Tải bản đầy đủ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ, SẮP XẾP LẠI TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ VÂN THÚY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ,
SẮP XẾP LẠI TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ VÂN THÚY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ,
SẮP XẾP LẠI TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

Ngành: Chính sách công
Mã số: 8340402

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. HỒ VIỆT HẠNH

HÀ NỘI, 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, bản luận văn thạc sĩ chính sách công với đề tài
“Thực hiện chính sách tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của
Ủy ban nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn” là công trình nghiên cứu
độc lập của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS. TS. Hồ Việt Hạnh.
Luận văn không sao chép ở bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác.
Các số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực và chính xác, các tài liệu
tham khảo và trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều có xuất xứ, nguồn
gốc, tác giả cụ thể và được ghi trong danh mục các tài liệu tham khảo của
luận văn.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên.
Hà Nội, ngày 25 tháng 2 năm 2019
Học viên

Ngô Thị Vân Thúy


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ, SẮP XẾP LẠI TỔ CHỨC BỘ MÁY
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN ....................................................................... 9
1.1. Một số khái niệm cơ bản ........................................................................ 9
1.2. Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về tinh giản biên chế, sắp
xếp lại tổ chức bộ máy ................................................................................ 18
1.3. Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tổ chức thực hiện chính sách tinh giản
biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy .......................................................... 26
1.4. Các bước trong tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế, sắp xếp


lại tổ chức bộ máy ....................................................................................... 29
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách tinh giản biên chế, sắp
xếp lại tổ chức bộ máy ................................................................................ 34
1.6. Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách tinh giản biên chế, sắp xếp lại
tổ chức bộ máy ............................................................................................ 38
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN
BIÊN CHẾ, SẮP XẾP LẠI TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA ỦY BAN NHÂN
DÂN TẠI HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN ............................... 40
2.1. Các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế, sắp
xếp lại tổ chức bộ máy tại huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn ......................... 40
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ
chức bộ máy ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn ........................................... 51
2.3. Kết quả thực hiện chính sách tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ
máy tại huyện Cao Lộc ............................................................................... 57
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ, SẮP XẾP LẠI TỔ CHỨC BỘ
MÁY CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TẠI HUYỆN CAO LỘC, TỈNH
LẠNG SƠN ................................................................................................ 65
3.1. Phương hướng hoàn thiện tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên
chế, sắp xếp lịa tổ chức bộ máy ở nước ta hiện nay ................................... 65
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tinh giản biên chế,
sắp xếp lại tổ chức bộ máy ở nước ta hiện nay ........................................... 66
KẾT LUẬN ................................................................................................ 77


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBCCVC

Cán bộ, công chức, viên chức


DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng 1.1. Sự khác nhau giữa Biên chế và Hợp đồng lao động .................. 10
Biểu 2.1. Cơ cấu kinh tế huyện Cao Lộc năm 2018 ................................. 424
Hình 2.1. Sơ đồ bộ máy chính quyền huyện Cao Lộc, Lạng Sơn............. 435


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, việc triển khai quy định của Trung ương về sắp
xếp tổ chức bộ máy, biên chế; đào tạo, bồi dưỡng; tinh giản biên chế trong tổ
chức hoạtđộng của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp đã dần ổn định,
chất lượng vàcơ cấu của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tỉnh có sự
chuyển biến tích cựcgóp phần giúp các cơ quan, đơn vị, địa phương hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực
vẫn còn những hạn chế làm ảnh hưởng không nhỏ đến tổ chức và hoạt động
của các cơ quan, đơn vị, địaphương, cụ thể: công tác đánh giá có triển khai
nhưng chưa thật sự đi vào thựcchất, còn mang tính hình thức nể nang; biên
chế có xu hướng tăng qua từng nămtheo yêu cầu thành lập tổ chức mới; cơ
cấu, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chưa đồng đều; việc đẩy
mạnh xã hội hóa, giao quyền tự chủ đểthay thế nguồn trả lương từ ngân sách
nhà nước bằng việc trả lương từ nguồnthu sự nghiệp còn thấp,… Các cơ quan
hành chính nhà nước tiếp tục thực hiện đổi mới phương thức làm việc theo
hướng hỗ trợ tích cực cho người dân; triển khai hiệu quả các nội dung, thủ tục
của cơ chế một cửa liên thông thống nhất giữa các cơ quan trong đơn vị, qua
đó bảo đảm sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ các nhu cầu liên
quan của họ tại các cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào năm
2020; Đến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơ
cấu hợp lý, đủ trình độ, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có
năng lực, có tính chuyên nghiệp cao và năng lực thi hành công vụ, phục vụ
nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước... là những nội dung
quan trọng của chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 của
nước ta đề ra.

1


Thực trạng hiện nay, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị của nước ta
vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của các cơ quan quản lý nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của một số cơ quan, tổ
chức, đơn vị chưa thật sự rõ ràng, còn có sự chồng chéo, trùng lắp... Công tác
tổ chức phân công công việc, phân cấp quản lý, phân quyền lợi và trách
nhiệm giữa các ngành, các cấp, các đơn vị và trong từng cơ quan quản lý hành
chính nhà nước thực sự chưa hợp lý, hiệu quả... Và tình trạng vẫn còn một bộ
phận cán bộ công chức, viên chức không đáp ứng được yêu cầu công việc,
nhiệm vụ được giao hoặc yếu kém về phẩm chất, trình độ, năng lực; vẫn còn
tình trạng “vừa thừa, vừa thiếu”: thừa những người không làm được việc,
thiếu những người làm được việc. Đội ngũ CBCCVC tại các cơ quan quản lý
hành chính các cấp vẫn còn nhiều biểu hiện bất cập, tồn tại về trình độ năng
lực chuyên môn và thiếu tinh thần trách nhiệm trong hoạt động công vụ, phục
vụ nhân dân... Tinh giản biên chế cần phải gắn với bố trí, cơ cấu lại, nâng cao
chất lượng về mọi mặt, hợp lý hóa về cơ cấu và bố trí, sử dụng hiệu quả đội
ngũ CBCCVC; thực hiện tiết kiệm nhằm giảm chi thường xuyên và góp phần
cải cách chính sách tiền lương hiệu quả cho nhóm đối tượng này.
Trong những năm vừa qua, trên địa bàn huyện Cao Lộc nói riêng, tỉnh
Lạng Sơn nói chung việc thực hiện cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà
nước theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả luôn được cấp ủy
Đảng, chính quyền rất quan tâm và thực hiện. Sắp xếp, tổ chức bộ máy hành
chính ở địa phương theo hướng tinh gọn đầu mối, giảm cấp trung gian, tăng
cường quản lý đa ngành, đa lĩnh vực là một trong những mục tiêu của việc cải
cách tổ chức bộ máy hành chính tại địa phương. Tuy nhiên, trong quá trình
thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu trên vẫn còn có một số khó khăn, vướng
mắc, hạn chế cần có sự nghiên cứu, xem xét, giải quyết của các cấp, các

2


ngành. Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Thực hiện chính
sách tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân
huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành
chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề tinh giản biên chế không phải là mới, trong những năm qua, đã
có nhiều công trình, bài viết về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và cải
cách chế độ tiền lương, giải pháp tinh giản biên chế CBCCVC và cũng đã có
công trình, đề tài tập trung nghiên cứu luận giải đầy đủ cơ sở khoa học, đánh
giá thực trạng và đề xuất các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách tinh giản biên chế. Tuy nhiên, vấn đề sắp xếp lại tổ chức bộ máy
của Ủy ban nhân dân cấp huyện và việc tinh giản biên chế của cấp huyện lại
chưa có nhiều công trình, đề tài tập trung nghiên cứu luận giải đầy đủ cơ sở
khoa học, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp cụ thể để nâng cao
hiệu quả thực hiện chính sách tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy
của Ủy ban nhân dân cấp huyện. Tác giả tìm đọc một số công trình nghiên
cứu, bài viết khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu:
PGS.TS Văn Tất Thu, Thực trạng, nguyên nhân tăng biên chế và các
giải pháp tinh giản biên chế. Tạp chí Tổ chức nhà nước. Số tháng 9/2014 [27].
Tác giả Nguyễn Thị Khánh (2015), với đề tài“Xây dựng chính sách tinh
giản biên chế ở Việt nam hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Chính
sách công tại Học viện khoa học xã hội [14].
Tác giả Lê Như Thanh (2016), Tinh giản biên chế trong các cơ quan
hành chính Nhà nước - Thách thức và giải pháp, theo tác giả thực tiễn những
năm qua cho thấy, bộ máy hành chính nhà nước ở nước ta còn cồng kềnh,
hoạt động kém hiệu quả. Vì vậy, chủ trương tinh giản biên chế trong các cơ
quan hành chính, sự nghiệp đã được đề ra như một giải pháp nhằm khắc phục

3


tình trạng này. Việc tinh giản biên chế phải gắn liền với việc xác định chức
năng, nhiệm vụ, hợp lý hóa về mặt tổ chức của toàn bộ hệ thống hành chính
nhà nước và mỗi cơ quan hành chính nhà nước. Một trong các nguyên nhân
của những hạn chế trong kết quả tinh giản biên chế ở giai đoạn trước chính là
người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước chưa làm hết thẩm quyền
và trách nhiệm đối với công tác tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán
bộ, công chức; còn có biểu hiện ngại va chạm, nể nang, thiếu nhất quán trong
quán triệt, chỉ đạo, tổ chức thực hiện.
Tác giả Nguyễn Kim Diện với đề tài: “Nâng cao chất lượng đội ngũ
công chức hành chính nhà nước tỉnh Hải Dương”, luận án Tiến sĩ, Đại học
Kinh tế quốc dân, năm 2012. Luận án đã làm rõ và đưa ra quan điểm, phương
pháp tuyển dụng, sử dụng, quy hoạch, đào tạo và những giải pháp, kiến nghị
nâng cao chất lượng đội ngũ côn chức hành chính nhà nước tỉnh Hải Dương.
Tác giả Trần Đình Thảo với bài viết: “Xây dựng đội ngũ công chức của
huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam: thực trạng và những giải pháp”, tạp chí
“Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng”. Tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng
đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay của huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam,
thực trạng tuyển dụng, quy hoạch, tạo nguồn đội ngũ công chức, công tác bố
trí sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm công chức, thực trạng tình hình đào tạo, bồi
dưỡng công chức. Từ việc phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, tác
giả đã đề xuất các giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ công chức của
huyện Đại Lộc.
Tác giả Thùy Linh (2018), Sáp nhập văn phòng cấp huyện, việc cần
thiết phải làm, Báo Lao động [17].
Tác giả Linh Nguyễn (2019), Sáp nhập đơn bị hành chính cấp huyện,
cấp xã. Đặt lợi ích người dân lên hàng đầu. Báo Phú Thọ [19].

4


Trong thời gian qua, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương,
chính sách tinh giản biên chế, trong đó có Nghị định 108/2014/NĐ-CP về
chính sách tinh giản biên chế; Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị về
tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Kết
luận số 17-KL/TW ngày 11/9/2017 của Ban Chấp hành Trung ương. Theo
Kết luận 17, đến năm 2021, toàn hệ thống chính trị phải thực hiện tinh giản
biên chế 367.790 người so với biên chế năm 2015; có nghĩa là từ nay đến năm
2021 mỗi năm giảm bình quân 2,5% biên chế. Thực hiện các chủ trương trên,
năm 2018 các bộ, ngành và địa phương đã quyết liệt vào cuộc, thực hiện các
đợt rà soát tinh giản biên chế và đạt được nhiều kết quả tích cực. Về tình trạng
sáp nhập các phòng, ban, cơ quan đơn vị chuyên môn cấp huyện; những khó
khăn và bất cập khi thực hiện chính sách sắp xếp các cơ quan chuyên môn cấp
huyện... nhưng tựu chung các đề tài, các bài viết chỉ đề cập tinh giản biên chế,
sắp xếp các cơ quan chuyên môn cấp huyện một cách khái quát, chung chung,
chưa có một đề tài nào tiếp cận vấn đề tinh giản biên, sắp xếp lại tổ chức bộ
máy của Ủy ban nhân dân cấp huyện chế dưới góc độ khoa học chính sách
công.
Trong bối cảnh đó, đề tài luận văn kế thừa, phát triển các kết quả
nghiên cứu liên quan trước để tiếp tục hệ thống hóa các vấn đề lý luận và
khảo sát đánh giá thực tiễn, từ đó đề xuất quan điểm và các giải pháp thực
hiện chính sách tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ủy ban
nhân dân cấp huyện từ thực tế huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn phù hợp với yêu
cầu khách quan ở Việt Nam hiện nay.

5


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về chính sách tinh
giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân và đánh giá
thực trạng thực hiện chính sách tinh giản biên chế,sắp xếp lại tổ chức bộ máy
của Ủy ban nhân dân, luận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp xây dựng
chính sách tinh giản biên chế,sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân
dâncấp huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu cải
cách hành chính.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và phân tích làm rõ cơ sở lý luận về chính sách tinh giản
biên chế,sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Vận dụng lý thuyết về chính sách công để đánh giá thực trạng chính
sách tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân ở
nước ta hiện nay.
Đề xuất các quan điểm và giải pháp thực hiện chính sách tinh giản biên
chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dâncấp huyện đáp ứng yêu
cầu cải cách hành chính.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề thực hiện chính sách tinh giản biên chế,sắp xếp
lại tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dânhuyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn hiện
nay dưới góc độ khoa học chính sách công.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng thực hiện chính sách
tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dânhuyện Cao
Lộc năm 2017 đến nay và đề xuất quan điểm, giải pháp thực hiện chính sách

6


tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy ở Ủy ban nhân dân huyện Cao
Lộcnhững năm tiếp theo.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ
nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam và hệ thống chính trị, văn bản quản lý của Nhà nước về con
người, phát triển con người trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích và đánh giá tác
động của chính sách: vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội và
phương pháp nghiên cứu thực hiện chính sách công; phân tích chính sách,
đánh giá tác động của chính sách, khái quát về thực hiện chính sách và năng
lực thực hiện chính sách từ thực tiễn Ủy ban nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh
Lạng Sơn; các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu như văn kiện, tài
liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật về
chính sách tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân
dân, các công trình nghiên cứu và các bài viết, báo cáo thống kê của tỉnh, của
huyện trên các phương tiện thông tin đại chúng có liên quan đến nội dung của
đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Các kết luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung những
vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện chính sách, tinh giản biên chế, sắp xếp lại
tổ chức bộ máy nói chung, tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế,
sắp xếp lại tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp
huyện ở nước ta hiện nay.

7


6.2.Ý nghĩa thực tiễn
Các giải pháp, kiến nghị, đề xuất trong luận văn góp phần giải quyết
vấn đề thực tiễn hiện nay trong việc tổ chức thực hiện chính sách tinh giản
biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân huyện từ thực tiễn
của Ủy ban nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn nói riêng và trong cả
nước nói chung. Luận văn cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu, giảng dạy về chính sách công ở nước ta, cũng có thể làm tài liệu
tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về ý nghĩa quan trọng của việc tinh
giản biên chế, sắp xếp lại các tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân cấp
huyện.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài luận văn được kết cấu theo 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện chính sách tinh giản
biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách tinh giản biên chế, sắp xếp
lại tổ chức bộ máy tại Ủy ban nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện tổ chức thực hiện
chính sách tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy tại Ủy ban nhân dân
huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn hiện nay.

8


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
TINH GIẢN BIÊN CHẾ, SẮP XẾP LẠI TỔ CHỨC BỘ MÁY
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Biên chế
Trong các văn bản pháp luật hiện hành, chưa có một định nghĩa cụ thể,
rõ ràng nào về biên chế. Mặc dù đây là cụm từ xuất hiện rất nhiều trong các
văn bản về cán bộ, công chức, viên chức, như Luật Cán bộ, Công chức, Luật
Viên chức… và các Nghị định về tinh giản biên chế.
Hiểu một cách đơn giản, biên chế là số người làm việc trong cơ quan,
đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước do đơn vị quyết định hoặc được cấp
có thẩm quyền phê duyệt theo hướng dẫn của Nhà nước. Đây là vị trí công
việc phục vụ lâu dài, vô thời hạn trong các cơ quan Nhà nước, hưởng các chế
độ về lương, phụ cấp theo quy định của Nhà nước.
Như vậy, vào biên chế trở thành mục tiêu, niềm khao khát của nhiều
người bởi vị trí này đảm bảo sự ổn định cho đến tuổi nghỉ hưu, nếu không
thuộc diện bị tinh giản biên chế hoặc không tự nguyện nghỉ việc. Trong khi
đó, nếu như làm việc theo chế độ hợp đồng, cá nhân chỉ làm việc theo thời
hạn và có thể sẽ phải nghỉ việc, tìm việc làm mới nếu đơn vị tuyển dụng
không ký tiếp hợp đồng…
Theo khoản 1, Điều 3, Nghị định 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014
của Chính phủ thì: “Biên chế” được hiểu gồm: biên chế cán bộ, biên chế công
chức, số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và lao động
hợp đồng được cấp có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật.
Lao động biên chế làm việc trong các cơ quan quản lý hành chính nhà
nước được giao các nhiệm vụ theo vị trí công việc và được hưởng lương từ

9


ngân sách nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (hiện nay là Bộ Nội
vụ và các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, UBND các tỉnh
thành phố trực thuộc trung ương) phê duyệt và giao, làm căn cứ cấp kinh phí
hoạt động thường xuyên hàng năm.
Bảng 1.1.Sự khác nhau giữa Biên chế và Hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động

Biên chế

Biên chế là một vị trí công việc được Người làm việc theo hợp đồng lao
phục vụ (hành nghề) lâu dài trong cơ động được quản lý bởi chủ sở hữu,
quan nhà nước được quốc hội, chính người đại diện pháp luật hoặc người
phủ, hoặc hội đồng nhân dân các cấp quản lý doanh nghiệp, và được điều
quyết định hoặc phê duyệt trong các chỉnh bởi Bộ luật lao động.
nghị quyết về quy hoạch số lượng các
chức danh trong bộ máy công chức,
viên chức hưởng lương từ ngân sách
nhà nước.
Nhân viên biên chế là người đã thi Nhân viên hợp đồng được ký hợp
công chức (viên chức) vào 1 cơ quan đồng lao động và chỉ hưởng hoàn
(thời gian thử thách sau khi thi đỗ toàn chế độ đãi ngộ theo hợp đồng
thường là 1 năm) và trở thành cán bộ đó, các chế độ đãi ngộ khác cơ quan
công nhân viên chức thuộc biên chế có thể dành cho bạn nhưng không
của cơ quan đó, họ được hưởng đầy thuộc dạng bắt buộc
đủ các quyền lợi và cả các chế độ đãi
ngộ mà nhân viên hợp đồng có thể
không được hưởng.
1.1.2. Tinh giản biên chế
Tinh giản biên chế không phải là sự cắt giảm một cách cơ học thuần túy
cán bộ, công chức ở một vị trí, một bộ phận chuyên môn nào đó. Vấn đề tinh
10


giản biên chế phải gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng được cơ cấu cán bộ,
công chức hợp lý về số lượng, chức danh ngạch, chức danh nghề nghiệp; trình
độ, đội tuổi, dân tộc, giới tính, nhất là tương quan cơ cấu giữa các cơ quan
trung ương với các cơ quan địa phương… Tinh giản biên chế là việc có ảnh
hưởng sâu rộng trong toàn cơ quan, đơn vị, vì thế phải có cách làm phù hợp đi
kèm với những cơ chế, chính sách cụ thể, hướng tới nâng cao chất lượng thực
thi công vụ, xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu quả. Tinh giản biên chế phải làm
từng bước, có lộ tình rõ ràng, kế hoạch thực hiện cụ thể. Trong khi đó, quá
trình triển khai chủ trương này cho thấy nhiều bộ, ngành, địa phương chưa
xây dựng đề án tổng thể, về sắp xếp tổ chức, tinh giản biên chế, không có
phương án cụ thể ngay từ đầu nên không có kế hoạch tinh giản biên chế hoặc
thiếu tính khả thi. Từ đó dẫn đến việc thực hiện tinh giản biên chế hầu như chỉ
giải quyết thực hiện tinh giản biên chế hầu như chỉ giải quyết thụ động, theo
nguyện vọng mà thiếu sự chủ động và chuẩn bị một cách tích cực.
Nghị định 108 được xây dựng trên cơ sở 4 bộ luật là Luật Tổ chức
Chính phủ, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.
Có thể nói, hết sức chi tiết, cụ thể nhằm bảo đảm đầy đủ cơ sở pháp lý cho
việc thực thi. Tinh giản biên chế được định nghĩa tại Khoản 2 Điều 3 Nghị
định 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế như sau: “Tinh giản
biên chế” được hiểu là việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên chế những
người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp
xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những người thuộc
diện tinh giản biên chế”.
1.1.3. Chính sách tinh giản biên chế
Trước khi tìm hiểu khái niệm về chính sách tinh giản biên chế, đề tài
phân tích, làm rõ khái niệm chính sách công với các quan điểm cụ thể sau:

11


Theo quan điểm của tác giả Lê Chi Mai, chính sách công là những
quyết định hành động, bao gồm cả những hành vi thực tiễn, chính sách công
không chỉ thể hiện dự định của Nhà nước hoạch định chính sách về một vấn
đề nào đó mà còn bao gồm những hành vi thực hiện dự định đó.
Theo Đỗ Phú Hải, “Chính sách công là một tập hợp các quyết định
chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với
giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu
đã xác định của đảng chính trị cầm quyền” [12].
Theo tác giả Hồ Việt Hạnh (2017), thì khái niệm chính sách công được
hiểu là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải
quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng.
Trên cơ sở khái niệm này chúng ta có thể khẳng định:
Thứ nhất, chủ thể của chính sách công phải là thể chế được cộng đồng
trao quyền lực của cộng đồng (quyền lực công), được thực hiện bằng các
phương tiện phụ thuộc vào tình hình lịch sử cụ thể (phương tiện đó là sự kết
hợp giữa cái vốn có của chủ thể và cái thuộc về cộng đồng trao cho, có thể là
trí tuệ, tiền bạc, vật chất khác…).
Thứ hai, chủ thể của chính sách công được hiểu theo đúng nghĩa của nó
khi chủ thể này đề ra các quyết sách có tính chấy hướng đích giải quyết các
vấn đề liên quan đến mối quan tâm chung của xã hội, của nhân dân, đến lợi
ích chung của cả cộng đồng, đối tượng mà đã trao quyền lực cho nó cho chủ
thể thực hiện.
Thứ ba, tính phức tạp của chính sách công trong quá trình nghiên cứu,
nhìn một cách tổng thể vận động vật chất, xã hội thì cùng với sự vận động của
xã hội loài người. Các giai đoạn triển khai thực hiện trong thực tiễn của chính
sách công ngày càng được các chủ thể chính sách công chi tiết hóa khiến cho
các chủ thể tham gia vào quá trình chính sách công nhìn theo vòng đời của nó

12


ngày càng đa dạng và dễ dàng hơn. Tuy nhiên, chủ thể tham gia vào quá trình
của chính sách công của giai đoạn trước thường ít hoặc nhiều tham gia vào
giai đoạn sau và ngược lại trong thực tế. Chính vì vậy, trong nghiên cứu của
đề tài, cũng như từ những phân tích trên chủ thể của chính sách công ở đây
được hiểu và nhìn nhận là chủ thể tham gia vào ngay từ từ khâu đầu tiên của
quá trình chính sách công tức là từ quá trình xác định vấn đề chính sách,
hoạch định chính sách công.
Thứ tư, cộng đồng của chính sách công ở đây nên được hiểu theo nghĩa
rộng của nó tức là một nhóm người, một giai cấp, một địa phương, một quốc
gia hay cả loài người…
Thứ năm, chính sách công chỉ thực sự là chính sách công khi chúng ta
nghiên cứu và đạt nó trong mối quan hệ với chính sách tư và ngược lại.
Thứ sáu, xã hội loài người hiện nay thì các quốc gia là thể chế phổ biến
và bền vững nhất. Người dân tại quốc gia này thường trao quyền đại diện của
họ cho Nhà nước một thực thể có thề đại diện cho quyền và lợi ích của nhân
dân, song một số quốc gia không chỉ trao quyền đó cho Nhà nước mà còn trao
cho một số thể chế khác nữa.
Thứ bảy, đối với nước ta, do quá trình lịch sử nên nhân dân đã trao
quyền lãnh đạo, quản lý của mình cho hai thực thể mà xét ở bình diện quốc
gia đối với nước ta thì là chủ thể của chính sách công là Đảng và Nhà nước.
“Dựa trên những phân tích trên, có thể quan niệm chính sách tinh giản
biên chế là một tập hợp các quyết định chính trị có mối liên hệ với nhau của
Nhà nước về biên chế nhằm thực hiện tổ chức, sắp xếp và cắt giảm số lượng
cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy các cơ quan nhà nước
với mục tiêu đem lại hiệu quả hoạt động cho bộ máy nhà nước theo đường lối,
chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam.

13


1.1.4. Tổ chức
Từ “Tổ chức” là thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đời sống
hằng ngày, nhưng để định nghĩa chưa có định nghĩa chung về thuật ngữ này.
Tài liệu Quản lý và phát triển tổ chức hành chính nhà nước [10, tr. 8] đã định
nghĩa về “Tổ chức” và xem “Tổ chức” là một hệ thống của hai hay nhiều
người phối hợp với nhau trong một công việc nào đó tạo nên một tổ chức với
những mục tiêu chung của họ thông qua ở những mức độ khác nhau của sự
phân công lao động giữa những con người đó.
Vậy xét trên tổng thể, tổ chức đòi hỏi có ít nhất hai người trở lên, có sự
liên kết với nhau nhằm hướng đến mục tiêu chung và xét về bản chất thì tổ
chức do con người tạo nên.
Theo quan niệm trên, tổ chức có mặt ở mọi lúc, mọi nơi, khi con người
cần có sự liên kết với nhau để đạt được mục tiêu thì họ sẽ lập nên tổ chức; khi
mục tiêu đó đã thành công thì con người tự giải tán tổ chức đó. Tổ chức cũng
là một phát minh lớn nhất của quá tŕnh phát triển xă hội loài người; mỗi con
người cùng nhau hoạt động trong một tổ chức đều đóng những vai trò nhất
định để đạt được những mục tiêu chung của nó, tức là công việc mỗi người
đảm nhiệm có một mục đích hoặc một một mục tiêu nhất định, các hoạt động
đó phù hợp, khớp nối với các hoạt động của những người khác trong tổ chức
đó, đồng thời khi con người cùng nhau làm việc trong một tổ chức để thực
hiện một mục tiêu chung thì phải cần đến có sự quản lý tổ chức đó.
1.1.5. Ủy ban nhân dân
Theo Điều 8, Luật tổ chức chính quyền địa phương, ngày 19 tháng 6
năm 2015: UBND do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành
của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu
trách nhiệm trước nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ
quan hành chính nhà nước cấp trên; UBND gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và

14


các Ủy viên, số lượng cụ thể Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp do Chính
phủ quy định.
UBND được ban hành các quyết định, chỉ thị để thực hiện nhiệm vụ và
quyền hạn của mình; UBND có các cơ quan chuyên môn để giúp thực hiện
các chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản
lý của ngành hoạc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở.
1.1.6. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì khái niệm cơ quan
chuyên môn thuộc UBND được hiểu là cơ quan có nhiệm vụ giúp UBND
cùng cấp thực hiện các chức năng quản lý nhà nước ở địa phương theo thẩm
quyền, chức năng, nhiệm vụ và đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành
hoặc lĩnh vực công tác từ Trung ương đến cơ sở.
Ngoài ra,một số ý kiến cho rằng, cơ quan chuyên môn thuộc UBND
huyện là cơ quan trực thuộc UBND huyện, có cơ cấu và hoạt động ổn định
trên cơ sở các quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền nhằm giúp
UBND huyện thực hiện chức năng lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với một số
đối tượng thuộc các ngành, lĩnh vực nhất định ở địa phương hoặc cũng có thể
hiểu cơ quan chuyên môn là một bộ phận cấu thành của UBND các cấp. Các
cơ quan chuyên môn được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc hai chiều và
phụ thuộc vào UBND cùng cấp và cơ quyên môn cấp trên.
Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu sự chỉ
đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch
công chức và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ
đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn
thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
1.1.7. Cơ cấu các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện
Theo Điều 27, Luật Tổ chức chính quyền địa phương ban hành ngày

15


19/6/2015, thì cơ cấu bộ máy tổ chức của Ủy ban nhân dân cấp huyện gồm
Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên tại các phòng ban. Ủy ban nhân
dân huyện được chia thành 03 loại và Ủy ban nhân dân huyện loại I có không
quá ba Phó Chủ tịch và đối với huyện loại II, III có không quá hai Phó Chủ
tịch. Các ủy viên Ủy ban nhân dân cấp huyện gồm các lanh đạo, quản lý đứng
đầu cơ quan chuyên môn giúp việc thuộc Ủy ban nhân dân huyện và Ủy viên
phụ trách công an và phụ trách quân sự.
Theo Nghị định 37/2014/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định tổ
chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh. Nghị định quy định nguyên tắc tổ chức các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện phải bảo đảm bao quát đầy
đủ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện và
bảo đảm tính thống nhất, thông suốt về quản lý ngành, lĩnh vực công tác từ
Trung ương đến cơ sở; tổ chức phòng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; bảo đảm
tinh gọn, hợp lý, hiệu quả; không nhất thiết ở cấp tỉnh có sở nào thì cấp huyện
có tổ chức tương ứng. Nghị định gồm 4 Chương 14 Điều về cơ bản kế thừa
những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân cấp huyện theo quy định tại Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày
04/02/2008 của Chính phủ. Nghị định số 37/2014/NĐ-CP nhấn mạnh chế độ
làm việc của Phòng chuyên môn quận huyện: Cơ quan chuyên môn thuộc
UBND quận, huyện làm việc theo chế độ thủ trưởng và theo Quy chế làm
việc của UBND cấp huyện; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hiện
chế độ thông tin báo cáo của các cơ quan chuyên môn theo quy định. Đồng
thời, Nghị định 37/2014/NĐ-CP đã bổ sung nhiệm vụ của Văn phòng Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hoặc Văn phòng Ủy ban nhân dân nơi thí
điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân trực tiếp quản lý và chỉ đạo hoạt động
của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông;

16


hướng dẫn tiếp nhận hồ sơ của cá nhân, tổ chức trên tất cả các lĩnh vực thuộc
thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện, chuyển hồ sơ đến các cơ quan
chuyên môn thuộc UBND cấp huyện để giải quyết và nhận kết quả để trả cho
cá nhân, tổ chức.
Các cơ quan chuyên môn được tổ chức thống nhất ở các quận, huyện,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh gồm 10 phòng chuyên môn như quy định tại Nghị
định số 13/2008/NĐ-CP và 02 Phòng chuyên môn với tên gọi khác nhau phù
hợp từng loại hình đơn vị hành chính cấp huyện. Riêng, Phòng Công Thương
thuộc UBND các huyện được đổi tên thành Phòng Kinh tế và hạ tầng, bổ sung
thêm một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về các hoạt động đầu tư xây dựng,
phát triển đô thị, hạ tầng kỹ thuật đô thị.
1.1.8. Bộ máy của Ủy ban nhân dân
Bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương thực hiện quyền hành pháp
đó chính là Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu gồm 03 bộ
phận chính là Chủ tịch, các Phó chủ tịch và các ủy viên. Cơ quan chuyên môn
thuộc Ủy ban nhân dân theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
được quy định như sau: Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được tổ
chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực
hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà
nước cấp trên; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác
của Ủy ban nhân dân, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ
quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên.
1.1.9. Sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân
Sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân đó chính là viêc thành
lập mới, hoặc giải thể, chia tách, sáp nhập các cơ quan đơn vị thuộc thẩm
quyền của Ủy ban nhân theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và

17


tinh giản biên chế. Trong đó, việc sáp nhập là một cơ hội lớn để thực hiện tinh
giản bộ máy, giảm bớt việc chi thường xuyên ngân sách cho cán bộ, công
chức. Tuy nhiên. việc sắp xếp, sáp nhập tổ chức bộ máy không phải là phép
cộng cơ học mà sáp nhập nhập phải đúng người, đúng việc để bộ máy được
tinh gọn và hiệu quả hơn. Việc sáp nhập, sẽ sinh ra vấn đề lao động, cán bộ
dôi dư, do đó cần phải giải quyết chế độ chính sách cho lực lượng này sao cho
phù hợp, hợp tình, hợp lý, có những chính sách hỗ trợ, chuyển đổi việc làm. Ở
đây, đáng lẽ việc sáp nhập, thu gọn bộ máy, tổ chức ở các địa phương phải
được thực hiện sớm hơn, mạnh mẽ hơn nữa. Chính phủ yêu cầu cắt giảm các
thủ tục hành chính nhưng bộ máy còn cồng kềnh. Chủ trương đã có, chúng ta
cần phải quyết tâm thực hiện việc sắp xếp, sáp nhập để tinh giản bộ máy và
hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn. Phải thực hiện một cuộc cách mạng thực
sự để tạo sự bứt phá, thu gọn đầu mối, hỗ trợ người dân tốt hơn. Đây cũng là
cách để việc thực hiện tinh giản biên chế có thể thực hiện được một cách có
hiệu quả. Tuy nhiên, thời gian qua, việc sáp nhập, sắp xếp lại các cơ quan
chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện ở các địa phương còn chưa có sự thống nhất,
tạo ra nhiều điểm nghẽn trong hoạt động thực tế và gây ra nhiều băn khoăn
trong dư luận.
1.2. Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về tinh giản
biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy
1.2.1. Quan điểm của Đảng về vấn đề tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ
chức bộ máy
Mục tiêu của việc tinh giản biên chế là để xây dựng một đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức có chất lượng cao, tận tình phục vụ nhân dân và sự
nghiệp Cách mạng. Do đó, việc tinh giản đúng đối tượng và đảm bảo công
bằng, khách quan trong quá trình tinh giản là yêu cầu đặt ra đối với các cấp và
người đứng đầu các đơn vị.

18


Để hiện thực hóa quyết tâm về thực hiện công tác tinh giản biên chế,
tinh gọn bộ máy thì cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự quyết
tâm của tất cả các cơ quan, đơn vị và CBCCVC. Đồng thời, các chỉ thể thực
hiện chính sách cần có giải pháp đúng, hợp lý và phù hợp điều kiện thực tiễn
tại các cơ quan quản lý nhà nước và từng địa phương. Bên cạnh đó, các cơ
quan khi thực hiện cần phải kiên trì với giải pháp đó; đồng thời cần có sự vào
cuộc, phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa
phương, phải có cách nhìn, quan điểm nhất quán, tổng thể và thống nhất.
Hơn nữa, để có hiệu quả trong công tác này cần phải đẩy mạnh công tác
phổ biến, tuyên truyền các nội dung liên quan nhằm nâng cao nhận thức, khắc
phục tình trạng cục bộ, khép kín trong quá trình triển khai thực hiện.
Quan điểm về tinh giản biên chế và sắp xếp lại bộ máy được thể hiện rõ
trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về đổi mới
tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ; Kết luận số 37-KL/TW ngày 02 tháng 02
năm 2009 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 9 khóa X về tiếp tục
đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020;Nghị quyết Đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; Kết luận số 63KL/TW ngày 27 tháng 5 năm 2013 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XI; Kết luận số 64-KL/TW ngày 28 tháng 5 năm 2013.
Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17 tháng 4 năm 2015 của Bộ Chính trị
về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đã
nêu rõ quan điểm [5]: Tinh giản biên chế phải căn cứ vào chức năng, nhiệm
vụ của cơ quan, đơn vị, đi đôi với cải cách tiền lương và đổi mới tổ chức bộ
máy của cả hệ thống chính trị. Tỷ lệ tinh giản biên chế được xác định theo
từng cơ quan, đơn vị, phù hợp với thực tế chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức. Bảo đảm mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×