Tải bản đầy đủ

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRỌNG TÂM TRONG XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2021 - 2030TS. Nguyễn Đình Cung

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRỌNG TÂM TRONG
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2021 - 2030
TS. Nguyễn Đình Cung
Viện trưởng, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương


Tăng trưởng GDP hàng năm có xu hướng suy giảm; (dù có phục hồi từ đầu
nhiệm kỳ); nhưng vẫn thấp đáng kể so với giai đoạn 1990-2006; và thấp xa
so với tốc độ phải có để trở thành quốc gia phát triển…
10

9

8

7.4

7.08
7.44


7

7.02

6.43

6.70

6

Tăng trưởng GDP

Trung bình 1990-2006

Trung bình 2007-2011

Trung bình 2016-2018

2018

2017

2016

2015

2014

2013

2012

2011

2010

2009

2008


2007

2006

2005

2004

2003

2002

2001

2000

1999

1998

1997

1996

1995

1994

1993

1992

1991

1990

4

2019

5


Thành tựu cơ bản 30 năm đổi mới (1986 - 2016): thoát khỏi kém phát
triển thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp, với ….. Năm 2018

• Tăng trưởng GDP trung bình hàng năm 6,51%; cao nhất 9,54% (1995),
thấp nhất 2,76% (1986);
• Quy mô kinh tế (GDP) theo giá cố định năm 2010 tăng 6,85 lần;
• Quy mô kinh tế (GDP) theo giá hiện hành tăng 7,79 lần;
• GDP/người theo giá cố định 2010 tăng 4,52 lần;
• GDP/người theo giá hiện hành tăng 5,15 lần;
• Việt Nam thoát khỏi nước nghèo, kém phát triển nhất thế giới thành quốc
gia có thu nhập trung bình thấp từ đầu những năm 2000s.


Một số nhận xét về nền kinh tế hơn 30 năm đổi mới
• Hơn 30 năm đổi mới, tăng trưởng GDP bình quân đạt 6,51%, tương đối cao
so với bình quân chung của kinh tế thế giới và khu vực.
• Quy mô nền kinh tế (theo giá US$ cố định năm 2010) năm 2016 tăng 6,85
lần so với năm 1986; và theo giá hiện hành tăng 7,8 lần;
• GDP/ người năm 2018 đạt 2.578 US$; đưa đất nước thoát khỏi khủng
hoảng kinh tế xã hội vào năm 1991; thoát khỏi tình trạng nghèo và kém phát
triển, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp vào đầu những năm
2010s.


Chuyển đổi cơ cấu kinh tế


Chuyển dịch cơ cấu lĩnh vực kinh tế theo xu hướng thông thường, tốc độ tương
đối chậm. Không có thay đổi cơ bản, thay đổi lớn trong cơ cấu ngành kinh tế;
một số ngành có tiềm năng lại đóng góp thấp và hầu như không thay đổi trong
suốt gần 10 năm

Nguồn: Số liệu của TCTK phục vụ nghiên cứu chiến lược.


Quá trình dịch chuyển lao động còn chậm hơn; ly nông bất ly hương có
thể làm cho thị trường lao động bị chia cắt và méo mó thêm?

Nguồn: Số liệu của TCTK phục vụ nghiên cứu chiến lược.


- Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế: màu xám vẫn chủ đạo. Kinh tế tư nhân
chính thức gia tăng được vai trò của mình, nhưng vẫn còn rất nhỏ, chỉ bằng ½ FDI.
Kinh tế nhà nước giảm sút mạnh, trong khi khu vực FDI lại gia tăng nhanh chóng.
- Cơ cấu thành phần kinh tế ngày càng mất cân bằng nghiêm trọng.

Nguồn: Số liệu của TCTK phục vụ nghiên cứu chiến lược.


Lao động dịch chuyển nhanh sang khu vực FDI, bù đắp cho suy giảm lao
động trong khu vực nhà nước; tỷ trọng lao động trong khu vực Hộ kinh
doanh giảm nhẹ, được thay thế bằng gia tăng lao động trong khu vực doanh
nghiệp ngoài nhà nước.
Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo loại hình
kinh tế
100%

4,15

4,35

4,80

5,41

5,96

6,73

7,83

8,37

9,11

Số LĐ đang làm việc trong khu
vực DN và Hộ KD (1000 người)
9,84

8572

90%

7987
80%

7413

70%

5983

7558
6681

7947
6759

7733
6855

7945
7149

7712

3449

3773

1451

1372

60%
50%

85,91

85,94

85,69

85,36

84,98

84,45

83,61

83,30

82,74

82,19

40%

2156
1603

2551
1585

2720

3051

1527

1559

8262

8800

8701

4154

4510

1286

1202

30%

2010

20%

2011

2012

2013

2014

2015

DN Nhà nước

10%
9,94

9,71

9,51

9,23

9,00

8,81

8,56

8,34

8,15

7,97

DN ngoài Nhà nước

2011

2012

2013

2014

2015

2016

2017

2018

2019
(DB)

2020
(DB)

DN có vốn đầu tư nước ngoài

0%

Kinh tế Nhà nước

Kinh tế ngoài Nhà nước

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

Nguồn: Số liệu của TCTK phục vụ nghiên cứu chiến lược.

Lao động hộ KD

2016

2017


Các vùng kinh tế trọng điểm chưa phát huy được vai trò của
mình, thậm chí đang có xu hướng suy giảm
Đóng góp của các vùng kinh tế trọng điểm vào tổng sản phẩm trong nước
theo giá hiện hành
100%
90%
80%

7,0%

7,1%

46,5%

6,8%

6,9%

7,0%

6,2%

6,3%

49,2%

47,1%

47,1%

46,7%

44,4%

43,4%

6,2%

6,2%

6,1%

6,4%

6,5%

6,4%

6,5%

26,8%

25,5%

24,2%

25,2%

25,0%

25,7%

26,2%

2010

2011

2012

2013

2014

2015

2016

70%
60%
50%
40%
30%
20%
10%
0%

Vùng KTTĐ Bắc bộ

Vùng KTTĐ Trung bộ

Nguồn: Số liệu của TCTK phục vụ nghiên cứu chiến lược.

Vùng KTTĐ Nam bộ

Vùng KTTĐ VĐBSCL


Các vùng kinh tế trọng điểm chưa phát huy được vai trò của mình, thậm chí
đang có xu hướng suy giảm
Đóng góp của các vùng kinh tế trọng điểm vào tổng
sản phẩm trong nước theo giá hiện hành

Đóng góp vào giá trị xuất khẩu của cả nước

100%

100%

90%

90%

7,0%

7,1%
6,8%

80%

6,9%

7,0%

6,2%

6,3%

70%

3,0%
2,6%

80%

2,0%

1,7%

1,7%

1,7%

45,8%

44,4%

42,1%

40,9%

2,1%

2,0%

30,3%

28,6%

28,1%

30,2%

32,1%

2014

2015

2016

2017

2018

70%

60%

60%
46,5%

49,2%

47,1%

47,1%

46,7%

44,4%

48,9%
48,5%

43,4%

50%

50%

40%

40%
2,4%

30%

6,2%

6,2%

6,1%

6,4%

6,5%

6,4%

6,5%

20%

20%
26,8%

10%

25,5%

24,2%

25,2%

25,0%

25,7%

2011

2012

2013

2014

2015

2,2%

30%

34,9%

26,2%

2,0%

2,0%

10%

0%

0%
2010

Vùng KTTĐ Bắc bộ

Vùng KTTĐ Trung bộ

Vùng KTTĐ Nam bộ

2016

Vùng KTTĐ VĐBSCL

Nguồn: Số liệu của TCTK phục vụ nghiên cứu chiến lược.

2013
Vùng KTTĐ Bắc bộ

Vùng KTTĐ Trung bộ

Vùng KTTĐ Nam bộ

Vùng KTTĐ VĐBSCL


Không được phân bổ hợp lý nguồn lực và không huy động đủ nguồn
lực để phát triển
Tăng trưởng vốn đầu tư toàn xã hội (giá hiện hành)
35%
30%
25%
20%
15%
10%
5%
0%
-5%
-10%
-15%

Vùng KTTĐ Bắc bộ
Vùng KTTĐ Trung bộ
Vùng KTTĐ Nam bộ
Vùng KTTĐ VĐBSCL
Cả nước

2011
12,7%
17,1%
18,3%
22,0%
11,3%
Vùng KTTĐ Bắc bộ

2012
28,4%
5,9%
9,4%
4,6%
9,3%
Vùng KTTĐ Trung bộ

2013
13,0%
6,8%
7,4%
5,7%
8,4%
Vùng KTTĐ Nam bộ

Nguồn: Số liệu của TCTK phục vụ nghiên cứu chiến lược.

2014
-8,8%
11,9%
8,9%
7,6%
11,5%
Vùng KTTĐ VĐBSCL

2015
13,2%
9,7%
10,2%
6,4%
11,9%
Cả nước

2016
12,2%
6,6%
9,1%
10,3%
8,9%


Tóm lại,
• Có một số chuyển dịch tích cực như chuyển dịch cơ cấu lĩnh vực kinh tế
(nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ), vai trò của tư nhân trong cơ cấu thành
phần kinh tế, và chuyển dịch từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính
thức; nhưng những chuyển dịch này còn chậm về tốc độ và nhỏ về quy
mô.
• Khu vực kinh tế nhà nước suy giảm (có lẽ chủ yếu do kém hiệu quả?); khu
vực FDI gia tăng với tốc độ nhanh nhất, làm mất cân bằng về cơ cấu thành
phần kinh tế.
• Các vùng kinh tế trọng điểm chưa phát huy được vai trò đầu tàu tăng trưởng
trong khu vực; thậm chí đang bị suy giảm dần.
• Như vậy, chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế diễn ra nhanh theo hướng
mất cân bằng hơn giữa kinh tế trong nước và FDI; và các vùng kinh tế trọng
điểm không trở thành cực hay động lực tăng trưởng của các vùng tương ứng.


Tốc độ tăng trưởng không đạt mục tiêu; tăng trưởng GDP/người đang ở
mức gần 6%/năm; thấp xa mức có thể thu hẹp và bắt kịp, trở thành nước
có thu nhập cao
• Hàn Quốc trong 30 năm (1960-1990), tăng
trưởng GDP hàng năm 9,58%; có 14 năm đạt
mức tăng trưởng trên 10%; quy mô kinh tế theo
giá US$ cố định năm 2010 tăng 15,4 lần, theo
giá hiện hành tăng hơn 70 lần.
• Trung Quốc trong 30 năm (1977-2007), tăng
trưởng GDP hàng năm là 10,02%; có 15 năm
tăng trưởng GDP đạt hơn 10%; quy mô kinh tế
theo giá US$ cố định 2010 tăng 17,13 lần, theo
giá hiện hành tăng 30,75 lần. GDP/người năm
2017 đạt 8117 US$, cao gấp 3,73 lần so với Việt
Nam; và đạt 15531 US$ (PPP), cao gấp 2,5 lần
so với mức thu nhập bình quân của nước ta.
• Kinh nghiệm Nhật Bản, Vùng lãnh thổ Đài Loan
(Trung Quốc) cũng cho thấy thực tế tương tự.
Nguồn: Báo cáo Việt Nam 2035.


Việt Nam đang ở đâu?
Việt Nam 2018: GDP/người = 8.345$ (PPP)
≈ Hàn Quốc 1986  Tụt hậu 32 năm
≈ Malaysia 1982  Tụt hậu 36 năm
≈ Trung Quốc 2009  Tụt hậu 9 năm
35000

30000
25000
20000
15000
10000

Malaysia; 1982; 8283

5000

Trung Quốc; 2009; 8578

Việt Nam; 8345

Hàn Quốc; 1986; 8180

0

1980
1981
1982
1983
1984
1985
1986
1987
1988
1989
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
2016
2017
2018

GDP bình quân đầu người (PPP, $)

40000

Trung Quốc

Hàn Quốc

Malaysia

Việt Nam


Một số nhận xét về nền kinh tế hơn 30 năm đổi mới
- Ba đột phá chiến lược chưa thành công; Cả ba đột phá: thể chế, phát triển
hạ tầng, và phát triển nguồn nhân lực đều có kết quả về cơ bản như nhau.
• Nội hàm khái niệm “đột phá” không rõ;
• Vấn đề và mức độ của vấn đề cần giải quyết trong cả ba lĩnh vực đột phá đều không
được xác định và không được làm rõ;

• Mục tiêu của các khâu đột phá hầu như không được xác định; quá chung chung, không
thể đo lường được.
• Không có chương trình, kế hoạch, giải pháp cụ thể và phân bố nguồn lực ưu tiên để thực
hiện;

• Không có (hay không thể) theo dõi, giám sát và đánh giá khách quan, trung thực kết quả
đạt được;
• Không có ai chịu trách nhiệm về thực hiện ba đột phá chiến lược;

- Kết

quả là đột phá mà không có đột phá.


Một số nhận xét về nền kinh tế hơn 30 năm đổi mới
• Cải cách thể chế, chuyển đổi kinh tế - xã hội không nhất quán, chần chừ do dự và
thiếu đồng bộ (giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa lập pháp, tư pháp và
hành pháp; giữa vai trò của nhà nước và vai trò của thị trường và xã hội).
• Về thể chế kinh tế, không dứt khoát chuyển đổi sang kinh tế thị trường đầy đủ và
hiện đại, nâng cấp và mở rộng quy mô thị trường. Các thị trường nhân tố sản xuất
còn rất sơ khai hoặc méo mó, kém phát triển; thị trường còn kém minh bạch, chưa
có cạnh tranh công bằng; v.v….
• Về thể chế chính trị, vai trò chức năng của nhà nước, bộ máy nhà nước, cách
thức vận hành và công cụ quản lý nhà nước,.v.v… chủ yếu cải biến trong mô hình
“Xô Viết” trước đây, mà chưa dứt khoát thay đổi thoát khỏi mô hình đó; (hay mô
hình nhà nước xã hội chủ nghĩa kiểu cũ), chưa dứt khoát chuyển đổi để thúc đẩy
cải cách thể chế kinh tế, phù hợp với kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại.


Chưa hoàn thành quá trình chuyển đổi sang
kinh tế thị trường đầy đủ


Nguyên nhân thành công và chưa thành công
Đánh giá chính thức (dự thảo)
• Xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa đầy đủ, hiện đại, hội nhập còn chậm,
chưa theo kịp yêu cầu đổi mới về phát triển kinh
tế - xã hội.
• Chưa thống nhất trong nhận thức và hành động
về hệ giá trị văn hóa, xã hội và việc gắn kết giữa
phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội,
bảo vệ môi trường. Trong hành động, chưa thực
sự lấy con người làm trung tâm của sự phát triển,
chưa phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân
dân.

Đánh giá cá nhân
• Nguyên nhân thành công: cải cách chuyển đổi theo
định hướng thị trường và mở cửa, hội nhập kinh tế
quốc tế.
• Nguyên nhân chưa thành công, chưa đạt được mục
tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
hiện đại năm 2020; nguy cơ tụt hậu xa so với các
quốc gia phát triển:
• Không dứt khoát cải cách và chuyển đổi theo giá trị
chung, thực tiễn chung, thông lệ chung đã được kiểm
chứng bằng cả lý luận và thực tiễn, mà đi tìm một mô
hình mới với những nền tảng lý luận riêng có. Mô hình
đang tìm kiếm trong nhiều trường hợp được coi như là
mục tiêu, hơn là phương tiện để đạt mục tiêu.


Nguyên nhân thành công và chưa thành công
Đánh giá chính thức (dự thảo)
• Tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết của
Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
chưa đồng bộ, quyết liệt. Chưa làm tốt công
tác kiểm tra, giám sát; chưa có chế tài xử lý
phù hợp. Những cán bộ không đủ phẩm chất,
năng lực, thiếu trách nhiệm chưa được thay
thế kịp thời. Chưa có cơ chế, chính sách lựa
chọn, trọng dụng người tài.
• Tính thượng tôn pháp luật, kỷ luật, kỷ cương
chưa nghiêm.
• Các nguyên nhân nêu trên đều xuất phát từ
hạn chế về tư duy, tầm nhìn, đạo đức công vụ
và trách nhiệm công dân.

Đánh giá cá nhân
- Còn hàng loạt các vấn đề chưa được lý giải rõ
ràng và hợp lý về mặt lý luận. Đó là:
• Kinh tế thị trường định hướng XHCN;
• Mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền và Nhà
nước, nội hàm mối quan hệ và thể chế
thực thi mối quan hệ “Đảng lãnh đạo toàn
diện, nhà nước quản lý, nhân dân làm
chủ”;
• Đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị và sự
phù hợp giữa đổi mới chính trị với đổi mới
kinh tế;


Một số nguyên nhân cơ bản: đánh giá cá nhân
• Còn hàng loạt các vấn đề chưa được lý giải rõ ràng và hợp lý về mặt lý luận. Đó là:
• Vai trò của nhà nước, vai trò của kinh tế nhà nước và của DNNN và vai trò của thị trường, mối quan hệ
giữ nhà nước và thị trường;
• Xã hội dân sự và vai trò của xã hội dân sự trong bổ sung cho nhà nước và thị trường, trong quản trị và
phát triển xã hội;
• v.v…..

• Những hạn chế nói trên về lý luận đang tạo ra “giới hạn trần”(vừa vô hình, vừa hữu hình) về tư
duy, sáng tạo đối với con đường cải cách và phát triển đất nước.

• Chúng ta cải cách, chuyển sang kinh tế thị trường (đầy đủ và hội nhập), nhưng về cơ bản chỉ
“linh hoạt hóa” chủ nghĩa marx, kinh tế chính trị mác-lê mà không thay thế bằng những lý luận
phù hợp hơn.
• Các chủ trương, giải pháp cải cách, đổi mới và phát triển trên tất cả các lĩnh vực về cơ bản
không đủ rõ, không đủ cụ thể để có thể hành động được; hoặc không đủ mạnh, quyết liệt và
nhất quán để có hành động tương ứng trên thực tế theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội
dân chủ, công bằng, văn minh”, đưa nước ta sớm trở thành quốc gia phát triển.


Một số nguyên nhân cơ bản: đánh giá cá nhân
• Có khoảng cách lớn giữa tuyên bố đường lối, chính sách và thực tế thực
hiện; nói chưa đi đôi với làm; từ đó, làm suy giảm lòng tin của dân vào sự
lãnh đạo của Đảng; tính chính danh của Đảng đã và đang bị hao mòn.
• Không huy động được tất cả nguồn lực, nhất là nội lực, trí tuệ và sức
mạnh con người Việt Nam vào công cuộc cải cách và phát triển đất nước;
• Không tập trung và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; không tận dụng,
thậm chí bỏ lỡ nhiều cơ hội phát triển của đất nước.

• Ngược lại, quyền lực, nguồn lực và động lực không hướng đến mục tiêu
phát triển chung; mà bị phân tán theo nhiều hướng, bị giằng xé, chi phối
bởi các nhóm lợi ích khác nhau;


Bài học kinh nghiệm
Đánh giá chính thức

Đánh giá, nhận thức cá nhân

• Đảm bảo môi trường hòa bình, an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội để phát triển kinh tế - xã hội.
• Đảm bảo mối tương quan hợp lý, hài hòa giữa
tăng trưởng và ổn định trong phát triển kinh tế - xã
hội. Đồng thời, với coi trọng ổn định kinh tế vĩ mô,
phải quyết liệt thúc đẩy tăng trưởng, khắc phục
nguy cơ tụt hậu về kinh tế.
• Phải giải quyết tốt các mối quan hệ giữa tăng
trưởng nhanh và bền vững; giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định
hướng xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và
hội nhập quốc tế...
• Phải thực sự coi trọng phát triển văn hóa, xã hội
và con người tương xứng với phát triển kinh tế.
Phát huy giá trị văn hóa con người Việt Nam, khơi
dậy khát vọng và sức mạnh của dân tộc.

• Bài học về cải cách và chần chừ, không dứt khoát
cải cách chuyển đổi sang kinh tế thị trường;
• Bài học về sự không đồng bộ giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị.
• Bài học về khủng hoàng kinh tế xã hội (30 năm, thì
có 10 năm khủng hoảng và xử lý khủng hoảng);
• Bài học về mất mát, thua lỗ, lãng phí trong phát
triển DNNN, trong quản lý và sử dụng đầu tư công,
tài sản công và tài sản do nhà nước quản lý;
• Bài học về các loại “chạy” và bố trí, sử dụng cán bộ
dẫn tới hệ quả “hậu duệ, tiền tệ, đồ đề và trí tuệ”
và quan hệ thân hưu trong hệ thống chính trị và hệ
thống kinh tế.
• Bài học về mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế quốc
tế và cải cách thể chế ở trong nước


Bài học kinh nghiệm đánh giá chính thức (dự thảo)
• Coi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực phát triển chủ yếu trong thời đại Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư.

• Sự năng động, sáng tạo, bản lĩnh, trí tuệ của Đảng, Nhà nước với quyết tâm chính trị cao,
quyết liệt hành động trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện hiệu quả. Lấy
kết quả phục vụ và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm tiêu chí đánh giá.
• Xây dựng thể chế đồng bộ, đầy đủ và tổ chức thực hiện nghiêm; cải cách, tổ chức lại bộ máy
chính quyền các cấp, xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động là nền
tảng để thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược.
• Phải kịp thời đổi mới tư duy và hành động trước những biến động khó lường của thế giới; xử
lý tốt quan hệ giữa hội nhập quốc tế và đổi mới trong nước, phát huy tối đa và kết hợp chặt
chẽ các nguồn lực, trong đó nội lực là quyết định.


Bối cảnh và những xu hướng vận động
trên thế giới hiện nay
• Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có nguy cơ chuyển từ hợp tác, cạnh tranh là chủ yếu
sang đối đầu một cách toàn diện là chủ yếu; sự đối đầu không chỉ giữa hai nền kinh tế mạnh nhất
thế giới, giữa hai cường quốc, mà còn là đối đầu, cạnh tranh giữa hai hệ giá trị, hai hệ tư tưởng
khác nhau về xây dựng hệ thống trật tự thế giới.
• Vai trò của các tổ chức quốc tế, đa phương có xu hướng suy giảm và đang phải cải cách, cơ cấu
lại. Xu hướng, định hướng cải cách các tổ chức đó ở mức độ nhất định phụ thuộc vào tương quan
mối quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc.
• Xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa có thế sẽ được xem xét lại và thay đổi; thương mại, đầu tư trong
khuôn khổ FTA song phương và đa phương theo nhóm các quốc gia có thể nổi lên, làm suy giảm
thương mại, đầu tư đa phương toàn cầu;
• Các Hiệp định tự do thương mại (song phương hay đa phương) không chỉ là thương mại, đầu
tư,.v.v…... mà cả những vấn đề phi thương mại, đầu tư; không chỉ là mối quan hệ giữa các quốc
gia có chủ quyền, mà điều chỉnh cả các mối quan hệ, các vấn đề trong biên giới quốc gia.
• Biến đổi khí hậu và tác động của nó.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×