhận Curcumin trong củ nghệ vàng có thể tiêu
diệt tế bào ung thư với cơ chế hủy diệt từng phần, có khả năng giải độc mạnh nhất, tăng
cường bảo vệ tế bào hồng cầu, loại bỏ cholesterol xấu, điều hòa huyết áp, ngăn ngừa béo
phì, chống rụng tóc (Đỗ Tất Lợi, 2009). Do đó cây nghệ vàng đã và đang được quan tâm
đặc biệt trong công tác khai thác, phát triển nhằm tăng nhanh sản lượng, từng bước đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu (Lê Khả Tường, 2014). Áp dụng các giải
pháp khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả canh tác là điều kiện căn
bản để mở rộng và phát triển sản xuất trên quy mô lớn ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên sản
xuất nghệ ở nước ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức lớn do biến đổi
khí hậu. Đó là sự khô hạn kéo dài gắn liền với nhiệt độ tăng cao trong mùa hè, sự suy thoái
của độ phì đất, sự xâm lấn của cỏ dại và các dịch hại khác (Lê Khả Tường, 2010). Cây nghệ
sau khi trồng, quá trình bốc thoát hơi nước mặt đất và rửa trôi dinh dưỡng từ môi trường
đất liên tục diễn ra dưới tác động của điều kiện môi trường. Quá trình này cũng chính
1

Trung tâm Tài nguyên thực vật.
13


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

là một trong những yếu tố hạn chế trong công tác mở rộng, phát triển sản xuất cây nghệ
ở Việt Nam. Do đó việc nghiên cứu xác định các vật liệu che phủ thích hợp có khả năng
khắc phục những hạn chế trên, cải tiến năng suất và hiệu quả canh tác được xem là một
giải pháp quan trọng và cấp thiết trong sản xuất cây nghệ vàng ở nước ta hiện nay.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu
+ Giống nghệ vàng triển vọng N8 có nguồn gốc từ Ngân hàng gen cây trồng Quốc
gia, được nghiên cứu và đánh giá từ kết quả của đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu tuyển chọn và
phát triển giống gừng, nghệ năng suất cao, chất lượng tốt cho các tỉnh phía Bắc” thực hiện
trong giai đoạn 2012 - 2016.
+ Phân đạm Phú Mỹ: N chiếm 46,3%, độ ẩm chiếm 0,4%; Phân lân Ninh Bình: P2O5
chiếm 17%, CaO 28 - 34%, MgO 10 - 20%, SiO2 25 - 30% và các nguyên tố vi lượng Bo, Zn,
Mn, Cu, Co; Phân kali Phú Mỹ MOP loại bột thành phần K­­­­2O chiếm 61%, độ ẩm ≤ 0,5%;
Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh: Độ ẩm 30%; Hữu cơ 15%; Acid Humic 2,5%. Trung
lượng: Ca 1,0%; Mg 0,5%; S 0,3%. Các chủng vi sinh vật hữu ích Bacillus 1×106 CFU/g;
Azotobacter 1 × 106 CFU/g; Aspergillus sp 1 × 106 CFU/g.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Bố trí thí nghiệm và mô hình trình diễn: Thí nghiệm gồm 3 công thức, trong đó
công thức I làm đối chứng: (I) không che phủ, (II) che phủ rơm rạ và (III) che phủ nilon
đen, được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên, 3 lần lặp, diện tích ô = 20,0 m2. Mô hình
trình diễn được thực hiện trên cơ sở áp dụng các kết quả nghiên cứu.
2.2.2. Đánh giá đặc điểm nông sinh học: Được đánh giá theo phiếu mô tả cây họ gừng
của Trung tâm Tài nguyên thực vật (PRC, 2006). Đánh giá sinh trưởng, phát triển và năng
suất theo hướng dẫn của Tổ chức Sinh học quốc tế trên cây họ Gừng.
2.2.3. Đánh giá khả năng chống chịu trên đồng ruộng: Đánh giá mức độ chịu hạn đồng
ruộng theo phương pháp của PRC năm 2006 với thang điểm từ 1 - 10: điểm 1: 0 - 10% cây
héo; điểm 2: 10,1 - 20,0% cây héo; điểm 3: 20,1 - 30,0% cây héo; điểm 10: 90,1 - 100% cây
héo; Đánh giá mức độ hại của rầy xanh theo hướng dẫn tại Quy chuẩn Việt Nam : QCVN
01-382010/BNNPTNT gồm 3 cấp hại: cấp 1: ≤ 5,0 diện tích lá bị hại, cấp 2: 5,1 - 30% diện
tích lá bị hại, cấp 3: > 30% diện tích lá bị hại; Đánh giá mức độ hại do bệnh thối củ theo
hướng dẫn tại Thông tư số 71/2010/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 12 năm 2010 với 3 cấp
độ: cấp 1: khối lượng củ bị hại chiếm ≤ 5,0; cấp 2: khối lượng củ bị hại chiếm 5,1 - 10%;
cấp 3: khối lượng củ bị hại chiếm > 10%.
2.2.4. Đánh giá hiệu quả kinh tế: Tổng giá trị thu nhập tính theo công thức GR = YP.
Trong đó GR là tổng giá trị thu nhập, Y là năng suất, P là giá bán. Tổng chi phí lưu động
theo công thức TVC = MC+ LC + EC + CI. Trong đó TVC là tổng chi phí lưu động, MC
là chi phí vật tư, LC là chi phí lao động, EC là chi phí năng lượng, CI là lãi suất vốn đầu tư.
14


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHCN NỔI BẬT - LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT - BẢO VỆ THỰC VẬT

Tính lợi nhuận theo công thức P = GR - TVC. Tỷ suất lãi so với vốn đầu tư theo công thức
VCR = GR/TVC.
2.2.5. Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành trong 2 năm từ
2014 - 2015 tại 3 địa bàn: (1) Thuần Hưng, Khoái Châu, Hưng Yên, (2) Nông trường Thạch
Quảng, Thạch Thành, Thanh Hóa và (3) Minh Đức, Việt Yên, Bắc Giang. Mô hình trình
diễn được thực hiện năm 2015 tại Hưng Yên và Thanh Hóa.
2.6. Kỹ thuật canh tác khác: theo biện pháp canh tác giống nghệ N8.
2.7. Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý theo chương trình CropStat 7.2.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khả năng sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng (TGST) là một trong những yếu tố quan trọng phản ảnh điều
kiện canh tác của cây nghệ. Trong điều kiện canh tác tự nhiên (canh tác truyền thống hay
canh tác không che phủ), TGST giữa các địa bàn nghiên cứu ngắn nhất, biến động trong
phạm vi 266 - 271 ngày. Khi áp dụng kỹ thuật che phủ, TGST có xu hướng kéo dài từ
276 - 282 ngày đối với che phủ bằng rơm rạ và 278 - 285 ngày đối với che phủ bằng nilon
đen. Trong điều kiện canh tác truyền thống, chiều cao cây đạt giá trị thấp nhất, biến động
trong phạm vi 123,7 - 133,3 cm giữa các điểm. Khi áp dụng che phủ bằng rơm rạ, chiều cao
cây đã tăng lên trong phạm vi 170,7 - 185,6 cm. Đặc biệt khi áp dụng che phủ bằng nilon
đen, chiều cao cây giữa các điểm đạt giá trị cao nhất, biến động từ 175,9 - 188,4 cm. Số lá/
cây bị ảnh hưởng khá rõ bởi điều kiện che phủ, trong đó che phủ bằng nilon đen đã làm
tăng số lá/cây cao nhất trong phạm vi 14,3 - 15,4 lá/cây tại các địa bàn nghiên cứu. Như
vậy áp dụng biện pháp che phủ đã kéo dài TGST, làm tăng trưởng chiều cao cây và số lá/
cây. Trong đó biện pháp che phủ nilon đen đạt giá trị cao nhất (bảng 1).
Bảng 1. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến đặc điểm sinh trưởng giống nghệ N8
tại một số địa phương, 2014 - 2015
Hưng Yên
Vật liệu

Thanh Hóa

Bắc Giang

TGST
(ngày)

Cao
cây
(cm)

Số lá/
cây

TGST
(ngày)

Cao
cây
(cm)

Số lá/
cây

(ngày)

Cao
cây
(cm)

Số lá/
cây

I

268

132,8

12,2

266

123,7

11,7

271

133,3

12,0

II

282

185,6

14,6

276

170,7

13,8

281

178,6

15,5

III

285

188,4

15,0

278

175,9

14,3

285

182,6

15,4

TGST

15


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

3.2. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến khả năng chống chịu trên đồng ruộng
Phương thức canh tác truyền thống luôn gắn liền với quá trình bốc thoát hơi nước
và làm khô hạn đất canh tác. Đây là nguyên nhân gây nên tình trạng thiếu nước và héo
rũ ở cây nghệ tại các vùng trồng nghệ hiện nay ở nước ta. Áp dụng kỹ thuật che phủ mặt
luống bằng các vật liệu khác nhau đã làm hạn chế đáng kể sự bốc thoát hơi nước, đảm bảo
cho cây nghệ luôn sinh trưởng, phát triển bình thường, giảm tỷ lệ cây héo từ 20,1 - 30% (cấp 3)
trong điều kiện canh tác truyền thống xuống dưới 10% (cấp 1) khi áp dụng kỹ thuật che
phủ bằng rơm rạ hay nilon đen. Đặc biệt việc áp dụng biện pháp che phủ đã góp phần làm
tăng khả năng chống chịu rầy xanh và bệnh thối củ trên đồng ruộng (cấp 1) so với canh
tác truyền thống (cấp 2) (bảng 2).
Bảng 2. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến tình hình chống chịu
trên đồng ruộng giống nghệ N8 tại một số địa phương, năm 2014 - 2015
Hưng Yên
Vật liệu

Thanh Hóa

Bắc Giang

Chịu
hạn

Chịu
rầy
xanh

Chịu
thối
củ

Chịu
hạn

Chịu
rầy
xanh

Chịu
thối
củ

Chịu
hạn

Chịu
rầy
xanh

Chịu
thối
củ

I

3

2

2

3

2

2

3

1

2

II

1

1

1

1

1

1

1

1

1

III

1

1

1

1

1

1

1

1

1

3.3. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến sự phát triển của củ
Sau khi trồng, cây nghệ gặp nhiều khó khăn về dinh dưỡng và độ ẩm đất do quá
trình bốc thoát hơi nước mặt đất và rửa trôi dinh dưỡng từ môi trường đất (Shouichi
Yoshida và cs, 1964). Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các vật liệu che phủ đến sự
phát triển củ của giống nghệ N8 cho thấy việc áp dụng che phủ mặt luống có xu
hướng làm tăng chiều dài củ, đường kính củ và số củ/khóm. Trong điều kiện không
che phủ, khả năng sinh trưởng đã giảm đi cả về chiều dài củ, đường kính củ và số
củ/khóm. Khi áp dụng vật liệu che phủ rơm rạ, chiều dài củ, đường kính củ và số
củ/khóm đã tăng lên đáng kể, tương ứng với 7,8 cm, 29,6 mm và 1,7 củ/khóm tại Hưng
Yên; 7,9 cm, 29,2 mm và 1,8 củ/khóm tại Thanh Hóa; 7,7 cm, 28,2 mm và 1,5 củ/khóm
tại Bắc Giang. Áp dụng vật liệu che phủ bằng nilon đen cũng nhận được kết quả tương tự
như vật liệu che phủ rơm rạ. Kết quả trên đã ghi nhận vật liệu che phủ làm tăng đáng kể
số lượng và kích thước củ so với không che phủ. Trong đó che phủ bằng rơm rạ có giá trị
tương đương như che phủ bằng nilon đen trong việc làm tăng chiều dài củ, đường kính
củ và số củ/khóm (bảng 3).

16


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHCN NỔI BẬT - LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT - BẢO VỆ THỰC VẬT

Bảng 3. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến kích thước củ
và số lượng củ nghệ N8 tại một số địa phương, năm 2014 - 2015
Hưng Yên
Vật
liệu

Thanh Hóa

Dài củ
(cm)

Đường
kính củ
mm)

Số củ/
khóm

I

7,2

28,2

1,3

II

7,8

29,6

III

7,8

29,8

Bắc Giang

Đường
kính củ
(mm)

Số củ/
khóm

Dài
củ
(cm)

Đường
kính củ
(mm)

Số củ/
khóm

7,3

27,8

1,2

7,1

26,9

1,0

1,7

7,9

29,2

1,8

7,7

28,2

1,5

1,8

7,9

30,1

1,9

7,8

31,1

1,7

Dài củ
(cm)

3.4. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến các yếu tố cấu thành năng suất
Kết quả nghiên cứu cho thấy chế độ che phủ khác nhau đã ảnh hưởng khá rõ đến các
yếu tố cấu thành năng suất và năng suất củ nghệ. Khối lượng củ/khóm (KLC) và năng
suất thực thu (NSTT) đạt giá trị thấp nhất trong điều kiện không che phủ, tương ứng với
675,3 g/khóm và 28,7 tấn/ha tại Hưng Yên; 656,5 g/khóm và 27,9 tấn/ha tại Thanh Hóa;
696,4 g/khóm và 29,6 tấn/ha tại Bắc Giang. Trong điều kiện che phủ rơm rạ, khối lượng
củ/khóm và năng suất thực thu đã tăng lên đáng kể, tương ứng với 875,3 g/khóm và 37,2
tấn/ha tại Hưng Yên; 868,2 g/khóm và 36,9 tấn/ha tại Thanh Hóa; 905,8 g/khóm và 38,5
tấn/ha tại Bắc Giang. Ảnh hưởng của che phủ bằng nilon đen cũng nhận được kết quả
tương tự như che phủ bằng rơm rạ (bảng 4).
Bảng 4. Ảnh hưởng của các vật liệu che phủ mặt luống
đến năng suất giống nghệ N8 tại một số địa phương, năm 2015
Hưng Yên
Vật liệu

Thanh Hóa

Bắc Giang

KLC/
khóm (g)

NSTT
(tấn/ha)

KLC/
khóm (g)

NSTT
(tấn/ha)

KLC/
khóm (g)

NSTT
(tấn/ha)

I

675,3

28,7

656,5

27,9

696,4

29,6

II

875,3

37,2

868,2

36,9

905,8

38,5

III

922,3

39,3

905,8

38,5

943,5

40,1

CV%

15,3

12,1

16,8

LSD0,05

3,5

3,2

2,7

3.5. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất nghệ
Hiệu quả kinh tế được xem là thước đo của sự thành công đối với một biện pháp
canh tác mới trong nông nghiệp (Aggarwal và cs, 2007). Theo đó hiệu quả kinh tế của
biện pháp che phủ giống nghệ N8 đã được đánh giá thông qua mô hình trình diễn tại
17


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

các địa bàn Hưng Yên và Thanh Hóa, trên quy mô diện tích tương ứng với 5,0 và 30 ha
thực hiện năm 2015. Kết quả cho thấy mô hình che phủ rơm rạ tại các địa bàn đạt giá trị
trung bình về NSTT, tổng thu nhập, lãi thuần và tỷ suất lãi cao hơn đáng kể so với canh
tác không che phủ, tương ứng với 37,2 tấn/ha, 446,4 triệu đồng/ha, 240,1 triệu đồng/ha và
2,16 lần tại Hưng Yên; 36,9 tấn/ha, 405,9 triệu đồng/ha, 199,6 triệu đồng/ha và 1,97 lần tại
Thanh Hóa.
Bảng 5. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến hiệu quả kinh tế
giống nghệ vàng N8 tại một số địa phương, năm 2015
Yếu tố kinh tế

Hưng Yên

Thanh Hóa

Không
che

Rơm
rạ

Nilon
đen

Không
che

Rơm
rạ

Nilon
đen

Làm đất (triệu đ/ha)

8,4

8,4

8,4

8,4

8,4

8,4

Giống (triệu đ/ha)

60,0

60,0

60,0

60,0

60,0

60,0

Công lao động (triệu đ/ha)

82,5

85,0

84,0

82,5

85,0

84,0

Vật tư, phân bón (triệu đ/ha)

22,1

42,1

52,1

22,1

42,1

52,1

Thuốc BVTV (triệu đ/ha)

1,0

1,0

1,0

1,0

1,0

1,0

Cộng chi (triệu đ/ha)

174,0

201

210

174,0

201

210

Lãi suất (10 th x 0,5%/th)

8,70

9,82

10,27

8,70

9,82

10,27

Tổng chi (triệu đ/ha)

182,7

206,3

215,8

182,7

206,3

215,8

Năng suất thực thu (tấn/ha)

28,7

37,2

39,3

27,9

36,9

38,5

Giá bán (nghìn đ/kg)

12,0

12,0

12,0

11,0

11,0

11,0

Tổng thu nhập (triệu đ/ha)

344,4

446,4

471,6

306,9

405,9

423,5

Lãi thuần (triệu đ/ha)

161,7

240,1

255,8

124,2

199,6

207,7

Tỷ suất lãi VCR (lần)

1,88

2,16

2,18

1,68

1,97

1,96

Ghi chú: Định mức chi 1 ha mô hình: Làm đất: 56 công/ha x 150.000 đ/công; Giống:
2000 kg/ha x 30.000 đ/kg; công lao động (trồng - thu hoạch): 550 công x 150.000 đ/công;
phân hữu cơ Sông Gianh 2.000 kg x 5.000 đ/kg; phân urê 326 kg x 8.000 đ/kg; phân lân supe
1.600 kg x 4.000 đ/kg; phân KCl 350 kg x 8.500 đ/kg; thuốc BVTV: 1 triệu đồng; rơm rạ khô
10 tấn x 2.000.000 đ/tấn; màng phủ nilon đen 30.000.000 đ/ha.
Đặc biệt mô hình che phủ nilon đen tại các địa bàn đạt giá trị cao nhất về NSTT, tổng
thu nhập, lãi thuần so với canh tác truyền thống, tương ứng với 39,3 tấn/ha, 471,6 triệu
đồng/ha, 255,8 triệu đồng/ha và 2,18 lần tại Hưng Yên; 38,5 tấn/ha, 423,5 triệu đồng/ha,
207,7 triệu đồng/ha và 1,96 lần tại Thanh Hóa. Như vậy, hiệu quả kinh tế của các biện
pháp che phủ rơm rạ hay nilon đen đã vượt trội đáng kể so với canh tác truyền thống
không che phủ tại các địa phương. Áp dụng kỹ thuật che phủ mặt luống bằng rơm rạ hay
nilon đen đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các vùng sản xuất nghệ (bảng 5).
18


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHCN NỔI BẬT - LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT - BẢO VỆ THỰC VẬT

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1. Kết luận
a) Áp dụng biện pháp che phủ rơm rạ hoặc nilon đen đã làm tăng khả năng sinh
trưởng cây nghệ thông qua việc kéo dài thời gian sinh trưởng, làm tăng chiều cao cây, số
lá/cây, chiều dài củ, đường kính củ và số củ/khóm đồng thời làm giảm tỷ lệ cây héo do khô
hạn, làm tăng khả năng chống chịu rầy xanh và bệnh thối củ trên đồng ruộng.
b) Trong điều kiện che phủ rơm rạ, khối lượng củ/khóm và năng suất thực
thu đã tăng lên đáng kể, tương ứng với 875,3 g/khóm và 37,2 tấn/ha tại Hưng Yên,
868,2 g/khóm và 36,9 tấn/ha tại Thanh Hóa, 905,8 g/khóm và 38,5 tấn/ha tại Bắc Giang.
Ảnh hưởng của che phủ bằng nilon đen đến khối lượng củ và năng suất thực thu cũng
nhận được kết quả tương tự như che phủ bằng rơm rạ.
c) Mô hình canh tác che phủ rơm rạ và nilon đen đã mang lại hiệu quả cao vượt trội
so với canh tác truyền thống không che phủ. Trong đó mô hình che phủ nilon đen đạt
giá trị cao nhất về năng suất thực thu, tổng thu nhập, lãi thuần và tỷ suất lãi, tương ứng
với 39,3 tấn/ha, 471,6 triệu đồng/ha, 255,8 triệu đồng /ha và 2,18 lần tại Hưng Yên; 38,5
tấn/ha, 423,5 triệu đồng/ha, 207,7 triệu đồng/ha và 1,96 lần tại Thanh Hóa. Áp dụng kỹ
thuật che phủ mặt luống bằng rơm rạ hay nilon đen đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho
các vùng sản xuất nghệ.
4.2. Đề nghị
Áp dụng kỹ thuật che phủ rơm rạ hoặc nilon đen cho các vùng sản xuất nghệ ở
Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Tất Lợi (2009), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Y học, Nxb Thời đại,
Hà Nội, 1.300 trang.
2.Lê Khả Tường (2010), Báo cáo kết quả thu thập, đánh giá, khai thác và sử dụng nguồn
gen gừng nghệ, góp phần bảo tồn đa dạng cây trồng ở Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa
học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội.
3.Lê Khả Tường (2014), Kết quả nghiên cứu, tuyển chọn giống nghệ vàng triển vọng N8,
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Nxb Nông nghiệp.
4.Aggarwal B. B., Sundaram C., Malani N., Ichikawa H. (2007). “Curcumin: the
Indian solid gold”.  Adv. Exp. Med. Biol.  595: 1-75.  doi:10.1007/978-0-387-464015_1. PMID 17569205.
5.Shouichi Yoshida, Douglas A., Forno, james H., Cock (1964), Laboratory mnual for
physiologycal studies of rice, P.59.
19


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THE INFLUENCE OF MULCH MATERIAL ON PRODUCTIVITY
AND ECONOMIC EFFICIENCY OF TURMERIC PRODUCER IN VIETNAM
Le Kha Tuong

ABSTRACT
Now the turmeric has been particular interest in exploitation, development to
increase production, step by step to meet the needs of domestic consumption and export.
But turmeric production in our country is faced with many difficulties and challenges
due to climate change. It is the prolonged drought associated with higher temperatures
in summer, the deterioration of soil fertility, encroachment of weeds and other. Based on
implement the project “selected research and development on high yield, good quality
turmeric varieties for the North,” Plant Resource Center has conducted of suitable mulching
methods for turmeric. The result showed that the mulch by straw or black plastic has
increased of rhizome weight and productivity significantly, bringing high performance
comparing to traditional farming. In which the black plastic mulching model reaches the
highest values of yield, total income, net profit compared to the control.
Keywords: Black nylon, high efficiency, mulch, straw, turmeric.

Phản biện: TS. Vũ Đăng Toàn

20


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHCN NỔI BẬT - LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT - BẢO VỆ THỰC VẬT

KẾT QUẢ CHỌN TẠO GIỐNG LÚA BẮC THƠM 7
KHÁNG BỆNH BẠC LÁ
Nguyễn Thị Lệ1, Vũ Hồng Quảng1, Nguyễn Thị Thu1,
Nguyễn Thị Huế1, Nguyễn Văn Hoan2, Nguyễn Chí Dũng3
TÓM TẮT
Giống lúa Bắc thơm 7 kháng bệnh bạc lá (BT7KBL) được chọn tạo bằng phương pháp
lai quy tụ (backcross) (Bắc thơm 7/IRBB21) và chọn lọc cá thể. Giống Bắc thơm 7 kháng
bệnh bạc lá kháng vừa với chủng số 14 và kháng cao với chủng số 5 và chủng số 3. Giống lúa
Bắc thơm 7 kháng bệnh bạc lá có các đặc điểm nông sinh học như giống Bắc thơm 7, thời
gian sinh trưởng ngắn: vụ Xuân 130 - 135 ngày, vụ Mùa 103 - 105 ngày, năng suất khá, ổn
định trung bình đạt 5,0 - 5,5 tấn/ha, chất lượng gạo ngon. Giống BT7KBL thích hợp gieo cấy
trong vụ Xuân muộn và mùa sớm. Giống Bắc thơm 7 kháng bệnh đã được Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn công nhận và đang được mở rộng sản xuất ở các tỉnh phía Bắc.
Từ khóa: Bắc thơm 7, Xa21, kháng bệnh bạc lá.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển của
nghề trồng lúa nhưng đây cũng là điều kiện thuận lợi cho việc phát sinh và gây hại của
nhiều loại sâu bệnh hại. Bệnh bạc lá do vi khuẩn Xanthomonas oryzea pv. oryzae gây nên
là một trong những bệnh hại nguy hiểm và làm giảm năng suất đáng kể. Theo Mew và cs.
(1982), bệnh có thể làm giảm năng suất tới 60%. Tại Ấn Độ hàng năm có tới hàng trăm
triệu hécta lúa bị bạc lá nặng làm giảm năng suất tới 60% (Sivivatava, 1972). Theo Cục Bảo
vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bệnh bạc lá lúa đang có xu hướng
phát triển trong những năm gần đây với mức độ hại, gia tăng nhanh trên phạm vi cả nước,
đặc biệt là trong vụ Hè Thu, vụ Mùa tại các tỉnh ven biển phía Bắc. Năm 2012, diện tích
lúa bị bệnh bạc lá ở các địa phương tăng từ 35 - 70% so với những năm trước. Bệnh có khả
năng gây hại cho cây lúa ở tất cả các thời kỳ và các bộ phận của cây lúa, phổ biến nhất là
hại bộ lá và lá đòng vào giai đoạn đòng - trỗ - chín sữa, năng suất có thể giảm từ 25 - 50%,
thậm chí là mất trắng. Tuy nhiên, hiện nay bệnh bạc lá lúa chưa có thuốc đặc trị bệnh, một
số thuốc hiện có trong danh mục chỉ sử dụng để phòng là chính và hiệu quả thường không
cao. Giải pháp quan trọng nhất để phòng, chống bệnh bạc lá lúa là sử dụng giống lúa chống
chịu bệnh và áp dụng các biện pháp canh tác, kỹ thuật.
____________________

Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng - Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Dự án JICA - HUA.
3
Phòng Kinh tế và Phát triển nông thôn Gia Bình, Bắc Ninh.
1

2

21


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu
- Giống Bắc thơm 7 dùng làm thể nhận, dòng chuẩn kháng IRBB21 mang gen kháng
bệnh Xa21 dùng làm thể cho gen và sử dụng làm dòng chuẩn kháng.
- Giống IR24 là giống chuẩn nhiễm (giống không mang gen kháng).
- Các chủng bạc lá để lây nhiễm nhân tạo do Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học phân
lập, lưu giữ: Race 3 (Iso late: 981.HUA10146); Race 5 (Iso late: 996. HAU 10147); Race 14
(Iso late: 1035 HAU 10153).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp lai trở lại (backcross). Phương pháp chọn lọc cá thể (pedigree)
để chọn lọc dòng chứa gen kháng Xa21. Bố trí thí nghiệm đồng ruộng như chọn dòng, so
sánh dòng, xác định thời vụ, phân bón… theo phương pháp của Phạm Chí Thành (1986).
Các chỉ tiêu theo dõi trên đồng ruộng được đánh giá theo tiêu chuẩn đánh giá nguồn gen
cây lúa của IRRI (2002). Đánh giá mức độ phản ứng với các chủng gây bạc lá trong điều
kiện nhân tạo theo phương pháp của phòng thí nghiệm JICA - Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội (2003). Phương pháp thử mùi thơm trên gạo theo phương pháp của Kibria
và cs. (2008). Kiểm tra gen khánh bệnh bạc lá trong giống Bắc thơm 7 kháng bệnh bạc lá
bằng chỉ thị phân tử tại Bộ môn Sinh học phân tử của Viện Di truyền Nông nghiệp - Viện
Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, sử dụng chỉ thị phân tử liên kết gen kháng bệnh bạc lá
Xa21: pTA248 để kiểm tra sự có mặt của gen kháng bệnh bạc lá Xa21 trong các dòng Bắc
thơm 7 kháng bạc lá, phương pháp tách chiết ADN: ADN tổng số được tách chiết theo
phương pháp “NaOH extraction” của Wang (1992), kỹ thuật PCR: Phản ứng PCR được
tiến hành trên máy Veriti 96well Thermal cycler, phương pháp điện di trên gel agarose theo
phương pháp của Khoa Genome thực vật, Trường Đại học Công nghệ Texas, Mỹ (2002).
Khảo nghiệm tác giả, khảo nghiệm VCU, khảo nghiệm sản xuất theo quy phạm khảo
nghiệm giống lúa 10 TCN 558-2002, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2003). Các
số liệu phân tích thống kê bằng phần mềm IRRISTAT5.0.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Quá trình lai chuyển gen và chọn tạo
Vụ Xuân 2006: tiến hành phép lai: Bắc thơm 7/IRBB21 thu được hạt F1. Vụ Mùa 2006:
Gieo hạt F1 và tiến hành lai lại với Bắc thơm 7 thu được hạt BC1F1. Vụ Xuân 2007: Gieo
hạt BC1F1, lây nhiễm nhân tạo các chủng bạc lá, chọn được các cây kháng cao lai lại với
Bắc thơm 7 thu được hạt BC2F1. Vụ Mùa 2007: Gieo hạt BC2F1, lây nhiễm nhân tạo các
chủng bạc lá, chọn được các cây kháng cao lai lại với Bắc thơm 7 thu được các hạt của thế
hệ BC3F1. Vụ Xuân 2008: Gieo thế hệ lai lại BC3F1, lây nhiễm nhân tạo các chủng bạc lá,
22


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHCN NỔI BẬT - LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT - BẢO VỆ THỰC VẬT

chọn cây kháng cao để hạt tự thụ thu các cá thể kháng cao của thế hệ BC3F2. Sau đó tiếp
tục cho tự thụ để đạt dòng thuần.
3.2. Kết quả khảo nghiệm tác giả
3.2.1 Đặc điểm nông sinh học của Bắc thơm 7 kháng bạc lá
Đánh giá đặc điểm nông sinh học cơ bản của giống so với giống ban đầu là cơ sở để
đánh giá những ưu, nhược điểm của giống. Kết quả đánh giá đặc điểm của giống Bắc thơm
số 7 kháng bệnh bạc lá được trình bày trong bảng 1.
Bảng 1. Một số đặc điểm nông sinh học chính của dòng
Bắc thơm 7 kháng bạc lá
Các đặc điểm

Bắc thơm 7 kháng bạc lá

Bắc thơm 7

Vụ Xuân 2011

Vụ Mùa 2011

Vụ Xuân 2011

Vụ Mùa 2011

TGST (ngày)

137,0

109,0

138,0

109,0

Chiều cao cây (cm)

97,5

96,0

97,0

96,5

Trạng thái phiến lá

Thẳng

Thẳng

Thẳng

Thẳng

Chiều dài phiến lá (cm)

33,7

33,5

33,6

33,5

Chiều rộng phiến lá (cm)

1,7

1,7

1,7

1,7

Độ dày lá

Trung bình

Trung bình

Trung bình

Trung bình

Góc than

Đứng

Đứng

Đứng

Đứng

Thời gian trổ (ngày)

5-6

5-6

5-6

5-6

Nâu vàng

Nâu vàng

Nâu vàng

Nâu vàng

Đường kính thân (mm)

7,4

7,3

7,4

7,2

Chiều dài bông (cm)

25,0

25,5

25,0

24,5

Độ trổ thoát cổ bông

Trổ thoát

Trổ thoát

Trổ thoát

Trổ thoát

Khối lượng 1000 hạt (g)

19,0

19,0

19,0

19,0

Chiều dài hạt thóc (mm)

6,2

6,3

6,2

6,3

Chiều rộng hạt thóc (mm)

2,3

2,3

2,3

2,3

Trắng, mềm,
dẻo

Trắng, mềm,
dẻo

Trắng, mềm,
dẻo

Trắng, mềm,
dẻo

Màu vỏ trấu

Đặc điểm cơm

Kết quả tại bảng 1 cho thấy giống Bắc thơm 7 Kháng bệnh bạc lá có đặc điểm nông sinh
học tương tự như giống lúa thuần chất lượng Bắc thơm 7 thông thường, không có sự sai
khác nhiều trên một số tính trạng quan sát.
23


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

3.2.2. Đặc điểm chất lượng gạo và khả năng chống chịu của giống Bắc thơm 7 kháng
bệnh bạc lá
Bảng 2. Các chỉ tiêu về chất lượng gạo và chống chịu của giống
Bắc thơm 7 kháng bạc lá
Bắc thơm 7 kháng bạc lá

Chỉ tiêu

Bắc thơm 7

Vụ Xuân 2011

Vụ Mùa 2011

Vụ Xuân 2011

Vụ Mùa 2011

Vàng nâu

Vàng nâu

Vàng nâu

Vàng nâu

Màu sắc vỏ hạt thóc
Thân: Đường kính thân
(mm)

6,3 - 6,8

6,1 - 6,6

Chiều dài hạt gạo lật (mm)

5,9 - 6,0

5,9 - 6,0

Chiều rộng hạt gạo lật (mm)

2,1 - 2,13

2,1 - 2,13

Màu sắc gạo lật

Nâu nhạt

Nâu nhạt

Cảm quan về cơm

cơm mềm, dẻo

cơm mềm, dẻo

Mùi thơm (điểm)

3

2

Kháng bệnh

Nhiễm đến nhiễm bệnh nặng

Mức độ nhiễm bạc lá
Mức độ nhiễm khô vằn

Nhiễm nhẹ

Nhiễm nhẹ

Nhiễm nhẹ

Nhiễm nhẹ

Mức độ nhiễm rầy nâu

Nhẹ

Nhẹ

Nhẹ

Nhẹ

Phạm vi thích ứng

Rộng

Rộng

Rộng

Rộng

Kết quả tại bảng 2 cho thấy có một đặc điểm khác biệt cơ bản giữa giống Bắc thơm 7
kháng bệnh bạc lá và giống Bắc thơm 7 là tính kháng bệnh bạc lá. Các đặc điểm khác
không có sự khác biệt giữa giống Bắc thơm 7 và giống Bắc thơm 7 được chuyển gen kháng
bệnh bạc lá Xa21.
3.2.3. Kết quả lây nhiễm nhân tạo giống Bắc thơm 7 kháng bệnh bạc lá
Bảng 3. Đánh giá tính kháng bệnh bạc lá của giống
Bắc thơm 7 kháng bệnh bạc lá vụ Mùa, năm 2011
Race 3

Race 5

Race 14

Tên giống

Chiều dài
vết bệnh
(cm)

Mức
phản ứng

Chiều dài
vết bệnh
(cm)

Mức
phản ứng

Chiều dài
vết bệnh
(cm)

Mức
phản ứng

BT7 KBL

3,2

HR

6,0

R

10,5

MR

BT7(đ/c)

23,5

S

26,2

S

31,5

HS

IR24

24,5

S

30,1

S

36,0

HS

IRBB21

2,4

HR

4,3

R

7,2

R

24


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHCN NỔI BẬT - LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT - BẢO VỆ THỰC VẬT

Nghiên cứu được tiến hành trên mẫu giống Bắc thơm 7 kháng bệnh bạc lá và các
giống đối chứng có chứa kháng (IRBB21) và giống đối chứng không có gen kháng (IR24,
Bắc thơm 7) trong điều kiện nhà lưới với 3 chủng bạc lá khác nhau là 996. HAU 10147
(chủng 3), 14981. HAU 10146 (chủng 5) và 1035 HAU 10153 (chủng 14).
Kết quả cho thấy giống Bắc thơm 7 KBL và IRBB21 có phản ứng từ kháng vừa đến
kháng cao đối với cả 3 chủng phổ biến ở miền Bắc với chỉ số trung bình vết bệnh từ
3,2 - 10,5 cm (Bắc thơm 7 KBL) và 2,4 - 7,2 cm (IRBB21), trong đó kháng cao đối với chủng 3,
kháng với chủng 5 và kháng vừa với chủng 14. Giống IR24 và Bắc thơm 7 đều có phản ứng
nhiễm bệnh bạc lá với cả 3 chủng với chỉ số trung bình vết bệnh là 23,5 - 36,0 cm.
3.3. Kết quả xác định gen Xa21 trong giống Bắc thơm 7 kháng bệnh bạc lá
Xác định sự có mặt của gen kháng
Xa21 trong mẫu giống lúa Bắc thơm 7
kháng bệnh bạc lá nhờ chỉ thị pTA248.
Kết quả cho thấy 3 dòng Bắc thơm 7 KBL
của lô hạt siêu nguyên chủng đều cho thấy
băng vạch có kích thước khoảng 1000bp
(có mang gen Xa21) trùng với vạch băng
của dòng chuẩn kháng IRBB21 có mang
gen kháng bệnh bạc lá Xa21. Hai dòng
IR24 và Bắc thơm 7 đối chứng có vạch
trùng với nhau (không mang gen kháng
bệnh). Như vậy theo kết quả kiểm tra
gen kháng bệnh bạc lá trong giống Bắc
thơm 7 kháng bệnh bạc lá cho thấy giống
Bắc thơm 7 KBL mang gen Xa21 ở trạng
thái đồng hợp tử.
Qua kết quả đánh giá nhân tạo và
phân tích kiểu gen cho thấy giống lúa
Bắc thơm 7 KBL có chứa gen kháng bệnh
bạc lá Xa21 và có khả năng kháng bệnh
cao với cả 3 chủng bạc lá đại diện ở miền
Bắc và có tính kháng vượt trội so với giống Bắc thơm 7.
3.4. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống Bắc thơm 7 kháng bệnh
bạc lá
Năng suất là yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng mở rộng của giống trong sản
suất cũng là vấn đề quan tâm của nhà chọn giống. Kết quả đánh giá các yếu tố cấu thành
năng suất của giống Bắc thơm 7 kháng bệnh bạc lá so với giống Bắc thơm 7, kết quả được
thể hiện ở bảng 4.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×