Tải bản đầy đủ

Đề tài: Sử dụng hiệu quả Website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11” ở trường Trung học phổ thông

Đề tài: Sử dụng hiệu quả Website “Học liệu điện tử môn
Lịch sử lớp 11” ở trường Trung học phổ thông

GVHD: TS. Nguyễn Mạnh Hưởng
SVTH: Nguyễn Thị Thảo
Lớp: K57 CLC

1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, toàn cầu hóa đã trở thành xu hướng phát triển tất yếu của mọi
quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó việc “lấy sức mạnh từ công
nghệ, năng lượng từ thông tin và chèo lái bằng kiến thức”[58; 5] là một yêu
cầu bức thiết. Sự hội nhập của nền kinh tế toàn cầu đã ngầm khẳng định một
cách nghiêm túc về vai trò, tính chất và mục đích của giáo dục và đào tạo, mà
theo cách gọi của nhà tương lai học Alvin Toffler “Những người mù chữ của
thể kỷ 21 sẽ không phải là những người không biết đọc, biết viết mà chính là
những người không biết cách học, cách quên và cách học lại”[49; 5].
Công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông được coi là những công cụ

tiềm năng có tác động tích cực tới cách dạy của thầy và cách học của trò, làm
thay đổi cho cải cách giáo dục. Ở các nước tiên tiến trên thế giới như Mĩ,
Nhật Bản, Singapo, Hàn Quốc… việc sử dụng những thành tựu của khoa học
công nghệ trong nhà trường đã có từ rất sớm, khẳng định được tính hiệu quả,
nhất là những ứng dụng liên quan đến CNTT.
Ở Việt Nam, nền giáo dục trong những năm gần đây đã được quan tâm,
đầu tư với phương châm: “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, là
động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu
kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước, phải coi giáo dục là một hướng
chính của đầu tư phát triển.
Như vậy, nhiệm vụ đặt ra cho giáo dục và đào tạo là vô cùng to lớn.
Trong xu thế toàn cầu hóa của nền giáo dục thế giới, nền giáo dục Việt Nam
muốn phát triển thì phải không ngừng áp dụng CNTT. Bởi vì “nước nào đi
đầu trong sử dụng CNTT, nước đó sẽ đi đầu về giáo dục” [32; 10].
Ở trường phổ thông, môn Lịch sử giống như nhiều môn học khác có
nhiệm vụ cung cấp cho thế hệ trẻ những kiến thức cơ bản, rèn luyện các năng
lực học tập, qua đó giáo dục tư tưởng, tình cảm để phục vụ cho xã hội, dân
2


tộc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc “bồi dưỡng
thế hệ cách mạng cho đời sau” [13; 498]. Trong Nghị quyết các Đại hội Đảng
Cộng sản Việt Nam, nhất là Đại hội Đảng lần thứ X (2006) đã nhấn mạnh đến
việc giáo dục cho học sinh, sinh viên phải có “bản lĩnh, phẩm chất và lối sống
của thế hệ trẻ Việt Nam hiện đại” [15; 207]. Lịch sử là một bộ môn thuộc
chuyên ngành khoa học xã hội - nhân văn, hệ thống kiến thức đề cập tới
những hoạt động khác nhau của đời sống xã hội loài người trong tiến trình
lịch sử từ trước tới nay, nên nó có nhiều ưu thế trong việc giáo dục thế hệ trẻ.
Từ thời cổ đại, người ta đã sớm nhận thức được vai trò của sử học đối với đời
sống con người. Pôlibi gọi “lịch sử là cô giáo của cuộc sống”, là tấm gương
của muôn đời [24; 174]. Môn lịch sử cũng sớm được đưa vào giảng dạy trong
các nhà trường ở phương Đông và phương Tây, không chỉ cung cấp cho
người học kiến thức, mà còn để giáo dục con người những quan điểm ở mỗi
thời đại. Đối với nhà trường chúng ta hiện nay, môn lịch sử cần được xã hội
coi trọng hơn nữa.
Thực tiễn việc dạy – học lịch sử ở trường phổ thông những năm gần đây
luôn khiến cho dư luận xã hội và người trong cuộc phải “giật mình”, bởi hàng
năm, số thí sinh tham dự các kì thi có môn Lịch sử đạt điểm dưới trung bình
rất lớn. Ví như kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2009, trong 3 môn thi
khối C thì Lịch sử đứng ở vị trí “đội sổ” có điểm thấp nhất. Số thí sinh bị


điểm dưới 5 chiếm tỉ lệ cao, trong đó điểm từ 0 đến 2 rất nhiều. Tại Đại học
Sư phạm Đà Nẵng, điểm từ 5 trở lên chỉ đạt 5%, Đại học Đà Lạt là 4%, Đại
học Văn hoá TP Hồ Chí Minh là 3,7%…[65]. Những số liệu trên cho thấy,
việc dạy – học lịch sử ở các trường trung học phổ thông (THPT) hiện nay
đáng báo động, cần phải khắc phục.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, như quan niệm của xã
hội, tư tưởng học sinh (HS) coi lịch sử là “môn phụ” và “thi gì thì học đấy”.
Song chủ yếu vẫn do phương pháp tổ chức dạy của thầy và việc học của trò.
Nhiều ý kiến cho rằng giáo viên (GV) chậm đổi mới, không tích cực hưởng
3


ứng và vận dụng các biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh vào dạy
học. Việc trang bị thiếu đồng bộ về cơ sở vật chất ở phần lớn các trường
THPT (máy tính, máy chiếu, internet, tư liệu điện tử…) cũng được coi là
nguyên nhân lớn dẫn đến tình trạng chất lượng bộ môn suy giảm.
Chúng ta biết rằng, chất lượng dạy và học lịch sử sẽ được nâng lên nếu
có sự tham gia tích cực của các yếu tố hợp thành quá trình dạy học như mục
tiêu, nội dung, phương tiện, hình thức tổ chức, kiểm tra đánh giá,…Trong đó,
hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò đóng vai trò quyết định nhất,
bởi mọi yếu tố khác như sách giáo khoa, phương tiện, nội dung đều phải
thông qua 2 yếu tố này mới phát huy tác dụng. Những năm gần đây, việc đưa
CNTT vào nhà trường đã hỗ trợ GV rất nhiều trong công tác giảng dạy, nhờ
có nối mạng Internet nên việc khai thác thông tin trở nên quen thuộc với GV.
Internet chính là nguồn kiến thức thông tin vô tận, phong phú cho cả thầy và
trò với nhiều thể loại như các văn bản, tranh ảnh, các đoạn video... được cập
nhật từng ngày, từng giờ. Thông qua Internet, GV có thể trao đổi chia sẻ
thông tin trực tiếp với nhau cho dù cách xa về khoảng cách địa lý. Dựa trên
Internet, người ta có thể xây dựng các Website để đưa bài giảng lên mạng,
giúp cho nhiều GV ở các vùng miền khác nhau có cơ hội tiếp cận học hỏi
kinh nghiệm. Như vậy, việc dạy học không còn bó gọn trong phạm vi từng
lớp học, mà nó có thể đáp ứng các tiêu chí giáo dục mới: học mọi lúc, học
mọi nơi, học theo sở thích và học suốt đời.
Dạy học lịch sử lớp 11 trung học phổ thông chương trình chuẩn, GV có
thể khai thác được nhiều nguồn tư liệu khác nhau trên mạng Internet để phục
vụ cho thiết kế giáo án điện tử, tổ chức dạy học trên lớp với sự hỗ trợ của
CNTT, góp phần đổi mới phương pháp và từng bước nâng cao chất lượng bộ
môn. Tuy nhiên, nếu không nắm vững những nguyên tắc và phương pháp
luận, yêu cầu của bộ môn thì không đảm bảo giá trị khoa học, giáo dục và
phát triển kĩ năng của người học.

4


Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, em chọn vấn đề “Sử
dụng hiệu quả Website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11” ở trường
Trung học phổ thông” làm Khóa luận tốt nghiệp, chuyên ngành Lý luận và
Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xuất phát từ việc khẳng định các tư liệu điện tử trong dạy học cũng là
một loại tài liệu tham khảo, là đồ dùng trực quan hỗ trợ việc dạy – học, em
xin khái quát các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài gồm 2 nhóm chính:
2.1. Tài liệu nước ngoài
Nhà giáo dục Tiệp Khắc J.A.Cômenxki với tác phẩm “Phép dạy học vĩ
đại” (1670), là người đầu tiên đặt nền móng cho lý luận dạy học trong nhà
trường. Ông đã đưa ra hệ thống các nguyên tắc dạy học, mà trong đó, nguyên
tắc về tính trực quan được coi là “nguyên tắc vàng ngọc”: “Cái gì HS nhìn
được thì cho nhìn, nghe được thì cho nghe, ngửi được thì cho ngửi... Cái gì
HS tri giác được bằng tất cả các giác quan thì cho họ tri giác bằng tất cả các
giác quan” [55; 151].
Sau J.A.Cômenxki, các nhà giáo dục như K.Đ.Usinxki, A.A.Vaghin,
M.N.Sacđacôp, N.G.Đairi, I.F.Kharlamop,…đã kế thừa và phát triển nguyên
tắc trên, làm cho nó sâu sắc và hoàn thiện hơn.
K. Đ. Usinki - nhà giáo dục lỗi lạc Nga khẳng định: “Sự học tập nào mà
không có hứng thú gì cả và chỉ biết hoạt động bằng cưỡng bức thì sẽ giết chết
lòng ham muốn học tập của cá nhân” [57; 33].
Cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của A.Vaghin
nêu rõ: Có phương tiện trực quan, HS sẽ nắm vững khái niệm một cách chính
xác. HS bằng thị giác thông qua đồ dùng trực quan dễ nhận thức được kiến
thức sâu sắc hơn [59].
Với nhan đề “Tư duy của học sinh”, M.N.Sacđacôp nhận định: “Tư duy
diễn ra trong mối liên hệ chặt chẽ với tri giác… nhờ tri giác mà ta thu nhận
5


được thuộc tính và phẩm chất bản chất hoặc không bản chất bên ngoài, nhìn
thấy được những sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan hay những mối
liên hệ và quan hệ giữa chúng với nhau. Nhận thức cảm tính là nội dung cụ
thể của tư duy” [41; 20].
N.G.Đairi trong cuốn“Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” đã nhấn
mạnh “tính cụ thể , tính hình ảnh của sự kiện có một giá trị lớn lao, bởi vì
chúng cho phép hình dung lại quá khứ” [12; 25].
I.F.Kharlamop trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh”
cũng nhấn mạnh đến vai trò của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy
học lịch sử. Theo ông “việc dạy học trực quan không những làm cho quá
trình học tập thêm sinh động, nó còn góp phần rèn luyện tư duy phân tích, tập
cho các em nhìn thấy bản chất của sự kiện, ẩn sau các hình thức và biểu hiện
bên ngoài, kích thích tính ham hiểu biết cho các em” [23; 105-106].
Như vậy, từ rất sớm, các nhà giáo dục nói chung và giáo dục lịch sử nói
riêng đã nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa của tính trực quan trong dạy học.
2.2. Tài liệu trong nước
Từ những năm 70 của thế kỉ XX, các nhà giáo dục lịch sử nước ta bước
đầu nghiên cứu về lý luận và phương pháp dạy học bộ môn, coi trọng tính
hình ảnh trực quan và sử dụng các loại thiết bị, phương tiện kĩ thuật trong dạy
học. Có thể kể đến: “ Đồ dùng trực quan trong DHLS ở trường phổ thông cấp
II” của Phan Ngọc Liên, Phạm Kỳ Tá [25]; “Phương pháp dạy học lịch sử”,
tập 1,2 do Phan Ngọc Liên chủ biên [29],[30]; …
Cuốn “Hệ thống thao tác sư phạm trong dạy học lịch sử ở trường phổ
thông trung học” của tác giả Kiều Thế Hưng đã làm nổi bật tính trực quan
trong dạy học lịch sử. Theo tác giả: “HS chỉ có thể dựa vào hình ảnh tái tạo
của các sự kiện qua một bức tranh, một hiện vật, qua phim ảnh, qua hệ thống
ngôn ngữ giàu hình ảnh...” [16; 17].
Cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử” do GS.TS
Nguyễn Thị Côi (chủ biên) dành một chương khá chi tiết viết về rèn luyện kĩ
6


năng xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan, trong đó có sử dụng CNTT. Sách
nêu rõ các bước tiến hành, kĩ năng khai thác từ các kênh hình có trong sách
giáo khoa và kênh hình ngoài sách giáo khoa bằng CNTT [7; 86 - 93].
Năm 2009, tập thể giảng viên tổ PPDH khoa Lịch sử, trường Đại học Sư
phạm Hà Nội xuất bản cuốn “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong dạy học
lịch sử lớp 11 THPT” [8]. Bộ sách này đã cung cấp cho GV nội dung và
phương pháp sử dụng của từng kênh hình trong từng bài. Khi đề xuất phương
pháp sử dụng từng kênh hình, tác giả đã kết hợp nêu câu hỏi gợi mở vấn đề để
hướng dẫn HS tự tìm hiểu và rút ra kết luận, nhằm phát huy hoạt động tích
cực, gây hứng thú cho HS trong quá trình học tập.
Những quan điểm khẳng định về vai trò, ý nghĩa, kỹ năng xây dựng và
sử dụng các công cụ hỗ trợ đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng hiện
đại cũng được đề cập đến trong một số tài liệu như: “Giáo dục học” của Hà
Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt; “Tâm lý học” của Hồ Ngọc Đại, “Lý luận dạy học
đại cương” của Nguyễn Ngọc Quang, “Giáo dục học hiện đại” của Thái
Duy Tuyên,…
Liên quan đến đề tài còn có nhiều Luận văn Thạc sĩ giáo dục và Khóa
luận tốt nghiệp của sinh viên khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
ví như:
- “Ứng dụng CNTT trong dạy học địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam khẳng
định tác dụng to lớn của CNTT trong dạy học nói chung, dạy học địa lý nói
riêng ở trường phổ thông” [47].
- “Một số biện pháp gây hứng thú cho HS trong học tập lịch sử vận
dụng qua dạy chương I “Những cuộc cách mạng tư sản thời cận đại” lớp 10
THPT” [17].
- “Sử dụng đồ dùng trực quan nhằm phát huy tính tích cực của HS trong
dạy học lịch sử các cuộc cách mạng tư sản đầu thời cận đại” [50].

7


- “Xây dựng và sử dụng bản đồ trên phần mềm Microsoft Power point
trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX ở lớp 10 THPT
(chương trình chuẩn)” [51].
- “Xây dựng và sử dụng hồ sơ tư liệu điện tử trong dạy học lịch sử Việt
Nam từ năm 1919 đến năm 1945 ở lớp 12 THPT (chương trình chuẩn)” [48],…
Trên các tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Giáo dục,… có nhiều bài
viết đề cập đến vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau:
Nguyễn Thị Côi với bài viết “Kênh hình - một nguồn cung cấp kiến thức
quan trọng trong dạy học” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 2/2002.
Trịnh Đình Tùng, Kiều Thế Hưng với “Xây dựng và sử dụng bản đồ
trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông” trên Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục
số 6/1994.
Lại Đức Thụ, Nguyễn Văn Phong với “Cần có nhiều bản đồ trong dạy
học lịch sử ở trường THPT” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số
6/1994.
Trong Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 5/1999, Dương Trung Quốc có bài
viết “Ảnh - một nguồn sử liệu cần được khai thác trong nghiên cứu giảng dạy
và truyền bá lịch sử”.
Đặc biệt, đi sâu vào nghiên cứu mảng đề tài nâng cao chất lượng bộ môn
lịch sử ở trường phổ thông với sự hỗ trợ của CNTT là tác giả Nguyễn Mạnh
Hưởng, với nhiều tài liệu và bài viết như:
- “Thiết kế và trình diễn trực quan bài giảng bằng Microsft Power point
trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông” (Tài liệu bồi dưỡng giáo viên,
Trường ĐHSPHN, 2004)
- “Thiết kế bài giảng Cách mạng tháng Tám năm 1945 với sự hỗ trợ của
phần mềm Power Point” (Tạp chí Giáo dục, số 154/2007)
- “Sử dụng CNTT để dạy bài “Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954” Lịch sử
lớp 12” (Tạp chí Thiết bị Giáo dục số 50/2009)

8


- “Đặc trưng của việc dạy - học lịch sử và con đường hình thành kiến
thức cho HS với sự hỗ trợ của CNTT” (Tạp chí Giáo dục số 235/2010)
- “Nâng chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông
với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” (Luận án tiến sĩ) [22]…
Nhìn chung, các công trình, bài viết trên đã góp phần làm phong phú sâu sắc
hơn cơ sở lí luận của việc tạo biểu tượng và sử dụng kênh hình trong dạy học.
Các trang Website trên Internet cũng cung cấp nhiều nguồn tư liệu lịch
sử hỗ trợ cho GV và HS trong quá trình dạy học như:
- http://www.menagerie.net/lyceum (Lịch sử văn hoá thế giới cổ đại)
- http://www.academic.marist.edu/history/hiseuro (Lịch sử Châu Âu)
- http://www.fordham.edu/halsall/sbook (Lịch sử thế giới trung đại)
- http://www.cinet.vnn.vn (website của Bộ VHTT về lịch sử, đất nước,
con người Việt Nam)
- http://saigon.vnn.vn/lichsu (Giới thiệu về đất nước, con người và truyền
thống VN)
- http:// www .edu.net.vn (Website của Bộ GD-ĐT)
- http:// www .lichsuvietnam.vn
- http://media.vdc.com.vn/top/hochiminh/hcm/index/html (Hồ Chí Minh
Toàn Tập)
Những nguồn tài liệu và địa chỉ nêu trên đều ít nhiều đề cập đến tính trực
quan trong dạy học, ứng dụng CNTT vào giáo dục – đào tạo, trong đó có môn
Lịch sử. Tuy nhiên, nghiên cứu về đề tài: “Sử dụng hiệu quả Website “Học
liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11” ở trường Trung học phổ thông” thì chưa có
tác giả nào đề cập đến.
Vì vậy, em mạnh dạn chọn hướng nghiên cứu này vừa góp phần “hiện
thực hóa” các Văn kiện, Chỉ thị của Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào
tạo về ứng dụng CNTT vào dạy học; vừa góp phần cung cấp cho giáo viên
phổ thông những nguồn tư liệu điện tử lớp 11 THPT hỗ trợ quá trình dạy học.

9


3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình sử dụng Website học
liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11 ở trường THPT, góp phần nâng cao hiệu quả
bài học.
3.2. Đề tài không đi sâu vào lĩnh vực kĩ thuật, mà trên cơ sở khẳng định
vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử, chúng tôi đề
xuất các biện pháp sử dụng hiệu quả hệ thống học liệu điện tử (gồm bài viết,
tranh ảnh, phim tài liệu…) trên website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp
11” (chương trình chuẩn). Đồng thời, đề tài cũng chỉ rõ một số vấn đề về yêu
cầu và phương pháp luận khi sử dụng nguồn học liệu điện tử trên website này.
Cuối cùng, tác giả thực nghiệm sư phạm loại bài học nghiên cứu kiến thức
mới nhằm khẳng định tính khả thi của các biện pháp đã nêu.

4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
4.1. Đề tài khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng website học liệu
điện tử trong dạy học lịch sử, trọng tâm là đề xuất các biện pháp sử dụng hiệu
quả nguồn học liệu điện tử trên website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp
11” (chương trình chuẩn), góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
4.2. Từ mục đích nêu trên, nhiệm vụ của đề tài là:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng website
học liệu điện tử trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
- Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa lịch sử lớp 11 THPT
(chương trình chuẩn) để xác định vị trí, mục tiêu, kiến thức cơ bản; khai thác
nội dung lịch sử có thể ứng dụng CNTT khi dạy học.
- Đề xuất các biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn học liệu điện tử trên
website “Học liệu điện tử môn Lịch sử 11” (chương trình chuẩn), góp phần
nâng cao hiệu quả các bài học.
- Thực nghiệm sư phạm loại bài học nghiên cứu kiến thức mới để khẳng
định tính khả thi của đề tài.
10


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận của đề tài dựa trên quan điểm, nhận thức
của chủ nghĩa, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà
nước ta về đổi mới giáo dục và những vấn đề liên quan đến lý luận dạy học,
phương pháp dạy học lịch sử.
5.2. Bên cạnh việc tuân thủ những nguyên tắc nghiên cứu khoa học nói
chung, do nội dung và tính chất của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương
pháp nghiên cứu khoa học giáo dục sau:
- Nghiên cứu các nguồn tài liệu Tâm lý học, Giáo dục học… đặc biệt là
lý luận dạy học bộ môn liên quan đến sử dụng đồ dùng trực quan nói chung,
ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử nói riêng.
- Nghiên cứu thực tiễn thông qua phiếu điều tra, khảo sát, dự giờ, phỏng
vấn… về tình hình ứng dụng CNTT, về việc khai thác và sử dụng các tư liệu
điện tử trên website trong dạy học lịch sử.
- Soạn bài và tiến hành thực nghiệm sư phạm theo các biện pháp đề xuất
trong khóa luận.
- Tổng kết, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm và rút ra kết luận,
kiến nghị.

6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Thực hiện đề tài này sẽ giúp em hiểu rõ được vai trò, ý nghĩa của
việc ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, đặc biệt là
việc xây dựng và sử dụng Website học liệu điện tử hỗ trợ quá trình đổi mới
phương pháp dạy học có ứng dụng CNTT của GV.
6.2. Đề tài giúp em vận dụng những kiến thức, kết quả nghiên cứu của
mình vào dạy học lịch sử ở trường phổ thông sau khi tốt nghiệp ra trường,
phổ biến với bạn bè, đồng nghiệp cũng như những người quan tâm.

11


7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Tài liệu tham khảo, Phụ lục,
Khóa luận được trình bày trong 2 chương nội dung:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng website học liệu
điện tử trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
Chương 2: Sử dụng hiệu quả Website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp
11” ở trường THPT.

12


NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
WEBSITE HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài
 Công nghệ thông tin và truyền thông:
Từ những năm 90, thuật ngữ “công nghệ thông tin” (tiếng Anh là
Information Technology) xuất hiện và ngày càng trở nên thân thuộc trong thời
đại của nền kinh tế tri thức. Nó được hiểu là “ngành ứng dụng công nghệ
quản lý và xử lý thông tin”, là “ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy
tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin” [61].
Hiểu theo cách này, những người làm việc trong ngành sẽ được gọi là
“chuyên gia CNTT” (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh nghiệp
(Business Process Consultant). Trong hệ thống giáo dục phương Tây, CNTT
sớm được tích hợp vào chương trình học tập từ bậc phổ thông đến đại học và
đem lại hiệu quả rõ rệt. Vì vậy, người ta nhanh chóng nhận ra rằng việc ứng
dụng CNTT vào đổi mới phương pháp để nâng cao chất lượng giáo dục là cần
thiết, có thể áp dụng cho mọi môn học.
Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết
số 49/CP của Chính phủ, kí ngày 04/08/1993: “Công nghệ thông tin là tập
hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại
- chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức khai thác và sử
dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng
trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” [37].
13


Từ năm 2000, thế giới bắt đầu sử dụng thuật ngữ “công nghệ thông tin
và truyền thông” (Information and Commu nication Technology - ICT). Theo
đó, CNTT và truyền thông được hiểu là tập hợp các cách thức, kĩ thuật, công
cụ,… và phương pháp có thể áp dụng để nhập, lưu giữ, truy cập và truyền
thông tin cho nhau một cách có hiệu quả với sự trợ giúp của máy vi tính và
các phương tiện truyền thông.
 Internet và Website:
- Nguồn gốc đầu tiên của Internet xuất phát từ hệ thống máy tính của Bộ
quốc phòng Mĩ, gọi là mạng ARPAnet. Mạng này nêu cao triết lí truyền thông
bình đẳng (peer – to – peer), trong đó mỗi máy tính của hệ thống trong Bộ
quốc phòng nước này đều có khả năng “nói chuyện” với bất kì máy tính
thành viên nào khác. Bất kì máy tính nào dựa trên cơ sở thiết kế của ARPAnet
đều được mô tả như một tập hợp các trung tâm điện toán tự quản, mang tính
địa phương và tự điều hành. Chúng được liên kết dưới dạng “vô chính phủ
nhưng có điều tiết” [61].
Như vậy, Internet là một hệ thống gồm các mạng máy tính được liên kết
với nhau trên những phạm vi khác nhau (ở phạm vi hẹp là giữa các vùng
trong một lãnh thổ, rộng hơn là giữa các khu vực, châu lục và toàn cầu), tạo
điều kiện thuận lợi cho các dịch vụ truyền thông dữ liệu như đăng nhập từ xa,
truyền các tệp tin, thư tín điện tử và các nhóm thông tin. Mạng Internet ban
đầu được thiết kế nhằm cung cấp thông tin cho giới khoa học, nên công nghệ
của nó cho phép mọi hệ thống liên kết thông qua một cổng điện tử. Bất kì tổ
chức hay cá nhân nào muốn đều có thể tự lập ra các Website để cung cấp các
thông tin của mình, hoặc sử dụng địa chỉ Email để liên lạc, lấy thông tin. Đây
chính là lí do khiến Internet trở thành “kho thư viện điện tử” lớn nhất trong
lịch sử loài người chỉ sau hơn 10 năm phát triển [22; 21].
- Website là phương tiện chính để cung cấp thông tin trên mạng Internet
và là tổ hợp của các loại tài liệu (văn bản, âm thanh, phim ảnh,…) được đại
diện bởi một địa chỉ. Người sử dụng máy tính có kết nối mạng truyền thông
14


trên toàn cầu đều có thể đọc, tìm kiếm và lưu giữ được các loại tài liệu đó
thông qua địa chỉ này. Mỗi trang tài liệu trong website được gọi là một trang
Web (Web - pape). Mỗi Web - pape lại có thể gồm nhiều thông tin khác nhau
dưới dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh và các địa chỉ kết nối mới (hyper-link)
biểu hiện dưới hình bàn tay (khi người sử dụng di chuyển con chuột trên màn
hình). Nhờ có các địa chỉ kết nối này, người sử dụng có thể dễ dàng truy cập
đến các web khác.
Hiện nay, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và truyền thông, trên thế
giới đã có hàng tỉ Website, hỗ trợ rất nhiều cho GV và HS trong đổi mới phương
pháp dạy – học. GV coi đây là “thư viện điện tử” để khai thác, tìm kiếm nguồn
tài liệu về văn bản, hình ảnh, âm thanh hỗ trợ cho thiết kế “bài giảng điện tử”
của mình. Các Website nhiều GV tìm kiếm là video.google.com.vn;
google.com.vn; yahoo.com.vn; dayhoclichsu.net; edu.net.vn,…
 Thư viện điện tử:
Theo ý nghĩa truyền thống, thư viện là một kho sưu tập sách, báo và tạp
chí. Tuy nhiên, trong thời đại CNTT, trang giấy không còn là phương tiện duy
nhất để lưu giữ thông tin, xuất hiện thêm hàng loạt những phương tiện lưu trữ
khác: micrôphim (tiếng Anh: microfilm), băng cassette, CD, LP, băng video
và DVD,…thuật ngữ “thư viện điện tử” cũng theo đó mà ra đời.
Trong cuốn “Từ điển dành cho công tác thư viện và khoa học thông tin”
của Nhà xuất bản Libraries Unlimited (2005), tác giả Joan M.Reitz đã khẳng
định “thư viện điện tử chính là thư viện số”. Có nhiều định nghĩa về khái
niệm này, nhưng có thể hiểu:
Thứ nhất, theo Từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia: Thư viện điện tử
là thư viện mà ở đó các bộ sưu tập được lưu trữ dưới dạng số (tương phản với
các định dạng in, vi dạng, hoặc các phương tiện khác) và có thể truy cập bằng
máy tính. Nội dung số có thể được lưu trữ cục bộ hoặc truy cập từ xa qua
mạng máy tính. Thư viện này là một loại hệ thống truy hồi thông tin.

15


Thứ hai, theo Thư viện điện tử DELOS Digital Library Reference
Model: Thư viện điện tử là một tổ chức, có thể là một tổ chức ảo, tập hợp,
quản lý và bảo quản các ấn phẩm điện tử trong thời gian dài, và cho phép
cộng đồng người dùng có những quyền đặc biệt trên nội dung đó tùy theo các
quy định đặt ra.
Dù định nghĩa theo cách nào, chúng ta cũng thấy thư viện điện tử là một
thành tựu của việc ứng dụng công nghệ hiện đại phục vụ hiệu quả trong giáo
dục và đào tạo. Nó đáp ứng yêu cầu học tập “mọi lúc, mọi nơi” và nhanh
chóng. Tận dụng được những công nghệ đa truyền thông của máy tính, thư
viện điện tử không còn là những trang giấy chứa những kênh thông tin khô
khan, mà đa dạng hơn, sôi động hơn: những nội dung số – những kênh hình,
kênh chữ, kênh tiếng,… đã mang đến một phương pháp dạy – học mới. Khả
năng này sẽ giúp cho việc sử dụng thư viện điện tử hiệu quả hơn và lôi cuốn
người đọc nhiều hơn, phục vụ hiệu quả hơn trong công tác đổi mới phương
pháp giảng dạy bộ môn.
 Học liệu điện tử và Website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11”:
- Học liệu điện tử là nguồn học liệu mở được xây dựng bằng phần mềm
tin học. Thuật ngữ Học liệu điện tử mở (OpenCourseWare) được Viện Công
nghệ Massachusetts - MIT (Mỹ) khai sinh vào năm 2002 khi MIT quyết định
đưa toàn bộ nội dung giảng dạy của mình lên web và cho phép người dùng
Internet ở mọi nơi trên thế giới truy nhập hoàn toàn miễn phí, bao gồm bài
giảng, lịch học, danh mục tài liệu tham khảo, bài tập về nhà, bài thi, bài thí
nghiệm để người dùng có thể tham khảo cho việc giảng dạy, học tập và
nghiên cứu của mình.
Với tiêu chí “Tri thức là của chung của nhân loại và tri thức cần phải
được chia sẻ”, rất nhiều trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới đã
tham gia phong trào học liệu mở và lập Hiệp hội Học liệu mở
(OpenCourseWare Consortium) để chia sẻ nội dung, công cụ cũng như

16


phương thức triển khai học liệu mở sao cho đạt được hiệu quả cao nhất, tạo
điều kiện cho giảng viên, sinh viên và người tự học được chia sẻ.
Như vậy, học liệu điện tử môn Lịch sử chính là những tài liệu phục vụ
cho việc giảng dạy (của GV) và học tập (của HS), những người quan tâm về
lịch sử cũng có thể tìm hiểu. Nó bao gồm các bài viết lịch sử, kênh hình lịch
sử (lược đồ, tranh ảnh, video…), giáo án điện tử, khái niệm lịch sử, đề thi…
được xây dựng bằng phần mềm tin học. Học liệu điện tử môn Lịch sử sẽ hỗ
trợ cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học để nâng cao chất lượng bộ môn.
- Website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11” là một tổ hợp siêu liên
kết các trang web chứa các học liệu điện tử, phục vụ cho việc dạy – học môn
Lịch sử lớp 11 THPT. Mỗi trang web của học liệu điện tử sẽ chứa nhiều thông
tin liên quan đến từng bài học như lược đồ, tranh, ảnh, video, bài viết,…chúng
được gọi chung là học liệu phục vụ cho quá trình dạy học bộ môn.
Website “Học liệu điện tử môn Lịch sử lớp 11” được tác giả xây dựng
năm 2010, đã tham dự Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học và đạt giải
nhất cấp Trường.
 Giáo án điện tử và Bài giảng điện tử:
- “Giáo án” trong tiếng Anh là Lesson Plan (nghĩa là Kế hoạch giảng
dạy). Cần phải hiểu rằng, giáo án là “bản kế hoạch của một tiết lên lớp, trong
đó nêu rõ các bước chủ yếu trong công việc của thầy giáo và HS ở trên lớp,
đồng thời cũng nêu được một cách vắn tắt nội dung và phương pháp của công
việc đó nhằm đạt được mục đích cụ thể và rõ ràng mà thầy giáo xác định
trước theo yêu cầu của chương trình học”[30; 154]. “Giáo án điện tử” chính
là bản thiết kế của bài giảng điện tử, khi gọi xây dựng giáo án điện tử hay
thiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một loạt hoạt động cụ
thể để có được bài giảng điện tử”[7; 148]
- “Bài giảng điện tử” là một sản phẩm điện tử, được số hóa (giáo trình
điện tử, giáo án điện tử, hồ sơ dạy học, học liệu điện tử,…) được thiết kế, tổ
chức theo ý đồ, mục tiêu sư phạm nhất định. Sản phẩm này có thể dùng một
17


cách độc lập hoặc tích hợp với các bài giảng truyền thống hiện nay,nó là một
“quá trình” dạy học được điện tử hóa, số hóa. Quá trình dạy học “không
truyền thống” này cho phép người học, người dạy và nội dung tri thức tương
tác với nhau trong một môi trường số hóa (thường là mạng Internet, đĩa CDRom) ở mọi nơi, mọi lúc. “Bài giảng điện tử” về bản chất là “hình thức tổ
chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được
chương trình hóa do GV điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy
tính tạo ra” [7; 148].
- “Giáo án điện tử” và “bài giảng điện tử” là hai khâu của quá trình dạy
học ở trường phổ thông, đều có sự hỗ trợ của máy vi tính và các công cụ đa
phương tiện. Trong đó, để thực hiện một tiết dạy trên lớp với sự hỗ trợ của
CNTT, GV phải có sự chuẩn bị từ trước (ở nhà), phải thiết kế toàn bộ kế
hoạch hoạt động dạy học của mình trên các Slide trình chiếu (Slide show) của
máy vi tính, đó là “giáo án điện tử”. Khi tổ chức cho HS học tập trên lớp, GV
sử dụng bản kế hoạch ấy với toàn bộ hoạt động giảng dạy của mình đã được
chương trình hóa một cách uyển chuyển, linh hoạt và sinh động nhờ sự hỗ trợ
của các công cụ đa phương tiện cùng với năng lực tổ chức, nghiệp vụ sư
phạm vốn có, góp phần nâng cao hiệu quả bài học, đó là “bài giảng điện tử”.
Hai khái niệm này cần được phân biệt rõ ràng, tránh gây ngộ nhận cho nhiều
GV khi cho rằng “giáo án điện tử” chính là “bài giảng điện tử” có thể thay
thế hoàn toàn “giáo án truyền thống”, thậm chí thay cho phấn trắng – bảng
đen, các loại đồ dùng trực quan khác và cả vai trò của GV trong khâu tổ chức,
điều khiển hoạt động nhận thức của HS [22; 27 – 28].
1.1.2. Sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta về ứng dụng CNTT trong
giáo dục và đào tạo
Vấn đề đổi mới phương pháp để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo
có sự hỗ trợ của CNTT đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ rất sớm.
Nhiều Văn kiện được thông tại các kì Đại hội khóa VII (1991), VIII (1996),
18


IX (2001), X (2006) của Đảng Cộng sản Việt Nam; Nghị quyết của Bộ Chính
trị; các Chỉ thị, Công văn của Chính phủ và Bộ GD - ĐT,… đã thể hiện rõ
điều này. Chúng ta có thể chia ra làm ba giai đoạn:
* Giai đoạn trước năm 2000:
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) nêu: “Phát triển giáo dục và
khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu” [36; 97].
Nhằm thể chế hóa về mặt Nhà nước, ngày 4/8/1993, Chính phủ ban hành
Nghị quyết số 49/CP về “Phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong
những năm 90”. Đây được xem là văn bản pháp lí, chính thức để thực hiện
chiến lược ứng dụng CNTT và truyền thông thời kì công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước và “xã hội hóa” giáo dục. Để nền giáo dục, đào tạo của nước ta
được “đổi mới” cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước, Nghị quyết Trung
ương IV của Đảng (1993) tiếp tục yêu cầu “áp dụng những phương pháp giáo
dục hiện đại để bồi dưỡng học sinh năng lực thực hành tư duy sáng tạo, năng
lực tự giải quyết vấn đề” [10; 5].
Tại Đại hội lần thứ VIII (1996), Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng lại nhấn mạnh: Phương pháp giáo dục và đào tạo cần phải
áp dụng các phương tiện hiện đại vào quá trình đào tạo, phát triển mạnh
phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp.
Trước thực trạng chất lượng giáo dục, đào tạo của một số môn học có
biểu hiện chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước thời kì công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, Nghị quyết Trung ương II, khoá VIII của Đảng nêu rõ: phải
“đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều,… Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện
đại vào quá trình dạy học” [13; 41].
Như vậy, ở giai đoạn này, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng lộ trình và
bước đầu ứng dụng CNTT trong giáo dục, đào tạo vào thực tiễn. Tuy nhiên,
tính hiệu quả và phổ biến chưa cao do điểm xuất phát của nước ta còn thấp,
19


do sự nhận thức của đội ngũ GV và hạn chế về điều kiện cơ sở vật chất, trang
thiết bị dạy học. Song, những định hướng trên được xem như “khâu đột phá”
đối với nền giáo dục Việt Nam trước thiên niên kỉ mới.
* Giai đoạn 2000 - 2010:
Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được ở giai đoạn trước, Đảng và Nhà
nước ta quan tâm hơn nữa đến việc ứng dụng CNTT để nâng cao chất lượng
giáo dục, đào tạo, gắn liền với thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế,
xã hội giai đoạn 2000 – 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp.
Sự quan tâm ấy trước tiên thể hiện trong Chỉ thị 58 – CT/TW của Bộ
Chính trị (ngày 17/10/2000) về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2000 - 2005.
Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, Chỉ thị nêu rõ: “đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học,
ngành học…. Tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và
đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo” [4].
Cụ thể hóa cho Chỉ thị 58 – CT/TW, ngày 24/5/2001, Thủ tướng Chính
phủ ra Quyết định số 81/2001/QĐ – TT phê duyệt chương trình hành động
triển khai Chỉ thị 58 – CT/TW, vì CNTT chính là “phương tiện chủ lực để đi
tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước” [40; 7].
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), Báo cáo Chính trị của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) một lần nữa xác định: “tiếp tục
nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học,….
Từng bước xúc tiến việc nối mạng Internet ở trường học, tạo điều kiện học
tập, nghiên cứu trên mạng” [14; 108 – 112].
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 do Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt ngày 28/12/2001 đưa ra yêu cầu cho nền giáo dục Việt Nam lúc này
phải: “Hiện đại hóa trang thiết bị giảng dạy và học tập, phòng thí nghiệm, cơ
sở thực hành. Nhanh chóng áp dụng công nghệ thông tin vào giáo dục để đổi
mới phương pháp giáo dục và quản lí”. Tiếp đó, Chỉ thị số 40/CT/TW của
20


Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX yêu cầu mỗi GV phải tích cực hơn nữa
trong việc đổi mới phương pháp dạy học, đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào hoạt
động dạy – học.
Đặc biệt, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006)
xác định phải coi trọng hơn nữa việc ứng dụng CNTT gắn liền với các nhiệm
vụ, mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước: “Phát triển mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động
khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò
quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và phát triển kinh tế tri thức” [15; 210].
Những quan điểm, sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về ứng dụng
CNTT trong giáo dục, đào tạo giai đoạn trước năm 2000 và từ năm 2000 đến
năm 2010 nêu trên đã nhanh chóng được Ngành giáo dục triển khai ở các cấp.
Từ năm học 2001 – 2002, Bộ GD - ĐT liên tiếp gửi nhiều Chị thị, Công
văn, Báo cáo cho các Sở GD – ĐT, các trường đại học, cao đẳng sư phạm và
phổ thông yêu cầu đẩy mạnh phong trào ứng dụng CNTT vào đổi mới
phương pháp, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Ví như: Chỉ thị số
49/CT – BGDĐT về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học trong năm
2006 – 2007 yêu cầu chấm dứt tình trạng “đọc – chép”, sử dụng CNTT và
truyền thông trong quá trình; Công văn số 9584/BGDĐT – CNTT của Bộ
GD – ĐT gửi cho các Sở GD – ĐT, các trường đại học, cao đẳng sư phạm,
các khoa sư phạm hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2007 – 2008 về
CNTT và quyết định phát động năm học 2008 – 2009 là năm học “công
nghệ thông tin” [3; 1 – 8],…
Đặc biệt, với tầm nhìn chiến lược cho nền giáo dục Việt Nam đến năm
2020, ngày 28/12/2008, Bộ GD – ĐT đã đưa ra bản Dự thảo lần thứ 14 Chiến
lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009 – 2020 với mục tiêu “xây dựng một
nền giáo dục Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc”. Để thực hiện mục tiêu
này, bản dự thảo xác định 11 giải pháp quan trọng, trong đó có giải pháp số 5:
21


GV từ mầm non đến đại học đều phải “đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông
tin trong dạy và học. Đến năm 2015, có 80% giáo viên phổ thông, 100% giáo
viên, giảng viên các trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại
học sử dụng thành thạo công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học, .…
Đảm bảo đến năm 2020 có 100% giáo viên, giảng viên từ mầm non đến đại
học áp dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học mới” [2; 18].
* Năm 2011 – năm bản lề cho CNTT:
Những kết quả đạt được trong năm 2010 của ngành CNTT nói chung và
ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo nói riêng được đánh giá là cơ sở
quan trọng đầu tiên cho một chiến lược phát triển lâu dài. Trong đề án: “Đưa
Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin” đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt, có 6 mục tiêu được nhấn mạnh, trong đó, vấn đề
phát triển nguồn nhân lực được đặt lên hàng đầu [67]. Những nhiệm vụ đặt ra
trong năm công nghệ số 2011 là tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong đổi
mới phương pháp dạy học: triển khai áp dụng CNTT trong dạy và học, hỗ trợ
đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng CNTT ngay trong mỗi
môn học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi có điều kiện thiết bị tin
học; xây dựng nội dung thông tin số phục vụ giáo dục. Phát huy tính tích cực
tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng Internet của người học; tạo điều kiện để
người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp; xóa
bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do khoảng cách địa lý đem lại.
Khuyến khích GV, giảng viên soạn bài trình chiếu, bài giảng điện tử và giáo
án trên máy tính. Khuyến khích GV, giảng viên trao đổi kinh nghiệm giảng
dạy qua website của các cơ sở Giáo dục và Đào tạo và qua Diễn đàn giáo dục
trên website bộ. Triển khai mạnh mẽ công nghệ học điện tử (e-Learning). Tổ
chức cho GV, giảng viên soạn bài giảng điện tử e-Learning trực tuyến; tổ
chức các khóa học trên mạng, tăng tính mềm dẻo trong việc lựa chọn cơ hội
học tập cho người học…[67].

22


Như vậy, toàn bộ những Văn kiện, Nghị quyết, Nghị định, Chỉ thị, Công
văn, Báo cáo của Đảng, Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu trên được
coi như những cơ sở pháp lí, mang tính pháp lệnh, là quan điểm chỉ đạo
xuyên suốt của Đảng và Nhà nước về tính cấp thiết phải ứng dụng CNTT vào
phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đổi mới phương pháp, nâng cao chất
lượng giáo dục, đào tạo nói riêng trước xu thế phát triển và hội nhập của nền
kinh tế, giáo dục thế giới. Các văn bản nêu trên vừa thể hiện tính đúng đắn,
kịp thời của Đảng, Nhà nước trong tình hình mới, vừa góp phần thúc đẩy
phong trào ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy - học, góp phần
nâng cao chất lượng nền giáo dục Việt Nam [22; 44 – 45].
1.1.3. Xu thế ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo trên thế giới
Con người đang sinh sống trong biển cả thông tin, từng giây, từng phút
chúng ta đều tiếp xúc với tin tức một cách tự giác hoặc không tự giác. Và xã
hội càng phát triển thì cách thức con người tiếp xúc với tin tức càng thay đổi
theo hướng tích cực. Với những bước tiến như vũ bão từ thập kỉ cuối của thế
kỉ XX, công nghệ thông tin đã và đang tạo nên một diện mạo mới cho cuộc
sống con người, mở ra cho nhân loại một kỉ nguyên mới - kỉ nguyên công
nghệ thông tin. Có thể khẳng định công nghệ thông tin đang giữ một vai trò
quan trọng trong sự phát triển của loài người.
Máy vi tính từ khi ra đời (những năm 40 của thế kỉ XX) đến nay đã được
sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, trở
thành lực lượng trực tiếp sản xuất ra mọi của cải vật chất, trong đó có hoạt
động giáo dục. Những thành tựu của khoa học máy tính ứng dụng vào giáo
dục từ những năm 70 của thế kỉ XX (trước hết ở các nước tiên tiến như Mỹ,
Nhật Bản, Anh, Pháp,…), đã đáp ứng được yêu cầu, mục đích dạy học đặt ra.
Nền giáo dục Mỹ sớm đặt ra mục tiêu “chuyển từ xã hội công nghiệp
sang xã hội thông tin tri thức”, phải “xây dựng các trường đại học và các
khóa đào tạo trên mạng” [31; 46].
23


Ở châu Á, Nhật Bản là quốc gia đi đầu quan tâm đến phát triển khoa học
và công nghệ, vì đây là “một trong những chìa khóa thành công giúp Nhật
Bản tiếp tục đảm nhiệm vị trí siêu cường về kinh tế, kĩ thuật khi bước vào thế
kỉ XXI”[43; 48]. Nền giáo dục Trung Quốc cũng xác định: Giáo viên ứng
dụng CNTT là một tiêu chí quan trọng để đánh giá tiết học đó có sự đổi mới
về PPDH [60].
Riêng về giáo dục lịch sử, Nghị viện châu Âu thông qua bản “Khuyến
nghị số 1283”(22/1/1996), khẳng định sự cần thiết phải sử dụng CNTT vào
dạy học lịch sử và bồi dưỡng nghiệp vụ, kĩ năng ứng dụng công nghệ cao cho
GV [26; 65 – 66]. Ở Anh, chương trình quốc gia về giáo dục môn Lịch sử ở
trường phổ thông đã nhấn mạnh: “HS nên được tạo cơ hội để phát triển và
vận dụng năng lực CNTT của mình vào học tập lịch sử” [9; 4].
Sang thế kỉ XXI, khoa học máy tính và những ứng dụng của nó càng tác
động mạnh mẽ tới nền giáo dục thế giới, quá trình “quốc tế hóa” về giáo dục
cũng vậy. Đứng trước bối cảnh trên, nhiều hội thảo, hội nghị quốc tế về
CNTT được tổ chức, như:
- Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục các nước thành viên APEC lần thứ hai
(7/4/2000) xác định nhiệm vụ chiến lược “CNTT mang đến sự đổi mới về cách
học cho mọi cấp học…,CNTT trong giáo dục là giải pháp chiến lược đáp ứng
nhu cầu của nền kinh tế tri thức” [56; 3] và hiện thực hóa nhiệm vụ này bằng
cách “tiếp cận và khai thác tiềm năng của CNTT và truyền thông để nâng cao
chất lượng học tập và giảng dạy, khuyến khích học tập suốt đời” [56; 6].
- Hội nghị quốc tế về thiết kế và sử dụng giáo án điện tử trong giáo dục phổ
thông ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tổ chức tại Brunây (2003 – 2004).
- Hội nghị quốc tế về môi trường dạy học đa phương tiện, tổ chức tại
Italia (2005).
- Hội nghị quốc tế về phát triển thiết bị dạy học và giáo án điện tử, tổ
chức ở Philíppin (2005).

24


- Hội nghị cấp cao lần thứ 11 của Cộng đồng các nước sử dụng tiếp Pháp
tổ chức tại Rumani (9/2006) với chủ đề “CNTT trong giáo dục”. Trong bài
phát biểu diễn văn khai mạc của Thủ tường Rumani đã khẳng định: “ứng dụng
CNTT trong giáo dục là xu thế tất yếu, bới ngày nay CNTT đã đi vào mọi mặt
của đời sống xã hội và sẽ còn phát triển hơn nữa trong tương lai” [63].
Đặc biệt, vấn đề đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo với sự hỗ trợ
của CNTT đã trở thành chủ đề lớn của tổ chức UNESCO. Ngay từ năm 1988,
UNESCO đã tổ chức Hội nghị quốc tế “Tầm nhìn và hành động” (tại Pháp)
bàn về những ứng dụng và tác động của CNTT và truyền thông trong giáo dục
[44; 1] và đưa ra dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản
vào đầu thế kỉ XXI do ảnh hưởng của CNTT” [38; 24]. Mới đây, trong Báo
cáo về “Tình hình ứng dụng CNTT và truyền thông của hệ thống giáo dục
một số nước châu Á, châu Úc”, UNESCO đã phân chia thành 3 nhóm nước
và đưa ra những giải pháp chiến lược về ứng dụng CNTT và truyền thông ở
mỗi nhóm nước này.
Việc đưa CNTT và truyền thông vào trường học đã được tiến hành và
thu được những kết quả hết sức khả quan. Nếu năm năm 1993, nước Mỹ chỉ
có khoảng 3% lớp học được nối mạng Internet, thì đến năm 2001 đã có trên
90% trường học có máy nối mạng [22; 32]. Ở Anh, Tin học trở thành một
môn học bắt buộc, số lượng máy vi tính trên đầu HS giữa các vùng miền từ
1/2 đền 1/20 [9; 4],… Những nước ở Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc,
Inđônêxia…) cũng đang đầu tư cơ sở vật chất về CNTT như áp dụng khóa
học trực tuyến, xây dựng thư viện điện tử, cung cấp máy tính xách tay giá rẻ
cho HS,… góp phần đổi mới PPDH ở nhà trường.
Trong những năm qua, nhiều trường đại học trên thế giới đã bước đầu
xây dựng nền tảng cho đại học số hoá. Một số trường đại học đã triển khai
thành công mô hình này như Ukeu (Đại học số hoá của Anh),
CyberUniversity (Đại học số hoá của Hàn Quốc), Đại học USQ (Queensland,
Úc), Đại học MIT (Mỹ)… [62]. Theo thống kê của CyberUniversity, khoảng
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×