Tải bản đầy đủ

TRUYỀN THÔNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH CHO PHỤ NỮ TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI BÌNH

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

KHÚC THỊ XUÂN

TRUYỀN THÔNG CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH CHO PHỤ NỮ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI BÌNH

Ngành: Công tác xã hội
Mã số: 8 76.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THANH BÌNH

HÀ NỘI, 2019


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Công
tác xã hội đề tài “Truyền thông Công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình
cho phụ nữ từ thực tiễn tỉnh Thái Bình” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp
với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./.
Tác giải luận văn

Khúc Thị Xuân


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG CÔNG TÁC
XÃ HỘI TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ . 12
1.1. Một số khái niệm .................................................................................................. 12
1.2. Đặc điểm, nhu cầu của phụ nữ bị bạo lực gia đình ................................................ 20
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến truyền thông công tác xã hội trong phòng chống bạo
lực gia đình đối với phụ nữ .......................................................................................... 28
1.6. Các cơ sở pháp lý về công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình đối
với phụ nữ ................................................................................................................... 31
Chương 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CÔNG TÁC ........ 34
XÃ HỘI TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
TẠI THÁI BÌNH ....................................................................................................... 34
2.1. Một số nét khái quát về tỉnh Thái Bình ................................................................. 34
2.2. Thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Thái Bình ..................................... 38
2.3. Thực trạng truyền thông công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình
đối với phụ nữ tại Thái Bình ........................................................................................ 44
Chương 2. ĐỊNH HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHÒNG CHỐNG
BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ TẠI THÁI BÌNH ................................. 68
3.1. Định hướng thực hiện truyền thông công tác xã hội trong phòng chống bạo lực
gia đình đối với phụ nữ tại Thái Bình .......................................................................... 68
3.2. Một số biện pháp thực hiện truyền thông công tác xã hội trong phòng chống
bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Thái Bình .............................................................. 70
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 78


MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


BĐG:

Bình đẳng giới

BLGĐ:

Bạo lực gia đình

CTXH:

Công tác xã hội

CTV CTXH:

Cộng tác viên Công tác xã hội

MTTQ:

Mặt trận tổ quốc

NV CTXH:

Nhân viên Công tác xã hội

LHPN:

Liên hiệp phụ nữ

LĐTBXH:

Lao động Thương binh và xã hội

PCBLGĐ:

Phòng chống bạo lực gia đình


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước có truyền thống tôn trọng gia đình. Gia đình vừa là chỗ dựa
về kinh tế, vừa là nơi nương tựa về tinh thần cho con người trong suốt cuộc đời
nhiều khó khăn và trắc trở. Bạo lực gia đình đã và đang trở thành một vấn đề nhức
nhối trong xã hội, có chiều hướng gia tăng, đáng báo động và làm xói mòn các giá
trị truyền thống tốt đẹp. Bạo lực gia đình không phân biệt hoàn cảnh kinh tế, mức
sống và trình độ văn hóa, thành thị hay nông thôn, không chỉ ở những đôi vợ chồng
mới kết hôn mà còn cả những đôi vợ chồng đã sống cùng nhau lâu dài. Bạo lực gia
đình gây ra hậu quả nghiêm trọng mà trước hết là vi phạm đến quyền con người,
đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tinh thần của mỗi cá nhân, đặc biệt
là phụ nữ và trẻ em. Bạo lực gia đình là nguy cơ gây tan vỡ và suy giảm sự bền
vững của gia đình Việt Nam, ảnh hưởng đến sự an toàn, lành mạnh của cộng đồng
và gây mất trật tự an toàn xã hội nghiêm trọng. Hiện nay phụ nữ Việt Nam đang
phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có bạo lực gia đình - thực trạng này xâm
hại cả về thể chất và tinh thần của rất nhiều phụ nữ, làm mất ổn định cuộc sống và
hạnh phúc của nhiều gia đình. Nó làm cản trở quá trình xóa đói giảm nghèo và việc
thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, làm tăng sự bất bình đẳng và tổn hại
đến danh dự, sức khỏe, an sinh và quyền tự chủ của các nạn nhân.
Trong các năm từ 2011 – 2015 (ở nước ta) có 157.859 vụ bạo lực gia đình,
trong đó nạn nhân là nữ chiếm 74,24%. Trong số 492.520 vụ ly hôn đã giải quyết
thì nguyên nhân từ bạo lực gia đình chiếm 83,78%. Mỗi năm có hơn 8.000 vụ ly
hôn mà nguyên nhân từ bạo lực gia đình. Đây là thông tin được đại biểu Điểu
Huỳnh Sang (Bình Phước), phát biểu tại Quốc hội sáng 10/11/2016. Kết quả nhiều
cuộc khảo sát và báo cáo địa phương cho thấy, hiện nay bạo lực gia đình đã gây ra
những hậu quả cho phụ nữ và xã hội nói chung. Nạn nhân của BLGĐ rất cần sự
giúp đỡ của xã hội và cộng đồng. Hiện nay trên toàn quốc đã có nhiều mô hình can
thiệp trợ giúp phụ nữ bị BLGĐ. Như: “mô hình trợ giúp pháp lý”, “mô hình nhóm
nhỏ”, “mô hình nhà tạm lánh”... Các mô hình trên đã thực hiện nhiều dịch vụ khác

1


nhau nhằm hỗ trợ tốt nhất cho phụ nữ bị BLGĐ, được an toàn, được động viên, an
ủi, sớm được trở lại với đời sống bình thường với một nhận thức mới, vị thế mới.
Phòng chống bạo lực gia đình là trách nhiệm của mỗi người và toàn xã hội. Do
vậy, để ngăn ngừa và giảm thiểu những hậu quả của bạo lực gia đình thì các quy
định của pháp luật cần phải được nghiêm chỉnh thi hành và có cơ chế theo dõi, giám
sát việc thi hành đó và cần có sự phối hợp và linh hoạt giữa các ban ngành, đoàn thể
với các nhân viên xã hội tại địa phương để bảo đảm sự ứng phó toàn diện đối với
phụ nữ bị bạo lực gia đình.
Với tư cách là một nghề chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các đối tượng yếu thế
trong xã hội vượt qua được vấn đề của mình, Công tác xã hội đóng vai trò quan
trọng trong việc trợ giúp những nạn nhân bị BLGĐ phục hồi về mặt thể chất, tâm
lý, để từng bước ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Phòng chống bạo lực gia đình là trách nhiệm của mỗi người và toàn xã hội. Do
vậy, để ngăn ngừa và giảm thiểu những hậu quả của bạo lực gia đình thì các quy
định của pháp luật cần phải được nghiêm chỉnh thi hành và có cơ chế theo dõi, giám
sát việc thi hành đó và cần có sự phối hợp và linh hoạt giữa các ban ngành, đoàn thể
với các nhân viên xã hội tại địa phương để bảo đảm sự ứng phó toàn diện đối với
phụ nữ bị bạo lực gia đình.
Tại tỉnh Thái Bình chưa có những nghiên cứu chuyên sâu để hình dung một
cách tổng thể và toàn diện về tình trạng bạo lực gia đình và thực trạng xây dựng các
hoạt động truyền thông công tác xã hội, các hoạt động hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực
gia đình trên địa bàn toàn tỉnh. Điều đó đặt ra yêu cầu rằng chúng ta cần phải nghiên
cứu về vấn đề truyền thông công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình cho
phụ nữ, các hoạt động hỗ trợ nạn nhân bị BLGĐ góp phần giúp các cơ quan quản lý
nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình để tìm ra định hướng hiệu quả, đưa ra
những quyết định quản lý đúng đắn về phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn
tỉnh Thái Bình.
Với mong muốn tìm hiểu thực trạng truyền thông Công tác xã hội trong phòng
chống bạo lực gia đình đối tổ chức các hoạt động về phòng, chống bạo lực gia đình

2


đối với phụ nữ dưới góc độ là cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Thái Bình, từ đó đề
xuất những định hướng, giải pháp hoàn thiện hoạt động truyền thông Công tác xã hội
trong phòng chống bạo lực gia đình, hỗ trợ nạn nhân bị BLGĐ và xây dựng các mô
hình về phòng, chống bạo lực gia đình tại địa phương, tôi lựa chọn đề tài “Truyền
thông Công tác xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ thực
tiễn tỉnh Thái Bình” làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ở trên thế giới
Hiện nay có rất nhiều tác phẩm trong và ngoài nước viết về vấn đề bạo lực
chống lại phụ nữ, trong đó đối với các tác phẩm nước ngoài phải kể đến các tác
phẩm như “Freedom from Violence - Women‟s Strategies from Around the World”
(Tự do từ bạo lực- Chiến lược toàn cầu của phụ nữ) của nhiều tác giả, do Margaret
Schuler chủ biên. Tác phẩm này đã phản ánh tình trạng bạo lực chống phụ nữ từ
nước Mỹ đến các nước đang phát triển ở châu Á đến châu Phi và châu Mỹ La tinh.
Tính đa dạng của hoàn cảnh, văn hóa, nguyên nhân, các hình thức bạo lực diễn ra ở
cả nơi làm việc, đường phố, gia đình mà các tác giả phản ánh đã nói lên tính phổ
biến của các dạng bạo lực chống phụ nữ trong đó có bạo lực gia đình. Các bài viết
đã cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về vấn đề và chiến lược liên quan đặc biệt đến
bạo lực giới. Đó là mở rộng chương trình tuyên truyền vận động, giáo dục, cải cách
luật pháp và hành động chống bạo lực đối với phụ nữ. (tr.41, quyển bạo lực gia
đình, một sự sai lệch…)
Trong số các nghiên cứu của nước ngoài, phải kể đến đóng góp của nhà nữ
quyền Dobash với cuốn sách “Violence Against Wives” (Tạm dịch là Bạo lực
chống lại những người vợ - 1979) là một trong những công trình nghiên cứu nổi
tiếng về BLGĐ. Nghiên cứu được tiến hành ở Scotland bao gồm những cuộc phỏng
vấn sâu và phỏng vấn không chính thức 137 phụ nữ đang lánh nạn vì bạo lực của
người chồng. Trong số đó, có tới 84% các trường hợp phụ nữ bị tấn công lần đầu
tiên trong 3 năm đầu của hôn nhân. Dobash đã chỉ ra nguyên nhân chính của các vụ
bạo lực trong hôn nhân là do uy quyền của người chồng và sự phụ thuộc của người

3


phụ nữ vào đàn ông. Uy quyền của người chồng thường được khơi tỏa bởi sự ghen
tuông, tình dục, con cái, tiền nong, say rượu …. Dobash cũng chỉ ra rằng phụ nữ bị
bạo lực thường có xu hướng quay lại với người chồng bạo lực vì bị phụ thuộc về
kinh tế và lo lắng về sự thiếu vắng vai trò của người bố đối với con cái của họ.
Chính từ những lo lắng đó nên khi xảy ra bạo lực, những người phụ nữ thường
không muốn đi trình báo cảnh sát hoặc cơ quan chức năng. Do vậy, họ thường
không nhận được sự hỗ trợ từ gia đình, cộng đồng hay các dịch vụ phúc lợi.
Năm 2005, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phối hợp với Trường Dược nhiệt đới
của Mỹ đã thực hiện một nghiên cứu đa quốc gia với chủ đề “Women’s Health
and Domestic Violence against Women” (Sức khỏe phụ nữ và BLGĐ chống lại
phụ nữ). Nghiên cứu đã tiếp cận với phụ nữ trên 10 quốc gia bao gồm Bawngladet,
Brazin, Ethiopia, Nhật, Peru, Namibia, Samoa, Serbia và Montenegro, Thái Lan và
nước Cộng hòa Tanzania cho thấy có 15% đến 71% phụ nữ phải chịu đựng một
hình thức bạo lực nào đó về thể xác và tình dục ngay trong gia đình họ và đây là vấn
đề có tính chất toàn cầu hiện đang xảy ra ở cả các nước phát triển lẫn các nước đang
phát triển. Chi phí kinh tế cũng rất đáng quan tâm – một báo cáo năm 2003 của
Trung tâm kiểm soát và phòng bệnh Mỹ ước tính rằng chi phí cho những vụ bạo lực
do người quen biết gây ra chỉ tính riêng ở Mỹ cũng đã lên đến 5,8 tỷ đô la mỗi năm;
4,1 tỷ cho các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ trực tiếp và 1,8 tỷ cho những thiệt
hại về khả năng lao động.
Báo cáo về “Nghiên cứu sâu về bạo hành với phụ nữ” được Tổng thư ký
LHQ trình bày tại kỳ họp lần thứ 61 của Đại hội đồng LHQ là một tài liệu quan
trọng thể hiện rõ tình hình bạo lực đối với phụ nữ đang diễn ra ở 71 quốc gia trong
phạm vi nghiên cứu. Báo cáo đã chỉ ra các yếu tố dẫn đến bạo lực đối với phụ nữ ở
các quốc gia trong phạm vi nghiên cứu là việc sử dụng bạo lực để giải quyết những
mâu thuẫn và xung đột, quan điểm “riêng tư”, sự thờ ơ của các cấp ban ngành và
một số yếu tố nguy cơ ở cấp độ cá nhân, gia đình và cộng đồng khác. Báo cáo đã
phản ánh một cách khái quát về tình hình bạo lực với phụ nữ trên Thế giới, cùng các
hình thức biểu hiện, các chỉ số và hậu quả của nó. Báo cáo cũng chỉ ra những hoạt
động có triển vọng nhằm giải quyết vấn nạn này như: chú trọng vào pháp luật và

4


cung cấp các dịch vụ phòng ngừa. Bên cạnh đó, báo cáo cũng chỉ ra những thách
thức, khó khăn không nhỏ cho nhân loại trong công tác phòng chống, ngăn chặn bạo
lực đối với phụ nữ như: nguồn lực mỗi quốc gia khác nhau, thiếu hụt ngân quỹ,
thiếu sự xử phạt, thiếu sự đánh giá hay các cách tiếp cận toàn diện.
Tác giả Lê Thị Phương Mai với “Bạo lực đối với phụ nữ, những hậu quả đối
với sức khỏe sinh sản”. Cùng với những tác phẩm, bài nghiên cứu trong nước về
bạo lực gia đình còn có những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như cuốn sách
của Heise, L., Ellsberg, M. (1994) Bạo lực đối với phụ nữ: Gánh nặng sức khỏe
tiềm ẩn; cùng tác giả với cuốn: Chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ (1999). Các tác
giả có điểm chung khi đề cập đến vấn đề này, đều bày tỏ thái độ phản đối bạo lực,
những hậu quả đáng tiếc mà bạo lực gây ra, bên cạnh đó kêu gọi cộng đồng chung
tay đẩy lùi bạo lực và bất bình đẳng giới.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về BLGĐ, tuy nhiên các công trình
nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc nêu lên thực trạng và đưa đến những giải
pháp và cũng chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về truyền thông công
tác xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình cho phụ nữ, chưa nghiên cứu xây
dựng mô hình can thiệp cho nhóm phụ nữ chịu ảnh hưởng của bạo lực gia đình trên
góc độ của ngành công tác xã hội.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của bạo lực gia đình, trong những năm
gần đây, không chỉ trên thế giới mà tại Việt Nam, bạo lực gia đình đã trở thành một
trong những vấn đề được nhiều tổ chức cũng như các nhà nghiên cứu quan tâm.
Đây là một vấn đề phức tạp mang tính toàn cầu và có thể coi là một loại vi phạm
quyền con người mang tính phổ biến nhất. Bạo lực gia đình đã vượt qua ranh giới
văn hóa, đẳng cấp xã hội, trình độ học vấn, tuổi tác; nó đã và đang tác động đến mỗi
cá nhân và toàn xã hội. Cho đến nay, các tác phẩm, bài nghiên cứu viết về hoạt
động truyền thông phòng chống bạo lực gia đình một cách chuyên sâu còn rất ít.
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về bạo lực gia đình cũng được bắt
đầu từ những năm 1990 và ngày càng nhiều hơn, phong phú hơn, thu hút sự chú ý

5


đặc biệt của xã hội. Các góc cạnh của vấn đề được tìm tòi, phát hiện và công bố trên
nhiều ấn phẩm thuộc các chuyên ngành và lĩnh vực khác nhau.
Từ những năm 1994, tác giả Lê Thị Quý - một trong những chuyên gia nghiên
cứu về Giới, gia đình đã có bài viết đầu tiên về “Bạo lực gia đình ở Việt Nam” trên
tạp chí Khoa học và Phụ nữ, trong đó xác định 5 nguyên nhân chính của nạn bạo lực
gia đình; tuy nhiên nguyên nhân lớn nhất, sâu xa nhất chính là bất bình đẳng trong
quan hệ giới. Năm 1996, trong tác phẩm “Nỗi đau thời đại” tác giả Lê Thị Quý đã đi
sâu phân tích vấn đề bạo lực gia đình dưới hai dạng “Bạo lực không nhìn thấy được”
và “Bạo lực nhìn thấy được” trong đó nêu cụ thể dạng bạo lực không nhìn thấy được
xuất phát từ sự phân công lao động bất hợp lý giữa nam và nữ trong gia đình núp
dưới các khái niệm “thiên chức”, “hy sinh” của phụ nữ. Đây là một trong những phát
hiện về các dạng bạo lực trong gia đình mà đến nay nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt
động xã hội đã sử dụng.
Năm 1999, các tác giả: Vũ Mạnh Lợi, Vũ Tuấn Huy, Nguyễn Hữu Minh thực
hiện công trình nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới” tiến hành ở 3 thành phố Hà Nội,
Huế và thành phố Hồ Chí Minh. Các tác giả đã đi sâu xem xét “Thái độ của cộng
đồng và các thể chế xã hội về bạo lực trên cơ sở giới cũng như các phản ứng của cá
nhân, luật pháp và các thể chế đối với nạn bạo lực trong gia đình”. Nghiên cứu cũng
đưa ra nhận xét tình trạng bạo lực có chiều hướng gia tăng tại 3 thành phố nghiên
cứu, đặc biệt là trong những gia đình mà ở đó người phụ nữ đang thực hiện và khẳng
định vai trò kinh tế hộ. Nghiên cứu đưa ra 8 nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình và
chỉ ra 7 kiến nghị nhằm hạn chế, ngăn chặn tình trạng bạo lực trong gia đình. Tuy
nhiên nghiên cứu này vẫn chưa đưa ra được hướng giải quyết trực tiếp giúp chị em
phụ nữ bị bạo lực gia đình nâng cao được năng lực của bản thân, từ đó họ có thể tự
giúp bản thân họ vươn lên, thoát khỏi hoàn cảnh.
Viết về nguyên nhân, hậu quả của bạo lực gia đình có nhiều cuốn sách trong
nước như cuốn của tác giả Nguyễn Thị Hoài Đức với “Bạo lực gia đình đối với phụ
nữ, Những thái độ và thực hành về Sức khỏe phụ nữ”, trong nghiên cứu này tác giả
đi vào phân tích sâu về hậu quả của bạo hành, cùng với những tác động tiêu cực

6


của nó đối với thể chất và tinh thần của người phụ nữ.
Tác giả Lê Thị Quý với “Bạo lực gia đình trong hoàn cảnh Việt Nam, các hình
thức, nguyên nhân và các khuyến nghị hành động”, trong nghiên cứu này tác giả
bằng phương pháp khảo sát thực tế và phỏng vấn cấu trúc đã phân tích sâu sắc
nguyên nhân, hình thức của bạo lực chủ yếu do bất bình đẳng giới; và tác giả cũng
có đưa ra một số giải pháp dành cho nạn nhân bị bạo lực. Song cách thức để tuyên
truyền về phòng, chống vẫn chưa được phân tích cụ thể, sâu sắc.
Bạo lực còn được nhắc đến dưới dạng bạo lực giới như nghiên cứu của Vũ
Mạnh Lợi với cuốn “Bạo lực trên cơ sở Giới tại Việt Nam”, và Quy, Lê Thi (2004)
– Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn với bài nghiên cứu “Bạo lực trên
cơ sở Giới trong gia đình, Điển cứu tại Thái Bình, Phú Thọ và Hà Nội”. Đặc biệt
người phụ nữ được đề cập đến rất nhiều trong các văn bản chỉ đạo hoạt động và
công tác đoàn thể của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
Tại tỉnh Thái Bình, năm 2001 Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiến hành thực
hiện đề tài: “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam” tại ba tỉnh: Thái Bình,
Lạng Sơn và Tiền Giang. Với phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, đề
tài đã tìm hiểu nhận thức, thái độ của người dân và các cán bộ thi hành pháp luật
của các tổ chức đoàn thể xã hội tại địa phương. Đề tài cũng đã chỉ ra được những
nguyên nhân và hậu quả của nạn BLGĐ đối với phụ nữ và phản ứng của nạn nhân
trước những hành vi bạo lực.
Năm 2012, Vụ Gia đình thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với
Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
thực hiện “Điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp có tính đột phá
trong năm 2012 và giai đoạn 2012-2016”. Cuộc điều tra này nhằm xác định thực
trạng, nguyên nhân và đề xuất những giải pháp có tính đột phá cho công tác phòng,
chống bạo lực gia đình những năm tiếp theo.
Năm 2013, Học viên Lê Thị Vân Anh – Khoa văn hóa học, trường Đại học
văn hóa Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Hoạt động truyền thông phòng
chống bạo lực gia đình tại trung tâm phụ nữ và phát triển từ năm 2007 đến nay” với

7


mục đích nghiên cứu đề tài là tìm hiểu các lý thuyết về truyền thông trực tiếp, các
cách thức hoạt động truyền thông hiệu quả trong phòng chống bạo lực gia đình tại
Trung tâm Phụ nữ và Phát triển. Trên cơ sở đó, đưa ra một số khuyến nghị và một
số giải pháp cho các đối tượng bị bạo lực gia đình, cho người làm công tác truyền
thông, Nhà nước và chính quyền các cấp.
Còn rất nhiều những công trình nghiên cứu với quy mô khác nhau về vấn đề
BLGĐ đã được các tác giả thực hiện với mong muốn sẽ góp phần đưa đến một cái
nhìn đa sắc cạnh về vấn đề BLGĐ tại các địa phương trên cả nước. Các nghiên cứu
đã phần nào phản ánh được thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của BLGĐ cũng như
đã đưa ra được các kết luận, khuyến nghị có ý nghĩa cho công tác phòng chống
BLGĐ ở nước ta.
Có thể thấy, trong các công trình khoa học đã được công bố, phần lớn đều đề
cập đến vấn đề về nguyên nhân của bạo lực gia đình, hậu quả của bạo lực gia đình,
cũng có một số nghiên cứu đề cập đến giải pháp, song đó là những hướng giải pháp
chung về cách phòng tránh bạo lực gia đình rất ít các công trình nghiên cứu chuyên
sâu truyền thông Công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình. Đặc biệt,tại
tỉnh Thái Bình hiện nay chưa có công trình nghiên cứu toàn diện dưới góc độ Công
tác xã hội trên địa bàn toàn tỉnh nên tôi nghiên cứu vấn đề Truyền thông Công tác
xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ từ thực tiễn tỉnh Thái
Bình. Ở luận văn này tôi đề cập một số giải pháp cụ thể, đó là hoạt động truyền
thông trong phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, những cách thức truyền
thông hiệu quả đã được Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Thái Bình tổ chức thành công.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết về truyền thông trực tiếp, các cách thức
hoạt động truyền thông trong phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ; Thực
trạng hoạt động truyền thông Công tác xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình
đối với phụ nữ tại tỉnh Thái Bình; Đưa ra một số khuyến nghị và một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng truyền thông Công tác xã hội cho các đối tượng bị

8


BLGĐ, cho người làm công tác xã hội và chính quyền các cấp tại tỉnh Thái Bình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về Công tác xã hội, truyền thông công tác
xã hội.
- Khảo sát đánh giá hoạt động truyền thông Công tác xã hội trong phòng
chống bạo lực gia đình cho phụ nữ từ thực tiễn tỉnh Thái Bình.
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông Công tác xã hội trong
phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại tỉnh Thái Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Truyền thông Công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình cho phụ nữ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về địa bàn nghiên cứu: 8 huyện, thành phố tỉnh Thái Bình.
- Về thời gian: Từ năm 2012 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận về phép duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề bạo lực gia đình và truyền thông
phòng, chống bạo lực gia đình.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Đây là phương pháp sử dụng các kỹ năng chuyên môn tìm hiểu, thu thập,
phân tích các tài liệu đã được công nhận có liên quan đến công tác xã hội đối với
phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình từ đó đánh giá vấn đề để đưa ra các định
hướng, giải pháp để nâng cao hoạt động truyền thông công tác xã hội trong phòng
chống bạo lực gia đình cho phụ nữ tỉnh Thái Bình.
5.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

9


Là phương pháp sử dụng bảng hỏi theo nội dung đã được soạn trước nhằm thu
thập thông tin về đời sống vật chất cũng như tinh thần của phụ nữ và về thái độ, kĩ
năng làm việc của nhân viên công tác xã hội. Qua bảng hỏi ta cũng nói lên tâm tư,
nguyện vọng của phụ nữ về các dịch vụ công tác xã hội cũng như các hoạt động
khác.
Tác giả sử dụng phương pháp này tại 8 xã thuộc 8 huyện, thành phố để phỏng
vấn 800 phụ nữ làm căn cứ dưa ra nhận định đánh giá về kết quả đạt được và những
khó khăn, hạn chế trong các hoạt động phòng ngừa, can thiệp, hỗ trợ nạn nhân của
BLGĐ đặc biệt là phụ nữ, đồng thời đưa ra giải pháp thực hiện tốt truyền thông
CTXH trong PCBLGĐ cho phụ nữ tỉnh Thái Bình.
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Là phương pháp thu thập thông tin thông qua việc tác động tâm lý trực tiếp
giữa người đi phỏng vấn và người được phỏng vấn trên cơ sở mục tiêu của đề tài
nghiên cứu. Nguồn thông tin trong phỏng vấn là tất cả các câu trả lời của người
được phỏng vấn thể hiện quan điểm, ý thức, thái độ, mối quan tâm của họ về vấn đề
công tác xã hội đối với phụ nữ, từ đó thu thập các thông tin phục vụ mục đích
nghiên cứu. Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu để tìm hiểu sâu hơn về vai
trò của CTXH trong PCBLGĐ cho phụ nữ. Thực hiện phỏng vấn sâu tại 8 xã thuộc
8 huyện/thành phố với tổng số 80 bảng hỏi. Cụ thể, mỗi xã phỏng vấn sâu sâu 10
người: 01CB đảng, 01 CB chính quyền, 01 CB LĐTBXH, 01 CB văn hóa, 01 CB
Hội phụ nữ, 01 CB MTTQ, 01 Công an và 3 phụ nữ đã từng là nạn nhân của BLGĐ.
5.2.4. Phương pháp quan sát
Quan sát là một phương pháp thu thập dữ liệu đơn giản, dễ thực hiện nhưng
rất hữu ích bằng cách thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông
tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Vận dụng các lý thuyết về truyền thông phòng, chống bạo lực gia đình để
nghiên cứu và lý giải một cách khoa học vấn đề phòng chống bạo lực gia đình, góp

10


phần tổng quan lý luận cơ bản truyền thông Công tác xã hội trong phòng, chống bạo
lực gia đình đối với phụ nữ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp thêm các giải pháp nhằm giúp chính quyền, các ban, ngành, đoàn
thể của tỉnh nâng cao hiệu quả truyền thông Công tác xã hội trong phòng, chống bạo
lực gia đình cho phụ nữ, góp phần ngăn chặn và giảm thiểu hậu quả của bạo lực gia
đình,bạo lực đối với phụ nữ.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục,
nội dung chính của luận văn được chia làm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về Truyền thông công tác xã hội trong phòng
chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Chương 2: Thực trạng hoạt động truyền thông Công tác xã hội trong phòng
chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Thái Bình
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông
Công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Thái Bình

11


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC
GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm truyền thông
Khái niệm truyền thông được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau:
Truyền thông đơn giản là quá trình truyền đạt thông tin, sử dụng ngôn ngữ,
chữ viết, hình ảnh, màu sắc nhằm tắc động trực tiếp đến tư duy suy nghĩ của đối
tượng mà chúng ta muốn hướng đến. (Trích theo Trịnh Đức Dương Blog)
Truyền thông: Đơn giản chỉ là quá trình truyền đạt thông tin thôi.
Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin, một kiểu tương
tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và
tín hiệu chung.
Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…chia
sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết
lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu
cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội.
Truyền thông là kiểu hình thức tương tác xã hội trong đó có hai tác nhân
tương tác với nhau, chia sẻ thông điệp và tín hiệu chung. Ở dạng dễ, thông tin
được truyền tải từ người gửi tới người tiếp nhận. Ở dạng khó hơn, các thông tin trao
đổi liên kết người gửi và người tiếp nhận.
Những yếu tố cơ bản của Truyền thông:
+ Nguồn là đem lại thông tin và bắt đầu quá trình truyền thông.
+ Thông điệp là thông điệp từ nhà truyền thông muốn gửi đến người nhận thông tin.
+ Kênh truyền thông là đường chuyển tải thông tin dữ liệu đến người tiếp thông tin.
+ Người tiếp nhận là một cá nhân hoặc tập thể nhận thông tin.

12


1.1.2. Khái niệm truyền thông công tác xã hội
Truyền thông CTXH là truyền tải những nguyên tắc của công tác xã hội, vai
trò của nhân viên CTXH, những dịch vụ CTXH và các hoạt động của CTXH qua
các kênh thông tin đại chúng, qua các cuộc trao đổi, tọa đàm, hội nghị ….đến người
dân trong cộng đồng.
Truyền thông phòng, chống bạo lực gia đình là quá trình liên tục chia sẻ thông
tin, kiến thức, thái độ, tình cảm và kỹ năng giữa người truyền thông và đối tượng
tiếp nhận nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và chuyển đổi hành vi về bạo
lực gia đình theo mục tiêu truyền thông đề ra.
1.1.3. Khái niệm bạo lực gia đình
- Khái niệm bạo lực
Bạo lực là một hiện tượng xã hội, phương thức ứng xử trong các mối quan hệ
xã hội tồn tại trong mọi xã hội từ khi hình thành xã hội loài người. Đây là mối quan
hệ khi một bên sử dụng quyền lực để trấn áp bên kia.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bạo lực được hiểu là việc đe dọa hay dùng
sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm
người, một cộng đồng người mà gây ra hay làm tăng khả năng gây ra tổn thương, tử
vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa bạo lực “là sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn
áp hoặc lật đổ” (tr.33, Từ điển Tiếng Việt (2007), NXB Lý luận CT, HN). Với giải
thích này, bạo lực thường được hiểu theo nghĩa là phương thức thực hiện một cuộc
cách mạng lật đổ chính quyền và thiên về sử dụng vật chất.
- Khái niệm bạo lực gia đình
Định nghĩa bạo lực gia đình của Liên hợp quốc về việc loại bỏ bạo lực đối
với phụ nữ ngày 20/12/1993 đã định nghĩa: “Bạo lực đối với phụ nữ là bất kỳ hành
động nào dựa trên cơ sở giới gây ra hậu quả hoặc có thể gây ra hậu quả, làm tổn
hại hoặc gay đau khổ cho phụ nữ về thân thể, tình dục hay tâm lý, kể cả những lời
đe dọa hay độc đoán tước quyền tự do, dù xảy ra ở nơi công cộng hay trong đời
sống riêng tư”.

13


Ở Việt Nam, vào ngày 21/11/2007, trong kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa
XII đã thông qua bản dự thảo Luật Phòng,chống bạo lực gia đình. Luật này đã đưa
ra định nghĩa về bạo lực gia đình như sau: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của
thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần,
kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” (Khoản 2 Điều 1, Luật PCBLGĐ
năm 2007)
Hành vi bạo lực gia đình thường xảy ra ở giữa những người có quan hệ đặc
biệt (vợ chồng, con dâu, con rể) hoặc ruột thịt (ông, bà, cha mẹ, con cháu, anh chị
em họ hàng) có thể trong cùng một mái nhà hoặc khác mái nhà. Nạn nhân của bạo
lực thân thể thường là phụ nữ, trẻ em hoặc người cao tuổi. Còn nam giới, họ là nạn
nhân của bạo lực tinh thần nhiều hơn. Bạo lực gia đình xảy ra ở mọi quốc gia, nền
văn hóa, tôn giáo, không phân biệt hoàn cảnh, trình độ.
+ Các loại hình bạo lực gia đình
Theo quan hệ của các đối tượng bạo lực gia đình có thể phân chia thành một
số loại bạo lực gia đình:
- Bạo lực giữa vợ chồng với nhau là loại bạo lực phổ biến, được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm.
- Bạo lực giữa các thành viên lớn tuổi trong gia đình là loại bạo lực giữa anh
chị em, mẹ chồng nàng dâu, em chồng chị dâu.
- Bạo lực của người lớn đối với trẻ em là loại bạo lực của cha mẹ đối với con
cái, ông bà với cháu, anh chị đối với em.
- Bạo lực ngược: bạo lực của người nhỏ tuổi với người lớn tuổi hơn như con
cái bạo lực cha mẹ, cháu ngược đãi ông bà, em hành hạ anh chị.
Theo phương cách ứng xử, có thể phân bạo lực gia đình ở các dạng sau:
- Bạo lực về thể chất
Bạo lực về thể chất được biểu hiện qua các hành vi thô bạo như thượng cẳng
chân,hạ cẳng tay nhằm gây thương tích cho nạn nhân; hạn chế các nhu cầu thiết yếu
(ăn, uống, ngủ); đuổi ra khỏi nhà, bỏ rơi nơi vắng vẻ.

14


- Bạo lực tinh thần
Bạo lực tinh thần không gây hậu quả nghiêm trọng đến thể chất người bị bạo
hành, nhưng có nhiều trường hợp, người bị bạo hành phải tìm đến cái chết để giải
thoát. Bạo lực tinh thần phổ biến, âm ỉ và dai dẳng hành hạ nạn nhân. Biểu hiện của
kiểu bạo hành này là các hành vi chửi mắng, hạ nhục với lời lẽ thô thiển, nặng nề
xâm phạm đến nhân phẩm và danh dự. Thậm chí, có khi bạo lực tinh thần tồn tại
dưới một số dạng như đe dọa tinh thần, khủng bố tâm lý gây nên sự ức chế, phẫn
uất, khủng hoảng ý thức.
Ngược lại với kiểu hành hạ bằng lời là kiểu hành hạ bằng tình cảm, với các
hành vi như tỏ ra thờ ơ, lạnh nhạt, “chiến tranh lạnh”, tỏ ra vô trách nhiệm.
- Bạo lực tình dục
Bạo lực tình dục là hành vi ép buộc bằng bạo lực, gạ gẫm, đe dọa, lừa gạt
hoặc dùng kinh tế để ép buộc quan hệ tình dục với người khác trái với ý muốn của
họ. Dùng các thủ đoạn khiến nạn nhân lệ thuộc hay trong tình trạng quẫn bách phải
miễn cưỡng chấp nhận, bắt quan hệ ngay cả khi bạn đời đau ốm,mệt mỏi.
Trong các hình thức bạo lực thì bạo lực tình dục ít bị phát hiện và nạn nhân
không được bảo vệ vì ở nước ta, đây là một vấn đề tế nhị khó tìm hiểu. Trong lĩnh
vực này, nạn nhân nữ chịu ảnh hưởng nặng nề của các chuẩn mực đạo đức, các giá
trị văn hóa truyền thống chi phối. Đối với người chồng, họ có nghĩa vụ phải phục
tùng, thậm chí bị ép buộc sinh thêm con, không cho dùng các biện pháp tránh thai,
cưỡng ép quan hệ khi họ không muốn.
- Bạo lực kinh tế
Bạo lực kinh tế bao gồm các hành vi như: kiểm soát tiền bạc, bắt bạn đời lệ
thuộc về tài chính, chi tiêu, không cho giữ tiền và đi làm, phải chứng minh mọi chi
tiêu mua sắm lớn nhỏ. Ở Việt Nam, loại bạo lực này chưa có thống kê đầy đủ, tuy
nhiên thực tế cho thấy đây là hình thức phổ biến rộng rãi.
- Bạo lực xã hội
Bạo lực xã hội bao gồm các hành vi như cắt đứt mối quan hệ giữa vợ (chồng)
và người trong gia đình với bạn bè, người thân, họ hàng, đe dọa họ, cô lập họ bằng

15


nhiều cách như nhốt trong nhà, hạn chế cho đi ra ngoài và giao tiếp với mọi người,
cắt điện thoại, ngăn cản không được tham gia bất kỳ một hoạt động xã hội nào như
đi học, đi làm, không tham gia các tổ chức xã hội, không được hưởng các quyền lợi
chính đáng của mình.
Tuy nhiên, thường không có ranh giới rõ ràng giữa các loại bạo lực, bởi
người có hành vi bạo lực thường sử dụng nhiều hình thức bạo lực cùng một lúc như
vừa đánh đập, bắt lao động quá sức vừa chửi bới, lăng mạ, nhốt không cho tiếp xúc
với bên ngoài hoặc đuổi ra khỏi nhà và có những loại bạo lực vừa nhìn thấy được
thể hiện qua các tác động của cơ thể, sức khỏe, vừa không nhìn thấy được thể hiện
qua những tổn thương về tinh thần, tình cảm, như bạo lực về thể chất, bạo lực tình
dục. Điều này cho thấy rằng, vấn đề bạo lực gia đình và các hành vi bạo lực gia đình là
một vấn đề phức tạp.
+ Nguyên nhân của bạo lực gia đình
Một là, nhận thức về giới và bình đẳng giới còn hạn chế. Ảnh hưởng của nền
văn hóa phong kiến với những quan niệm mang đậm màu sắc định kiến giới, đó là
những định kiến nằm ngay trong truyền thống văn hóa, phong tục tâp quán, chuẩn
mực đạo đức bấy lâu nay trong xã hội: tư tưởng trọng nam, khinh nữ; chồng chúa,
vợ tôi; tư tưởng gia trưởng; định kiến giới: phụ nữ là người giữ gìn hạnh phúc gia
đình - “một điều nhịn là chín điều lành”… Những quan niệm này đã khiến cho
người nam giới cho rằng họ có vai trò trụ cột trong gia đình, có quyền định đoạt,
quyết định mọi việc trong gia đình. Bên cạnh đó, cộng đồng và xã hội vẫn coi bạo
lực gia đình là chuyện riêng của gia đình mà không can thiệp kịp thời, chưa tạo ra
dư luận rộng rãi.
Hai là, khó khăn về kinh tế cũng là một yếu tố làm nảy sinh bạo lực trong gia
đình, khi năng lực tự chủ tài chính của người đàn ông trong gia đình bị hạn chế sẽ
hình thành ở họ tư tưởng tự ti, hẹp hòi, dễ nổi nóng dẫn đến các mâu thuẫn, xung
đột trong gia đình. Hoặc trong hoàn cảnh, nữ giới bị hạn chế về cơ hội tiếp cận việc
làm, phải phụ thuộc vào nam giới về mặt tài chính thì những khó khăn về kinh tế sẽ
tạo ra các áp lực, căng thẳng, bế tắc đối với các thành viên trong gia đình, từ đó dẫn

16


tới các mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột; nếu không biết cách xử lý phù hợp có thể
gây nên bạo lực gia đình.
Ba là, trình độ học vấn, năng lực nghề nghiệp, sự chênh lệch nghề nghiệp
giữa vợ và chồng là một trong những yếu tố khách quan dẫn đến tình trạng BLGĐ.
Bốn là, sự khủng hoảng của các mối quan hệ gia đình. Thực tế đã khẳng
định, ngoài những yếu tố khách quan từ bên ngoài, bạo lực gia đình còn xảy ra do
chính những nguyên nhân trong nội bộ gia đình. Gia đình không hạnh phúc, không
có tình yêu thương, sẻ chia là điều kiện tốt nhất làm cho các loại bạo lực có thể phát
triển. Do ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, văn hóa xã hội, gia đình Việt Nam đang
có những dấu hiệu của sự khủng hoảng; nhiều giá trị truyền thống về gia đình đã có
sự thay đổi. Các mối quan hệ giữa những người ruột thịt trong nhiều gia đình không
còn bền chặt như trước.
Năm là, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng, chống bạo lực
gia đình còn hạn chế. Trình độ nhận thức và sự hiểu biết về pháp luật trong một bộ
phận người dân còn thấp cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình
vẫn còn tiếp tục xảy ra.
Sáu là, tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm cũng là
những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới bạo lực gia đình.
+ Hậu quả của bạo lực gia đình
Thứ nhất, bạo lực gia đình dù ở hình thức nào cũng gây tổn thương đến sức
khỏe và tinh thần đối với nạn nhân, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con
người nhất là đối với phụ nữ, trẻ em, các thành viên khác trong gia đình và toàn xã
hội; vi phạm nghiêm trọng các quyền con người. Bạo lực gia đình xảy ra phổ biến
đối với phụ nữ nhưng đó cũng là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với cuộc sống
của trẻ em, có tác động rất xấu đến sự phát triển thể chất,tinh thần, đạo đức, trí tuệ
và nhân cách của chúng. Những trẻ em này sẽ có sự tác động tâm lý như trầm cảm,
sợ hãi, mất ngủ, tự ti, bi quan, nóng giận…
Thứ hai, bạo lực gia đình tác động tiêu cực đến lực lượng lao động, ảnh hưởng
đến năng suất lao động và chất lượng công việc; do đó cũng ảnh hưởng xấu đến các

17


hoạt động kinh tế, nó đang trực tiếp gây ra những hậu quả khôn lường cả về vật chất,
tinh thần cho nạn nhân, gia đình họ và cộng đồng. Nạn nhân bị bạo lực gia đình luôn
trong tình trạng bất ổn, hoảng loạn cộng với những tổn hại về sức khỏe, thể chất làm
giảm năng suất lao động, gia tăng bệnh tật. Bên cạnh đó, người gây ra bạo lực thường
có tinh thần thiếu minh mẫn, không kiểm soát được hành động, tư tưởng không được
thoải mái để lao động, làm việc, học tập.
Thứ ba, bạo lực gia đình tạo ra gánh nặng cho xã hội khi phát sinh các chi
phí phục vụ cho việc hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình và xử lý các vụ vi phạm
bạo lực gia đình. Chi phí cho việc thực thi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình như
tuyên truyền, tư vấn và các chi phí khác như y tế, giáo dục rất tốn kém.
Thứ tư, hậu quả đối với người gây bạo lực là bị phạt hành chính hoặc xử lý
hình sự và mất uy tín đối với cộng đồng.
Ngoài ra, bạo lực gia đình gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình trật tự an
toàn xã hội, trật tự tại cộng đồng, khu dân cư; khiến cho các giá trị truyền thống của
gia đình Việt Nam bị lung lay và suy giảm. Bạo lực gia đình làm xói mòn đạo đức,
nhân phẩm, mất tính dân chủ xã hội, gây bức xúc dư luận và ảnh hưởng đến thế hệ
tương lai, gây nguy cơ tan vỡ và suy giảm sự bền vững của gia đình Việt Nam.
1.1.4. Khái niệm bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Bạo lực đối với phụ nữ gây tổn hại cho phụ nữ về mặt thể chất, tình dục, tâm lý
hay kinh tế, bao gồm cả đe dọa thực hiện những hành động đó, ép buộc hay cố tình
tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do xảy ra ở nơi công cộng hay đời sống riêng tư.
Không phải tất cả các trường hợp bạo lực đối với phụ nữ đều là bạo lực trên cơ sở
giới nhưng trong bối cảnh bất bình đẳng giới còn phổ biến ở Việt Nam, hầu hết các
trường hợp bạo lực đối với phụ nữ do chồng hay bạn tình lâu dài gây ra bạo lực trên cơ
sở giới.
Bạo lực đối với phụ nữ vi phạm nghiêm trọng những quyền con người cơ
bản nhất và là một trong những biểu hiện rõ ràng nhất của bất bình đẳng giới. Đây
là nguyên nhân gây suy giảm sức khỏe cho phụ nữ ở độ tuổi sinh sản thạm chí gây
tử vong (Tham khảo Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ Chăm sóc sức khỏe sinh

18


sản, trang 460, Bộ Y tế 2016 ban hành theo Quyết định số 4128/QĐ-BYT ngày
9/7/2016). Bạo lực trên cơ sở giới được quy định là một trong những hành vi bị cấm
trong điều 10 Luật Bình đẳng giới năm 2016. Theo Luật Phòng chống bạo lực gia
đình năm 2007, bạo lực đối với phụ nữ do chồng hoặc các thành viên khác trong gia
đình gây ra là hành vi vi phạm pháp luật.
1.1.5. Khái niệm phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là việc thực hiện cac biện pháp
nhằm ngăn chặn và đẩy lùi bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình, giúp cho người phụ nữ
tránh được bạo lực gia đình, bảo đảm các quyền con người và có cuộc sống hạnh phúc.
Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một công việc rất khó khăn và
lâu dài. Để bảo vệ người phụ nữ, bảo vệ quyền và vị trí của người phụ nữ cần thiết
phải có sự điều chỉnh của pháp luật. Việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
chỉ đạt được hiệu quả khi nó được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật, phù hợp với pháp
luật, phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ được hiểu là phòng ngừa những
hành vi trái pháp luật phòng chống bạo lực gia đình, có lỗi, do chủ thể có năng lực
trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
trong lĩnh vực phòng, chống BLGĐ mà nạn nhân của bạo hành gia đình là người phụ nữ.
Như vậy, Phòng, chống BLGĐ đối với phụ nữ là phòng ngừa các hành vi bạo
hành gia đình đối với phụ nữ mà trong đó nạn nhân là người phụ nữ, người gây ra bạo
hành chủ yếu là nam giới. Người phụ nữ không chỉ bị bạo hành từ phía người chồng,
mà còn bị bạo hành từ phía gia đình nhà chồng, bố, mẹ, anh, chị, em của chồng.
1.1.6. Công tác xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình
Theo giáo trình CTXH trong phòng, chống BLGĐ của Học viên Phụ nữ Việt
Nam năm 2015, CTXH trong PCBLGĐ là các hoạt động phòng ngừa, giảm nhẹ, giải
quyết vấn đề BLGĐ từ cấp độ cá nhân, gia đình và cộng đồng được thực hiện bởi đội
ngũ nhân viên CTXH.
1.1.7. Truyền thông công tác xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình

19


Truyền thông công tác xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình là truyền tải
những nguyên tắc của công tác xã hội, vai trò của nhân viên CTXH, những dịch vụ
CTXH và các hoạt động của CTXH trong phòng, chống bạo lực gia đình qua các
kênh thông tin đại chúng, qua các cuộc trao đổi, tọa đàm, hội nghị …. chia sẻ thông
tin, kiến thức, thái độ, tình cảm và kỹ năng đến người dân trong cộng đồng nhằm
nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và chuyển đổi hành vi về bạo lực gia đình theo
mục tiêu truyền thông đề ra.
1.2. Đặc điểm, nhu cầu của phụ nữ bị bạo lực gia đình
1.2.1. Đặc điểm của phụ nữ bị bạo lực gia đình
Phụ nữ bị bạo lực gia đình đa dạng, ở nhiều độ tuổi, hình thức và mức độ bị
bạo lực khác nhau; trong đó họ là những người thiếu kinh nghiệm trong làm ăn,
không có nguồn vốn để đầu tư phát triển sản xuất và phát triển kinh tế, trình độ tay
nghề không có hoặc rất thấp, chính vì vậy đời sống của họ và gia đình họ hầu hết
gặp rất nhiều khó khăn.
Đa số phụ nữ là nạn nhân của BLGĐ bị tổ thương tâm lý nặng nề, tâm trạng
thường thấy thua thiệt so với bạn bè, anh chị em trong gia đình, nếu làm họ bị tổn
thương thì họ cảm thấy bị xúc phạm và rất dễ bất mãn. Một số khác có tâm lý cho
rằng người khác không hiểu hoàn cảnh của mình nên chán nản, bất mãn từ đó họ
cảm thấy khó hòa nhập với gia đình, cộng đồng, không có ý chí phấn đấu vươn lên.
Tuy nhiên, có những nạn nhân nỗ lực tìm kiếm cho mình giải pháp phù hợp để
đấu tranh với người gây bạo hành, có người đã dần dần cảm hóa được người gây ra
bạo lực, vì vậy cuộc sống của họ trở lên hạnh phúc; Có nạn nhân tìm kiếm sự hỗ trợ
của người thân, bạn bè và các dịch vụ trợ giúp xã hội để thoát khỏi hoàn cảnh bạo
lực; trong số những nạn nhân này có thể trở thành người hỗ trợ đắc lực cho chính
quyền địa phương trong công tác tư vấn, giải quyết, trợ giúp các ca bị bạo lực từ trải
nghiệm của chính mình.
Phụ nữ bị BLGĐ thường có cảm giác lo lắng, xấu hổ, nhục nhã, ít nói, phủ
nhận việc mình bị BLGĐ và không muốn kết nối, chia sẻ với những người khác

20


trong gia đình; đồng thời họ không làm gì để ngăn chặn bạo lực xảy ra và tự đổ lỗi
cho bản thân về việc
1.2.2. Nhu cầu của phụ nữ bị bạo lực gia đình
Là con người trong xã hội, mỗi người đều có những nhu cầu về vật chất và
nhu cầu về tinh thần. Các nhu cầu của con người thường rất đa dạng, phong phú và
luôn phát triển, biến đổi cùng với sự phát triển của con người. Nhu cầu con người
phản ánh mong muốn chủ quan hoặc khách quan tuỳ theo hoàn cảnh sống, yếu tố
văn hoá, nhận thức và vị trí xã hội của họ. Để tồn tại con người cần phải được đáp
ứng các nhu cầu thiết yếu cơ bản cần cho sự sống, như: ăn, mặc, nhà ở, và chăm sóc
y tế,…; để phát triển con người cần được đáp ứng các nhu cầu cao hơn như: nhu cầu
được an toàn, được học hành, được yêu thương, được tôn trọng và khẳng định. Xét
cho cùng sự vận động và phát triển của xã hội loài người nhằm mục đích đáp ứng
ngày càng cao các nhu cầu của con người. Việc đáp ứng các nhu cầu con người
chính là động cơ thúc đẩy con người tham gia hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội.
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong những
người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic psychology),
trường phái này được xem là thế lực thứ 3 (the Third Force) khi thế giới lúc ấy đang
biết đến 2 trường phái tâm lý chính: Phân tâm học (Psychoanalysis) và Chủ nghĩa
hành vi (Behaviorism). Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm
ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực
khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục. Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu
(Hierarchy of Needs) của con người. Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu
của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ
cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn
trước. Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của
con người theo 5 cấp bậc:
Nhu cầu cơ bản ((basic needs): bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người
như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục… Đây là những nhu cầu cơ bản nhất
và mạnh nhất của con người. Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu

21


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×