Tải bản đầy đủ (.pdf) (218 trang)

TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO Ở HÀ NỘI HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.77 MB, 218 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀM TUẤN ANH

TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO
Ở HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC

HÀ NỘI 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐÀM TUẤN ANH

TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO
Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
Ngành: Tôn giáo học
Mã số: 9.22 90 09

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS.TS. Nguyễn Hồng Dƣơng


2. PGS.TS. Nguyễn Thanh Xuân

HÀ NỘI 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu trong luận án là trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng. Các kết luận khoa học của luận án
chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận án

ĐÀM TUẤN ANH


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU .... 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 6
1.2. Khung lý thuyết nghiên cứu ..................................................................... 16
1.3. Một số khái niệm sử dụng trong luận án.................................................. 19
1.4. Khái quát địa bàn nghiên cứu - Hà Nội ................................................... 21
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM TÔN GIÁO Ở HÀ NỘI .... 27
2.1. Diện mạo các tôn giáo ở Hà Nội hiện nay ............................................... 27
2.2. Một số đặc điểm và vấn đề đặt ra trong CTTG ở Hà Nội ........................ 58
Chƣơng 3: CÔNG TÁC TÔN GIÁO Ở HÀ NỘI HIỆN NAY .................. 64
3.1. Một số nội dung cơ bản của CTTG ở Hà Nội hiện nay ........................... 64
3.2. Một số vấn đề đặt ra trong CTTG của Hà Nội hiện nay ........................ 119

Chƣơng 4: DỰ BÁO TÌNH HÌNH TÔN GIÁO VÀ MỘT SỐ
KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC
TÔN GIÁO Ở HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI ............................................... 124
4.1. Dự báo tình hình tôn giáo và CTTG ở Hà Nội thời gian tới .................. 124
4.2. Một số khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTTG ở Hà
Nội trong thời gian tới ................................................................................... 132
KẾT LUẬN .................................................................................................. 146
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 149
PHỤ LỤC


CHỮ VIẾT TẮT

BCHTW:

Ban Chấp hành Trung ương

BBTTW:

Ban Bí thư Trung ương

BTG:

Ban Tôn giáo

CBCC:

Cán bộ, công chức

CNH:


Công nghiệp hóa

CTQG:

Chính trị Quốc gia

CT-HC:

Chính trị - Hành chính

CTTG:

Công tác tôn giáo

GHPG:

Giáo hội Phật giáo

GHPGVN:

Giáo hội Phật giáo Việt Nam

HĐH:

Hiện đại hóa

HĐND:

Hội đồng nhân dân


KHXH:

Khoa học xã hội

LLCT:

Lý luận chính trị

MTTQ:

Mặt trận Tổ quốc

MTTQVN:

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Nxb:

Nhà xuất bản

PGVN:

Phật giáo Việt Nam

QLNN:

Quản lý nhà nước

TTCP:


Thủ tướng Chính phủ

TTGM:

Tòa Tổng giám mục

UBND:

Ủy ban nhân dân

UBĐKCG:

Ủy ban Đoàn kết Công giáo


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Thống kê CBCC theo phòng thuộc BTG Thành phố ..................... 74
Bảng 3.2. Bảng thống kê trình độ chuyên môn của CBCC ............................ 75
Bảng 3.3: Bảng thống kê số lượng chia theo ngạch công chức ...................... 77
Bảng 3.4. Bảng thống kê đảng viên và trình độ lý luận chính trị ................... 78

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Mô hình hóa lý thuyết nghiên cứu.............................................. 16
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức, bộ máy làm CTTG của Thành phố Hà Nội ........... 69
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ phân bổ CBCC theo phòng của BTG Thành phố ......... 75
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ mô tả cơ cấu trình độ chuyên môn................................ 76
Biểu đồ: 3.3. Biểu đồ cơ cấu ngạch công chức ............................................... 77
Biểu đồ 3.4. Biểu đồ cơ cấu trình độ lý luận chính trị và đảng viên .............. 79



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Thành phố Hà Nội là đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm
lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục và giao dịch quốc tế, là nơi đặt trụ sở của
các cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã
hội, các cơ quan đại diện ngoại giao, các tổ chức quốc tế và là nơi diễn ra các
hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng của nhà nước.
Cũng như các địa phương khác trên cả nước, các tôn giáo từng bước du
nhập, hình thành và phát triển ở Hà Nội. Các tôn giáo ở Hà Nội, tuy số lượng
không nhiều, chiếm tỷ lệ không cao trong dân số, nhưng lại có vị trí đặc biệt
quan trọng. Hầu hết các tôn giáo lớn đều có trụ sở tại Hà Nội, như trụ sở Trung
ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đặt tại số 73 phố Quán Sứ, quận Hoàn
Kiếm; Học viện Phật giáo Việt Nam tại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn; Trường
Trung cấp Phật học tại chùa Mỗ Lao, quận Hà Đông; Toà Giám mục Hà Nội
tại số 40 phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm, đồng thời là trụ sở Văn phòng I
của Hội đồng Giám mục Việt Nam; Toà Giám mục Hưng Hoá tại số 5, phường
Lê Lợi, thị xã Sơn Tây; Đại Chủng viện Thánh Giuse với 2 cơ sở: cơ sở 1 tại số
40 phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm và cơ sở 2 tại phường Cổ Nhuế, quận
Bắc Từ Liêm; Văn phòng Uỷ ban Bác ái và Văn phòng của tổ chức Caritas tại
số 31 phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm; Trụ sở Tổng hội Hội thánh Tin lành
Việt Nam (miền Bắc) và Hội thánh Tin lành Hà Nội, đặt tại số 2 Ngõ Trạm,
quận Hoàn Kiếm; Thánh thất Cao Đài Thủ đô tại số 48 phố Hòa Mã, quận Hai
Bà Trưng; Thánh đường Hồi giáo Al-Noor Hà Nội tại số 12 phố Hàng Lược,
quận Hoàn Kiếm. Ngoài ra, người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại
các tập đoàn kinh tế, các tổ chức văn hóa, các tổ chức quốc tế và các cơ quan
đại diện ngoại giao.
Trên địa bàn Hà Nội, ngoài các tôn giáo đã được công nhận tư cách pháp
nhân đang hoạt động, gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo (Islam
giáo), đạo Cao đài, Minh sư đạo, Baha’i và Giáo hội các Thánh hữu ngày sau

1


của Chúa Giêsu Kytô Việt Nam (Giáo hội Mặc Môn), còn có một số hệ phái
Tin lành chưa có tư cách pháp nhân và hàng chục hiện tượng tôn giáo mới đã
và đang tìm cách truyền bá, phát triển lực lượng. Ngoài ra, tôn giáo ở Hà Nội
còn chịu ảnh hưởng bởi những diễn biến tôn giáo của các tỉnh, thành trong cả
nước, trong đó bao gồm cả những mặt tích cực và tiêu cực. Đa số tôn giáo ở Hà
Nội có quan hệ và chịu ảnh hưởng rất lớn từ các tổ chức quốc tế, nhất là Công
giáo, Tin lành. Hiện nay, ở Hà Nội có nhiều người nước ngoài cư trú hợp pháp,
trong đó đa số theo tôn giáo, chỉ riêng người nước ngoài theo đạo Tin lành có
đến hơn 2.500 người trên 5.300 người trên cả nước. Như vậy, Hà Nội là địa
phương đa dạng về tôn giáo. Không những thế Hà Nội là địa phương có nhiều
đầu mối (cơ quan Trung ương) của các tôn giáo. Tình hình tôn giáo và CTTG
không chỉ ảnh hưởng trên địa bàn Hà Nội mà còn ảnh hưởng đến các địa
phương khác trong cả nước.
Trong hai thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như
trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước, đẩy mạnh CNH, HĐH
và hội nhập kinh tế quốc tế của Hà Nội và đất nước hiện nay, đồng bào theo
các tôn giáo khác nhau là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc, là
lực lượng có vai trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ
vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong địa bàn dân cư. Hoạt động
tôn giáo diễn ra sôi nổi, ngày càng đi vào nền nếp, tuân thủ pháp luật, chịu sự
quản lý của chính quyền. Tuy nhiên, hoạt động tôn giáo trên địa bàn Hà Nội
thời gian qua cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, nhiều hoạt động tôn giáo
không tuân thủ pháp luật, vượt khỏi sự quản lý của chính quyền, tình trạng
tranh chấp đất đai, khiếu kiện đông người dẫn đến thành điểm nóng, điển hình
như các vụ việc tại số 42 Nhà Chung, giáo xứ Thái Hà, Núi Chẽ - Đồng
Chiêm xảy ra trong các năm 2007 và 2008,... ảnh hưởng đến an ninh, trật tự
trên địa bàn Hà Nội và khối đoàn kết toàn dân tộc.

Trong các thời kỳ lịch sử, nhất là từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, các
cấp ủy đảng, chính quyền Hà Nội luôn quan tâm, coi trọng đến CTTG, coi đó
là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, có tầm quan trọng đặc
2


biệt đối với sự ổn định chính trị, xã hội, sự phát triển bền vững của Hà Nội và
đất nước. Thời gian qua, CTTG ở Hà Nội đã đạt được những kết quả bước
đầu rất quan trọng, góp phần giữ vững ổn định, an ninh, chính trị trên địa bàn.
Song, bên cạnh đó CTTG vẫn còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ từ cấp thành
phố đến cấp cơ sở. Nhận thức về vị trí, vai trò của CTTG trong một bộ phận
đảng viên, cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế, công tác quản lý nhà nước
đối với hoạt động tôn giáo còn lúng túng, hiệu quả chưa cao, còn để xảy ra
những vụ việc đáng tiếc, ví như vụ nhóm trẻ tình thương tại chùa Bồ Đề
(quận Long Biên) vừa qua; việc giải quyết các vấn đề tôn giáo nảy sinh ở một
số địa phương trên địa bàn thành phố thiếu kiên trì, gây nên tâm lý nghi ngờ,
hoang mang trong quần chúng tín đồ và chức sắc, ảnh hưởng đến khối đại
đoàn kết toàn dân. Bởi vậy, rất cần thiết có những nghiên cứu chuyên sâu, cơ
bản nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề tôn giáo và
CTTG ở Hà Nội dưới góc độ tôn giáo học hiện nay.
Với lý do đó, nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Tôn giáo và công tác tôn
giáo ở Hà Nội hiện nay” cho đề tài luận án Tiến sỹ Tôn giáo học của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục tiêu:
Trên cơ sở lý luận phân tích, làm rõ thực trạng tình hình tôn giáo và
CTTG ở Hà Nội, luận án dự báo tình hình tôn giáo, một số xu hướng tôn giáo
và CTTG ở Hà Nội trong thời gian tới và đề xuất một số khuyến nghị giải
pháp góp phần nâng cao hiệu quả CTTG trên địa bàn Hà Nội hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ:
Làm rõ tình hình, đặc điểm của các tôn giáo và thực trạng CTTG ở Hà

Nội hiện nay.
Nêu lên một số vấn đề đặt ra đối với hoạt động tôn giáo và CTTG ở
Hà Nội.
Dự báo tình hình tôn giáo, một số xu hướng tôn giáo và CTTG trong
thời gian tới trên địa bàn Hà Nội, từ đó đề xuất một số khuyến nghị giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả CTTG trên địa bàn Hà Nội.
3


3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là diện mạo các tôn giáo ở địa bàn
Hà Nội và thực trạng CTTG của Hà Nội hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài nghiên cứu về tôn giáo và CTTG trên địa bàn
Hà Nội.
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu về tôn giáo và CTTG ở Hà Nội từ khi
có chính sách đổi mới về CTTG, với sự ra đời của Nghị quyết số 24-NQ/TW
ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị về Tăng cường CTTG trong tình hình mới
cho đến nay, khi mà Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua
ngày 18/11/2016 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2018.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp mô
hình hóa, phương pháp thống kê, phỏng vấn sâu, khảo sát thực địa, nghiên
cứu tài liệu, lịch sử, tư liệu để mô tả quá trình du nhập, phát triển, thực trạng
hoạt động của các tôn giáo trên địa bàn Hà Nội và đánh giá thực trạng CTTG
ở Hà Nội hiện nay.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận án đánh giá một cách tổng thể về tình hình, đặc điểm cùng với hoạt
động của các tôn giáo trên địa bàn Hà Nội và CTTG ở Hà Nội hiện nay.

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ bổ sung vào kinh nghiệm thực tiễn
trong CTTG tại một địa phương nhất định, có thể trở thành tài liệu tham khảo
trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy về tôn giáo và CTTG tại các viện nghiên
cứu tôn giáo, trường chính trị các tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị và các cơ
quan, tổ chức, đơn vị có liên quan đến lĩnh vực tôn giáo....
6. Đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu một cách tổng thể về tình hình, đặc
điểm và hoạt động của các tôn giáo trên địa bàn Hà Nội, cùng với sự đánh
giá thực trạng CTTG ở Hà Nội, một Thành phố có khá nhiều đặc trưng cả về
4


hoạt động của các tôn giáo cũng như CTTG so với các địa phương khác trên
cả nước.
Luận án đưa ra dự báo tình hình tôn giáo, một số khuyến nghị giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả CTTG ở Hà Nội trong thời gian tới, góp phần bổ
sung làm phong phú thêm CTTG cho các cơ quan của Đảng, chính quyền Nhà
nước và các tổ chức chính trị - xã hội có liên quan đến lĩnh vực tôn giáo cả về
lý luận và thực tiễn.
7. Nội dung của luận án:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án
gồm 04 chương và 10 tiết.

5


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về tôn giáo nói chung và ở Hà Nội

Luận văn thạc sĩ: Một số vấn đề về Phật giáo Hà Nội trong thời kỳ trước
và sau năm 1986 của tác giả Lê Tâm Đắc, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội, 2001, đã làm rõ sinh hoạt Phật giáo ở Hà Nội trước và sau
công cuộc đổi mới năm 1986. Xác định những biểu hiện mới về phương diện
hoạt động của Phật giáo Hà Nội trong giai đoạn này, nêu những biểu hiện cụ
thể và tìm hiểu nguyên nhân của những biểu hiện đó. Từ đó, luận văn đề ra
một số giải pháp nhằm phát huy những yếu tố tích cực, đồng thời khắc phục
những mặt tiêu cực trong đời sống Phật giáo Hà Nội hiện nay.
Tác phẩm: Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam của
tác giả Đặng Nghiêm Vạn, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003, gồm sáu phần, trong
đó: "Phần thứ tư" đã làm rõ đặc điểm tình hình tôn giáo ở Việt Nam qua
hai cuộc điều tra xã hội học năm 1995 và năm 1998 với hai đối tượng là
lương (những người không theo Kitô giáo) và giáo (những người theo Kitô
giáo) tại Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Thừa Thiên Huế, với đầy đủ các chỉ số cụ thể. Đây là những tư liệu quan trọng để
nghiên cứu về hoạt động tôn giáo ở Hà Nội hiện nay.
Đề tài khoa học cấp Thành phố: Hoạt động của Đạo Tin lành tại Thủ
đô Hà Nội: thực trạng - giải pháp do tác giả Nguyễn Quốc Triệu (Chủ
nhiệm), PGS.TS. Nguyễn Hồng Dương làm cố vấn khoa học, 2003 đã làm
rõ thực trạng của đạo Tin lành tại Hà Nội qua đặc điểm, giáo lý, nghi lễ (so
sánh với đạo Công giáo), quá trình phát triển và hoạt động của đạo Tin
lành Hà Nội. Đánh giá công tác QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành
tại Hà Nội thời gian qua, chủ yếu là từ năm 1980 đến thời điểm nghiên
cứu; Qua đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực QLNN đối với hoạt
động của đạo Tin lành tại Hà Nội trong thời gian tới.
6


Tác phẩm: Công giáo Việt Nam thời kỳ Triều Nguyễn (1802-1883) của
tác giả Nguyễn Quang Hưng, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2007, đã phân tích quá
trình truyền giáo ở Việt Nam từ tiền khởi tới cuối thế kỷ XVIII và đề cập tới

vận mệnh của các hoạt động truyền giáo thời kỳ Triều Nguyễn (1802-1883).
Trọng tâm của cuốn sách là những phản ứng khác nhau của nhà nước phong
kiến Việt Nam đối với việc truyền bá Kitô giáo và những vấn đề hệ lụy của
nó. Với một lối phân tích và nhìn nhận vấn đề khá thuyết phục, cuốn sách có
đóng góp trong phân tích sự phản ứng của người Việt đối với Công giáo trong
khung cảnh cuộc đấu tranh của họ chống lại những kẻ xâm lược.
Tác phẩm: “Kitô giáo ở Hà Nội” của tác giả Nguyễn Hồng Dương, Nxb
Tôn giáo, Hà Nội, 2008, đã hệ thống một cách khá toàn diện về quá trình hình
thành, phát triển các cộng đoàn cũng như đời sống tôn giáo của Kitô giáo
(Công giáo và Tin lành) từ khi du nhập cho tới trước khi Hà Nội được mở rộng
năm 2008. Tác phẩm đã làm rõ về hoạt động truyền giáo, phát triển đạo Công
giáo ở Hà Nội từ đầu cho đến nay cùng với một số đóng góp trên lĩnh vực văn
hóa của Công giáo ở Hà Nội và quá trình hình thành, phát triển cũng như đời
sống tôn giáo của đạo Tin lành ở Hà Nội.
Tác phẩm: Đời sống tôn giáo tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội của tác giả
Đỗ Quang Hưng, Nxb Hà Nội, 2010, là công trình đầu tiên đề cập khá đầy đủ
và hệ thống về tôn giáo và đời sống tôn giáo ở Hà Nội trong lịch sử và hiện tại.
Tác phẩm đã nêu lên được đặc điểm “không gian thiêng” của Thăng Long –
Hà Nội với “kết cấu ba vòng” được kết hợp hài hòa với một “không gian
quyền lực” xã hội của Kinh thành và làm rõ đặc điểm của 7 tôn giáo ở Hà Nội,
gồm: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài và Islam
giáo từ khi du nhập đến năm 2007, làm sâu sắc “đời sống tôn giáo, tín
ngưỡng” của Thăng Long - Hà Nội qua ba giai đoạn: không gian tôn giáo của
xã hội cổ truyền, thời cận đại và thời kỳ hiện nay (thời điểm nghiên cứu 2010).
Luận án tiến sĩ: Ảnh hưởng của “Tâm” trong Phật giáo đối với đời sống
đạo đức ở nước ta hiện nay của tác giả Ngô Thị Lan Anh, Học viện CT- HC
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2011, đã phân tích khái quát nội dung phạm
7



trù “Tâm” trong Phật giáo nói chung và trong Phật giáo Việt Nam nói riêng,
qua đó làm rõ thực trạng ảnh hưởng của “Tâm” trong Phật giáo đối với đời
sống đạo đức ở nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra. Trên cơ sở đó, luận
án bước đầu nêu ra một số giải pháp mang tính định hướng nhằm phát huy
những giá trị tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của “Tâm” trong
Phật giáo đối với đời sống đạo đức ở nước ta đến thời điểm nghiên cứu.
Tác phẩm: Đạo lạ ở Hà Nội hiện nay và những vấn đề đặt ra của đồng tác
giả Ngô Hữu Thảo và Đào Văn Bình (đồng chủ biên), Nxb LLCT, Hà Nội,
2014, tác phẩm đã trình bày một bức tranh khá toàn diện về vấn đề đạo lạ và
công tác đối với đạo lạ ở Hà Nội hiện nay qua kết quả cuộc điều tra về đạo lạ ở
Hà Nội năm 2012. Tác phẩm đã làm rõ đối với đạo lạ ở Hà Nội có những đặc
điểm, như: Số lượng đạo lạ nhiều hơn so với các địa phương khác; Là cái nôi
của nhiều đạo lạ (có 12/19 đạo lạ ra đời ở Hà Nội), có khả năng chi phối đạo lạ
ở các địa phương khác; Tính chất chính trị biểu hiện thường ở mức độ cao hơn
các địa phương khác; Lan tỏa ra bên ngoài cũng như từ bên ngoài tràn vào,
thường nhanh chóng và rõ rệt hơn. Từ đó, đưa ra một số dự báo xu hướng của
đạo lạ ở Hà Nội.
Luận án tiến sĩ: Tư tưởng Nghiệp và ảnh hưởng Nghiệp Phật giáo đến lối
sống của Phật tử Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Thị Điệp (Thích Từ
Ân), Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2015, đã làm rõ ảnh hưởng tư tưởng
Nghiệp Phật giáo đến lối sống của Phật tử Việt Nam hiện nay, tác giả đã đi sâu
phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng Nghiệp, một trong những giáo lý
căn bản của Phật giáo. Làm nổi bật ảnh hưởng của tư tưởng Nghiệp Phật giáo
đến lối sống của Phật tử Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, đã nêu ra một số
vấn đề đặt ra và khuyến nghị có liên quan góp phần giúp các Phật tử Việt Nam
hoàn thiện lối sống, đem lại lợi ích cho bản thân và cộng đồng.
Luận án tiến sĩ: Ảnh hưởng qua lại giữa Phật giáo và phụ nữ (qua
nghiên cứu một số tỉnh phía Bắc Việt Nam hiện nay) của tác giả Nguyễn Thị
Thành (Thích Đàm Thanh), Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2016, đã
phân tích hệ thống cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn mối quan hệ qua lại giữa

8


Phật giáo và Phụ nữ, làm rõ thực trạng và vấn đề đặt ra của sự ảnh hưởng qua
lại giữa Phật giáo Việt Nam và Phụ nữ Việt Nam qua khảo sát thực tế ở một
số tỉnh phía Bắc hiện nay. Từ đó, luận án dự báo xu hướng của mối quan hệ
này, rút ra những vấn đề cần quan tâm và đề xuất một số khuyến nghị nhằm
phát huy mặt tích cực và giảm thiểu mặt hạn chế của mối quan hệ giữa Phật
giáo và Phụ nữ hiện nay.
Tác phẩm: Bách khoa thư Hà Nội - phần Hà Nội mở rộng của Thành ủy
- HĐND - UBND Thành phố Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà
Nội, 2017, là công trình gồm 14 tập, ở tập 10 công trình đề cập đến tín
ngưỡng, tôn giáo ở vùng Hà Nội mở rộng (tỉnh Hà Tây cũ) đã cung cấp một
bức tranh toàn cảnh về tín ngưỡng, tôn giáo vùng Hà Nội mở rộng từ quá
trình du nhập, hình thành, phát triển đến thực trạng hiện nay. Trên cơ sở đó, ở
một mức độ nhất định, công trình đã nêu lên đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng,
tôn giáo ở vùng này trong sự thống nhất và đa dạng của tín ngưỡng, tôn giáo
ở Việt Nam. Tuy nhiên, về các tôn giáo thì công trình này cũng chỉ đề cập,
giới thiệu khái quát về sự ra đời và phát triển, hệ thống tổ chức, giáo lý, giáo
luật của các tôn giáo, gồm: Phật giáo, Công giáo và Đạo giáo.
Cho đến nay, dù đã có nhiều tư liệu gián tiếp hay trực tiếp liên quan đến
tôn giáo ở Hà Nội, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
đầy đủ và toàn diện về diện mạo của tôn giáo ở địa bàn Hà Nội trong những
năm gần đây. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về các tôn giáo ở Việt
Nam nói chung và một số tôn giáo cụ thể ở Hà Nội nêu trên, cũng sẽ cung cấp
giúp cho luận án một nền tảng lý luận và cơ sở khoa học quan trọng để xem
xét, đánh giá diện mạo của các tôn giáo ở Thủ đô Hà Nội.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về CTTG nói chung và ở Hà Nội
Luận văn thạc sĩ: Kinh nghiệm giải quyết một số hiện tượng phức tạp trong
hoạt động của đạo Công giáo ở Thủ đô Hà Nội từ năm 1993 đến nay của tác giả

Văn Đức Thu, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001, chủ yếu tập trung
nghiên cứu trên phương diện QLNN thông qua thực trạng giải quyết 59 vụ việc

9


phức tạp trong hoạt động của Công giáo tại Thủ đô Hà Nội từ năm 1993 đến
năm 2000. Trên cơ sở làm rõ thực trạng giải quyết các vụ việc phức tạp trong
hoạt động của Công giáo tại Thủ đô Hà Nội, từ đó tổng kết, rút ra bài học kinh
nghiệm có tính lý luận và đề xuất một số vấn đề cụ thể nhằm giải quyết có hiệu
quả hơn đối với những vụ việc tương tự, nâng cao hiệu lực QLNN đối với hoạt
động của Công giáo tại Thủ đô Hà Nội ở thời kỳ phát triển mới.
Tác phẩm: Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam của tác
giả Đặng Nghiêm Vạn, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003, trên cơ sở làm rõ chính
sách tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tác giả đã phân tích,
chỉ ra năm nguyên tắc trong chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam, gồm:
Nguyên tắc tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh;
Nguyên tắc tự do tôn giáo dựa trên cơ sở một nhà nước theo thể chế thế tục;
Nguyên tắc đặt vấn đề tôn giáo trong phạm trù dân tộc; Nguyên tắc giải quyết
vấn đề tôn giáo phải đặt trong vấn đề văn hóa; Nguyên tắc giải quyết vấn đề
tôn giáo phải chống lợi dụng tôn giáo vào mục đích chống lại Tổ quốc.
Tác phẩm: Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam Lý luận và thực
tiễn của tác giả Đỗ Quang Hưng, Nxb CTQG, Hà Nội, 2005, tác phẩm đã
tổng kết một cách sâu sắc những quan điểm, đường lối chính sách tôn giáo
của Đảng và Nhà nước ta từ năm 1930 đến năm 2005, tác phẩm đã phân tích,
làm sâu sắc hơn việc giải quyết vấn đề tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam với việc “khẳng định đường hướng tôn giáo đồng hành với chủ nghĩa xã
hội ở nước ta”, chính sách tự do tôn giáo và chính sách đối với từng tôn giáo
cụ thể cũng được phân tích một cách sâu sắc. Trên cơ sở đó, cần làm sâu sắc
hơn những vấn đề, gồm: Vấn đề pháp nhân tôn giáo; Vấn đề đất đai, tài sản

liên quan đến tôn giáo và vấn đề đối ngoại tôn giáo. Trong đó, trước mắt cần
giải các vấn đề, như: Thể chế hóa hơn nữa quyền tự do tôn giáo; Xác định rõ
mô hình nhà nước thế tục; Cần có luật về pháp nhân tôn giáo để giải quyết
vấn đề đa dạng hóa tôn giáo ở Việt Nam hiện nay; Chính sách để các tôn giáo
tham gia xã hội hóa giáo dục, y tế, hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và sớm
hoàn thiện, ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
10


Tập bài giảng tôn giáo và công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo ở
Việt Nam do Ban Tôn giáo Chính phủ biên soạn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội,
2005, đã giới thiệu đặc điểm chung về tôn giáo ở Việt Nam, những tôn giáo
lớn và nội dung QLNN về tôn giáo. Theo tác giả của Tập bài giảng này, nội
dung QLNN về tôn giáo bao gồm: xây dựng chính sách về tôn giáo và thể chế
chính sách đó bằng các văn bản quy phạm pháp luật; Giám sát các hoạt động
tôn giáo đúng quy định của pháp luật; tổ chức bộ máy quản lý, đào tạo, bồi
dưỡng nhân lực để thực thi bộ máy quản lý đó.
Đề tài cấp Bộ: Quản lý Nhà nước về tôn giáo ở các tỉnh Tây Nguyên của
tác giả Ngô Văn Minh, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III, Đà Nẵng,
2009, đã làm rõ một số vấn đề về lý luận QLNN đối với hoạt động tôn giáo
trong thời kỳ đổi mới ở nước ta. Khảo sát hoạt động tôn giáo và công tác
QLNN về tôn giáo tại các tỉnh Tây Nguyên từ tháng 6/2004 đến tháng 6/2009,
qua đó đề xuất một số giải pháp cơ bản để tăng cường công tác QLNN về tôn
giáo tại Tây Nguyên. Đề tài đã góp phần vào việc tổng kết thực tiễn 5 năm thực
hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo tại một khu vực có tính đặc thù về vấn đề
tôn giáo - dân tộc là Tây Nguyên.
Tác phẩm: Công tác tôn giáo từ quan điểm Mác - Lênin đến thực tiễn Việt
Nam của tác giả Ngô Hữu Thảo, Nxb CT - HC, Hà Nội, 2012, đã phân tích làm
sâu sắc những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
với tính cách là cơ sở lý luận của chính sách và CTTG của Đảng, Nhà nước và

CTTG của hệ thống chính trị do Đảng ta lãnh đạo hiện nay. Tác giả cũng phân
tích làm rõ khái niệm và nội dung của CTTG, đồng thời chỉ ra tính đặc thù
của CTTG so với các công tác khác. Từ đó, làm rõ nội dung, nhiệm vụ và giải
pháp đối với CTTG của hệ thống chính trị, trong đó việc QLNN về tôn giáo
giữ vai trò khá quan trọng.
Tác phẩm: Quan điểm đường lối của Đảng về tôn giáo và những vấn đề
tôn giáo ở Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Hồng Dương, Nxb CTQG,
Hà Nội, 2012, đã phân tích những quan điểm, đường lối của Đảng về tôn giáo;
phác họa nên bức tranh tôn giáo ở Việt Nam hiện nay; đồng thời phân tích kinh
11


nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam từ cái nhìn đối sánh với một số
nước như so sánh kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo của Trung Quốc,
Thái Lan và Singapore; trên cơ sở đó, tác giả phân tích những vấn đề đặt ra và
đề xuất một số khuyến nghị đối với CTTG ở Việt Nam hiện nay.
Tác phẩm: Tôn giáo với đời sống chính trị - xã hội ở một số nước trên
thế giới của tác giả Nguyễn Văn Dũng, Nxb CTQG, Hà Nội, 2012, gồm nhiều
bài viết trình bày về đời sống tôn giáo với chính trị của nhiều nước trên giới
giới, như: Vị trí của tôn giáo trong đời sống chính trị - xã hội Mỹ, một số vấn
đề của Islam giáo trong đời sống xã hội hiện đại; Vấn đề cải cách và đổi mới
của tôn giáo trong xã hội phương đông thời cận - hiện đại; Mối quan hệ quốc
tế của Tòa thánh Vatican... từ đó giúp làm rõ hơn những vấn đề phức tạp mới
liên quan đến yếu tố tôn giáo như khủng bố, xung đột tôn giáo, những tác
động, ảnh hưởng tới đời sống xã hội hiện đại.
Luận văn thạc sĩ: Công tác vận động hàng ngũ chức việc đạo Công
giáo ở Hà Nội hiện nay của tác giả Nguyễn Cao Dũng, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2012, đã làm rõ quá trình hình
thành, đặc điểm, vai trò của hàng ngũ chức việc đạo Công giáo trên địa bàn
Hà Nội, đồng thời phân tích thực trạng công tác vận động hàng ngũ chức
việc đạo Công giáo ở Hà Nội từ năm 1990 đến năm 2012, qua đó đề xuất

phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác
vận động hàng ngũ chức việc trong công tác vận động quần chúng tín đồ
Công giáo ở Hà Nội.
Tác phẩm: Tiếp tục đổi mới chính sách về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay Những vấn đề lý luận cơ bản của tác giả Nguyễn Hồng Dương (Chủ biên), Nxb
Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội, 2014. các tác giả đã phân tích,
đánh giá, tiến trình nhận thức, hình thành quan điểm của Đảng về tôn giáo từ
năm 1930 đến nay, đưa ra những vấn đề còn bất cập về CTTG và chính sách tôn
giáo hiện nay. Hơn nữa, các tác giả cũng đưa ra cụ thể được những thành tựu và
những vấn đề mới đặt ra trong thực hiện chính sách tôn giáo, đòi hỏi Đảng và
Nhà nước tiếp tục đổi mới chính sách đối với tôn giáo trong tình hình mới.
12


Tác phẩm: Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền của tác giả Đỗ
Quang Hưng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014, là một công trình tổng kết
thực tiễn đời sống tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo ở nước ta trong
thời kỳ đổi mới. Ngoài những vấn đề thuộc khung lý thuyết cơ bản, tác giả đã
trình bày toàn cảnh đời sống tôn giáo Việt Nam hiện nay, làm rõ những vấn
đề đặt ra trong mối quan hệ Nhà nước với các giáo hội, khảo sát, đánh giá
những chuyển biến trong quá trình thực hiện chính sách tôn giáo, nêu lên
những vấn đề đặt ra cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách tôn giáo. Tác
giả cũng gợi mở một vấn đề quan trọng khác là nỗ lực mô hình hóa một nhà
nước pháp quyền về tôn giáo trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
Luận án tiến sĩ: Quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975
đến nay của tác giả Bùi Hữu Dược, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014,
đã góp phần làm rõ tính tất yếu và yêu cầu đổi mới QLNN về tôn giáo trong
quan hệ giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa với tôn giáo ở Việt Nam, đồng thời
làm rõ thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong QLNN về tôn
giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm 2013, từ đó đưa ra dự báo tình hình
tôn giáo Việt Nam và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về tôn

giáo ở Việt Nam trong thời gian tới.
Luận án tiến sĩ: Tôn giáo và luật pháp về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở
Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Vân Hà, Học viện Khoa học Xã hội, Hà
Nội, 2014, đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác
xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt
Nam, đưa ra được thành tựu và hạn chế trong ban hành các chính sách liên
quan đến tôn giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, từ đó, nêu lên một số
vấn đề đặt ra và đề xuất các khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
tính khả thi trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của các cơ quan có thẩm quyền về lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam, góp phần bổ
sung, phong phú thực tiễn nâng cao hiệu quả CTTG ở Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ: Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa
bàn Thành phố Hà Nội hiện nay của tác giả Dương Ngọc Kiên, Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2014, đã tập trung nghiên cứu trên
13


phương diện QLNN của chính quyền và hệ thống chính trị của Thành phố Hà
Nội đối với hoạt động của các tôn giáo, gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành,
Cao Đài, Baha’i, Hồi giáo, Minh sư đạo trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong
giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2014. Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả QLNN đối với các hoạt động tôn giáo trên địa bàn Thành
phố Hà Nội thời gian tới.
Luận văn thạc sĩ: Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa
bàn Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay của tác giả Phạm Thị Phương
Mai, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội, 2014, đã phân tích tình hình tôn
giáo ở Thành phố Hà Nội và các hoạt động có liên quan; liên hệ trong sự phát
triển vào xu thế chung của đất nước và thành tựu của địa phương, đồng thời
đánh giá thực trạng hoạt động tôn giáo và QLNN đối với hoạt động tôn giáo ở
Thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện QLNN đối với

hoạt động tôn giáo trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Tác phẩm: Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về
tôn giáo của tác giả Nguyễn Hồng Dương, Nxb KHXH, Hà Nội, 2015, đã làm
sâu sắc quan điểm, chính sách về tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam
qua các giai đoạn cách mạng: 1930-1954; 1954-1975; 1975-1990, đặc biệt là
giai đoạn từ thời kỳ đổi mới chính sách tôn giáo năm 1990 đến nay. CTTG
của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới được tác giả phân tích làm sâu
sắc hơn thể hiện trong bốn văn bản quan trọng của Đảng, đó là Nghị quyết số
24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị về tăng cường CTTG trong
tình hình mới; Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 02/7/1998 của Bộ Chính trị về
CTTG trong tình hình mới; Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về CTTG và Cương
lĩnh (1991, 2011), các Văn kiện Đại hội Đảng qua các thời kỳ.
Tác phẩm: Quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước
về tôn giáo và Công giáo Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện
nay của đồng tác giả Hoàng Minh Đô và Đỗ Lan Hiền, Nxb LLCT, Hà Nội,
2015, các tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu những thành tựu trong chính
sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, đặc biệt là về Công giáo.
14


Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách pháp luật về tôn giáo
và Công giáo, nổi bật là vấn đề các chính sách, pháp luật không ngừng được
xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, việc giải quyết và công nhận tư
cách pháp nhân cho nhiều tôn giáo và các tổ chức tôn giáo, vấn đề đối ngoại
và các lĩnh vực khác trong việc thực hiện chính sách tôn giáo.
Tác phẩm: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam của tác giả Nguyễn
Thanh Xuân, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2015, tác giả đã hệ thống chính sách tôn
giáo Việt Nam qua các thời kỳ và việc thực hiện chính sách tôn giáo, nhất là từ
khi đổi mới đến nay. Tác giả khẳng định, việc thực hiện chính sách đổi mới của

Đảng và Nhà nước, công tác đối với tôn giáo đã đưa lại những kết quả rất quan
trọng, làm thay đổi đời sống tôn giáo ở Việt Nam theo hướng tích cực và tiến bộ
góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển của đất nước.
Luận án tiến sĩ: Công tác tôn giáo ở Việt Nam hiện nay – Lý luận và thực
tiễn (qua khảo sát tại tỉnh Ninh Bình) của tác giả Lê Thị Minh Thảo, Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2015, đã nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến việc thực hiện CTTG ở Việt Nam hiện nay. Quá trình thực
hiện, thành tựu và hạn chế trong CTTG hiện nay tại tỉnh Ninh Bình trong thời
kỳ đổi mới, đề xuất một số vấn đề cần giải quyết và đưa ra các khuyến nghị,
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTTG ở tỉnh Ninh Bình, góp phần bổ sung,
phong phú thực tiễn CTTG ở Việt Nam. Luận án cũng cung cấp một số kinh
nghiệm thực tiễn khi nghiên cứu về CTTG tại một địa phương nhất định.
Những công trình nghiên cứu về chính sách cùng với hệ thống các văn
bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực tôn giáo, lĩnh vực QLNN về
tôn giáo ở Việt Nam sẽ cung cấp cho nghiên cứu sinh những dữ kiện quan
trọng và xác thực để phân tích và kết hợp với kết quả phỏng vấn sâu một số
nhà lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực tôn giáo và một số nhà tu hành, nhằm rút
ra những thành tựu và hạn chế trong CTTG ở Hà Nội. Trên cơ sở đó, đưa ra
được những dự báo và đề xuất một số khuyến nghị giải pháp để nâng cao hiệu
quả của CTTG trên địa bàn Hà Nội.

15


1.2. Khung lý thuyết nghiên cứu
1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu
1. Hà Nội có những tôn giáo nào đang tồn tại và các tôn giáo đó có tác
động gì đến CTTG ở Hà Nội?
2. CTTG ở Hà Nội đã đạt được những thành tựu và những vấn đề còn
hạn chế trong thời gian qua là gì?

3. Những vấn đề đặt ra đối với CTTG ở Hà Nội cần phải khắc phục, giải
quyết trong thời gian tới là gì?
4. Cần phải có những giải pháp gì để khắc phục những vấn đề hiện nay
nhằm nâng cao hiệu quả CTTG của Hà Nội trong thời gian tới?
1.2.2. Lý thuyết nghiên cứu
CÔNG TÁC TÔN GIÁO CỦA HÀ NỘI
Lý thuyết thực thể
tôn giáo

Thực trạng và đặc
điểm tôn giáo

Lý thuyết cấu trúc chức năng

Công tác tôn giáo

Lý thuyết về
xung đột

Khuyến nghị
giải pháp

Biểu đồ 1.1: Mô hình hóa lý thuyết nghiên cứu
Lý thuyết thực thể tôn giáo: Lý thuyết này cho phép luận án xem tôn giáo
là một thực thể xã hội đặc biệt, bao gồm ba bộ phận cấu thành: niềm tin vào cái
thiêng, việc thực hành gắn với niềm tin đó và cộng đồng người có cùng niềm
tin vào cái thiêng. Vận dụng lý thuyết này, luận án sẽ triển khai nghiên cứu về
diện mạo tôn giáo ở Hà Nội trên ba phương diện là: Quá trình hình thành, phát
triển; cộng đồng tôn giáo và hoạt động tôn giáo. Nói cách khác, lý thuyết này
cho phép luận án nghiên cứu về tôn giáo ở Hà Nội với tư cách là những thực

16


thể xã hội tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao Đài, Baha'i,
Minh sư đạo, Giáo hội Mặc Môn và các hiện tượng tôn giáo mới) sống động
bao gồm một cộng đồng tôn giáo được hình thành trong lịch sử với những hoạt
động tôn giáo (hành đạo, truyền đạo và quản đạo) do một hệ thống tổ chức
hành chính đạo điều hành. Lý thuyết này được áp dụng trong chương 2 để
nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển của các cộng đồng tôn giáo và
hoạt động tôn giáo ở Hà Nội trong lịch sử và hiện tại.
Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Lý thuyết này do Durkheim (1858-1917),
Max Weber (1864-1920), tiếp đó là E.Tylor (1832-1917), B.Malinowski (18841942) phát triển, được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu xã hội học tôn giáo.
Lý thuyết cấu trúc cho phép luận án nghiên cứu tôn giáo là một thực thể xã
hội đặc biệt, có hệ thống cấu trúc gồm nhiều bộ phận, thiết chế cấu thành và
chúng có mối quan hệ tương tác lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể. Lý thuyết
cấu trúc nghiên cứu hệ thống tôn giáo ở Hà Nội thấy được từng tôn giáo cụ
thể cũng như những bộ phận, thiết chế của mỗi tôn giáo và sự tương tác giữa
chúng trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Nó cũng cho thấy mỗi yếu tố hay bộ
phận thuộc cấu trúc của tổng thể đều đảm nhiệm một hoặc nhiều chức năng.
Do vậy, cùng với lý thuyết cấu trúc là lý thuyết chức năng, nghĩa là
nghiên cứu về chức năng của mỗi tôn giáo trong hệ thống cấu trúc tôn giáo ở
Hà Nội. Mỗi bộ phận trong hệ thống cấu trúc có chức năng khác nhau, song
chúng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, tương tác lẫn nhau, bổ sung cho
nhau làm cho tôn giáo tồn tại như một chỉnh thể. Ngoài những chức năng
chung, mỗi tôn giáo lại có các chức năng riêng trong từng cộng đồng cụ thể
và phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa, xã hội, kinh tế, môi trường và thể chế
chính trị của xã hội vào thời điểm đó. Chức năng xã hội cơ bản của tôn giáo là
liên kết cá nhân và nhóm xã hội tạo nên một cộng đồng dựa trên nền tảng của
niềm tin và sự thực hành niềm tin tôn giáo.
Tiếp cận lý thuyết chức năng khi nghiên cứu tôn giáo ở Hà Nội giúp ta

thấy được quá trình truyền bá đức tin (truyền giáo), tiếp nhận đức tin (gia
nhập đạo) và thực hành đức tin (sinh hoạt tôn giáo) tạo thành các cộng đồng
17


tôn giáo. Mỗi bộ phận tôn giáo trong hệ thống tôn giáo ở Hà Nội có chức
năng riêng phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của từng thời kỳ
lịch sử nhất định. Lý thuyết cấu trúc - chức năng được áp dụng trong luận án
để nghiên cứu ở chương 2, nhằm chỉ ra quá trình hình thành phát triển của các
tôn giáo ở Hà Nội cũng như các mối quan hệ của chúng và xã hội, thấy được
vai trò, tác động, ảnh hưởng của chúng đối với đời sống sinh hoạt tôn giáo,
văn hóa, xã hội của tín đồ.
Tiếp cận lý thuyết chức năng khi nghiên cứu CTTG ở Hà Nội giúp ta
thấy được quá trình hình thành, hoàn thiện, kiện toàn bộ máy làm CTTG cũng
như các hoạt động trong CTTG của Hà Nội. Mỗi tổ chức trong hệ thống chính
trị của Hà Nội làm CTTG đều có chức năng nhất định của mình trong phạm
vi, trách nhiệm cũng như sự phối hợp lẫn nhau giữa các tổ chức đó đối với
CTTG trên địa bàn Hà Nội. Lý thuyết cấu trúc - chức năng được áp dụng
trong luận án để nghiên cứu ở chương 3, nhằm chỉ ra, đánh giá quá trình hình
thành, hoàn thiện, kiện toàn bộ máy làm CTTG của Hà Nội cũng như chức
năng của các nhiệm vụ trong CTTG của Hà Nội.
Lý thuyết về xung đột: Người được coi tạo nền tảng kinh điển cho lý
thuyết xung đột chính trị là C.Mác (1818-1883), Max Weber (1864-1920) và
Georg Simmel (1858-1889). Dựa trên nền tảng kinh điển đó, với sự đóng góp
lớn của ba nhà xã hội học đương đại là Rolf Gustav Dahrendorf (Đức), Lew
Coser (Mỹ) và Anatol Rapoport (Nga), lý thuyết xung đột được hoàn thiện trở
thành một trong những hình mẫu của xã hội học hiện đại. Không giống với
cách tiếp cận cấu trúc - chức năng chủ yếu nhấn mạnh đến tính đồng thuận,
cân bằng, liên kết xã hội, lý thuyết xung đột nhìn nhận xã hội - tôn giáo về cơ
bản luôn có sự chia rẽ, mâu thuẫn và xung đột giữa các cá nhân hoặc nhóm xã

hội –tôn giáo khác nhau. Xung đột xã hội là thuộc tính bên trong của đời sống
xã hội, nó tồn tại khách quan dưới mọi cấp độ, bao gồm xung đột giữa các cá
nhân, các nhóm xã hội, các giai cấp, các tôn giáo và giữa các quốc gia.
Áp dụng lý thuyết xung đột vào nghiên cứu đề tài luận án này để thấy được
có sự xung đột, mâu thuẫn về lợi ích giữa giáo lý, giáo luật hay quan điểm của
18


một số tôn giáo có sự khác biệt hay độ “vênh” với chính sách tôn giáo của Đảng
và pháp luật của Nhà nước ta. Việc sử dụng lý thuyết xung đột vào nghiên cứu của
để tài luận án để thấy được những mâu thuẫn giữa chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nước về lĩnh vực tôn giáo với những quan điểm của các tôn giáo để
tìm cách tháo gỡ, dung hòa nhằm tạo nên sự đồng thuận xã hội. Lý thuyết này
được sử dụng để nghiên cứu ở chương 3 và một phần trong chương 4 của luận án.
1.2.3. Giả thuyết nghiên cứu
Thứ nhất, luận án khái quát tình hình du nhập, phát triển cộng đồng tôn
giáo, hoạt động của các tôn giáo dưới góc nhìn tổng quan về diện mạo của các
tôn giáo ở Hà Nội, trên cơ sở đó, đưa ra những đánh giá cả về mặt tích cực và
tiêu cực của các tôn giáo có những tác động ảnh hưởng đến mọi mặt xã hội
cũng như CTTG của Hà Nội hiện nay.
Thứ hai, luận án đánh giá một cách đầy đủ về các nội dung của CTTG ở
Hà Nội với sự tham gia của cả hệ thống chính trị Thành phố Hà Nội. Qua đó,
đưa ra những nhận xét, nhận định về các nội dung cơ bản của CTTG, trong đó
có đề cập đến "bộ máy và đội ngũ làm CTTG" từ cấp thành phố đến cơ sở.
Ngoài ra, luận án sẽ có những nghiên cứu về sự đổi mới chính sách đối với
tôn giáo cũng như CTTG từ Trung ương đến địa phương (Hà Nội).
Thứ ba, luận án tổng kết những thành tựu đã đạt được và những điểm
còn yếu kém, bất cập trong CTTG của Thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất một
số khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTTG ở ở Hà Nội trong
thời gian tới, góp phần bổ sung hoàn chỉnh về chính sách, pháp luật liên quan

đến tôn giáo và CTTG ở Việt Nam.
1.3. Một số khái niệm sử dụng trong luận án
(1) Hoạt động tôn giáo: Là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn
giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo.
(2) Tổ chức tôn giáo: Là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành
của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước
công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo.
(3) Pháp nhân tôn giáo: Là sự chấp thuận hoặc công nhận của cơ quan
có thẩm quyền của Nhà nước đối với tổ chức tôn giáo.
19


Xem Thêm

×