Tải bản đầy đủ

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NGỌC HẠNH

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN
QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NGỌC HẠNH

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN

QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 838.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐINH NGỌC VƯỢNG

HÀ NỘI, năm 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, luận văn "Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ
sở từ thực tiễn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng" là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Đinh
Ngọc Vượng. Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực. Kết quả
nghiên cứu của luận văn không trùng với các công trình khác.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM .............. 10
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hệ thống chính trị cơ sở ở Việt
Nam ................................................................................................................. 10
1.2. Hệ thống chính trị ở cơ sở ........................................................................ 14
1.3. Tổ chức và hoạt động hệ thống chính trị ở Việt Nam .............................. 18
1.4. Những yếu tố tác động đến quá trình tổ chức và hoạt động của hệ
thống chính trị cơ sở ở quận Hải Châu ........................................................... 23
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ
THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG ............................................................................................................. 26
2.1. Khái quát về quận Hải châu, thành phố Đà Nẵng .................................... 26
2.2. Thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị tại quận Hải
Châu................................................................................................................. 28
2.3. Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị tại
quận Hải Châu ................................................................................................. 36


CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ
SỞ TỪ THỰC TIỄN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ..... 41
3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở
quận Hải Châu ................................................................................................. 41
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị
quận Hải Châu ................................................................................................. 42
KẾT LUẬN .................................................................................................... 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt

Viết đầy đủ

BTV

Ban Thường vụ

CBCNVC

Cán bộ công nhân viên chức

CBCNVC

Can bộ công nhân viên chức

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

CTQG

Chính trị Quốc gia

ĐTN

Đoàn thanh niên

HCCB

Hội Cựu chiến binh

HĐND

Hội đồng nhân dân

HLHPN

Hội Liên hiệp phụ nữ

HTCT

Hệ thống chính trị

NXB

Nhà xuất bản

QCDC

Quy chế dân chủ

TB&XH

Thương binh và Xã hội

TU

Thành ủy

UBMT

Ủy ban Mặt trận

UBMTTQVN

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

UBND

Ủy ban nhân dân

XDCB

Xây dựng cơ bản

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng
2.1.

Diện tích, dân số và mật độ dân số quận Hải Châu năm
2019

Trang

26


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khái niệm “hệ thống chính trị” lần đầu tiên xuất hiện trong các văn bản
chính thức của Đảng ta từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VI. Cho
đến nay, khái niệm hệ thống chính trị được sử dụng khá phổ biến trong các
văn bản chính thức của Đảng, Nhà nước, các công trình nghiên cứu và các
diễn đàn khoa học.
Hệ thống chính trị của nước ta gồm các yếu tố về mặt tổ chức là: Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội (bao gồm Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến
binh Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam).
Toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam, từ Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội đều được tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện
hệ thống chính trị và toàn xã hội; nguyên tắc dựa vào nhân dân, giữ vững mối
quan hệ mật thiết với nhân dân; nguyên tắc đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy lợi
ích dân tộc làm điểm tương đồng và nguyên tắc nhân dân là chủ xã hội và đất
nước. Quyền lực nhà nước là quyền lực của nhân dân. Tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986, trong khi đổi mới trên lĩnh vực
kinh tế được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thì Đảng cũng xác định phải
đồng thời từng bước thực hiện đổi mới hệ thống chính trị. Tiếp tục xây dựng
và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính trị nói chung, hệ thống chính trị cơ
sở nói riêng là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa, là điều kiện tất yếu đảm bảo thành công của sự nghiệp Công
nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước. Do đó, tại Hội nghị Trung ương 5 khóa
1


IX của Đảng năm 2002, Ban Chấp hành TW Đảng đã ban hành nghị quyết về
"Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị
trấn". Và cũng tại Hội nghị Trung ương 7 khóa XI của Đảng năm 2013 đã ban
hành Kết luận số 64 ngày 28/5/2013 về "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới,
hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở" nhằm hoàn thiện và
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động hệ thống chính trị.
Hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn (gọi tắt là cấp xã) được xác định
là cấp cuối cùng trong phân cấp hành chính ở nước ta hiện nay, là nơi tuyệt
đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống, nơi diễn ra mọi hoạt động của đời
sống xã hội.
Hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nước ta bao gồm: Đảng, chính quyền, Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội hoạt động trên địa bàn
cấp xã, có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện, đồng
thời vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc; đồng thời tổ chức hoạt động và huy động mọi khả năng tại cộng đồng
dân cư để phát triển kinh tế - xã hội.
Sau hơn 30 năm công cuộc đổi mới ở nước ta, dưới sự lãnh đạo sáng
suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, hệ thống chính trị các cấp nói chung và hệ
thống chính trị cấp cơ sở đã được nâng lên, năng lực và hiệu quả hoạt động có
nhiều chuyển biến. Bộ máy Nhà nước tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện
theo hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
Hiện nay, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận đang được
đổi mới cả về tổ chức cũng như phương thức hoạt động. 30 công cuộc Đổi
mới ở nước ta chứng minh rằng, đổi mới hệ thống chính trị - một đòi hỏi
khách quan, một chủ trương đúng đắn của Đảng ta. Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 5 BCH Trung ương Đảng (khóa IX) “Về đổi mới và nâng cao chất lượng
hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn”; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7
2


BCH Trung ương Đảng (khóa XI) về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn
thiện hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở”; Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 4 BCH Trung Đảng (khóa X) “Về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các
cơ quan đảng, định hướng về đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội”; điều này cho thấy rằng sự quyết tâm
của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị các cấp, trong đó có hệ thống chính trị
cấp cơ sở.
Với sự năng động, sáng tạo trong hoạt động, dám nghĩ, dám làm hệ
thống chính trị cơ sở của quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã đạt được
nhiều kết quả trên tất cả các lĩnh vực; quyền làm chủ của nhân dân ngày càng
được phát huy; tạo sự đồng thuận xã hội. Đội ngũ cán bộ ở quận Hải Châu
được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, về tư tưởng, chính trị,
đạo đức, lối sống. Đảng bộ quận Hải Châu trong nhiều năm liền được Thành
ủy Đà Nẵng công nhận danh hiệu Đảng bộ trong sạch vững mạnh. Tuy vậy,
cũng cần phải thấy rằng, hệ thống chính trị cơ sở ở quận Hải Châu vẫn còn
nhiều hạn chế cần phải khắc phục. Cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
cơ chế phối hợp hoạt động giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị cở sở ở
một số phường trong quận, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên chưa
thực sự phát huy vai trò của mình, quyền làm chủ của người dân chưa được
phát huy, có nơi nội bộ mất đoàn kết. Chính vì vậy quận Hải Châu phải khắc
phục những yếu kém, phát huy những mặt tích cực, nâng cao chất lượng, hiệu
quả tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở.
Vì vậy, tôi chọn đề tài "Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ
sở từ thực tiễn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng" làm đề tài luận văn thạc
sĩ chuyên ngành Luật hiến pháp và Luật hành chính của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
 Các nghiên cứu về hệ thống chính trị cơ sở (các nghiên cứu gần với đề tài)
Các công trình nghiên cứu có phạm vi nghiên cứu gần với đề tài có thể
3


kể đến như: Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn ngoại
thành Hà Nội (cấp cơ sở) trong giai đoạn hiện nay, TS. Lưu Minh Trị, năm
1993; Đổi mới kiện toàn hệ thống chính trị cấp cơ sở nông thôn (thông qua
khảo sát thực tế của tỉnh Tuyên Quang), Đặng Thị Hiền, Luận văn thạc sĩ
khoa học chuyên ngành Triết học, 1993; Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân
chủ hoá đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh
miền núi phía Bắc nước ta, TS. Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu
hướng và giải pháp, TS. Võ Hoàng Công, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội, 2002; Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ
sở xã, phường, thị trấn, Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung
ương khoá IX, Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội; Hệ thống chính trị cơ sở - Thực trạng và một số giải pháp đổi
mới, TS. Chu Văn Thành (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2004; GS, TS. Hoàng Chí Bảo (chủ biên): Hệ thống chính trị ở cơ sở
nông thôn nước ta hiện nay (sách tham khảo).
Các nghiên cứu nêu trên cũng chỉ ra những vấn đề thực trạng và những
hạn chế cần khắc phục đối với hệ thống chính trị cơ sở nói chung và hệ thống
chính trị cơ sở trên một số địa bàn cụ thể nói riêng. Ngoài ra, các nghiên cứu
cũng chỉ ra những cấu thành của hệ thống chính trị cơ sở, vị trí, vai trò của
từng cấu thành và đánh giá các kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế đưa
ra các giải pháp đổi mới đối với từng cấu thành trong hệ thống chính trị cơ sở.
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cá biệt còn chỉ ra được những khác biệt về
các điều kiện địa phương, môi trường… Từ đó đưa cho chúng ta những cái
nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về vị trí, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong
các điều kiện xã hội nhất định.
Đối với các kết quả nghiên cứu về hệ thống chính trị cơ sở cũng giúp cho
tác giả có được những nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của hệ thống
4


chính trị cơ sở đối với hệ thống chính trị nói chung và đối với xã hội nói riêng.
Các nghiên cứu chung về hệ thống chính trị
Các công trình này có thể kể đến như: Suy nghĩ về hệ thống chính trị - xã
hội ở Việt Nam hiện nay của TS. Trần Thái Dương, Tạp chí Lý luận chính trị
và Truyền thông, 2013; Tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị nhằm phát huy
hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân lao động, GS.TS. Phạm Ngọc Quang,
Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 2, 2006; Đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị
ở Việt Nam hiện nay, PGS.TS. Nguyễn Trọng Phúc, Tạp chí Triết học, số 3
năm 1996; Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn
mới của tập thể tác giả: GS. Nguyễn Đức Bình, GS, TS. Trần Ngọc Hiên, GS.
Đoàn Trọng Tuyến, Nguyễn Văn Thảo: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1999.
Giá trị của các công trình nghiên cứu trên đã đạt được những kết quả
chủ yếu như sau: Thứ nhất, các nghiên cứu này chỉ ra các cách tiếp cận khác
nhau từ đó đưa ra các khái niệm khác nhau về hệ thống chính trị. Về nhận
diện chung các nghiên cứu này là khá đầy đủ và toàn diện trong các lý
thuyết về hệ thống chính trị; Thứ hai, thông qua việc phân tích cấu trúc, đặc
điểm, các nhân tố của hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị Việt
Nam nói riêng. Các tác giả đã tiếp thu có chọn lọc những giá trị hợp lý trong
việc tổ chức và hoạt động của các mô hình hệ thống chính trị trên thế giới
đưa ra các kiến nghị về việc xây dựng, đổi mới hệ thống chính trị nước ta
hoạt động có hiệu quả hơn nhưng vẫn giữ được những nét đặc thù Việt Nam;
Thứ ba, từ việc tiếp cận nghiên cứu hệ thống chính trị nước ta ở phương diện
khảo sát thực tiễn và nghiên cứu lý luận, các nhà khoa học đã chỉ ra những
tích cực và những hạn chế, bất cập này cùng những nguyên nhân của nó.
Nhiều công trình đã đi tìm những bức xúc nổi cộm của hệ thống chính trị
Việt Nam hiện nay.

5


Những vấn đề mà đề tài cần phải tiến hành nghiên cứu
Như đã trình bày, những nghiên cứu lý luận trước đây về hệ thống chính
trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng mặc dù đã được các tác giả
dày công nghiên cứu nhưng vẫn có những ý kiến khác nhau. Có những các
tiếp cận hệ thống chính trị từ phương diện thực tiễn, có các tiếp cận từ
phương diện lý luận hoặc từ các mô hình. Do đó, mỗi các tiếp cận khác nhau
đều mang đến những điểm khác nhau. Vì vậy muốn đề tài đạt được kết quả
mong muốn tác giả hi vọng sẽ mang nhiều tiếng nói từ thực tiễn để có thể lý
giải những vấn đề cần được làm rõ hiện nay.
Trong các nghiên cứu đã đề cập trên, hầu hết các nghiên cứu đã giải
quyết được những vấn đề mang tính lịch sử của nó đó là: Các nghiên cứu đó
đáp ứng được những đòi hỏi thực tiễn ở giai đoạn đó nhưng hiện nay khi mà
chúng ta đang có những nhiệm vụ chính trị của Đại hội XII thì mục tiêu cũng
như các yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ
sở nói riêng là khác nhau. Do đó, trong bối cảnh hiện nay, việc đổi mới hệ
thống chính trị cần đáp ứng những điều kiện mới đó cũng là vấn đề mà đề tài
phải quan tâm nghiên cứu.
Sự phát triển của khoa học công nghệ hiện nay trong điều kiện một xã
hội mở cửa, hội nhập, nhiều giá trị mới cũng như nhiều công nghệ mới được
áp dụng, vận hành. Do đó, cách thức tiếp cận của hệ thống chính trị cơ sở
đối với những vấn đề thực tiễn cũng cần phải được nghiên cứu một cách
toàn diện hơn.
Việc nghiên cứu hệ thống chính trị ở cơ sở trên địa bàn quận Hải Châu,
thành phố Đà Nẵng là một nghiên cứu đặc thù. Chính vì vậy, đây cũng là vấn
đề để Luận văn tập trung khai thác và đưa ra những kiến nghị khoa học trong
nghiên cứu của mình.
Trên đây là những vấn đề mà đề tài cần tiếp tục nghiên cứu. Trong quá
trình nghiên cứu đề tài, tác giả thấy rằng, tất cả những công trình nghiên cứu
6


trước đây thực sự là những tư liệu quý giá đối với tác giả để tiếp cận và kế
thừa có chọn lọc chúng trong quá trình nghiên cứu luận văn và nó có tính
quyết định để tác giả hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn cơ sở lý thuyết phù hợp về hệ thống chính trị cơ sở sẽ là
căn cứ quan trọng để tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài. Đồng thời đây là
cơ sở quan trọng để luận giải sự phù hợp, hạn chế trong tổ chức và hoạt
động của hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay Kết quả nghiên cứu,
đánh giá thực trạng về hệ thống chính trị cơ sở ở quận Hải Châu, đưa ra
trong Chương 3 những giải pháp chính góp phần nâng cao hiệu quả tổ
chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở quận Hải Châu, thành phố
Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ thống chính trị nói
chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng.
- Phân tích, đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động của hệ thống
chính trị cơ sở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động
của hệ thống chính trị cơ sở ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Luận văn có đối tượng nghiên cứu
là những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của hệ thống
chính trị cơ sở nói chung và hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn quận Hải
Châu, thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống chính
7


trị cơ sở từ thực tiễn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng từ năm 2015 đến
năm 2020.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về dân chủ xã hội chủ nghĩa và về Nhà nước pháp quyền XHCN của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên các phương pháp trong nghiên cứu
khóa học như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại… kết hợp
lý luận và thực tiễn để giải quyết vấn đề đặt ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ thêm một số nhận thức chung về hệ thống
chính trị nước ta nói chung và đặc biệt là tổ chức và hoạt động của hệ thống
chính trị cơ sở nói riêng căn cứ vào thực tiễn hoạt động của hệ thống chính trị
cơ sở trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở các luận cứ khoa học và các khảo sát thực tiễn để xác định
những vấn đề bất cập và tồn tại đang đặt ra đối với hệ thống chính trị ở cơ sở
trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Từ đó, luận văn đưa những
kiến nghị trong đổi mới về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ
sở ở nước ta hiện nay, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tổ
chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở quận Hải Châu.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các nội dung: Lời cam đoan, phần mở đầu, kết luận danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận văn có 3 chương:
8


Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của hệ thống
chính trị cơ sở ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị quận
Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của hệ thống chính trị cơ sở từ thực tiễn quận Hải Châu, thành phố Đà
Nẵng

9


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hệ thống chính trị cơ sở ở
Việt Nam
1.1.1. Khái niệm hệ thống chính trị
Người ta nói đến hệ thống chính trị khi nói đến nhà nước, cho nên hệ
thống chính trị mang tính giai cấp. Nhà nước và thiết chế chính trị liên kết với
nhau thành một hệ thống, tác động đến đời sống chính trị - xã hội, để củng cố,
duy trì và phát triển chế độ, phục vụ lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền.
Giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động ở Việt Nam là chủ
thể của quyền lực nhà nước. Do đó, hệ thống chính trị Việt Nam là công cụ
thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự
lãnh đạo tài tình, sáng suất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khái niệm "Hệ
thống chính trị" theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lenin, là sản phẩm của
quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp, là sản phẩm của một giai đoạn lịch sử
nhất định. C. Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu khái niệm hệ thống chính trị
như một chế độ chính trị với tính cách là một chỉnh thể, một hệ thống, như cơ
cấu chính trị của xã hội, Chế độ chính trị của nhà nước.
Phát triển tư tưởng về dân chủ và hệ thống chính trị của C.Mác, V.I.
Lenin đã đưa ra khái niệm hệ thống chính trị ở nước Nga Xô viết trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với khái niệm "chuyên chính vô sản" (Khái
niệm này vẫn được dùng ở nước ta cho đến Hiến pháp năm 1980). Hệ thống
chuyên chính vô sản theo quan niệm của Lenin bao gồm: Nhà nước của giai
cấp công nhân, Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo
đối với nhà nước và các tổ chức quần chúng, trong đó tổ chức công đoàn đóng

10


vai trò quan trọng.
Ở phương Tây, về cơ bản có 2 cách tiếp cận đối với hệ thống chính trị.
Một là, tiếp cận về thể chế: được xem hệ thống chính trị là tập hợp các thể chế
chính trị bao gồm các tổ chức nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và
những mối quan hệ của chúng. Hai là, tiếp cận về hệ thống: được xem hệ
thống chính trị không chỉ bao gồm cấu trúc thể chế và các quan hệ giữa
chúng, mà còn là những hành vi chính trị, vai trò chính trị, chuẩn mực chính
trị. Từ hai cách tiếp cận cơ bản này phát triển nên một số quan điểm khác
nhau về hệ thống chính trị như: Nhà chính trị học Mỹ D.Istons, trong tác
phẩm Hệ thống chính trị (1953), Giới hạn sự phân tích chính trị (1965) cho
rằng: "Hệ thống chính trị giống như một bộ máy tự phát triển, tự điều tiết và
phản ứng với những tác động từ bên ngoài. Hệ thống đó có đầu vào và đầu ra.
Đầu vào đó là nơi tiếp nhận những tác động, yêu cầu, ủng hộ... của môi
trường xã hội và văn hóa xã hội quanh nó. Còn đầu ra là những quyết định
chính trị và hành động chính trị để thực hiện các quyết định đó" [43, tr.3334]. Cách tiếp cận khác của nhà chính trị học Mỹ G. Một số cách tiếp cận
khác cho rằng: "Hệ thống chính trị là cơ chế để thực hiện và giải quyết các
vấn đề, đồng thời để hoạch định và kiểm soát sự thực hiện các quyết định
cũng như kiểm soát các quan hệ quản lý của Nhà nước" [43, tr.35]. Đến đầu
những năm 80, khái niệm hệ thống chính trị được khẳng định trong các tài
liệu triết học, chính trị học của Liên Xô.
Ở nước ta, nhìn chung, cách tiếp cận khái niệm hệ thống chính trị là mô
tả các yếu tố thực thể cơ bản cấu thành và phản ánh chức năng tổng quát của
hệ thống chính trị. Từ quan điểm đó, có thể đưa ra định nghĩa về hệ thống
chính trị như sau: "Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế
của chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức
và các phong trào chính trị...) được xây dựng trên các quyền và chuẩn mực xã
hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những
11


nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị" [55,
tr.262]. Như vậy, có thể thấy, hệ thống chính trị là một hệ thống cấu trúc, một
chỉnh thể bao gồm các bộ phận cấu thành, có quan hệ mật thiết với nhau, có
vai trò, vị trí, chức năng khác nhau. Hệ thống chính trị đó được thể hiện ở các
cấp khác nhau: trung ương, địa phương, cơ sở. Cấu trúc hệ thống chính trị rất
đa dạng, tùy theo mỗi quốc gia, hệ thống chính trị có đặc thù khác nhau
nhưng về cơ bản có 3 bộ phận: Đảng chính trị, Nhà nước, các tổ chức chính
trị - xã hội nhân dân. Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về hệ thống
chính trị, có thể lấy một số quan điểm tiêu biểu như sau: Thứ nhất, Hệ thống
chính trị là tổng thể các tổ chức chính trị của xã hội được chính thức thừa
nhận về mặt pháp lý nhằm thực hiện quyền lực chính trị của xã hội đó. Hệ
thống này bao gồm nhà nước, các chính đảng, các nghiệp đoàn và các tổ chức
chính trị khác, trong đó nhà nước đóng vai trò là yếu tố cơ bản và trung tâm.
Thứ hai, Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp
thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội. Thứ ba, Hệ thống chính
trị được cơ cấu, tổ chức gồm đảng phái chính trị, nhà nước, các tổ chức chính
trị - xã hội hợp pháp và hoạt động theo pháp luật hiện hành nhằm bảo vệ, duy
trì và phát triển xã hội đó…
Hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - thể
hiện bản chất, các đặc điểm, quy luật hình thành và phát triển của chế độ
chính trị mới, của chủ nghĩa xã hội. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa hệ thống
chính trị được tổ chức và hoạt động với tư cách là một hệ thống thống nhất
của các thiết chế và quan hệ chính trị.
Ở nước ta, hệ thống chính trị mới ra đời sau cách mạng tháng Tám cùng
với sự hình thành Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Cùng
với việc xây dựng và phát triển của chế độ xã hội mới, hệ thống chính trị của
nước ta ngày càng phát triển và hiện nay là hệ thống chính trị xã hội chủ
nghĩa. Mục tiêu tổng quát của hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội
12


chủ nghĩa Việt Nam là xây dựng một xã hội phồn vinh, dân chủ, nhân đạo,
công bằng không áp bức bóc lột.
Ở nước ta, hệ thống chính trị về cơ cấu, tổ chức bao gồm: Đảng cộng sản
Việt Nam, Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội: Đoàn Thanh niên cộng
sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt
Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam và các tổ
chức xã hội hợp pháp khác.
Hệ thống chính trị nước ta có một số đặc điểm cơ bản sau: 1) Hệ thống
chính trị nước ta được tổ chức và hoạt động rất chặt chẽ, có tính thống nhất
cao trên cơ sở phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi bộ phận hợp thành
hệ thống chính trị; 2) Hệ thống chính trị nước ta có mục tiêu hoạt động tương
đối thống nhất có sự thống nhất về lợi ích lâu dài, hệ thống chính trị nước ta
được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tối cao là tất cả quyền lực thuộc
về nhân dân; 3) Hệ thống chính trị nước ta có tính dân chủ cao; 4) Trong xã
hội ta quần chúng lao động có tính tích cực chính trị cao.
1.1.2. Các thiết chế của hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị là một chính thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao
gồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội hợp pháp
được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động của đời
sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với
lợi ích của chủ thể giai cấp cầm quyền.
Hệ thống chính trị Việt Nam đi theo nguyên mẫu nhà nước xã hội chủ
nghĩa đơn đảng, giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm chủ thể chân
chính của quyền lực.
Hệ thống chính trị bao gồm 3 yếu tố chính:
• Đảng Cộng sản Việt Nam, còn được gọi là Đảng chính trị, là lực lượng
chủ yếu quyết định đường lối đối nội, đối ngoại của đất nước.
13


• Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
• Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận; đây
là những tổ chức chính trị - xã hội để hỗ trợ và hậu thuẫn cho sự lãnh đạo của
Đảng và quản lý của Nhà nước.
1.2. Hệ thống chính trị ở cơ sở
1.2.1. Khái niệm hệ thống chính trị ở cơ sở
Trong khoa học chính trị - pháp lý ở Việt Nam, cấp cơ sở là chỉ cấp xã cấp thấp nhất trong hệ thống hành chính 4 cấp.
Hệ thống chính trị ở cơ sở - theo tinh thần Văn kiện Hội nghị lần thứ V
Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, là hệ thống chính trị ở cấp xã (xã,
phường, thị trấn).
Cơ sở là khái niệm dùng để chỉ một cấp quản lý cấp thấp nhất trong hệ
thống bốn cấp hành chính hiện hành ở nước ta (xã, phường, thị trấn)
Đây là nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội gần dân nhất, là
nơi vừa diễn ra các hoạt động sản xuất, kinh doanh của cư dân, là đầu mối của
thị trường, hình thành các quan hệ kinh tế trong mối quan hệ giữa sản xuất và
tiêu dùng. Ở cấp cơ sở, vai trò của Đảng giữ vị trí hạt nhân lãnh đạo chính
quyền, đoàn thể và nhân dân hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội,
đảm bảo quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã
hội và tổ chức cuộc sống của nhân dân.
Hiện có cách tiếp cận khác nhau về hệ thống chính trị cơ sở.
Một là, hệ thống chính trị cơ sở được xem như một hệ thống về mặt tổ chức
gồm các bộ phận cấu thành: các tổ chức Đảng bộ cơ sở, Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân (gọi chung là chính quyền), Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân (Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh và Hội Nông dân)
ở xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã). Đảng bộ cơ sở, cụ thể là Ban Chấp
hành Đảng bộ xã, phường, thị trấn là hạt nhân chính trị, thực hiện vai trò lãnh
đạo bằng việc đề ra các chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết định hướng
14


cho chính quyền địa phương triển khai các hoạt động quản lý, điều hành trên
phạm vi địa bàn; bằng hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban Nhân dân và
các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở.
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tuyên truyền, vận động
nhân dân chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước; tham gia giám sát và phản biện xã hội, làm tốt vai trò
cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; tăng cường khối đại đoàn kết toàn
dân tộc và thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở.
Bên cạnh đó, cấp cơ sở hiện nay còn có nhiều tổ chức do nhân dân tự
nguyện thành lập, đáp ứng nhu cầu giao tiếp, kết nối cộng đồng, cùng tổ chức
đời sống của dân cư, tạo sự đồng thuận trong xã hội, đoàn kết trong nội bộ
dân cư địa phương.
Củng cố, nâng cao vai trò của hệ thống chính trị cơ sở cũng có nghĩa là
phải củng cố từng tổ chức này, cũng như mối quan hệ giữa các tổ chức trong
hệ thống, trên cơ sở tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả
trong quản lý điều hành của chính quyền, không ngừng phát huy quyền làm
chủ của nhân dân
Hai là, nói về hệ thống chính trị cơ sở không chỉ nói về mặt tổ chức, mà
còn bao gồm cả các yếu tố, điều kiện đảm bảo cho các bộ phận của hệ thống
đó vận hành thông suốt. Ở đây, hệ thống chính trị cơ sở được hiểu theo bản
chất của dân chủ ở cơ sở. Ở phương diện này đòi hỏi phải nghiên cứu về
quyền dân chủ trong bầu cử, hoạt động chất vấn đại biểu Hội đồng nhân dân
theo phương châm "Dân biết, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra". Các tổ chức
chính quyền địa phương như Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân
dân; tổ chức Đảng, Mặt trận và các đoàn thể phải phát huy quyền dân chủ của
nhân dân. Có như vậy mới tạo ra động lực thực sự thúc đẩy sự phát triển của
cơ sở.

15


 Đặc điểm của hệ thống chính trị cơ sở
Là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, do vậy hệ thống chính trị cơ sở cũng mang những đặc điểm chung của
toàn bộ hệ thống đó là:
- Được tổ chức chặt chẽ, có sự phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm
quyền của mỗi tổ chức và cơ chế chính trị có cùng chung mục tiêu cao nhất là
bảo đảm quyền lực chính trị thuộc về Nhân dân.
- Đảng Cộng sản là lực lượng duy nhất thực hiện chức năng lãnh đạo đối
với toàn bộ hệ thống.
Ngoài những đặc điểm chung nêu trên, hệ thống chính trị cơ sở còn có
những đặc điểm riêng xét trên hai khía cạnh: khía cạnh địa vị pháp lý và thực
tế. Đó là những đặc điểm sau:
- Là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị của nước ta hiện nay, gần với
cộng đồng dân cư - là nơi tuyệt bộ phận Nhân dân cư trú, sinh sống - do vậy
tổ chức và hoạt động mang tính tự quản cao. Hệ thống chính trị cơ sở có
nhiệm vụ rất quan trọng trong việc phát huy đại đoàn kết toàn dân, phát huy
quyền làm chủ của dân ở cơ sở.
- Cấp chính quyền cơ sở có bộ máy tổ chức tương đối đơn giản, đội ngũ
cán bộ thường xuyên biến động. Các cán bộ làm việc trong bộ máy chính
quyền cơ sở, nhất là chính quyền cấp xã thì hầu như dân biết rõ. Thực ra đội
ngũ này không có tính chuyên nghiệp và dân chúng giám sát họ rất sát sao,
nhất cử nhất động hông qua được tai mắt của nhân dân.
 Vị trí, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở
Tính đến ngày 8 tháng 2 năm 2018, Việt Nam có 11.162 đơn vị hành
chính cấp xã, bao gồm 1.589 phường, 606 thị trấn và 8967 xã, trong đó có
336 xã thuộc các thành phố trực thuộc tỉnh, 290 xã thuộc các thị xã và 8341
xã thuộc các huyện. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp nhất trong hệ thống 4 cấp của
hệ thống quản lý hành chính của nước ta hiện nay; có vai trò rất quan trọng
16


trong việc tổ chức hoạt động và vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện
chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát
huy và tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm
chủ của Nhân dân, huy động mọi khả năng để phát triển nhanh kinh tế - xã
hội, đảm bảo và giữ vững ổn định chính trị - xã hội để thực hiện thắng lợi sự
nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và
văn minh.
Một hệ thống chính trị cơ sở được lòng dân và phát huy được sức mạnh
của nhân dân thì sẽ ổn định được chính trị và làm lành mạnh xã hội. Chăm lo
củng cố và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh là làm cho hệ thống
chính trị cơ sở thật sự là hệ thống chính trị của dân, do dân, vì dân, mọi quyền
lực đều thuộc về dân, nếu có dân thì có tất cả, mất dân thì mất tất cả, chân lý
này không mới và đã được minh chứng từ trong lịch sử dựng nước và giữ
nước của dân tộc ta "Đẩy thuyền đi là dân mà lật thuyền cũng là dân"
(Nguyễn Trãi), hay "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu
cũng xong" (Hồ Chí Minh). Khẳng định vị trí, vai trò của cơ sở cũng chính là
khẳng định nguyên lý về vai trò quyết định của quần chúng Nhân dân trong
hoạt động sáng tạo lịch sử.
Hệ thống chính trị cơ sở là cấp thấp nhất nhưng lại là tầng sâu nhất mà
sự vận hành của thể chế chính trị từ cấp vĩ mô cũng phải tác động đến. Cơ sở
là nơi quan trọng nhất và cũng là nơi quyết định vì các chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước phải tìm đến, đó là lòng dân, ý dân, sáng tạo, trí tuệ
của dân.
1.2.2. Các thiết chế của hệ thống chính trị ở cơ sở
Hệ thống chính trị ở cơ sở gồm: Đảng bộ cơ sở, chính quyền, các tổ chức
chính trị - xã hội hoạt động theo một cơ chế nhất định với mục đích chung là
thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, đồng thời phát huy quyền làm của nhân dân ở cấp cơ sở.
17


 Đảng bộ cơ sở lãnh đạo hoạt động của chính quyền, các đoàn thể và
nhân dân nhằm thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của nhà nước để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
 Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã phường, thị trấn trực tiếp tổ
chức, điều hành, quản lý xã hội đúng với chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của nhà nước, Nghị quyết của Đảng bộ cơ sở.
 Các tổ chức chính trị - xã hội đại diện là Mặt trận Tổ quốc, là tổ chức
liên minh chính trị thay mặt nhân dân tham gia quản lý xã hội, quản lý nhà
nước ở cơ sở và giám sát hoạt động của chính quyền địa phương.
1.3. Tổ chức và hoạt động hệ thống chính trị ở Việt Nam
Hệ thống chính trị ở Việt Nam gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức thành viên của Mặt trận: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn
Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông
dân Việt Nam và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam được tổ chức từ Trung
ương, Tỉnh (Thành phố), Quận (Huyện) đến xã, phường, thị trấn.
So với hệ thống chính trị của một số nước, hệ thống chính trị Việt Nam
có tính đặc thù và có những nét cơ bản sau đây:
Một là, hệ thống chính trị Việt Nam là một hệ thống tổ chức nhất nguyên
chính trị; bảo đảm tính thống nhất về mục tiêu và lợi ích và được thể hiện:
 Về tổ chức: Ở Việt Nam, có nhiều tổ chức và đoàn thể nhân dân nhưng
không có tổ chức chính trị và đảng chính trị đối lập được thành lập công khai.
Các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân đều thừa nhận vai trò
lãnh đạo và vị trí cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, chịu sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
 Về tư tưởng: Tính nhất nguyên chính trị của hệ thống chính trị được thể
hiện trong toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt

18


động trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh. Đều nhằm đấu tranh giành và bảo vệ quyền lực chính trị của giai cấp
công nhân mà đại diện là Đảng cộng sản Việt nam, phục vụ mục tiêu, lý tưởng
của giai cấp và dân tộc Việt Nam.
Tính thống nhất của hệ thống chính trị Việt Nam thể hiện:
 Thống nhất về mục tiêu. Trong cấu trúc của hệ thống chính trị Việt
Nam gồm 3 bộ phận: Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Cả 3 bộ
phận đó đều có chung mục tiêu là đấu tranh giữ vững độc lập dân tộc và đi lên
CNXH. Độc lập dân tộc và CNXH là mục tiêu từ khi Đảng ra đời, chính
quyền nhân dân mới được thành lập, là mục tiêu xuyên xuốt của cách mạng
Việt Nam, là sự lựa chọn của toàn thể nhân dân, dân tộc Việt Nam. Tất cả mọi
hoạt động của các thành viên của hệ thống chính trị đều nhằm đạt được mục
tiêu đó.
 Thống nhất về phương thức hoạt động. Hệ thống chính trị ở Việt Nam
bao gồm nhiều tổ chức có chức năng, vai trò và vị trí khác nhau nhưng có mối
quan hệ gắn bó, chặt chẽ với nhau, tạo thành một thể thống nhất từ Trung
ương đến cơ sở.
 Thống nhất về nguyên tắc hoạt động. Toàn bộ hoạt động của hệ thống
chính trị Việt Nam đều được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung
dân chủ; nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện hệ thống chính trị và
toàn xã hội; nguyên tắc dựa vào nhân dân, giữ vững mối quan hệ mật thiết với
nhân dân; nguyên tắc đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy lợi ích dân tộc làm điểm
tương đồng và nguyên tắc nhân dân là chủ xã hội và đất nước. Quyền lực nhà
nước là quyền lực của nhân dân.
Về mặt tổ chức. Hệ thống chính trị Việt Nam có sự thống nhất cả về tổ
chức bộ máy và hoạt động từ Trung ương đến cơ sở. Về cơ bản, hệ thống
chính trị cấp dưới là mô hình thu nhỏ của hệ thống chính trị cấp trên. Bộ máy
đảng, chính quyền đoàn thể cấp trên có chức năng gì, cơ quan gì thì bộ máy
19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×