Tải bản đầy đủ (.pdf) (211 trang)

HÔN NHÂN HIỆN NAY CỦA NGƢỜI Ê-ĐÊ Ở XÃ CUÔR DĂNG, HUYỆN CƢ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.94 MB, 211 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ THỊ MAI

HÔN NHÂN HIỆN NAY CỦA NGƢỜI Ê-ĐÊ
Ở XÃ CUÔR DĂNG, HUYỆN CƢ M’GAR,
TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

HÀ NỘI - 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ THỊ MAI

HÔN NHÂN HIỆN NAY CỦA NGƢỜI Ê-ĐÊ
Ở XÃ CUÔR DĂNG, HUYỆN CƢ M’GAR,
TỈNH ĐẮK LẮK

Ngành: Nhân học
Mã số: 9.31.03.02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:


1. PGS.TS. Nguyễn Văn Minh
2. PGS.TS. Phạm Văn Dương

HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất cứ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Hà Thị Mai


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ................................................................................ 11
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ........................................................................ 11
1.2. Cơ sở lý thuyết ................................................................................................... 21
1.3. Khái quát về xã Cuôr Dăng ................................................................................ 29
1.4. Người Ê-đê ở Tây Nguyên và người Ê-đê ở xã Cuôr Dăng .............................. 34
Chƣơng 2: ĐẶC ĐIỂM, NGUYÊN TẮC VÀ HÌNH THỨC KẾT HÔN ........... 45
2.1. Một số đặc điểm và tính chất cơ bản trong hôn nhân ........................................ 45
2.2. Một số nguyên tắc - hình thức kết hôn ............................................................... 63
2.3. Một số trường hợp hôn nhân khác ..................................................................... 67
Chƣơng 3: PHONG TỤC VÀ NGHI LỄ TRONG HÔN NHÂN ........................ 81
3.1. Phong tục và nghi lễ trong hôn nhân của những người đồng tộc ...................... 81
3.2. Phong tục, nghi lễ trong hôn nhân của người Ê-đê với người khác tộc ............. 96

3.3. Phong tục, nghi lễ trong hôn nhân của những người cùng và khác tôn giáo ... 101
Chƣơng 4: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HÔN NHÂN CỦA NGƢỜI Ê-ĐÊ HIỆN
NAY Ở XÃ CUÔR DĂNG, HUYỆN CƢ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK ............. 111
4.1. Xu hướng và nguyên nhân biến đổi trong hôn nhân của người Ê-đê .............. 111
4.2. Một số giá trị của hôn nhân .............................................................................. 123
4.3. Một số vấn đề đang đặt ra ................................................................................ 128
4.4. Một số khuyến nghị nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của hôn nhân trong
quá trình phát triển cộng đồng người Ê-đê hiện nay ............................................... 135
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 146


DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIÊT TẮT
CT:

Chỉ thị

ĐHQG

Đại học Quốc gia

GS.

Giáo sư

HCM

Hồ Chí Minh

NCS


Nghiên cứu sinh

Nxb

Nhà xuất bản

PGS

Phó giáo sư



Quyết định

TP

Thành phố

Tr

Trang

TS

Tiến sĩ

TTg

Thủ tướng


UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tổng hợp dân số theo thành phần dân tộc ................................................31
Bảng 2.1: Thời gian tìm hiểu của các cặp vợ chồng trước khi kết hôn ....................47
Bảng 2.2. Bối cảnh gặp gỡ trước hôn nhân ...............................................................48
Bảng 2.3. Nơi cư trú sau kết hôn...............................................................................62
Bảng 2.4. Quan niệm kết hôn con cô – con cậu ........................................................69
Bảng 2.5: Thống kê hôn nhân cận huyết từ 1975 đến 2018......................................70
Bảng 2.6: Kết hôn khác dân tộc tại các buôn ở xã từ 1975 đến 2018 .......................71
Bảng 4.1: Lý do thay đổi tuổi kết hôn.....................................................................114


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Quyền quyết định hôn nhân (đơn vị: %) ..............................................53
Biểu 4.1. Sự can thiệp của các bên liên quan khi vợ/chồng ngoại tình, ly hôn ......129
Biểu đồ 4.2: Ý kiến có nên duy trì tục thách cưới hay không.................................133


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người Ê-đê là một trong năm dân tộc thiểu số theo chế độ mẫu hệ (Ê-đê, Gia
rai, Chu Ru, Raglai và Chăm) thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo ở nước ta. Người Êđê có dân số đông thứ hai trong các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên, chỉ sau
dân tộc Gia rai. Đây là cộng đồng tộc người có văn hóa truyền thống độc đáo, tiêu
biểu và phong phú, cư trú chủ yếu ở tỉnh Đắk Lắk. Do có dân số lớn, trình độ phát
triển kinh tế - xã hội vào loại cao ở Tây Nguyên và do những nguyên nhân lịch sử,

văn hóa mà dân tộc Ê-đê từ trước đến nay luôn có vai trò quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và ổn định chính trị ở vùng
Tây Nguyên.
Văn hóa truyền thống của người Ê-đê, trong đó có phong tục tập quán và nghi
lễ hôn nhân là những giá trị được hình thành từ lâu đời, phản ánh đặc trưng tộc
người. Trong những thập niên vừa qua, nhất là thời kỳ đổi mới, quá trình giao lưu
và hội nhập diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực không chỉ ở trong
đời sống người Ê-đê mà còn trong tất cả các tộc người khác. Quá trình ấy đã mang
lại những thành tựu to lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội, song cũng gây ra những nguy
cơ và thách thức mới, trong đó có sự mai một các giá trị văn hóa truyền thống.
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách,
giải pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội nhằm nâng cao
đời sống cho người dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong đó, hôn nhân và
gia đình luôn được coi trọng, thể hiện qua việc thực hiện Chiến lược phát triển gia
đình Việt Nam và ban hành Luật Hôn nhân và Gia đình cũng như tập trung xây dựng
đời sống văn hóa mới ở các khu dân cư trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới
hiện nay. Thực tế cho thấy, hiện nay đời sống của phần lớn người Ê-đê còn bị chi
phối ít nhiều ở các mức độ khác nhau bởi phong tục, tập quán, trong đó những
phong tục, tập quán về hôn nhân - gia đình thường có tính bền vững và ăn sâu trong
tâm thức của người dân. Chính vì vậy, mục tiêu xây dựng chế độ hôn nhân và gia

1


đình tiến bộ, đặc biệt là khi có Luật Hôn nhân và Gia đình đầu tiên của nước ta
được ban hành năm 1959, gần đây nhất là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và
Nghị định 126 về Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn
nhân và Gia đình (2014) đã bước đầu được đặt trong bối cảnh hướng tới sự hài hòa
giữa pháp luật và phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, thực tiễn
áp dụng pháp luật về hôn nhân đối với người Ê-đê theo mối tương quan với những

qui định của tập quán pháp tộc người đã và đang đặt ra không ít các vấn đề cần giải
quyết về mặt lý luận như: tục thách cưới, việc đăng ký kết hôn, xử lý ly hôn, phân
chia tài sản sau khi ly hôn,… Vì vậy, nghiên cứu các giá trị văn hóa của tộc người
Ê-đê nói chung và trong lĩnh vực hôn nhân nói riêng trong bối cảnh thực hiện Luật
Hôn nhân và Gia đình, chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình, chính sách xây
dựng đời sống văn hóa mới hiện nay ở dân tộc Ê-đê là cần thiết và có ý nghĩa về
khoa học lẫn thực tiễn.
Trên cơ sở các nguồn tư liệu đã công bố trong và ngoài nước cũng như những
thông tin thu thập được từ các chuyến đi thực địa, luận án hướng tới việc xây dựng
một bức tranh tương đối đầy đủ về các vấn đề cơ bản trong hôn nhân của người Êđê, nhất là những biến đổi trong hôn nhân hay sự xuất hiện các hình thức kết hôn
mới: hôn nhân hỗn hợp dân tộc, hôn nhân giữa người có đạo và người không có
đạo, sự giao tiếp văn hóa giữa hôn nhân của người Ê-đê với các tộc người theo chế
độ phụ hệ… cũng như một số vấn đề mới nảy sinh trong bối cảnh hiện đại và hội
nhập hiện nay cần nghiên cứu. Thông qua nghiên cứu hôn nhân của người Ê-đê sẽ
giúp cho việc hiểu biết đầy đủ và sâu sắc hơn về đặc điểm văn hóa tộc người truyền
thống, nhất là các phong tục tập quán, những khuôn mẫu ứng xử cá nhân, gia đình
và cộng đồng, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Ngoài ra, qua việc nghiên
cứu hôn nhân của tộc người Ê-đê, luận án cũng chỉ ra những vấn đề dân tộc mới nảy
sinh cũng như các yếu tố văn hóa mới cần tiếp tục tìm hiểu. Đồng thời, luận án cũng
cung cấp những luận cứ khoa học giúp chính quyền địa phương tham khảo trong
việc thực hiện chính sách, giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá

2


của tộc người Ê-đê phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi
mới hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, cung cấp hệ thống tư liệu về đặc điểm, hình thức - nguyên tắc,

phong tục tập quán, nghi lễ hôn nhân truyền thống của người Ê-đê đang được thực
hành tại điểm nghiên cứu.
Thứ hai, tìm hiểu những biến đổi trong hôn nhân của người Ê-đê ở điểm
nghiên cứu từ 1975 đến nay, qua đó làm rõ đời sống hôn nhân của đồng bào trong
thời kỳ đổi mới đất nước theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế.
Thứ ba, góp phần đánh giá làm rõ những giá trị cơ bản và các vấn đề đang đặt
ra trong hôn nhân của người Ê-đê hiện nay, qua đó cung cấp cơ sở khoa học phục
vụ cho việc xây dựng và thực hiện các chính sách, giải pháp nhằm phát huy các giá
trị của hôn nhân trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của người Ê-đê ở điểm
nghiên cứu nói riêng và tộc người này ở Tây Nguyên nói chung.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án tập trung thực hiện
một số nhiệm vụ chính sau:
- Nghiên cứu tổng quan về người Ê-đê ở điểm nghiên cứu, nhất là các đặc
điểm liên quan và tác động đến hôn nhân của tộc người này.
- Nghiên cứu làm rõ các đặc điểm, nguyên tắc – hình thức, phong tục tập quán
và nghi lễ hôn nhân của người Ê-đê hiện nay ở điểm nghiên cứu.
- Đánh giá xu hướng biến đổi và phân tích nguyên nhân biến đổi của các xu
hướng; xác định các giá trị của hôn nhân và những vấn đề đang đặt ra hiện nay... để
từ đó đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm phát huy các giá trị của hôn nhân
trong quá trình phát triển hiện nay.

3


3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là các vấn
đề hôn nhân hiện nay của người Ê-đê ở xã Cuôr Dăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk
Lắk, gồm: quan niệm, đặc điểm, nguyên tắc – hình thức, phong tục và nghi lễ trong

hôn nhân.
- Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung nghiên cứu: Phạm vi nội dung của luận án là các đặc điểm,
hình thức - nguyên tắc, phong tục tập quán, nghi lễ hôn nhân của người Ê-đê ở xã
Cuôr Dăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.
Phạm vi không gian nghiên cứu: Địa bàn nghiên cứu là xã Cuôr Dăng, huyện
Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Xã Cuôr Dăng cách thành phố Buôn Ma Thuột 17km, đây
là địa bàn đã và đang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa –
hiện đại hóa. Toàn xã có 6 buôn: buôn Cuôr Dăng A, buôn Cuôr Dăng B, buôn
Kroa B, buôn Kroa C, buôn Aring, buôn Ko Hneh. Dân tộc Ê-đê chiếm trên 80%
dân số toàn xã, bộ phận còn lại gồm: dân tộc Việt (Kinh), các dân tộc thiểu số tại
chỗ Tây Nguyên và các dân tộc thiểu số phía Bắc di cư vào. Ở địa bàn xã được lựa
chọn nghiên cứu đều có các trường hợp kết hôn nội tộc người, hôn nhân khác tộc
người, hôn nhân của những người khác tôn giáo,... Do vậy, việc nghiên cứu sinh lựa
chọn xã Cuôr Dăng để nghiên cứu hôn nhân của người Ê-đê trong giai đoạn hiện
nay đảm bảo tính đại diện, khách quan.
Phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án: Được xác định là các đặc điểm,
hình thức - nguyên tắc, phong tục tập quán, nghi lễ hôn nhân của người Ê-đê hiện
đang được thực hành tại điểm nghiên cứu, nhưng đặt trong sự so sánh từ năm 1975
đến nay để làm rõ hơn quá trình và xu hướng biến đổi của các nội dung nghiên cứu.
Sở dĩ nghiên cứu sinh (NCS) lựa chọn mốc thời gian từ năm 1975 đến nay để
nghiên cứu là vì, từ 1975 đến nay Nhà nước ta thực thi nhiều chính sách quan trọng
có tác động mạnh mẽ đến người Ê-đê nói chung và hôn nhân nói riêng, trong đó
đáng chú ý là chính sách di dân xây dựng các vùng kinh tế mới theo kế hoạch, cùng

4


với đó là làn sóng di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc và ven biển miền Trung lên Tây
Nguyên trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX, đã làm cho dân số của toàn tỉnh Đắk

Lắk nói chung và xã Cuôr Dăng tăng nhanh. Do vậy, đời sống của đồng bào dân tộc
thiểu số tại chỗ có sự giao lưu và ảnh hưởng nhất định từ bộ phận cư dân mới đến
này. Quá trình đó đã góp phần hình thành những yếu tố văn hóa mới của tộc người,
biến đổi văn hóa tộc người. Trong đó, hôn nhân và gia đình là một trong những lĩnh
vực biến đổi khá rõ nét.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra, luận án đã sử dụng những
phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Phương pháp luận
- Luận án vận dụng các luận điểm về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn của người Ê-đê ở nước ta. Cụ
thể ở đây, NCS luôn đặt hôn nhân nói chung và các vấn đề của hôn nhân nói riêng
trong một hệ thống gồm các thành tố lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường tự
nhiên và con người ở cộng đồng nghiên cứu trong mối liên quan và sự tương tác lẫn
nhau và với các cộng đồng khác. Quá trình đó đã góp phần tạo ra sự giao lưu tiếp
biến về nhiều mặt để dẫn đến việc hôn nhân của người Ê-đê tại địa bàn nghiên cứu
vừa giữ được những đặc trưng truyền thống của tộc người, của vùng miền, nhưng
cũng luôn có sự biến đổi để thích nghi với các điều kiện mới.
- Luận án đã vận dụng các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tộc người
nói chung và hôn nhân gia đình của các tộc người thiểu số nói riêng, nhất là Luật
Hôn nhân và Gia đình hiện hành và Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam trong
bối cảnh hiện nay. Những quan điểm này là các định hướng quan trọng để luận án
giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm của luận án, nhất là xác định các giá
trị và hạn chế của hôn nhân hiện nay để đề xuất một số khuyến nghị khoa học liên
quan nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị hôn nhân trong bối cảnh hiện nay.

5


Phương pháp nghiên cứu

- Thống kê và kế thừa các tài liệu có sẵn: Nghiên cứu sinh đã đọc và xử lý tài
liệu từ các nguồn sách, tạp chí, các báo cáo kết quả của những chương trình, dự án
nghiên cứu trong nước; báo cáo tổng kết của các cơ quan trung ương và địa phương
liên quan đến đề tài nghiên cứu; số liệu thống kê ở các cấp trung ương, tỉnh, huyện,
xã và buôn làng.
- Điền dã dân tộc học: Trước hết bằng phương pháp định tính, NCS đã sống
và trải nghiệm cùng với người dân tại địa phương để có thể quan sát tham dự các
hoạt động trong cuộc sống hàng ngày của họ. Cố gắng hiểu được một cách tương
đối đầy đủ về quan niệm, tâm lý và hành vi của người Ê-đê ở điểm nghiên cứu liên
quan đến vấn đề hôn nhân. Trong quá trình đó, NCS kết hợp phương pháp quan sát
tham dự với các cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm đối với những thông tín viên
để thu thập thông tin theo vấn đề phù hợp với đối tượng nghiên cứu, nhất là những
người am hiểu và có uy tín như cán bộ, già làng, người già,... Nghiên cứu sinh đã
tiến hành lựa chọn phỏng vấn sâu 35 người, đảm bảo các nguyên tắc về tính đại
diện cho lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính, tôn giáo, học vấn, điều kiện kinh tế, vị trí
xã hội, cụ thể: về giới tính có 20 nữ (57,1%), 15 nam (42,9%); có 28 người Ê-đê
(80%), 3 người Việt (8,57%), 2 người Gia-rai (5,71%), 1 người Hrê (2,86%), 1
người Thái (2,86%); có 5 người dưới 20 tuổi (14,29%), 10 người từ 20 đến 35 tuổi
(28,57%), 5 người từ 35 đến 50 tuổi (14,29%), 15 người ngoài 50 tuổi (42,86%); có
10 người không theo đạo (28,57%), 15 người theo Tin Lành (42,86%), 6 người theo
Công giáo (17,14%), 3 người theo đạo Phật (8,57%), 1 người theo Đạo Cao Đài
(2,86%); có 25 người làm nông (71,43%), 1 người làm cán bộ huyện (2,86%), 3
người cán làm bộ xã (8,57%), 3 người làm cán bộ buôn (8,57%), 2 người hưu trí
(5,71%), 01 người giáo viên (2,86%); về học vấn (trình độ học vấn cao nhất của đối
tượng phỏng vấn): có 5 người không đi học (14,29%), 25 người trình độ học vấn từ
lớp 1 đến lớp 12 (71,43%), 5 người có trình độ từ cao đẳng trở lên (14,29%); có 5
người nghèo (có trong danh sách hộ nghèo của địa phương, chiếm 14,29%), 20
người trung bình (57,1%), 10 người khá giả (28,57%). Nội dung phỏng vấn thường

6



được chuẩn bị trước với hệ thống câu hỏi mở để người trả lời có thể có nhiều lựa
chọn khi đưa ra ý kiến của mình.
Nghiên cứu sinh tiến hành thảo luận nhóm tại địa bàn nghiên cứu để thu thập
thông tin định tính. Đối tượng thảo luận trong một nhóm thường có sự thống nhất
chung như nhóm cán bộ buôn làng, nhóm đàn ông lớn tuổi, nhóm phụ nữ trung
niên,... Hướng thảo luận nhóm tập trung vào các vấn đề cụ thể như: tình hình đời
sống kinh tế, văn hóa, xã hội, các phong tục, tập quán liên quan đến hôn nhân từ
truyền thống đến hiện tại, việc vận dụng luật tục và luật pháp trong thực hành hôn
nhân ở địa phương cũng như những nguyện vọng của người dân trong việc bảo tồn,
phát huy giá trị văn hóa tộc người.
Nghiên cứu sinh đã tham dự 5 lễ ăn hỏi có nghi thức tổ chức theo phong tục
truyền thống, 7 đám cưới tổ chức theo cách thức người Việt (trong đó có 4 đám
cưới của người Ê-đê kết hôn với người Ê-đê, 1 đám cưới người Ê-đê kết hôn với
người Tày, 1 đám cưới người Ê-đê kết hôn với người Việt, 1 đám cưới người Ê-đê
kết hôn với người Gia-rai); tham dự 1 lễ đính hôn của người Ê-đê tại Chi hội Tin
Lành Cuôr Dăng, 1 lễ cưới của người Ê-đê theo Công giáo ở giáo xứ Thiên Đăng.
Trong quá trình điền dã, NCS áp dụng các công cụ bổ trợ như chụp ảnh, sưu tầm
các tư liệu về văn học nghệ thuật dân gian, tài liệu thư tịch của tộc người Ê-đê liên
quan đến đề tài luận án.
- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được áp dụng thông qua các
cuộc tọa đàm hẹp, thảo luận, trao đổi theo từng vấn đề chuyên sâu, nhằm thu thập tư
liệu và kinh nghiệm nghiên cứu từ các chuyên gia, những cán bộ và người dân có uy
tín và am hiểu trong cộng đồng ở địa phương tiến hành điền dã. Trong quá trình
thực hiện luận án, NCS đã tiến hành nhiều cuộc trao đổi với các nhà khoa học trong
lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Bên cạnh đó cũng tranh thủ ý kiến của các nhà quản
lý, cán bộ phụ trách về văn hóa, dân số của xã; các già làng,... để thu thập những ý
kiến đánh giá chuyên sâu và những kinh nghiệm của họ đối với vấn đề nghiên cứu.
- Sử dụng các phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu


7


các nguồn thông tin, tư liệu, số liệu thu thập được để hoàn thành mục tiêu nghiên
cứu đề ra. Trong đó, so sánh đồng đại và lịch đại được dùng chủ yếu trong quá trình
phân tích và đánh giá các tài liệu đã thu thập được từ những phương pháp khác.
Mục tiêu là trên cơ sở các tài liệu có được từ kế thừa tài liệu có sẵn và từ điền dã
dân tộc học, so sánh để thấy được sự tương đồng và khác biệt trong hôn nhân ở
người Ê-đê từ quá khứ đến hiện tại.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được triển khai trong suốt quá trình thực
hiện đề tài để có thể đưa ra những kết luận, nhận định phù hợp dựa trên các nguồn
tư liệu về đối tượng và địa bàn nghiên cứu đề tài thu thập được.
- Phương pháp định lượng: Cùng với các phương pháp nghiên cứu định tính,
NCS sử dụng phương pháp định lượng để thu thập thông tin phục vụ mục tiêu
nghiên cứu. Bảng hỏi được xây dựng với hơn 50 câu hỏi về thông tin chung của hộ
gia đình, quan niệm, tiêu chí lựa chọn bạn đời, nghi lễ hôn nhân, cư trú sau kết
hôn… (xem phụ lục 5). Cộng đồng người Ê-đê tại xã Cuôr Dăng cư trú ở 5 buôn là:
buôn Kroa B, buôn Kroa C, buôn Cuôr Dăng B, buôn Ko Hneh và buôn Aring. Tuy
nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài, do hạn chế về thời gian, kinh phí, nhân lực…
nên NCS không tiến hành điều tra ở cả 5 buôn này mà chỉ chọn điểm 3 buôn (Cuôr
Dăng B, buôn Aring, buôn Kroa B) để nghiên cứu, bởi người Ê-đê khá đồng nhất về
môi trường cư trú, tổ chức xã hội cũng như cách thức sản xuất nhưng cũng tồn tại
những điểm khác biệt như số lượng người theo đạo Tin Lành, số lượng các tộc
người cùng chung sống trong buôn, phong tục truyền thống còn lưu giữ,… NCS đã
điều tra 200 phiếu thông qua phương pháp chọn mẫu có chủ đích. Số phiếu điều tra
được nhập và xử lý và làm sạch bằng phần mềm SPSS. Điều tra bảng hỏi tập trung
vào các đối tượng đã kết hôn kết hôn trong độ tuổi từ 15 – 65 tuổi, bao gồm những
đối tượng kết hôn trước và sau năm 1975. Việc tập trung vào đối tượng này tạo điều
kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu. Bởi vì, đối tượng là những người Ê-đê đã

từng thực hiện nghi lễ hôn nhân, có nhận thức nhất định về quan niệm, nguyên tắc hình thức, phong tục, nghi lễ cũng những vấn đề khác liên quan tới hôn nhân.

8


Ngoài ra, luận án còn tham khảo, kế thừa những công trình nghiên cứu trước,
luận án, luận văn, những tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước, nhất là các ấn
phẩm về hôn nhân nói chung và của người Ê-đê nói riêng đã công bố; Bên cạnh đó,
còn tham khảo một số báo cáo của địa phương liên quan đến điều kiện địa lý, đặc
điểm dân cư, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của địa bàn và đối tượng nghiên cứu.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tương đối toàn diện và có tính
hệ thống về đặc điểm, nguyên tắc - hình thức, phong tục tập quán và nghi lễ hôn
nhân của người Ê-đê ở xã Cuôr Dăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.
- Thông qua kết quả nghiên cứu, luận án góp phần làm rõ những đặc trưng của
người Ê-đê tại điểm nghiên cứu trong các vấn đề hôn nhân hiện nay cũng như phân
tích đánh giá về các nguyên nhân tác động đến xu hướng biến đổi trong hôn nhân
của người Ê-đê ở xã Cuôr Dăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.
- Luận án góp phần bổ sung những tư liệu mới, trên cơ sở đó xác định được
các giá trị của hôn nhân và một số vấn đề về hôn nhân đang đặt ra hiện nay cần
quan tâm. Kết quả thu được sẽ cung cấp thêm các luận cứ khoa học giúp các cơ
quan quản lý xây dựng và thực hiện các chính sách, giải pháp phù hợp nhằm đưa
Luật Hôn nhân và Gia đình, chính sách xây dựng đời sống mới trong lĩnh vực hôn
nhân và gia đình vào thực tiễn tộc người Ê-đê hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận: Luận án hệ thống hóa và làm rõ những quan niệm, đặc điểm,
hình thức - nguyên tắc, phong tục tập quán và nghi lễ hôn nhân của người Ê-đê
đang thực hành tại điểm nghiên cứu. Qua đó cung cấp hệ thống tư liệu khoa học
mới góp phần bổ sung các khái niệm và lý luận về hôn nhân ở cộng đồng còn theo
chế độ mẫu hệ khá điển hình của nước ta trong bối cảnh hiện tại. Đồng thời luận án

cũng đề xuất một số khuyến nghị nhằm góp phần áp dụng Luật Hôn nhân và Gia
đình, xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư vào thực tiễn người Ê-đê ở xã

9


Cuôr Dăng, huyện Cư M’gar trên cơ sở vẫn bảo tồn và phát huy được các giá trị
hôn nhân tộc người này.
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án là nguồn tài liệu có giá trị
tham khảo đối với các nhà nghiên cứu, các cấp chính quyền địa phương trong quá
trình thực hiện chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực hôn
nhân và gia đình ở các cộng đồng dân tộc thiểu số Tây Nguyên nói chung và người
Ê-đê nói riêng trong bối cảnh hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính
của luận án gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và địa bàn nghiên cứu
Chương 2. Đặc điểm, nguyên tắc và hình thức kết hôn
Chương 3: Phong tục và nghi lễ trong hôn nhân
Chương 4: Một số vấn đề về hôn nhân của người Ê-đê hiện nay ở xã Cuôr
Dăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.

10


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Một số nghiên cứu chung về hôn nhân

Từ thời cổ đại, các triết gia Hy Lạp đã quan tâm đến vấn đề hôn nhân và gia
đình, nhưng phải tới năm 1861 khi Bacofell xuất bản tác phẩm Mẫu quyền, trong đó
ông nêu lên luận điểm quan trọng là lúc đầu loài người sống trong tình trạng tạp
hôn, con cái sinh ra không biết bố chỉ biết mẹ, tổ chức xã hội đầu tiên theo mẫu hệ
rồi mới chuyển sang phụ hệ, thì lịch sử nghiên cứu về hôn nhân mới được coi là bắt
đầu. Sau Bacofell, nhà bác học người Anh J.M.Lennan trong cuốn Hôn nhân
nguyên thủy (1865) khi tìm hiểu những tập quán đã từng tồn tại một cách phổ biến
trong các nền văn hóa khác nhau như cưới trộm, hôn nhân ngoại tộc (ngoại tộc
hôn), hôn nhân đa phu, đã coi đó là những đặc điểm của các thị tộc theo dòng mẹ.
Năm 1866, Mc Lenan xuất bản công trình Nghiên cứu lịch sử cổ đại – hôn nhân
nguyên thủy, đã đề cập đến chế độ ngoại tộc hôn. Đó là, luật tục cấm những nam nữ
trong cùng một nhóm chung huyết thống được lấy nhau mà chỉ được kết hôn với
những người không cùng huyết thống ở các nhóm khác. Tiếp sau đó, nhà dân tộc
học người Mỹ là L. Morgan xuất bản cuốn Xã hội cổ đại, công trình đã đánh dấu
lịch sử nghiên cứu hôn nhân bước sang trang mới. L.Morgan đã sử dụng tài liệu của
hệ thống huyết tộc và thân tộc để dựng lại lịch sử hôn nhân và gia đình của loài
người qua năm hình thái kế tiếp nhau là: gia đình huyết tộc (Consanguine family),
gia đình punalua (Punaluan family), gia đình một vợ một chồng (Monogamian
family), Gia đình đối ngẫu (Syndyasmian family) và gia đình phụ quyền
(Patriarchal family). Năm 1884, trên cơ sở tổng kết các thành tựu khoa học đương
thời, Engels đã viết tác phẩm kinh điển Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu
và nhà nước. Trong đó, riêng phần hôn nhân, Engels đã kế thừa nhiều luận điểm
của L. Morgan [82, tr.35]. Ông quan niệm, chế độ mẫu hệ chỉ là huyết tộc về phía

11


mẹ, những người cùng họ hàng trong cùng một thị tộc mới được kế thừa và tài sản
được trao cho những người cùng huyết tộc với mẹ.
Trên cơ sở nghiên cứu xã hội mẫu hệ của nhiều dân tộc trên thế giới, các nhà

dân tộc học xác định mẫu hệ là cách tính dòng dõi theo phía mẹ, quyền thừa kế
tài sản và con cái đều được truyền lại cho con cháu của người phụ nữ. Ở Việt
Nam, có năm tộc người thuộc loại hình xã hội mẫu hệ là: Ê-đê, Gia-rai, Chu Ru,
Raglai và Chăm. Ngoài ra còn có một số tộc người phụ hệ nhưng yếu tố mẫu hệ
còn rất đậm nét như: Cơ-ho, Mnông,… Trong số các dân tộc này, qua nghiên cứu
cho thấy tộc người Ê-đê là xã hội mẫu hệ điển hình ở Tây Nguyên nói riêng và
Việt Nam nói chung.
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về hôn nhân. Trước hết phải kể đến các
bài viết của tác giả Phan Hữu Dật: Hôn nhân và gia đình của các dân tộc ở nước ta
(1998) in trong Một số vấn đề dân tộc học Việt Nam đã giúp người đọc hình dung
một cách khái quát về bức tranh hôn nhân của cộng đồng các tộc người ở Việt Nam.
Trong hai bài viết Dấu vết hôn nhân ba thị tộc ở người Vân Kiều và Dấu vết hệ
thống bốn hôn đẳng ở Tây Nguyên (1991), tác giả đã khắc họa phần nào bức
tranh đa dạng trong văn hóa hôn nhân của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Kết
quả nghiên cứu của ông đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu
lịch sử hôn nhân và gia đình ở nước ta như hình thái hôn nhân, tính chất và thiết
chế hôn nhân.
Công trình Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam
của Đỗ Thúy Bình (1994) đã đi sâu phân tích những vấn đề cơ bản của đời sống hôn
nhân, nhất là về kết cấu gia đình, chức năng của gia đình và nghi lễ chu kỳ đời
người, từ đó khái quát hóa gia đình như một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm tâm
lý xã hội đặc biệt. Những phân tích, nhận định, đánh giá của tác giả ở thời điểm
những năm cuối thế kỷ XX khá sâu sắc, có giá trị khoa học. Đây là công trình
chuyên khảo có sử dụng những số liệu điều tra xã hội học tộc người để minh họa
cho vấn đề nghiên cứu.

12


Nghiên cứu Gia đình và hôn nhân của người Chăm ở Việt Nam của Bá Trung

Phụ (1994) đã giới thiệu khá đầy đủ về gia đình và hôn nhân, làm rõ tổ chức xã hội, đặc
trưng văn hóa của tộc người này, đồng thời chỉ ra được những đặc trưng của hôn nhân
người Chăm với các dân tộc khác. Tuy không trực tiếp liên quan đến đề tài hôn nhân
của người Ê-đê, nhưng đây cũng là nội dung khoa học đặt ra những giả định về mối
quan hệ giữa hai cộng đồng người để NCS tham khảo trong quá trình nghiên cứu.
Nghiên cứu Hôn nhân - gia đình - ma chay của người Tà Ôi, Cơ Tu, Bru - Vân
Kiều ở Quảng trị - Thừa Thiên Huế của Nguyễn Xuân Hồng (1998) là công trình đi
sâu phân tích một cách có hệ thống về nguồn gốc của chế độ hôn nhân – gia đình
cũng như các tập tục nghi lễ liên quan của người Tà Ôi, Cơ Tu, Bru – Vân Kiều.
Đây là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho các nghiên cứu về hôn nhân gia đình nói
riêng và văn hóa tộc người nói chung.
Tìm hiểu về hôn nhân và gia đình không thể bỏ qua nghiên cứu: Hôn nhân gia
đình các dân tộc Hmông, Dao ở hai tỉnh Lai Châu và Cao Bằng (2004) của
Nguyễn Ngọc Tấn, Đặng Thị Hoa và Nguyễn Thị Thanh. Cuốn sách không chỉ đi
sâu phân tích những đặc điểm và thực trạng hôn nhân - gia đình của hai tộc người
thiểu số ở hai địa phương nói trên mà còn cung cấp các thông tin về nguồn gốc tộc
người, điều kiện tự nhiên của địa bàn cư trú, đặc điểm kinh tế…làm căn cứ cho tìm
hiểu quá trình tác động dẫn đến sự chuyển biến trong hôn nhân và gia đình của hai
tộc người Hmông và Dao, cụ thể là nhóm Hmông Trắng và nhóm Dao Đỏ.
Luận án Hôn nhân và gia đình của người Brâu ở làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện
Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum của Bùi Ngọc Quang (2013), trong phần hôn nhân đã cung
cấp những tư liệu đầy đủ về hôn nhân truyền thống của người Brâu, như: quan niệm
truyền thống về hôn nhân, những nguyên tắc trong hôn nhân, hình thức và tính chất
của hôn nhân, trường hợp hôn nhân đặc biệt, các nghi thức trong hôn nhân,... Đồng
thời tác giả cũng đưa ra một vài nhận định về xu hướng biến đổi trong giai đoạn
hiện nay. Những tư liệu này giúp NCS đặt ra các mối liên hệ so sánh trong quá trình
nghiên cứu hôn nhân tộc người Ê-đê trong bối cảnh hiện nay.

13



Cuốn sách Nhân học về thân tộc, dòng họ, hôn nhân và gia đình được biên
soạn bởi Nguyễn Khắc Cảnh và Đặng Thị Kim Oanh (2015) gồm 4 chương đề cập
đến những vấn đề: thân tộc, dòng họ, hôn nhân, gia đình. Trong đó, hôn nhân và gia
đình được xem như là thiết chế xã hội hết sức đa dạng và phức tạp phản ánh các
mối quan hệ sinh học và văn hóa, vật chất và tinh thần, tư tưởng và tâm lý. Công
trình đã giúp cho việc hiểu biết thêm về thể chế xã hội, chức năng của hôn nhân từ
đó có những định hướng nghiên cứu cụ thể trong hôn nhân của người Ê-đê.
Ấn phẩm Hôn nhân và gia đình của người Chu Ru của Võ Tấn Tú (2016) đã
miêu tả chi tiết đầy đủ những phong tục, kiêng cữ cũng như các nghi thức liên quan
đến hôn nhân và gia đình của người Chu Ru. Qua những phân tích của tác giả,
người đọc nhận thấy các phong tục tập quán liên quan tới hôn nhân và gia đình góp
phần giữ vững sự ổn định và phát triển xã hội, tạo nên đặc trưng văn hóa của người
Chu Ru trong quá trình cộng cư, xen cư, giao lưu văn hóa với những tộc người
khác. Đồng thời, tác giả đã có những phân tích và nhận định về ảnh hưởng của chế
độ mẫu hệ đến các phong tục tập quán của người Chu Ru đặc biệt là trong hôn nhân
gia đình.
Bài viết Văn hóa hôn nhân ở tộc người Raglai của Nguyễn Ngọc Thanh và Hồ Sĩ
Lập (2017) đã chỉ ra hôn nhân của tộc người này mang những đặc điểm của xã hội mẫu
hệ như con gái đi bắt chồng, sau hôn nhân chàng trai cư trú bên nhà vợ, con cái sinh ra
mang họ mẹ,… Nhóm tác giả nhận định rằng: hiện nay hôn nhân ở người Raglai vẫn
tuân thủ nguyên tắc ngoại hôn dòng họ và chế độ một vợ một chồng. Mặt khác, hôn
nhân của người Raglai còn có sự khác biệt về vai trò, vị trí của người đàn ông trong gia
đình, xã hội so với các dân tộc mẫu hệ khác. Các yếu tố trên là những đặc điểm tạo nên
nét đặc trưng trong hôn nhân của người Raglai [97, tr.47]. Bài viết là tư liệu quý giúp
NCS có thêm tư liệu về một tộc người theo chế độ xã hội mẫu hệ ở Tây Nguyên, bởi
qua đó có thể liên hệ, so sánh với hôn nhân ở tộc người Ê-đê.
Từ việc tổng quan các nghiên cứu chung về hôn nhân nói trên cho thấy, tuy
góc độ tiếp cận khác nhau, nhưng những ấn phẩm đã công bố góp phần làm rõ


14


nguồn gốc và quá trình phát triển của hôn nhân cũng như các nguyên tắc và hình
thức kết hôn của loài người nói chung, đồng thời làm rõ các đặc trưng tộc người ở
nước ta qua những mối quan hệ hôn nhân và gia đình, đi sâu phân tích các nghi lễ
liên quan đến đời sống hôn nhân - gia đình trong quá trình biến đổi, đồng thời chỉ ra
những xu hướng phát triển của nó ở một số tộc người thiểu số nước ta trước đây và
hiện nay.
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về tộc người và hôn nhân của
người Ê-đê
Nghiên cứu các tộc người ở Tây Nguyên nói chung và người Ê-đê nói riêng
của các tác giả nước ngoài đã trải qua quá trình lâu dài hàng thế kỷ, nhất là của
người Pháp như H. Maitre, L. Sabachiê, J. Dournes, G. Condominas,... Trong những
công trình nghiên cứu về người Ê-đê, ở các mức độ khác nhau những tác giả nước
ngoài đều đã quan tâm đến vấn đề hôn nhân và gia đình truyền thống. Nghiên cứu
sớm nhất về người Ê-đê có lẽ là công trình khảo cứu của nhà thám hiểm người Pháp
Henri Maitre với tựa đề Các xứ thượng ở miền Nam Đông Dương. Công trình này
đã có nhiều mô tả khái quát về đời sống xã hội, kinh tế, phong tục tập quán... của
dân tộc Ê-đê, Mnông và các tộc người tại chỗ Tây Nguyên. Đây là nguồn tư liệu giá
trị, khảo tả chân thực về cuộc sống của hai dân tộc này trong những năm đầu thế kỷ
XX. Trong phần hôn nhân, ông có nhắc đến việc tái hôn của người đàn bà góa:
“Thỉnh thoảng một người đàn bà góa muốn tái hôn, cho một người làm mối tới đặt
yêu cầu với cha mẹ người mà mình chọn mà không hề báo trước cho người đó biết.
Nếu cha mẹ và người con trai đồng ý công việc được giải quyết và người chồng mới
cưới đến ở nhà người vợ cùng với cha mẹ; nhưng trong trường hợp này, chi phí về
lễ cưới do cha mẹ vợ chịu...” Tuy nhiên, trong cuốn sách này, H. Maitre cũng
không miêu tả kỹ về thiết chế mẫu hệ của người Ê-đê [78, tr.3].
Năm 1915, Sabatier đã thu thập và biên tập bộ luật tục Ê-đê (Bi duê), ghi chép
một cách đầy đủ về luật tục hôn nhân, thiết chế mẫu hệ của tộc người này. Bộ luật

tục này đã được dùng chính thức trong Tòa án phong tục của tỉnh Đắk Lắk một thời

15


gian dài. Bộ luật tục đã đề cập một cách đầy đủ về thiết chế mẫu hệ Ê-đê trong
nhiều khía cạnh của cuộc sống, phản ánh vai trò quan trọng của người phụ nữ Ê-đê
với tư cách là người duy trì nòi giống của gia đình, dòng họ và là biểu tượng của xã
hội mẫu hệ truyền thống. Hiện nay, những nội dung trong bộ luật tục này vẫn đang
được thi hành ở các mức độ khác nhau tại cộng đồng người Ê-đê ở xã Cuôr Dăng,
huyện Cư M’Gar, tỉnh Đắk Lắk.
Tuy nhiên, viết về người Ê-đê một cách khá hệ thống và đầy đủ phải kể tới tác
giả người Pháp Anne De Hautecloque Howe (2004) với cuốn sách Người Rhađê,
một xã hội mẫu quyền. Cuốn sách được dịch ra tiếng Việt là công trình đi sâu
nghiên cứu, giới thiệu về cơ cấu tổ chức, các quan hệ xã hội của dân tộc Ê-đê, đặc
biệt là xã hội mẫu quyền điển hình của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Trong nghiên
cứu của mình, bà đã dành một chương khảo tả khá chi tiết về kết ước hôn nhân, về
các thủ tục trong hôn nhân, đời sống vợ chồng, ly hôn. Đồng thời miêu tả xã hội
mẫu hệ Ê-đê qua những hoạt động của một buôn khá tỉ mỉ như đám cưới, đám tang,
làm nhà, những cuộc tranh luận của người phụ nữ trong gia đình,... Những hiểu biết
sâu sắc và kỹ lưỡng về người Ê-đê được tác giả trình bày đã cung cấp nguồn tư liệu
quý cho các nhà nghiên cứu dân tộc học, xã hội học, vǎn hoá học, cũng là tài liệu
tham khảo tốt cho những người làm công tác thực tiễn và quản lý ở địa phương
trước kia cũng như hiện nay. Đây là những tư liệu có giá trị lớn về mặt khoa học
giúp NCS có những hiểu biết ban đầu cụ thể về hôn nhân và chế độ mẫu hệ của
người Ê-đê trong truyền thống. Tuy nhiên, đây là nghiên cứu tại một buôn làng cụ
thể vào thời điểm những năm 1960, trong khi hiện nay với bối cảnh mới có nhiều
biến đổi kinh tế - xã hội đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
1.1.3. Nghiên cứu của các tác giả trong nước về tộc người và hôn nhân của
người Ê-đê

Nghiên cứu về các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên nói chung và người
Ê-đê nói riêng đã có nhiều công trình khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đề
cập dưới các góc độ khác nhau. Trước năm 1975, có những tác giả và công trình

16


nghiên cứu đáng chú ý về các dân tộc thiểu số Tây Nguyên như: Cửu Long Giang
và Toan Ánh (1974) với công trình Cao nguyên miền Thượng; Nguyễn Trắc Dĩ
(1970) với công trình Các sắc tộc thiểu số ở Việt Nam; Lân Đình (1969) với công
trình Người Thượng dọc dãy Trường Sơn; Lê Thêm (1957) với bài viết Hôn nhân
giữa đồng bào Thượng,... Nhìn chung, những tác giả trên đều giới thiệu về các dân
tộc thiểu số ở Tây Nguyên mang tính chất đại cương, tổng quát và chưa nghiên cứu
kỹ về hôn nhân của tộc người Ê-đê. Từ năm 1975, việc nghiên cứu các dân tộc thiểu
số ở Tây Nguyên nói chung và tộc người Ê-đê nói riêng bắt đầu có tính hệ thống và
đi sâu hơn, khối lượng các nghiên cứu tăng nhanh. Trong đó, công trình có tính khái
quát và đi sâu về dân tộc Ê-đê là cuốn: Đại cương về các dân tộc Ê-đê, Mnông ở
Dak Lak (1982). Đây là khảo cứu đầu tiên giới thiệu bức tranh tộc người của hai
dân tộc Ê-đê và Mnông dưới các khía cạnh: đặc điểm tự nhiên, nhân chủng, tổ chức
xã hội, sản xuất kinh tế, hôn nhân - gia đình. Ở phần thứ 3 của chương 1, Chu Thái
Sơn đã đề cập đến văn hóa vật chất của người Ê-đê; trong chương 3, Vũ Đình Lợi
đã giới thiệu khái quát về những lễ nghi - phong tục trong chu kỳ đời sống của
người Ê-đê,… Đây là những tri thức quý báu cho NCS trong quá trình hệ thống hóa
những đặc trưng văn hóa của tộc người Ê-đê.
Trong bài viết Dấu vết hệ thống bốn hôn đẳng ở Tây Nguyên của Phan Hữu
Dật (1991) giới thiệu về tục cuê nuê và giải thích tục này thông qua tìm hiểu thiết
chế xã hội, hình thái hôn nhân gia đình của người Ê-đê. Kết quả nghiên cứu của ông
đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử hôn nhân và gia
đình ở nước ta như hình thái hôn nhân, tính chất và thiết chế hôn nhân.
Cuốn sách Gia đình và hôn nhân truyền thống ở các dân tộc Malayô –

Polynêxia Trường Sơn - Tây Nguyên của Vũ Đình Lợi (1994) đã khắc họa những
vấn đề liên quan đến phong tục tập quán, gia đình, hôn nhân truyền thống của các
dân tộc thuộc ngữ hệ Malayo – Polynesian ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên. Đây
là nghiên cứu chi tiết, cụ thể về hôn nhân và gia đình truyền thống trong đời sống
của các tộc người theo chế độ mẫu hệ ở nước ta, khắc họa các nét phong tục truyền
thống của đồng bào một cách sinh động. Nghiên cứu đã cho thấy tộc người Ê-đê là

17


xã hội mẫu hệ điển hình ở Tây Nguyên nói riêng và Việt Nam nói chung. Đây là
nguồn tài liệu bổ ích cho NCS trong quá trình tìm hiểu về hôn nhân của người Ê-đê
trước đây và hiện nay.
Cuốn sách Văn hóa dân gian Ê-đê do Ngô Đức Thịnh chủ biên (1994) đã giới
thiệu khá chi tiết các nghi thức liên quan đến chu kỳ đời sống của tộc người Ê-đê
nói chung và về hôn nhân, gia đình nói riêng. Đây là nguồn tài liệu tham khảo bổ
ích cho những nhà nghiên cứu hôn nhân gia đình nói riêng và văn hóa tộc người Êđê nói chung. Tuy vậy, nghiên cứu này chưa có những nội dung chi tiết về hôn nhân
của người Ê-đê ở một địa bàn cụ thể.
Sau năm 2000, các công trình nghiên cứu về người Ê-đê ngày càng phong phú
về chủ đề và số lượng. Luận án Tiến sĩ Dân tộc học: Người phụ nữ Ê-đê trong đời
sống xã hội tộc người của Thu Nhung Mlô (2001) đã phân tích sự biến đổi vai trò
của người phụ nữ trong đời sống buôn làng và chỉ ra những biến đổi đang diễn ra
trong lòng xã hội Ê-đê trong bước chuyển từ cổ truyền sang hiện đại. Luận án Tiến
sĩ Văn hóa Ê-đê – truyền thống và biến đổi của Nguyễn Ngọc Hòa (2002) đã trình
bày quá trình biến đổi của văn hóa Ê-đê từ truyền thống đến hiện đại và đề xuất các
giải pháp nhằm bảo tồn, làm giàu và phát huy giá trị của văn hóa Ê-đê trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả chỉ
tập trung hệ thống lại, trình bày những nét biến đổi của văn hóa Ê-đê mà không có
những phân tích sâu về những thực hành hôn nhân hiện nay của người Ê-đê.
Năm 2004, Nguyễn Thị Hạnh công bố nghiên cứu Mẫu hệ, phụ nữ Ê-đê và

kinh tế hộ gia đình, công trình đã tập trung khai thác vấn đề chế độ mẫu hệ và vai
trò của người phụ nữ Ê-đê trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Qua đó cung cấp
những tư liệu quan trọng về vấn đề phân công lao động, quyền và vị trí của hai giới,
những đặc trưng chủ yếu của xã hội mẫu hệ Ê-đê và vị thế, vai trò của phụ nữ Ê-đê
trong việc phát triển hộ gia đình.
Đỗ Thị Phấn (2007) với Đất Và Người Tây Nguyên là công trình tập hợp bài
viết của các nhà nghiên cứu, nhà báo, nhà khảo cổ... về Tây Nguyên. Các bài viết

18


Xem Thêm

×