Tải bản đầy đủ

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
VIỆN NGHIÊN CỨU SƯ PHẠM
----------&----------

TÀI LIỆU CHUYÊN ĐỀ NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM

PGS.TS. Phan Thanh Long

Hà Nội, 2019


MC LC
CHNG 1. LC S GIO DC I HC TH GII V VIT NAM .. 3
1. Lc s hỡnh thnh v phỏt trin giỏo dc i hc th gii ................................... 3
1.1. phng ụng .................................................................................................. 4
1.2. Phng Tõy ......................................................................................................... 5
2.2. Gii thiu mt s trng i hc hng u th gii........................................... 8
2. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển giáo dục đại học Việt Nam ............... 18

2.1. Giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ phong kiến ................................................ 18
2.2. Giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ pháp thuộc ................................................ 20
2.3. Giáo dục đại học Việt Nam Từ năm 1954 đến 1975 ......................................... 22
2.3.1. Giáo dục đại học ở Miền Bắc Việt Nam ........................................................ 22
CU HI THO LUN V HNG DN T HC ......................................... 30
TI LIU THAM KHO ....................................................................................... 31
CHNG 2. XU HNG PHT TRIN GIO DC i HC TRấN TH
GII ........................................................................................................................ 32
1. Tuyờn ngụn th gii v giỏo dc i hc ............................................................. 32
2. Mt s mụ hỡnh giỏo dc i hc trong lch s phỏt trin xó hi ........................ 35
2.1. Giỏo dc tinh hoa (educatiom for elite)............................................................ 35
2.2. Giáo dục vì nguồn nhân lực (education for manpower) ................................... 37
2.3. Giỏo dc i chỳng (Education for mass) ........................................................ 37
2.4. Giỏo dc trong mt xó hi hc tp (Education in learning society) ................ 39
3. Xu hng phỏt trin giỏo dc i hc hin nay ................................................... 40
3.1. a dng hoỏ cỏc mụ hỡnh nh trng v phng thc o to ....................... 40
3.2. Gn kt quỏ trỡnh o to vi nghiờn cu khoa hc v quỏ trỡnh sn xut, kinh
doanh trong thc tin ............................................................................................... 42
3.3. Quc t hoỏ giỏo dc i hc ........................................................................... 43
CU HI THO LUN V HNG DN T HC .......................................... 46
TI LIU THAM KHO ........................................................................................ 47
CHNG 3. PHNG HNG I MI GIO DC I HC VIT
NAM ........................................................................................................................ 48
1. Tớnh cp thit ca vic i mi giỏo dc i hc Vit nam................................. 48
1


1.1. Những đặc điểm cơ bản của thời đại - thời cơ và thách thức đối với giáo dục i
hc hin nay ............................................................................................................. 48
1.2. Bi cnh phỏt trin ca giỏo dc i hc Vit Nam ......................................... 54
2. Phng hng phỏt trin giỏo dc i hc Vit Nam.......................................... 60
2.1. Mc tiờu i mi giỏo dc i hc Vit Nam ................................................... 60
2.2. Cỏc gii phỏp i mi giỏo dc i hc Vit Nam ........................................... 61
3. Phương hướng tổng quát của giáo dục Việt Nam bước vào thế kỷ XXI .............. 67
3. 1. Chuẩn hoá ........................................................................................................ 67
3.2. Hiện đại hoá...................................................................................................... 67
3.3. Dân chủ hoá ...................................................................................................... 67
3.4. Xã hội hoá giáo dục ........................................................................................... 67
3.5. Đa dạng hoá các hình thức trường lớp.............................................................. 67
CU HI THO LUN V HNG DN T HC ......................................... 68


TI LIU THAM KHO ....................................................................................... 69
CHNG 4. QUN L NH NC GIO DC I HC ............................ 70
1. Khỏi nim qun lý nh nc v giỏo dc v giỏo dc i hc .............................. 70
1.1. Khái niệm chung về quản lý .............................................................................. 70
1.2. Quản lý nhà nước về giáo dục ........................................................................... 70
1.3. Quản lý nhà nước về giáo dục đại học .............................................................. 71
2. Mụ hỡnh qun lớ giỏo dc v s vn dng vo qun lớ giỏo dc i hc ................ 72
2.1. Khỏi nim v mụ hỡnh ........................................................................................ 72
2.2. Mụ hỡnh qun lớ giỏo dc ................................................................................... 73
3.2. Giỏo dc i hc Vit Nam trong nn kinh t th trng vi nh hng xó hi
ch ngha - Nhn din cỏc thuc tớnh v mõu thun phỏt trin ................................ 74
3.3. Nhng vn ch yu v phỏt trin giỏo dc i hc v qun lớ nh nc v
giỏo dc i hc trong bi cnh phỏt trin hin nay ca t nc ......................... 77
CU HI THO LUN V HNG DN T HC ......................................... 81
TI LIU THAM KHO ....................................................................................... 82

2


MỤC TIÊU
Sau khi học xong học phần này, người học có thể:
- Học phần này nhằm cung cấp cho người học một số vấn đề cơ bản về
tình hình giáo dục đại học trên thế giới và ở Việt Nam. Cụ thể là những vấn
đề sau:
+ Sơ lược về lịch sử hình thành, phát triển của giáo dục đại học trên
thế giới và ở Việt Nam.
+ Xu hướng phát triển giáo dục đại học trên thế giới
+ Thực trạng giáo dục đại học Việt Nam hiện nay và phương hướng
đổi mới giáo dục đại học Việt Nam trong những năm tới.
+ Quản lí nhà nước về giáo dục đại học.
- Trên cơ sở những hiểu biết nói trên nhằm giúp người học có một
quan điểm thích hợp trong quá trình tham gia đào tạo ở các trường cao đẳng,
đại học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại trường mình công tác nói
riêng và nền giáo dục đại học nước nhà nói chung.

CHƯƠNG 1.
LƯỢC SỬ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Mục đích yêu cầu:
Học chương này học viên cần phải nắm vững một số vấn đề sau:
- Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của giáo dục đại học trên thế giới
(cả phương Đông và phương Tây).
- Có những thông tin cần thiết về một số trường đại học nổi tiếng trên thế giới.
- Lịch sử hình thành và phát triển giáo dục đại học Việt Nam và những đóng
góp của nó cho sự phát triển nước nhà.

1. Lược sử hình thành và phát triển giáo dục đại học thế giới
Giáo dục là một hiện tượng của xã hội đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người. Sự
đặc biệt của giáo dục được thể hiện ở sự truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử
xã hội qua các thế hệ, tạo ra sự phát triển của cá nhân và xã hội.
Từ khi con người biết lao động và có ngôn ngữ thì hiện tượng giáo dục cũng
3


manh nha xuất hiện. Hiện tượng giáo dục của buổi sơ khai trong xã hội nguyên thuỷ
mang tính chất tự phát, diễn ra rất đơn giản theo cơ chế bắt chước trực tiếp, nhằm
truyền đạt những kinh nghiệm săn bắt, hái lượm, cao hơn nữa là những tập tục, nghi
lễ trong cuộc sống chung của bộ tộc, bộ lạc. Giáo dục trong thời kỳ này là phúc lợi
xã hội và bình đẳng với mọi người trong cộng đồng, bộ tộc. Mọi người lớn đều là
thầy giáo, mọi trẻ em đều là trò…
Phương thức sản xuất ngày càng phát triển, của cải trong ngày càng nhiều và
có dư thừa, làm xuất hiện một số người muốn sở hữu riêng những của cải dư thừa
đó. Xã hội loài người chuyển sang một thời kì lịch sử mới, xã hội chiếm hữu nô lệ,
xã hội có giai cấp. Hiện tượng giáo dục trở thành một công cụ vô cùng quan trọng,
một thứ đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị, chủ yếu phục vụ cho lợi ích của
giai cấp thống trị. Trước hết là đào tạo con em họ trở thành những người có năng
lực duy trì nền thống trị, tiếp đến là giáo dục tuyên truyền tính chất quy thuận, phục
tùng đối với tất cả những tầng lớp, giai cấp bị trị.
Sau một thời gian phát triển, trong xã hội xuất hiện một bậc học mang tính hàn
lâm, đặc trưng cho văn minh của một thời đại, chỉ dành riêng cho con em giai cấp
thống trị đó là giáo dục đại học. Sau đây chúng ta sẽ xem xét sơ lược lịch sử hình
thành nền giáo dục đại học ở phương Đông cũng như phương Tây.
1.1. Ở phương Đông
- Một số quốc gia cổ đại phương Đông như Ai Cập, Át xi ri và Babilon (vùng
Lưỡng Hà) từ thiên niên kỉ thứ 3 Tr.CN đã có một nền giáo dục phát triển. Trường
học được lập ra ở các miếu thờ thần. Đạo sĩ, tăng lữ là tầng lớp nắm được nhiều
kiến thức khoa học như: số học, hình học, thiên văn, địa lí,… làm nhiệm vụ giảng
dạy bằng văn tự tiết hình. Ở Babilon đã có một trường đại học, sinh viên được nhà
nước cấp dưỡng sau 7 năm học. Họ được bản thân quốc vương đến khảo sát để đào
tạo thành những người quản lí xã hội.
- Ở Ai Cập cổ đại người ta cũng tổ chức các lớp học trong các miếu thờ thần
để giảng dạy cho con em vua chúa, tăng lữ và những người muốn trở thành tăng lữ
những kiến thức về số học, hình học để chia lại ruộng đất sau mùa nước lên của
sông Nin (do bờ ruộng bị phù sa bồi đắp); về y học để ướp xác; về thuật chiêm tinh
để dự đoán thời tiết, mùa màng, sản xuất …
- Ở Trung Hoa cổ đại. Theo lịch sử thì từ đời nhà Hạ (2050 - 1580 TrCN) đã
có trường gọi là “Thành Quân” và thứ chữ viết tượng hình đã đạt trình độ khá hoàn
chỉnh. Một số chữ được khắc lên mai rùa, xương thú vật dùng để bói toán (gọi là
văn tự giáp cốt). Nhà trường cũng là nơi giáo dục, đào tạo con em chủ nô. Những
người làm công tác giáo dục là những quốc lão có đức, có vị.
Đến đời Tây - Chu (1066 - 771 Tr.CN) nền giáo dục đã được phát triển ở mức
độ cao, nền quốc học đã có hai cấp: tiểu học và đại học. Nội dung giáo dục cơ bản
4


trong hai cấp đó là: Lễ, Nhạc, Xạ, Ngự, Thư, Số. Đối với tiểu học thì thư, số là
trọng điểm. Còn xạ và ngự thì kết hợp với lễ, nhạc. Con em được vào tiểu học hay
đại học không được bình đẳng như nhau. Ví dụ, con vua vào tiểu học từ 8 tuổi và
vào đại học từ 15 tuổi. Nhưng con của lớp triều quan thì vào tiểu học phải 13 tuổi,
vào đại học phải 20 tuổi. Tất nhiên nô lệ và con cái thường dân thì không có điều
kiện vào học các trường đó.
Trong các triều đại phong kiến Trung Quốc từ nhà Tần (221 Tr.CN), nhà Hán
cho đến nhà Minh, Thanh (1911) giáo dục từng bước phát triển về số lượng nhằm
giáo dục đào tạo con em giai cấp phong kiến, địa chủ để duy trì vương quyền và
tuyển chọn nhân tài của các triều đại. Ngay từ đời Đông Hán (925 - 220 Tr.CN) khi
đóng đô ở Lạc Dương đã mở một nhà Thái học rất lớn có 247 “phòng”, 1850 “thất”,
lúc đông nhất có tới ba vạn thái học sinh. Ngoài hệ thống nhà trường đại học thường
được xây dựng ở kinh đô và tỉnh lớn thì từ đời nhà Đường (581- 604) đã có tổ chức
thư viện được coi như là một loại trường đại học. Thư viện được đặt ở những nơi
danh lam thắng cảnh, chứa rất nhiều sách do một Động chủ hay Sơn trưởng phụ
trách. Phương pháp giảng dạy là việc kết hợp việc giảng bài cho tập thể với sự
nghiên cứu của cá nhân là chính.
Trong lịch sử phát triển giáo dục phương Đông hệ thống các trường Quốc Tử
Giám là các trường đại học đầu tiên, chủ yếu để đào tạo con em vua chúa và quan
lại trong triều đình.
1.2. Phương Tây
Hy Lạp cổ đại là một vùng đất có nền văn minh phát triển rực rỡ rất sớm của
thế giới. Hy Lạp cổ đại bao gồm nhiều quốc gia nhỏ theo chế độ chiếm hữu nô lệ,
trong đó có hai quốc gia lớn mạnh nhất là Spactơ và Aten.
Nhà nước chiếm hữu nô lệ Spactơ đã tận dụng giáo dục như một lợi khí nhằm
giáo dục, đào tạo con em họ trở thành những chủ nô tàn bạo, có sức khoẻ, võ nghệ
cao cường để thẳng tay đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nô lệ, duy trì quyền thống
trị. Do đó nhà nước Spactơ rất quan tâm tổ chức hệ thống giáo dục từ thấp lên cao.
Trẻ em con em giai cấp chủ nô nếu không bị dị tật, ốm yếu sẽ được nuôi dạy ở
trong gia đình cho đến 6 tuổi. Sau 6 tuổi các em được nuôi dưỡng, học tập, rèn
luyện rất khắt khe trong trường học của quốc gia để trở thành người công dân
Spactơ “tuyệt đối phục tùng” nhà nước. Sau 18 tuổi có một số đông thanh niên được
vào học trường cao cấp quân sự, có các chuyên ngành như bộ binh, kỵ binh… để trở
thành những chiến binh dũng cảm, tàn bạo, trung thành với nhà nước chiếm hữu nô
lệ Spactơ.
Từ thế kỷ thứ VI tr.CN, nhà nước chiếm hữu nô lệ Aten ở về phía Đông Nam
Hy Lạp có nhiều hải cảng thuận tiện cho việc giao lưu buôn bán nên nền kinh tế và
văn hoá rất phát triển, đòi hỏi giai cấp quý tộc phải tổ chức một nền giáo dục cao
5


cho con em họ. Từ 1 đến 6 tuổi các em được giáo dục trong gia đình với nhiều thứ
đồ chơi để phát triển thể lực. Sau 6 tuổi, hàng ngày các em được một người nô lệ
thông minh gọi là “Paidagogos” đưa đến trường và góp phần giáo dục các em.
Vào khoảng 12 tuổi các em được vào trường thể thao rèn luyện “ngũ khoa” là
chạy, nhảy, ném đĩa, ném lao, vật, đồng thời tiếp tục học văn pháp, số học, hình học,
âm nhạc. Sau khi tốt nghiệp trường thể thao (Palacotra) con nhà giàu có thể tiếp tục
học ở thể dụng quán (gummasion) cho đến 18 thì họ được vào trường Cao đẳng
quân sự (ephebeia) đồng thời tiếp tục học văn học, toán học, triết học, âm nhạc và
tham gia các buổi sinh hoạt chính trị. Đây là hệ thống nhà trường đại học đầu tiên
của Hy Lạp cổ đại nhằm đào tạo con em giai cấp thống trị thành những người có
trình độ cao, phát triển các mặt chân, thiện, mỹ.
Nghiên cứu lịch sử phát triển giáo dục thế giới, các nhà khoa học đều có một
nhận định chung là việc giáo dục, đào tạo con em giai cấp thống trị có trình độ học
vấn cao đã được các quốc gia phát triển dưới chế độ chiếm hữu nô lệ ở cả phương
Đông và phương Tây. Tuy nhiên hình thức tổ chức, nội dung giáo dục, yêu cầu về
trình độ học vấn có khác nhau, nhưng đều có một mục đích chung là đào tạo nhân
tài để tham gia vào các hoạt động quản lý, phát triển của đất nước trong các thể chế
chính trị khác nhau.
Đến thời Trung cổ nhà trường “đại học” (gốc la tinh là universitas) theo đúng
ý nghĩa của nó về tổ chức, nội dung, chương trình, chất lượng đào tạo, giáo sư giảng
dạy, v.v…được xây dựng sớm ở một số quốc gia Tây Âu. Các trường đại học đầu
tiên được phát triển dưới sự bảo trợ của giáo hội công giáo, còn gọi là trường học
nhà thờ, được thúc đẩy bởi các tu viện. Đó là các đại học Bologna - La Mã (thành
lập năm 1088), Trường Đại học Pari, Ooclêăng - Pháp (1150), Trường Đại học
Oxford, Kembridge - Anh (1167), Trường Đại học Xalamanca - Tây Ban
Nha(1218), v.v… Đến cuối thế kỷ XIV ở Châu Âu đã có tất cả 40 trường đại học
danh tiếng.
Trong số các trường đại học ở Tây Âu lúc bấy giờ thì trường Đại học Pari là
nổi tiếng nhất. Sinh viên ở đây lâp thành 4 hội đồng hương là Noócmăngđi, Anh,
Gôlơ, Picacdi. Các giáo sư cũng gia nhập các tổ chức mà sau này phát triển thành
các khoa. Đến cuối thế kỷ XII các tổ chức sinh viên và giáo dục liên hiệp lại để bầu
ra hiệu trưởng (ban giám hiệu) có sinh viên tham gia để điều hành việc giảng dạy và
học tập. Trong mỗi trường đại học có nhiều khoa khác nhau như: Pháp lý, y khoa,
thần học, nghệ thuật. Các trường đại học thời Trung cổ có uy tín rất lớn, nhiều khi
người ta giao cho việc hoà giải sự tranh chấp giữa chính quyền và giáo hội.
Hiện nay ở trên thế giới, đối với những quốc gia nhỏ cũng có hàng trăm
trường Cao đẳng và Đại học. Đối với những quốc gia lớn như Trung Quốc, Mỹ,
Nga, Nhật có đến hàng ngàn trường Cao đẳng và Đại học ở khắp cả nước, đến từng
6


địa phương, vùng lãnh thổ để đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài và nhu cầu “học tập suốt đời” theo xu thế hội nhập quốc tế.
2. Giới thiệu một số trường đại học hàng đầu thế giới hiện nay
2.1. Bảng xếp hạng những trường đại học hàng đầu thế giới
Nói đến những trường đại học hàng đầu thế giới, người ta thường nghĩ ngay
tới những cái tên như Đại học Harvard, Yale, MIT (Hoa Kì) hay Oxford,
Cambridge (Anh)... Đó là những cái tên đã trở thành thương hiệu, là sự đảm bảo về
uy tín và chất lượng. Tuy nhiên, gán cho những trường này cụm từ “hàng đầu thế
giới” không phải chỉ là cảm tính hay thói quen mà dựa trên những tiêu chí hết sức
rõ ràng, cụ thể.
Hàng năm, nhiều tổ chức tiến hành bình chọn và xếp loại các trường đại học
trên thế giới. Mỗi một tổ chức có thể đưa ra những tiêu chí không hoàn toàn giống
nhau, dẫn tới thứ hạng của một số trường trong cùng một năm, ở những bảng xếp
hạng khác nhau, có thể sẽ khác nhau. Tuy nhiên sự chênh lệch là không quá lớn.
Lấy ví dụ một bảng xếp hạng uy tín do Thời báo Times Higher Education
Suppliment phối hợp với Tổ chức Giáo dục và Hướng nghiệp quốc tế (QS) thực
hiện. Xếp hạng các trường đại học hàng đầu thế giới là sự kiện thường niên của tổ
chức này. Trong Bảng xếp hạng các trường đại học hàng đầu thế giới hằng năm, 10
vị trí đứng đầu thuộc về các trườnsg đại học của Mỹ và Anh, trong đó đứng đầu là
Đại học Harvard, kế đến là Yale, Oxford và Cambridge.
Theo ông Nunzio Quacquarelli, Giám đốc của QS, thì kết quả xếp hạng chính
là sự thể hiện rõ nhất, chân thực nhất về chất lượng giáo dục của các trường.
Nền giáo dục châu Á cũng cải thiện được vị trí của mình với 13 trường lọt vào
Top 100, trong đó có Osaka University và Chinese University of Hong Kong ở Top
50. Còn châu Âu (trừ Anh) lại có vẻ tụt hạng.
Báo cáo về chất lượng giáo dục đại học Việt Nam mới công bố của Bộ Giáo
dục Đào tạo cho biết: Giáo dục đại học Việt Nam chưa có vị trí trong bảng xếp hạng
các trường đại học hàng đầu thế giới.
Tạp chí Newsweek cũng công bố xếp hạng các trường đại học hàng đầu thế
giới của mình hàng năm, dựa trên sự cởi mở, đa dạng và những thành tựu xuất sắc
trong nghiên cứu.
Nét mới của bảng xếp hạng này là chú trọng nhiều hơn vào tính chất toàn cầu
của các trường. Bởi vì các trường đại học trên thế giới ngày càng có ý thức trong
việc hòa nhập vào môi trường toàn cầu hóa.
7


2.2. Giới thiệu một số trường đại học hàng đầu thế giới
v Trường Harvard (Mỹ) và các trường trực thuộc: Trường Kinh
doanh Harvard, trường Luật Harvard, trường Y Harvard và trường
John F. Kennedy of Government
Trường Đại học Tổng hợp Harvard được thành lập năm 1636 và là một trong
những trường đại học nổi tiếng nhất thế giới bên cạnh các trường: đại học
Cambridge, Oxford của Anh, Sorbonne của Pháp.
Trên 14.000 người đang làm việc ở Harvard, trong đó có hơn 9.000 cán bộ
giảng dạy ở trường y và 2.000 cán bộ giảng dạy khác. Thư viện ở ĐH Harvard có
trên 15 triệu đầu sách.
Ban đầu, trường chỉ có 9 sinh viên và duy nhất một thầy giáo. Trong niên khoá
2004-2005, số sinh viên của trường là 19.731 người tại 10 đơn vị học thuật chính,
trong đó có hơn 12.000 nghiên cứu sinh. Ngoài ra, còn có 13.000 SV đăng ký các
khoá học tại trường Harvard mở rộng.
Ngoài thu nhập do giảng dạy và các hoạt động kinh doanh khác, trường còn
nhận được nhiều khoản đóng góp từ các học sinh cũ nay đã thành đạt.
Bảy tổng thống Mỹ: John Adams, John Quincy Adams, Theodore and
Franklin Delano Roosevelt, Rutherford B. Hayes, John Fitzgerald Kennedy và
George W. Bush đều là cử nhân của Harvard. Các cán bộ giảng dạy của trường ĐH
danh tiếng này cũng đã tạo ra 40 nhà khoa học giành giải Nobel. Chi phí của mỗi
sinh viên trong năm 2004-2005 là 40.000 đôla.
Mục tiêu của Harvard là cố gắng tạo ra sự hiểu biết và mở mang trí óc của SV
đến với hiểu biết đó, đồng thời giúp SV tận dụng tốt nhất các cơ hội giáo dục của
họ. Chính vì thế mà Harvard khuyến khích sinh viên tôn trọng các ý tưởng và sự thể
hiện tự do của họ, hãnh diện với sự khám phá và khả năng suy nghĩ, theo đuổi tinh thần
hợp tác và nhận trách nhiệm đối với hậu quả của những hành động cá nhân.
Sự ủng hộ mà đại học Harvard dành cho sinh viên là nền tảng để họ xây dựng
tính độc lập và thói quen học tập suốt đời.
Nằm trong trường Đại học Tổng hợp Harvard có rất nhiều trường trực thuộc,
trong đó phải kể tới 4 trường rất nổi tiếng sau:
Ø

Trường kinh doanh Harvard (Harvard Business School)

- Năm thành lập: 1908.
- Địa điểm: Boston, Massachusetts.
- Phương châm đào tạo: “đào tạo nên những nhà lãnh đạo làm nên sự khác biệt
trên thế giới” (to educate leaders who make a difference in the world).
8


- 65.000 sinh viên đã tốt nghiệp của trường có rất nhiều người là lãnh đạo của
những tập đoàn danh tiếng, trong đó có cả những nhà lãnh đạo của các quốc gia như
trường hợp của Tổng thống Mỹ Geogre W. Bush.
- Luôn luôn đứng đầu danh sách các trường kinh doanh uy tín nhất của Mỹ
(theo www.forbes.com).
- Các trung tâm nghiên cứu toàn cầu:
+ California Research Center, Palo Alto;
+ Asia-Pacific Research Center, Hong Kong;
+ Latin America Research Center, Buenos Aires;
+ Japan Research Office, Tokyo;
+ Europe Research Center, Paris.
Ø

Trường Luật Harvard (Harvard Law School)

- Năm thành lập: 1817.
- Hiện tại có 10 thượng nghị sĩ; 10 hạ nghị sĩ và 4 thống đốc bang của Mỹ
từng học tại trường Luật Harvard. Ứng cử viên tự do Ralph Nader trong cuộc chạy
đua vào Nhà trắng (dành được khỏang 1% số phiếu phổ thông) cũng từng học
tại trường Luật Harvard.
Ø

Trường Y Harvard (Harvard Medical School)

- Năm thành lập: 1782.
- Phương châm đào tạo: “tạo ra và nuôi dưỡng một cộng đồng những người
sẵn sàng phục vụ và cống hiến để làm dịu đi nỗi đau của của các bệnh nhân” (create
and nurture a community of the best people committed to leadership in alleviating
human suffering caused by disease).
- Từ năm 1934 đến năm 1990 có 10 nhà nghiên cứu thuộc trường Y Harvard
đoạt các giải Nobel về Y học. Đặc biệt, có 4 nhà nghiên cứu thuộc trường Y
Harvard và một số người đồng sáng lập Tổ chức bác sĩ quốc tế ngăn ngừa chiến
tranh hạt nhân (International Physicians for the Prevention of Nuclear War) đã
được trao giải Nobel hòa bình năm 1985.
Ø

John F. Kennedy of Government

- Năm thành lập: 1936.
- Phương châm đào tạo: “chuẩn bị cho một thế hệ những nhà lãnh đạo của
những xã hội dân chủ; đóng góp giải pháp cho những vấn đề của cộng đồng”
(preparing leaders for service to democratic societies; contributing to the solutions
of public problems).
9


- Cùng với Trường Hành chính quốc gia Pháp (Ecole Nationale
D’Administration), trường John F. Kennedy of Government là môi trường lý tưởng
để đào tạo ra những chính khách, những nhà lãnh đạo của các quốc gia trên thế giới.
Ngoài công việc đào tạo, trường còn có rất nhiều những hoạt động nghiên cứu tại 14
viện và trung tâm nghiên cứu trên khắp thế giới. Nhiều những công trình nghiên cứu
của trường đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến các giải pháp cho những vấn đề
chính trị của các quốc gia trên thế giới. Nhiều học viên đã tốt nghiệp của trường hiện
đang giữ các ghế thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ và thống đốc một số bang của nước Mỹ.
v Đại học Stanford (Mỹ)
Đại học Stanford bao gồm 1 trường đại học và 7 trường cao học, với tổng số
sinh viên lên tới gần 10.000. Cùng nằm trong một trường lớn nhưng với nhiều
trường nhỏ chuyên biệt trên một khuôn viên rộng, có thể coi đây là một “mô hình
đô thị đại học” đã khá phổ biến với các trường đại học lớn ở Âu, Mỹ và một số
nước phát triển ở châu Á.
Đại học tổng hợp Stanford (California, Mỹ) là một trong những trường hàng đầu
của Mỹ. Nằm ở 2 quận San Mateo và Santa Clara, cách thành phố San Francisco khoảng
1 tiếng đi xe, trường đại học có khuôn viên rộng lớn nhất nước Mỹ này sở hữu các rừng
cây tùng bách trải dài và bờ biển Thái Bình Dương tuyệt đẹp.
Trường đại học Stanford có diện tích tổng cộng hơn 3300 hecta của bang
California, trong đó 2800 hecta là tài sản của trường và không trực thuộc cơ chế
quản lý hành chính của thành phố.
Đây là một quần thể bao gồm 1 trường đại học và 7 trường cao học cùng hàng
trăm viện nghiên cứu lớn nhỏ. Khuôn viên trường trải rộng trên khoảng 90km
đường, có một nhà máy cấp điện với tải lượng 49 MW, 2 hệ thống cấp nước riêng, 3
đập và hồ nước, 170km đường ống dẫn nước, 1 hệ thống sưởi trung tâm, một hệ
thống truyền tải điện với năng suất lớn, và một bưu điện.
Ngoài ra, Stanford còn cung cấp hoặc thuê riêng một hệ thống phòng chữa
cháy, công an và nhiều dịch vụ khác. Stanford là một trong những đơn vị trường đại
học sử dụng điện tiết kiệm nhất bang. Nhà máy điện của trường cung cấp toàn bộ
điện cho trường và còn thừa đến 25 MW cho dân thường sử dụng.
94% sinh viên đại học, 54% sinh viên cao học và 30% giảng viên của trường
sống trong khuôn viên này. Diện tích nhà ở của giảng viên và cán bộ công nhân
viên của trường bao gồm cả nhà thuê và nhà mua.
Trong khuôn viên có vườn hoa, rất nhiều thư viện, nhà thờ, và bệnh viện
(thuộc trường Y)… Khuôn viên Stanford có rất nhiều cây xanh và thảm cỏ với hệ
thống tưới tiêu tự động.
Khu nghiên cứu Stanford nằm trong khuôn viên trường được thành lập năm
10


1951 để đáp ứng nhu cầu phát triển đất công nghiệp ở gần trường học và phát triển
ngành điện tử gắn với trường đào tạo kỹ sư của đại học Stanford.
Ngày nay, khu nghiên cứu bao gồm hơn 150 công ty với khoảng 23.000
chuyên viên làm việc trên các lĩnh vực điện tử, phần mềm, công nghệ sinh học, và
các ngành công nghệ cao khác.
Ngoài ra, còn có công ty nghiên cứu phát triển và các công ty cung cấp dịch
vụ hỗ trợ khác hoạt động trên một tổng diện tích sử dụng gần 1 triệu mét vuông.
Khu mua bán của trường Stanford nằm ở vùng phía bắc của vùng đô thị, có 5
siêu thị lớn và 140 cửa hàng bán lẻ, thu hút chừng 8 triệu khách hàng năm và có
doanh thu trên 500 triệu USD năm 2003. Toàn bộ khu mua sắm này do công ty
Simon Property Group, Inc cho thuê và quản lý. Đây cũng là khu trung tâm mua
sắm có doanh thu trung bình trên diện tích mặt bằng cao nhất trong cả nước.
Nằm trên địa bàn của nhiều tỉnh khác nhau, trường đại học Stanford luôn coi
trọng mối quan hệ với cộng đồng và có đóng góp trong mọi vấn đề lớn như phát triển
kinh tế và giao thông cho vùng. Trong khu đô thị này cũng có 5 trường học khác.
Hiện tại, trong khu đô thị có hệ thống xe buýt Marguerite và các dịch vụ cung
cấp phương tiện đi lại khác như cho thuê xe hơi, xe đạp… Khoảng 34% giảng viên
và cán bộ của trường đi lại hàng ngày bằng phương tiện công cộng. Có 10 tuyến xe
buýt của hệ thống Marguerite mở rộng cho người dân ngoài trường.
v Viện công nghệ Massachusetts - MIT (Mỹ)
Viện công nghệ Massachusetts (MIT) là Đại học danh tiếng luôn đứng trong
danh sách 10 trường Đại học hàng đầu thế giới và xếp hạng nhất trong các trường
Đại học ngành công nghệ thông tin của Mỹ.
Năm 1861, Cộng đồng bang Massachussets tán thành ý kiến thành lập "Học
viện kĩ thuật Massachussets” bao gồm các ngành khoa học xã hội và tự nhiên, được
đệ trình bởi nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng William Barton Rogers. Đây là bước
quan trọng đầu tiên mà Rogers hi vọng sẽ thành lập một học viện độc lập thúc đẩy
sự tăng trưởng cho nền công nghiệp của Mỹ. Được sự đồng ý của chính phủ, Rogers
đã lập nên quỹ hỗ trợ phát triển chương trình giảng dạy, đánh giá, các cơ sở vật
chất. Nỗ lực của ông bị đình trệ bởi cuộc nội chiến Mỹ, và cho đến năm 1865 những
lớp học đầu tiên mới được mở tại khu Mercantile trung tâm Boston.
Toà nhà đầu tiên của MIT được hoàn thành ở Boston's Back Bay năm 1866.
Các năm kế tiếp, MIT đã gây dựng được danh tiếng của mình trong lĩnh vực khoa
học và công nghệ, tuy vẫn còn trong thời kì khó khăn về tài chính. Đã có quan điểm
cho rằng MIT nên liên kết với Đại học Harvard, một đại học có nguồn tài chính dồi
dào nhưng yếu hơn về khoa học công nghệ để cùng phát triển. Vào những năm
1900, một đề nghị hợp tác với Harvard được đưa ra nhưng sau đó bị hoãn lại do sự
11


phản đối của các cựu sinh viên MIT. Năm 1916, MIT chuyển sang khu vực
Cambridge hiện tại.
Trong suốt lịch sử của mình, MIT luôn tập trung vào các phát minh trong lĩnh
vực khoa học công nghệ. Số liệu năm 1997 cho thấy tổng thu nhập do các công ty
lập nên bởi MIT đứng hàng 24 trong nền kinh tế thế giới. Năm 2001, MIT triển khai
dự án Open Course Ware đưa các học liệu mở lên mạng Internet. Cùng năm đó Chủ
tịch trường là Charles Vest lần đầu tiên đã công nhận rằng, học viện của ông đang
có hạn chế lớn đối với các sinh viên và nhà khoa học nữ, và ông cam kết sẽ có các
chính sách thích hợp để cải thiện. Tháng 8 năm 2001, Susan Hockfield, nhà thần
kinh học, là phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ chủ tịch của MIT. Bà chính thức đảm
nhiệm chức vụ vào ngày 6 tháng 12 năm 2004 và là chủ tịch thứ 16 của MIT.
Tạp chí Atlantic năm 2004 xếp hạng MIT như là một trong những đại học khó
vào nhất tại Mỹ. Theo đánh giá của US News và World Report's thì MIT là 1 trong
5 trường luôn được xếp hạng cao nhất, cùng với Havard, Stanford, Yale và
Princeton. Năm 2005, quỹ đóng góp của MIT cho nền kinh tế là 6.7 tỷ Đôla, xếp
hạng thứ 6 tại Mỹ.
v Đại học Cambridge - cái nôi của những nhà khoa học xuất chúng
Hình thành từ thế kỷ thứ XIII, năm 1209, Cambridge đã trở nên nổi tiếng
trước hết bởi chính diện mạo của mình với những công trình kiến trúc đẹp trong
một khung cảnh thơ mộng. Nhưng lý do quan trọng hơn và đáng tự hào hơn là bởi
chất lượng giáo dục và những thành tựu khoa học của trường.
Từ trung tâm giáo dục và nghiên cứu khoa học này của thế giới, hàng trăm
năm qua đã cho ra đời rất nhiều những phát minh quan trọng, mà nhiều trong số đó
mang tính lịch sử của toàn nhân loại.
Sự nổi danh của Cambridge trong lĩnh vực khoa học được bắt đầu từ nhà bác
học Isaac Newton ở thế kỷ XVII với cuốn “Những nguyên lý toán học cơ bản". Phải
300 năm sau khi cuốn sách phát hành thì các phát minh khoa học dựa trên cơ sở các
nguyên lý đó mới thực sự được khám phá. Tiếp theo Newton, rất nhiều những nhà
khoa học khác đã góp phần làm nên sự vĩ đại của Cambridge như: Darwins - cuối
thế kỷ XIX - với thuyết tiến hóa, J.J. Thomson khám phá ra điện tử năm 1897,
Cockcroft và Walson phân chia được nguyên tử năm 1923, 1949 Maurice Wikle
phát triển những thành tựu đầu tiên của kỹ thuật số, 1953 Crick và Watson giải mã
được cấu trúc ADN. Và hiện nay, truyền thống đó vẫn tiếp diễn với giáo sư vũ trụ
học Stephen Hawking, giáo sư tin học Roger Needham hay bác sỹ Roy Calne - một
chuyên gia trong lĩnh vực cấy ghép gan.
Không dừng lại ở lĩnh vực học thuật, Cambridge đã rất nhanh chóng bắt kịp
với đà phát triển của thế giới trong lĩnh vực công nghệ để làm nên “Hiện tượng
Cambridge” khi biến thành phố này trở thành một trung tâm công nghệ quan trọng
của Châu Âu, một “thung lũng Silicon” của nước Anh.
12


Còn chất lượng giáo dục của Cambridge thì được đánh giá bởi những lớp sinh
viên sau khi tốt nghiệp trở thành những người thành đạt. Ngôi trường này đã đào
tạo ra rất nhiều nhà thơ, doanh nhân, nghị sĩ, Phó thủ tướng hay những chức vụ
tương tự cho nước Anh và cho cả thế giới.
Có thể kể ra một vài yếu tố làm nên chất lượng của trường Cambridge đó là:
giảng viên giỏi, sinh viên ưu tú; phương pháp học đi đôi với hành; và nguồn đóng
góp to lớn từ các nhà tài trợ.
Sinh viên giỏi và giảng viên giỏi:
Phó Hiệu trưởng trường Cambridge hiện nay - bà Alison Rechard đã trả lời
câu hỏi này như sau: “đó là tham vọng to lớn thu hút và giáo dục những sinh viên
có triển vọng nhất, tốt nhất ở mọi ngành; song song với tham vọng tuyển chọn
những giảng viên giỏi nhất để dạy những sinh viên ưu tú trên là làm công tác nghiên
cứu mọi lĩnh vực của tri thức”.
Việc tuyển chọn những sinh viên giỏi là một truyền thống của Cambridge. Từ
thế kỷ XVII khi toán học là ngành mũi nhọn của Cambridge, những cuộc thi có tên
gọi “Tripos” để tuyển chọn sinh viên giỏi đã được tổ chức. Và sau đó hình thức này
được áp dụng cho các ngành khác như: ngành luật dân sự năm 1816, chuyên ngành
thần học năm 1843 và cho đến trước năm 1900 các cuộc thi để tuyển chọn sinh viên
giỏi này đã được áp dụng cho hầu hết các chuyên ngành.
Để thu hút những sinh viên giỏi, Cambridge còn rất chú trọng đến chính sách
hỗ trợ sinh viên, đặc biệt là những sinh viên nghèo. Chính sách này đã là truyền
thống ở Cambridge từ thời trung cổ, nhà bác học Issaac Newton đã là một sinh viên
trong diện hỗ trợ này. Như lời phát biểu của bà Phó Hiệu trưởng trường: “Khi Isaac
Newton vào trường với tư cách là một sinh viên đại học, ông được hưởng hoàn toàn
sự tài trợ của trường Trinity, lúc đó không ai biết rằng ông là một thiên tài”.
Học đi đôi với hành:
Chất lượng giáo dục của Cambridge còn được khẳng định bởi nguyên tắc học
tập phải luôn đi đôi với nghiên cứu“. "Ở Cambridge chất lượng giảng dạy tuyệt vời
và các nghiên cứu tuyệt vời luôn gắn liền với nhau”. Nguyên tắc này cộng với đầu
vào sinh viên tốt, điều kiện học tập đầy đủ với thư viện, phòng thí nghiệm hiện đại
bậc nhất thế giới, nên chất lượng giáo dục ở Cambridge luôn được khẳng định.
Từ năm 1993 trường còn áp dụng một phương thức đánh giá chất lượng giảng
dạy (TQA) bao gồm rất nhiều tiêu chuẩn với các thang điểm khác nhau.
Những sinh viên đại học năm cuối của Cambridge vừa được học rất chuyên
sâu, vừa được hỗ trợ bởi sự chăm sóc đặc biệt của hệ thống giám sát của trường.
Các nhà quản lý Cambridge tin rằng đó là cách dạy hiệu quả nhất đối với những
sinh viên triển vọng và có chí tiến thủ nhất.
13


Một nhân tố khác làm nên sự nổi tiếng của Cambridge là cách ngôi trường này
đưa tri thức của mình vào cuộc sống khi áp dụng rất hiệu quả công thức: Công nghệ
hiện đại + các nhà đầu tư + các nghiên cứu hàn lâm.
Với truyền thống về nghiên cứu học thuật, Cambridge đã thu hút được những
nhà nghiên cứu hàng đầu trên thế giới hội tụ về đây, cho họ một môi trường làm
việc hoàn hảo, điều kiện làm việc hết sức linh hoạt, cho phép - thậm chí khuyến
khích họ làm việc cho các ngành công nghiệp. Điều này đã kết hợp được những
nghiên cứu thuần tuý với ứng dụng, sự tinh túy của học thuật với thế giới thực và
những kinh nghiệm thực tế.
Vì thế, Cambridge là một trường đại học có thu nhập cao khác thường từ lĩnh
vực công nghiệp, điều hành một số lượng dự án nghiên cứu quan trọng liên kết với
các nhà công nghiệp.
Năm 2009, Đại học Cambridge kỷ niệm tuổi 800 của mình. Phương châm của
trường là sẽ tiếp tục kế thừa những truyền thống của tám thế kỷ qua, đồng thời tiếp
tục cố gắng để khẳng định mình trong hàng ngũ những trường đại học vĩ đại nhất
thế giới.
v Oxford - Đại học cổ nhất Anh Quốc, nơi đào tạo "người đứng
đầu", đại học đầu tư nhiều tiền cho sinh viên nhất
Oxford là đại học cổ nhất trong thế giới các nước nói tiếng Anh. Tuy không có
ngày thành lập chính thức, nhưng việc giảng dạy ở đây đã được bắt đầu từ năm
1096 và phát triển rất nhanh kể từ năm 1167 khi vua Henry Đệ Nhị của Pháp cấm sinh
viên Anh học tập ở Paris. Hiện tại, đại học Oxford có khoảng 17 ngàn sinh viên, 25%
trong số đó là sinh viên quốc tế đến từ hơn 130 nước khác nhau trên thế giới.
Là một trong những đại học danh giá nhất thế giới và đứng đầu ở Anh (theo
xếp hạng năm 2005 của hai tờ báo nổi tiếng 'The Times' và 'The Guardian'), Oxford
đào tạo rất nhiều người tài giỏi thuộc tất cả các lĩnh vực tự nhiên và xã hội. Hầu
như không thể kể hết những người nổi tiếng đã xuất thân từ đây: 46 nhà khoa học
đoạt giải Nobel (riêng Linus Pauling đoạt 2 giải), 25 thủ tướng Anh, 6 vị vua, nhiều
nhà văn, nhà thơ, toán học, kinh tế... Thủ tướng Anh Tony Blair, Cựu Tổng thống
Mỹ Bill Clinton, Vua Abdullah của Jordan, Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh,
Thái tử Nhật Bản Naruhito, nhà vật lý học Stephen Hawking hay cả danh hài
Rowan Atkinson (diễn viên đóng vai Mr. Bean)... đều là cựu sinh viên Oxford.
Vì là đại học có từ thời trung cổ, hệ thống giáo dục của Oxford cũng rất khác
biệt so với các đại học khác. Hệ thống dạy kèm (tutorial system) của Oxford được
xem là cách giáo dục tốn kém nhất, và cũng tất nhiên là hiệu quả nhất. Mỗi sinh
viên đại học ở đây đều có riêng các giáo viên kèm cặp trong các môn học, cho và
chấm điểm bài tập về nhà. Riêng các sinh viên sau đại học còn có giáo viên hướng
dẫn nghiên cứu. Những năm gần đây tại Anh, Oxford luôn đứng đầu trong các đại
học đầu tư nhiều tiền nhất cho sinh viên của mình.
14


v Đại học Tokyo (Nhật Bản)
Ở châu Á, Nhật Bản là quốc gia có 2 trường nằm trong 100 trường đại học
đứng đầu thế giới, đó là đại học Tokyo (đứng thứ 14) và đại học Kyoto (đứng thứ
25) theo xếp hạng của tạp chí Newsweek.
Trường Tokyo được thành lập bởi chính phủ Minh Trị vào năm 1877 với tên
như hiện nay bằng cách hợp nhất các trường Tây y cũ của chính phủ. Trường đã
được đổi tên thành Đại học Đế quốc (Teikoku daigaku) năm 1886, và sau đó là Đại
học Đế quốc Tokyo (Tōkyō teikoku daigaku) năm 1887 khi hệ thống đại học đế
quốc của Nhật được hình thành. Đây là trường đại học quốc gia đầu tiên tại Nhật.
Trường giảng dạy tất cả các môn học chủ yếu cho cả bậc dưới đại học và trên đại
học và cung cấp phương tiện nghiên cứu cho các môn học này. Trường có 2.800
giáo sư, phó giáo sư và giảng viên, và khoảng 28.000 sinh viên theo học. Năm
2003, trường có 2.100 sinh viên quốc tế, 2.200 nhà nghiên cứu nước ngoài đến tham
quan, khảo sát trong thời gian ngắn.
Năm 1947, sau khi Nhật thất bại ở Chiến tranh thế giới thứ hai, trường lấy lại
tên ban đầu. Với sự bắt đầu của hệ thống đại học mới năm 1949, Todai sáp nhập
trường trước đó là Trường trung học đệ nhất (ngày nay là Khu đại học Komaba) và
cựu Trường trung học Tokyo, là trường mà từ đó chịu trách nhiệm giảng dạy sinh
viên đại học năm đầu và năm hai, trong khi các khoa của campus Hông chính chịu
trách nhiệm các sinh viên năm thứ 3 và thứ 4. Từ năm 2004, Đại học Tokyo đã
được hợp nhất vào Liên đoàn đại học quốc gia theo sắc luật áp dụng cho các trường
đại học quốc gia. Trường hiện chịu quản lý một phần của Bộ Giáo dục, Văn hóa,
Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản.
Trong các chuyên ngành học hàn lâm được dạy ở trường, có lẽ trường này nổi
danh nhất về các khoa khoa học và công nghệ. Ngoài ra, trường còn là nơi đã đào
tạo nhiều chính khách nổi tiếng của Nhật Bản. Đại học Tokyo được xem là một
trong những trường danh tiếng nhất, so với các trường đại học khác của Nhật như
Đại học Hoàng gia, Đại học Kyoto....
Đại học Tokyo bao gồm Trường Nghệ thuật và Khoa học, 9 phân khoa và 15
trường cao học. Chín Khoa là: Luật, Y, Công nghệ, Văn học, Khoa học, Nông
nghiệp, Kinh tế, Giáo dục và Dược. 11 trường cao học truyền thống là: Luật và
Chính trị, Y khoa, Công nghệ, Nhân văn và Xã hội, Khoa học, Nông nghiệp và
Khoa học đời sống, Kinh tế, Nghệ thuật và Khoa học, Giáo dục, Khoa học Dược,
Khoa học Toán. 4 trường cao học mới thành lập trong thập niên vừa qua là: Khoa
học biên giới, Nghiên cứu Thông tin giữa các ngành học thuật, Kỹ thuật và Khoa
học thông tin, và Chính sách Cộng đồng.
Trường có 11 viện nghiên cứu: Viện Khoa học Y, Viện Nghiên cứu động đất,
Viện Văn hóa Phương Đông, Viện Khoa học Xã hội, Viện Khoa học Kỹ thuật, Viện
15


Sử học, Viện Phân tử và Tế bào sinh học, Viện nghiên cứu Tia vũ trụ, Viện Vật lý
Chất rắn, Viện Nghiên cứu Đại dương, và Trung tâm Nghiên cứu về Khoa học Kỹ
thuật Tiên tiến.
Trường có một hệ thống thư viện, tập trung tại Tổng thư viện, được nối mạng
liên kết với 55 thư viện của các khoa, trường, viện. Có khoảng 8,1 triệu quyển sách
và tạp chí trong đó có nhiều ấn bản quý hiếm. Trường có một viện Bảo tàng độc
đáo, đó là một hệ thống bảo tàng đặc biệt bao gồm nhiều lĩnh vực, từ cổ sinh vật
học đến nhân chủng học.
Thành tích nổi bật của trường: Giáo sư Emeritus Masatoshi Koshiba của
trường đã đoạt giải Nobel Vật lý năm 2002.
v Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc)
Đại học Thanh Hoa là một viện khoa học và kỹ thuật tổng hợp, được thành lập
năm 1911 bằng tiền bồi thường của Mỹ. Trường đại học này được xây dựng tại
Thanh Hoa lâm viên - một khu nghỉ mát thời Minh, Thanh. Hiện nay trường nằm
trong số 100 trường đại học hàng đấu thế giới.
Tọa lạc tại thủ đô Bắc Kinh, trên một khung cảnh tuyệt đẹp vừa cổ điển vừa
hiện đại với 12 học viện với 48 khoa khác nhau đào tạo 51 chuyên ngành như Học
viện kỹ thuật, học viện kiến trúc, Học viện Pháp luật, Học viện mỹ thuật, Học quản
lý hành chính công, Học viện quản lý kinh tế, nhiều trung tâm nghiên cứu, khoảng
87 phòng thí nghiệm và 9 nhà máy được sử dụng để phục vụ công tác giảng dạy,
nghiên cứu. Thư viện tại đại học Thanh Hoa có 2 triệu bản sách và 3.000 tạp chí
chuyên ngành nhờ có sự trao đổi hợp tác với 200 trường đại học và viện nghiên cứu
nước ngoài.
Hiện tại Đại học Thanh Hoa có hơn 1300 lưu học sinh đến từ 70 quốc gia khác
nhau trên thế giới.
Đại học Thanh Hoa đang phát triển thành một trường tổng hợp với tốc độ đáng
kinh ngạc và hiện đứng đầu trong bảng xếp hạng các trường đại học của nước này.
Với truyền thống đáng tự hào trong 90 năm qua, Đại học Thanh Hoa vẫn giữ được
danh tiếng và sức hấp dẫn thông qua việc thúc đẩy mạnh mẽ nghiên cứu học thuật,
đảm bảo uy tín ở trong và ngoài nước. Hiện trường có trên 7.100 nhân viên, gồm trên
900 giáo sư và 1.200 phó giáo sư. Trong số đó, có 24 người là thành viên của Viện Hàn
lâm khoa học Trung Quốc và 24 thành viên của Viện kỹ thuật Trung Quốc.
Triết lý giáo dục của đại học Thanh Hoa là ''đào tạo sinh viên toàn diện''.
Trong số trên 100.000 sinh viên đã tốt nghiệp từ đại học Thanh Hoa kể từ khi thành
lập, có nhiều người trở thành các học giả nổi tiếng, thương gia tài giỏi và các chính
khách vĩ đại (Chu Dung Cơ, Hồ Cẩm Đào... ) được người dân Trung Quốc ghi nhớ
và kính trọng. Do vậy, được nghiên cứu tại đại học Thanh Hoa là mơ ước của nhiều
16


bạn trẻ Trung Quốc. Hiện nay, Thanh Hoa có trên 20.000 sinh viên theo học, bao
gồm 12.000 sinh viên chưa tốt nghiệp, 9.000 sinh viên sau đại học.
Các chương trình đào tạo tại đại học Thanh Hoa tập trung vào việc phát triển
khả năng sáng tạo, nghiên cứu và học tập cũng như thực tiễn xã hội cho sinh viên.
Để mở rộng phạm vi hiểu biết cho sinh viên và tăng cường chất lượng giáo dục, đại
học Thanh Hoa đã khởi động dự án đào tạo sinh viên nghiên cứu (STR). Tính tới
cuối năm 2004, đã có trên 7.000 sinh viên tham gia vào hơn 3.000 dự án STR. Nhờ
vậy mà khả năng sáng tạo của sinh viên đã được tăng cường đáng kể. Hàng năm đại
học Thanh Hoa cũng tổ chức trại hè tiếng Anh cho sinh viên năm thứ nhất nhằm
tăng cường kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Với sự ủng hộ mạnh mẽ từ nhà nước và đứng trước những cơ hội mới, đại học
Thanh Hoa đang nỗ lực trở thành một trường đại học tầm cỡ thế giới trong thế kỷ 21.
v Đại học Quốc gia Australia
Được thành lập năm 1946, Đại học quốc gia Australia (ANU) là một trong 8
đại học lớn nhất của Australia. Tọa lạc trên một khu đất rộng 145 hecta ở thủ đô
Canberra, trước đây ANU chỉ là một trường phục vụ công tác nghiên cứu của quốc
gia. Trải qua một quá trình dài với sự nỗ lực của các giáo viên và các nhà quản lý,
ANU ngày nay là một địa điểm lý tưởng thu hút sinh viên quốc tế đến từ nhiều quốc
gia khác nhau trên thế giới với điều kiện học tập lý tưởng, môi trường sống trong
lành và an toàn. Với 3.600 cán bộ giảng viên, trường có hơn 13.487 sinh viên đến từ
94 quốc gia trên thế giới theo học.
Khu học xá chính của trường bao gồm hơn 200 toà nhà và nhiều khu học xá
nhỏ hơn ở các vùng lân cận như khu học xá Mt Stromlo Observatory, Siding Spring
Observatory, North Australia Research Unit, Kioloa.
ANU đào tạo các chuyên ngành: Nghệ thuật và Khoa học xã hội, Y tế và Khoa
học sức khoẻ, Châu Á Thái Bình Dương, Kinh tế, Khoa học Kỹ thuật và Luật.
Đại học Australia xếp hạng thứ 57 trong 100 trường đại học hàng đầu thế giới.
v Đại học Sydney
Sydney University Được thành lập vào năm 1850, Đại học Sydney là trường
đại học đầu tiên của Úc và dẫn đầu trong lĩnh vực nghiên cứu. Đại học Sydney là
thành viên của “Group of Eight key Australian teaching and research universities” Nhóm tám trường đại học hàng đầu của Úc về nghiên cứu và giảng dạy, và được
xếp hạng trong các trường đại học hàng đầu của Úc và Châu Á Thái Bình Dương.
Đại học Sydney cung cấp các khóa học đa dạng và đào tạo hầu hết các ngành học
của bất kỳ trường đại học nào ở Úc. Hiện trường có hơn 47.000 sinh viên, trong đó
có khoảng 9.000 sinh viên quốc tế.
- Nổi tiếng trên thế giới về giảng dạy và nghiên cứu có chất lượng cao.
17


- Nhng sinh viờn tt nghip thu hỳt cỏc nh tuyn dng vi mc lng cao.
- Nhng ngi ni ting ó tng hc ti i hc Sydney gm cú 4 Th tng
Chớnh ph, 3 ngi ot gii Nobel v cỏc nh lónh o trong lnh vc giỏo dc,
chớnh tr, thng mi v ngh thut.
- ng hng u trờn th gii v dy hc mang tớnh hn lõm v nghiờn cu
bc cao.
- T l gia s lng sinh viờn v giỏo viờn trng t mc xut sc 1/5, tt
hn cỏc trng i hc khỏc bang New South Wales, Victoria v Queensland.
- Cú s lng sinh viờn nghiờn cu ln nht c.
- Liờn tc ng u trong bng xp hng ca Hi ng Nghiờn cu c.
Trng o to hn 430 ngnh hc bc i hc v sau i hc bao gm 17
khoa: Qun lý Nụng nghip v Ngun Ti nguyờn Thiờn nhiờn, Kin trỳc, Ngh
thut v Nhõn vn, Nha khoa, Kinh t v Thng mi, Giỏo dc v Cụng tỏc Xó
hi, K s, H thng trng cụng, Khoa hc Sc khe, Lut, Y khoa, m nhc,
iu dng v Sn khoa, Dc, Khoa hc, Thỳ y, Thit k ha.
i hc Sydney xp th 79 trong 100 trng i hc hng u th gii.
2. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển giáo dục đại học Việt Nam
2.1. Giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ phong kiến
Đầu thế kỷ X, ý thức dân tộc của nhân dân ta ngày một lên cao đã tạo ra những
cuộc khởi nghĩa giành độc lập. Chiến thắng của Ngô Quyền đánh tan quân Nam
Hán trên Sông Bạch đằng (938) mở ra kỷ nguyên độc lập của quốc gia phong kiến
Việt Nam. Nhưng trải qua ba triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê ngắn ngủi, nên giáo dục
của đất nước chưa có điều kiện phát triển. Năm 1009 Lê Long Đỉnh chết, triều đình
suy tôn Lý Công Uẩn lên làm vua, lập ra nhà Lý và dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long
(1010). Năm 1070 Lý Thánh Tông xây dựng văn miếu thờ Khổng Tử (Vạn thế sư
biểu), và 72 vị thánh hiền (thất thập nhị hiền) môn sinh giỏi của Khổng Tử và lấy
Nho giáo làm Quốc giáo. Năm 1075 lý Nhân Tông cho xây dựng Quốc Tử Giám.
Đây được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam.
Cả khu quần thể Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng từ thế kỷ XI
(1070). Đây là biểu trưng cho trí tuệ và nền văn hoá Việt Nam dưới chế độ phong
kiến. Năm 1804 Vua Gia Long chuyển Kinh Đô và Quốc Tử Giám vào Huế.
v

Mục tiêu của nhà trường đi học Quốc Tử Giám

Rèn luyện sĩ tử, phát triển nhân tài để tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước
phong kiến.
v

Tổ chức nhà trường

Người đứng đầu là quan Tễ Tửu (như hiệu trưởng), quan Tư Nghiệp (như
hiệu phó). Đội ngũ quan văn đảm nhiệm trọng trách giảng dạy gồm có học chánh,
18


giáo thụ, trợ giáo (trình độ tối thiểu là đã đỗ cử nhân, đã trở thành quan chức của
triều đình).
v

Tuyển chọn học trò

Gồm có tôn sĩ thuộc giòng dõi tôn thất, ấm sinh là con quan triều đình và con
quan đứng đầu hàng tỉnh, giám sinh là con quan lại nhỏ ở địa phương hoặc những
thanh niên xuất sắc, tuấn tú, có phẩm hạnh dù là con của thường dân nhưng nếu đốc
học tỉnh giới thiệu cũng được vào dự tập văn.
v

Chế độ học tập

Việc học tập được thực hiện rất nghiêm túc. Căn cứ vào kết quả khảo hạch các
kỳ, nhà trường phân học trò ra làm ba loại: ưu, bình, thứ mà được hưởng học bổng
bằng tiền và hiện vật khác nhau:
Loại ưu: được 4 quan tiền , 3 phương gạo, 5 cân dầu/1tháng.
Loại bình: được 3 quan tiền, 2 phương gạo, 4 cân dầu/ 1 tháng.
Loại thứ: được 2 quan tiền, 2 phương gạo, 3 cân dầu/ 1 tháng.
v

Tài liệu học tập

Gồm những sách kinh điển của Nho giáo, đó là bộ Tứ thư và Ngũ kinh được
coi là bộ giáo trình chủ yếu ở bậc đại học suốt hàng ngàn năm của chế độ phong
kiến Việt Nam.
- Tứ thư là bốn cuốn: Đại học, Trung dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử.
+ Sách đại học do Tăng tử viết giải thích những lời nói của Khổng Tử về nội
dung Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ.
+ Sách Trung Dung do Tử Tư chép lại những lời của Khổng tử giảng dạy theo
đạo trung thứ để đạt được ba đức lớn: Nhân, Trí, dũng.
+ Sách Luận Ngữ có nhiều nội dung luân lý, chính trị, lễ, nhạc, học thuật giáo
dục do học sinh chép khi Khổng Tử giảng dạy.
+ Sách Mạnh Tử do học trò chép lại những lời của Mạnh Tử đối đáp với các
bậc chư hầu theo quan điểm của Khổng Tử và phê phán các học thuyết khác.
- Ngũ kinh: gồm năm cuốn: Kinh thi, Kinh thư, Kịch Dịch, Kinh lễ, Kinh
Xuân thu.
+ Kinh Thi: Tuyển tập thi ca dân gian được lưu truyền từ xa xưa cho đến giữa
thời kỳ Xuân Thu.
+ Kinh thư có nội dung bàn luận về chính trị, bang giao, triều chính từ thời
Nghiêu Thuấn cho đến Xuân Thu.
+ Kinh Dịch: Sách triết học trọng yếu của nho học đề cập đến trời đất, âm
dương, quy luật chuyển dịch, thông biến của vũ trụ.
19


+ Kinh Xuân Thu: Do Khổng Tử biên chép những sự kiện xảy ra ở nước Lỗ và
một số nước khác. Kinh xuân Thu cũng được coi là bộ sử lấy gốc của lễ và nghĩa để
bàn luận.
Ngoài bộ giáo trình chủ yếu trên thì học trò trường Quốc Tử Giám còn
nghiên cứu bách gia chữ tử mà trong Giáo huấn diễn ca của Nguyễn Trãi đã viết.
Quốc Tử Giảm được tôn vinh là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Đây là
trung tâm đào tạo, bồi dưỡng trình độ cao nhất của Nho học suốt hàng ngàn năm
trong xã hội phong kiến, đã sản sinh ra nhiều nhân tài xuất chúng của nước Việt
Nam ngàn năm văn hiến. Những tấm bia ghi danh trạng nguyên, tiến sĩ đã đỗ đạt,
vinh hiển vẫn còn nguyên giá trị lịch sử của Nho học đến ngày nay và mãi mãi về
sau, nói lên vị trí lớn lao của nhà trường Quốc Tử Giám trong lịch sử giáo dục dân
tộc ta.
2.2. Giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ pháp thuộc
Thực dân Pháp nổ súng xâm lược tấn công Đà Nẵng vào ngày 1/9/1858, và
phải mất 40 năm (1898) mới hoàn toàn bình định được Việt Nam. Song song với
chính sách bóc lột tàn khốc, trấn áp dã man, thực dân Pháp đã thi hành một chính
sách văn hoá, giao dục nô dịch, ngu dân nhằm đồng hoá lâu dài dân tộc ta. Chủ
trương này đã được toàn quyền Merlin nói trắng ra trong bài diễn văn tại phiên họp
thường kỳ của hội đồng cai trị toàn Đụng Dương năm 1923 là chỉ cung cấp cho
nhân dân Việt Nam một sự giáo dục nhỏ giọt phát triển theo chiều nằm chứ không
theo chiều đứng(1). Trong tạp chí giáo dục số tháng 4 - 1943 ông Tabonlet cũng
thống kê cho biết: nếu lấy số học xong sơ học toàn Việt Nam năm 1941 -1942 là
100% thì tỷ lệ học sinh của các bậc học cùng năm ấy như sau: sơ học: 100%; tiểu
học 15%, cao đẳng tiểu học 2%, trung học 0,4%. Rõ ràng thực dân Pháp đã kiên trì
chính sách kìm hãm giáo dục, đặc biệt là nhà trường cao đẳng và đại học ở nước ta
trong nhiều thập niên.
Tuy nhiên để phục vụ cho mục đích khai thác và cai trị, thực dân Pháp đã mở
một số trường nhằm đào tạo công nhân chuyên nghiệp, thợ lành nghề và nhân viên
làm tay sai trung thành, đắc lực trong bộ máy cai trị của chúng. Chẳng hạn,
- 1862 mở trường đào tạo thông ngôn tuyển chọn những tên Việt gian hoặc
ngụy quân vào học.
- 1871 mở trường sư phạm Bá Đa Lộc đào tạo giáo viên tiểu học phục vụ cho
việc phổ biến văn hoá nô dịch của mẫu quốc Pháp.
- 1898 : mở hai trường đào tạo thợ mỏ ở Hà Nội và Sài Gòn.
- 1899: Xây dựng trường đào tạo công nhân thợ điện, thợi đúc, thợ rèn, thợ cơ
khí, làm đồ thủ công mĩ nghệ ở Huế.
- Trong chiến tranh thế giời lần thứ Nhất, do cần gạo để phục vụ chiến tranh,
20


thực dân Pháp đã mở trường Thực nghiệm nông nghiệp ở Biến Cát (Nam kỳ) và
Tuyên Quang (Bắc kỳ).
- Chiến tranh thế giời kết thúc, chúng mở thêm các trường kỹ nghệ thực hành ở
Sài Gòn, Hải Phòng, Huế, trường kỹ thuật ở Hà Nội, Gia Định.
Trong suốt 80 năm thống trị Đông Dương thực dân Pháp mở duy nhất một
trường đại học (cho cả Việt Nam, Lào, Campuchia) và chỉ có ba ngành: luật học, y
học, khoa học. Số sinh viờn trong khoá đông nhất khoảng 800 người.
Về nội dung giáo dục:
- Từ bậc sơ học cho đến đại học từng bước sử dụng chữ quốc ngữ và tiếng Pháp
thay thế dần chữ Hán. Cho đến năm 1918 thì chấm dứt việc thi cử bằng chữ Hán.
- Nội dung chương trình có chú ý đến khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hoá,
Sinh...Nhưng nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, chưa gắn với thực tiễn Việt Nam.
- Các môn học xã hội như Văn Học, Lịch sử, Địa lý, Công dân đều phỏng theo
chương trình của nước Pháp hoặc biên soạn lại để tăng cường tính chất nô dịch,
thậm chí phản khoa học, xuyên tạc lịch sử Việt Nam nhằm ca ngợi thần phục nước
Đại Pháp - mẫu Quốc để chúng dễ bề cai trị.
- Từ bậc sơ học thực dân Pháp không những đã huỷ bỏ chữ Hán để gạt bỏ
những ảnh hưởng tích cực của nền giáo dục bản địa mà chữ quốc ngữ cũng bị coi
là thứ yếu, nhưng coi trọng chữ Pháp để thực hiện âm mưu đồng hoá đối với thế
hệ trẻ Việt Nam. Tất nhiên thực dân Pháp không dễ dàng thực hiện âm mưu với
một dân tộc có truyền thống yêu nước, kiên cường, quật khởi như dân tộc ta. Vì
vậy nhiều sĩ phu yêu nước như cụ Phan Bội Châu đã khởi xướng phong trào yêu
nước Đông Du Nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí để giải phóng dân tộc. Cụ
Phan Chu Trinh chủ trương đấu tranh chống nền giáo dục nô dịch của thực dân
Pháp bằng con đường cải lương, đã mở ra được 48 trường học kiểu mới, 3 trường
lớn nổi tiếng là Diên phong, Phúc Bình và Phúc Lâm. Các trường này dạy chữ
quốc ngữ theo nền tân học, bàn luận các vấn đề văn học, xã hội, khoa học, tuyên
truyền xây dựng nếp sống văn minh. Phong trào Đông Kinh nghĩa thục của
Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ cũng dấy lên một nền giáo
dục yêu nước, truyền bá nền học thuật mới và các tư tưởng dân chủ tư sản tiến bộ.
Đặc biệt là phong trào đấu tranh chống nền văn hoá giáo dục nô dịch của thực
dân Pháp do Nguyễn i Quốc lãnh đạo trước khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra
đời. Nguyễn i Quốc đã đứng vững trên lập trường của giai cấp vô sản, của một
dân tộc bị áp bức tàn bạo để tố cáo, lên án mạnh mẽ chính sách ngu dân của thực
dân Pháp trong hai tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp( viết năm 1921),
Đây công lý của thực dân Pháp (viết năm 1921 - 1926) đã lật tẩy bộ mặt giả
dối, nham hiểm của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam với thế giới.
21


2.3. Giáo dục đại học Việt Nam Từ năm 1954 đến 1975
2.3.1. Giáo dục đại học ở Miền Bắc Việt Nam
v

Giai đoạn từ năm 1945 -1954

Cách mạng tháng Tám thành công, mặc dù hoàn cảnh c nước gặp muôn vàn
khó khăn, Chủ tch Hồ Chí Minh vẫn quan tâm đến giáo dục, phát động chiến dịch
diệt đói và diệt dốt ngày 3/9/1945. Bộ Quốc gia Giáo dục cũng chủ trương phục
hồi ngay các trường đại học, cao đẳng và ấn định từ ngày 15/11.1945 sẽ khai giảng
tại Hà Nội các trường Y khoa, Dược khoa, Nha Khoa, đại học và cao đẳng Mỹ Thuật,
Công chính, Canh nông, Thú y. Với đội ngũ giảng viên người việt tài năng như : Hồ
Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Thúc Hào, Tô Ngọc Vân, Nguỵ
Như Kon Tum.v.v...Nhưng chưa được bao lâu thực dân Pháp quay lại xâm lược.
Tháng 12/1946 toàn quốc kháng chiến bùng nổ kéo dài đến 9 năm, giáo dục đại học
gặp muôn vàn gian khổ, thiếu thốn, phải chuyển hướng phục vụ kháng chiến và kiến
quốc nhưng vẫn duy trì trưởng thành cho đến ngày chiến thắng.
v

Giai đoạn từ (1954 - 1965)

Chỉ hai tháng sau khi tiếp quản thủ đô các trường ại học và cao đẳng đã khai
giảng trở lại. Ban u tạm ghép các trường trong vùng kháng chiến vào các trường ở
Hà Nội trong thời kỳ tạm chiếm đó là: Đại học Y Khoa; Đại học sư phạm Văn Khoa
& Đại học Văn Khoa; Đại học sư phạm Khoa Học & Đại học Khoa Học; Trong Đại
học sư phạm Văn Khoa & Đại học sư phạm Khoa Học đều có các lớp dự bị ại học.
Đầu năm 1956 với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, hệ thống nhà
trường Đại học và Cao đẳng XHCN được xây dựng theo mô hình phát triển của nước
bạn đã có các trường lớn.
- Đại học Tổng Hợp do ông Nguỵ Như Kon Tum làm hiệu trưởng;
- Đại học Sư phạm do ông Phạm Huy Thông làm hiệu trưởng;
- Đại học Y Dược do ông Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng;
- Đại học Bách Khoa do ông Trần Đại Nghĩa làm hiệu trưởng;
- Đại học Nông Lâm do ông Bùi Huy Đáp làm hiệu trưởng.
Từ kinh nghiệm xây dựng 5 trường Đại học đầu tiên, sau 3 năm (1958-1960)
cải tạo XHCN ở miền Bắc đã có tất cả 9 trường Đại học với 46 ngành học.
- Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) do yêu cầu tăng cường đội
ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ CĐ-ĐH, giáo dục Đại học đã mở rộng quy
mô tăng thêm trường lớp, số lượng sinh viên, phát triển ngành học. Cho đến năm
học 1964-1965 trên Miền Bắc đã có 17 trường Đại học với 97 ngành. Ngoài ra, Bộ
Giáo Dục đã tăng cường nguồn cử sinh viên, cán bộ đi học tập, bồi dưỡng nghiên
cứu sinh, thực tập sinh ở các nước thuộc phe XHCN, nhất là ở Liên Xô.
22


v

Giai đoạn từ (1965-1975)

- Từ năm 1964 -1965 đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra Miền Bắc,
làm cho chiến tranh lan ra cả nước. Ngày 5/8/1965 Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị
số 88TTg-VG về chuyển hướng công tác giáo dục trước tình hình và nhiệm vụ mới.
Chỉ thị có đoạn: gắn chặt hơn nữa việc giảng dạy và mọi hoạt động của nhà trường
với đời sống, với sản xuất và chiến đấu, bảo đảm an toàn, bảo đảm sức khoẻ cho học
sinh, sinh viên. Tháng 5/1966 ngành ĐH & THCN mở hội thi đua chống Mỹ cứu
nước với khí thế sẽ vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, tiếp tục nhiệm vụ đào
tạo cán bộ với quy mô ngày càng lớn hơn và chất lượng ngày càng cao hơn. Cũng
từ năm học1964 -1965 Bộ ĐH & THCN có cách tuyển sinh mới là các tỉnh thành lập
Ban tuyển sinh để lựa chọn học sinh vào các trường ĐH & THCN. Cách tuyển chọn
này được tiếp tục thực hiện cho đến năm hc 1969-1970.
Mặc dù phải đối phó với chiến tranh phá hoại ác liệt, điên cuồng của đế quốc
Mỹ ở Miền Bắc và phải chi viện đắc lực cho cách mạng giải phóng Miền Nam,
nhưng sự nghiệp giáo dục nói chung, giáo dục Đại học và THCN nói riêng đã không
ngừng phát triển về số lượng & chất lượng trong suốt 10 năm chiến tranh huỷ diệt
như đế quốc Mỹ đã từng tuyên bố đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá cũ.
Nhưng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng hoàn toàn Miền Nam, đất
nước thống nhất hân hoan chào đón những kỳ tích của nhiều lĩnh vực, trong đó có
lĩnh vực giáo dục Đại học v Trung cp chuyờn nghip của Miền Bắc.
Hình thức đào tạo
Năm học

Tổng số SV

Dài hạn
tập trung

Chuyên tu

Tại chức

1964-1965

29.337

22.374

1.263

5.700

1965-1966

34.213

23.858

2.389

7.966

1966-1967

48.402

32.541

5.118

10.473

1967-1968

58.159

42.909

5.586

9.664

1968-1969

71.414

51.848

6.009

13.497

1970-1971

69.902

53.593

5.293

11.016

1971-1972

61.978

48.150

4.078

9.744

1972-1973

53.700

39.563

4.128

10.117

1973-1974

54.150

41.371

3.443

9.336

1974-1975

55.701

43.014

3.212

9.475

Nguồn tư liệu : Niên giám thống kê của Bộ ĐH& THCN 1955-1975. Năm học 1974-1975
số cán bộ giảng dạy đã lên đến 8658 người công tác trong 41 trường ĐH&THCN.

23


v

Giai đoạn từ 1975-1986

Ngày 30/4/1975 chiến dch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam hoàn toàn giải
phóng, nước nhà thống nhất. Hội nghị lần thứ 24 ban chấp hành Trung ương khoá 3
họp đề ra nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới đưa cả nước tiến nhanh, tiến
mạnh, tiến vững chắc lên XHCN. Sự nghiệp giáo dục cũng đứng trước những yêu
cầu lớn lao, mới mẻ trong giai đoạn quá độ tiến lên xó hi ch ngha của cả đất nước
thống nhất.
Trước ngày giải phóng, Miền Nam có 7 Viện i hc công như Viện i hc
Sài Gòn, Viện i hc Huế, Viện i hc Cần Thơ và 11 Viện i hc tư như:
Viện i hc Vạn Hạnh, Viện i hc Đà Lạt, i hc Minh Đức, Cao Đài Việc
tổ chức nhà trường, quy trình đào tạo, hệ thống văn bằng theo mô hình giáo dục của
Pháp đến những năm đầu thập kỷ 70 thì theo mô hình của Mỹ.
- Sau khi tiếp quản, chính quyền cách mạng đã tiến hành giải thể các trng t
thc v trng i hc cụng ng, tổ chức lại thành 5 trường i hc theo mô hình nhà
trường xó hi ch ngha đó là:
- Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
- Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh;
- Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh;
- Đại học Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh;
- Đại học Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh;
- Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh;
- Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh;
- Đại học Tổng hợp Huế;
- Đại học Cần Thơ;
- Đại học Bách Khoa Đà Nẵng ;
- Đại học Đà Lạt;
- Đại học Sư phạm Huế;
- Đại học Y Huế;
- Đại học Thuỷ Sản Nha Trang;
- Đại học Tây Nguyên.
Từ năm 1976 - 1986 các trường ại học được xác định có vai trò rất quan trọng
trong 3 cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, khoa học kỹ thuật, cách
mạng tư tưởng văn hóa, trong đó cách mạng khoa hc kỹ thuật là then chốt. Năm
1976 lần đầu tiên luận án phó tiến sĩ đã được bảo vệ thành công trong nước đánh
24


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×