Tải bản đầy đủ

VĂN HÓA CHÍNH TRỊ THỜI THỊNH TRẦN

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGHIÊM THỊ THU NGA

VĂN HÓA CHÍNH TRỊ THỜI THỊNH TRẦN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2018


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGHIÊM THỊ THU NGA

VĂN HÓA CHÍNH TRỊ THỜI THỊNH TRẦN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 62 31 06 40


Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. HOÀNG VINH

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo
quy định.

Tác giả

Nghiêm Thị Thu Nga


MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU

1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN VĂN HÓA CHÍNH TRỊ THỜI THỊNH TRẦN

7

1.1. Tình hình nghiên cứu về văn hóa chính trị

7

1.2. Tình hình nghiên cứu về văn hóa chính trị thời thịnh Trần

22

1.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

34



Chương 2: QUAN NIỆM VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VÀ GIỚI THUYẾT
VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ THỜI THỊNH TRẦN

36

2.1. Quan niệm về văn hóa chính trị

36

2.2. Giới thuyết về văn hóa chính trị thời thịnh Trần

49

Chương 3: DIỆN MẠO CỦA VĂN HÓA CHÍNH TRỊ THỜI THỊNH TRẦN

69

3.1. Định hướng giá trị trong chính trị

69

3.2. Sự vận hành chính trị

80

3.3. Nhân cách chính trị

99

3.4. Ngoại hiện chính trị

110

Chương 4: GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU CỦA VĂN HÓA CHÍNH TRỊ THỜI
THỊNH TRẦN VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG
VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY

119

4.1. Giá trị tiêu biểu của văn hóa chính trị thời thịnh Trần

119

4.2. Bài học đối với sự nghiệp xây dựng văn hóa chính trị nước ta hiện nay
từ kinh nghiệm của thời Trần
KẾT LUẬN

129
151

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

153

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

154

PHỤ LỤC

170


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cương mục

: Khâm định Việt sử thông giám cương mục

ĐCSVN

: Đảng Cộng sản Việt Nam

ĐVSKTT

: Đại Việt sử ký toàn thư

NCS

: Nghiên cứu sinh

NQHNTW

: Nghị quyết Hội nghị Trung ương

TCN

: Trước Công nguyên

UNESCO

: United Nations Educational, Scientific and
Cultural Organization

VHCT

: Văn hóa chính trị


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
- Xuất phát từ vai trò của văn hóa chính trị (VHCT) và sự cần thiết của việc
nghiên cứu VHCT
Văn hóa chính trị là một bộ phận quan trọng của văn hóa xã hội (cùng với
văn hóa đạo đức, văn hóa pháp luật, văn hóa truyền thông…). Trong suốt chiều
dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, VHCT đã được tạo
dựng, dần hoàn thiện và góp phần làm phong phú thêm cho nền văn hóa dân tộc.
Những giá trị VHCT tiêu biểu đã thấm sâu vào đường lối trị nước và nhân cách
của nhiều người lãnh đạo đất nước, góp phần phát huy sức mạnh của cả dân tộc,
vượt thoát ra khỏi những thử thách khắc nghiệt của lịch sử, đưa đất nước đi lên
cường thịnh và trường tồn.
Nghiên cứu VHCT có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc và nhằm nâng cao
tính tích cực chính trị của con người trong hoạt động xã hội nói chung, nâng cao kỹ
năng, kỹ xảo, nghệ thuật lãnh đạo và quản lý của đội ngũ cán bộ ở Việt Nam nói
riêng, từ đó góp phần xây dựng, đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị của nước ta
phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong hoàn cảnh mới.
Cho đến nay, đã có không ít công trình nghiên cứu về VHCT, nhiều học giả
sử dụng thuật ngữ “VHCT” ở các chuyên ngành khác nhau. Riêng ở chuyên ngành
văn hóa học, vấn đề VHCT vẫn còn những ý kiến chưa đồng nhất, nhất là nội hàm
khái niệm, cấu trúc của VHCT vẫn chưa thực sự được xác lập. Nhiều điểm còn bỏ
ngỏ của vấn đề này đòi hỏi cần được quan tâm nghiên cứu thấu đáo hơn.
- Xuất phát từ sự cần thiết phải nghiên cứu VHCT thời thịnh Trần
Trong 175 năm tồn tại của triều Trần, có khoảng 100 năm đầu là giai đoạn
thịnh trị, hào khí Đông A và trí tuệ Đại Việt đã hội tụ, tỏa sáng trên nhiều lĩnh vực
của đời sống xã hội, làm nên một quốc gia quân chủ độc lập, tự chủ và thịnh vượng.
Khác với những giai đoạn lịch sử sau đó, thời thịnh Trần chưa bị chi phối bởi tư
tưởng Nho giáo, nên càng có điều kiện thuận lợi để những người nắm quyền có thể
phát triển năng lực cá nhân, trở thành những nhân cách rực rỡ, sáng chói, góp phần
gây dựng một nền VHCT sáng tạo với những giá trị độc đáo, ghi dấu ấn đặc biệt


2

trong lịch sử các triều đại quân chủ Việt Nam, có nhiều đóng góp quan trọng cho
văn hóa dân tộc. Hiểu VHCT thời thịnh Trần chính là hiểu sức mạnh nội tại, tiềm ẩn
của dân tộc trước những thử thách cam go, là góp phần lý giải nguyên nhân thịnh suy trong lịch sử. Nghiên cứu VHCT thời thịnh Trần, ta tiệm cận đến giá trị của các
bài học giữ nước và phát triển đất nước, bài học về xây dựng một nền chính trị văn
minh, một nền văn hóa vì con người, hợp lòng người.
VHCT thời thịnh Trần đã thành địa hạt thú vị cho nhiều ngành khoa học
xã hội nhân văn tiếp cận nghiên cứu như: văn hóa học, xã hội học, tâm lý học xã
hội, chính trị học... Từ cách tiếp cận văn hóa học, cho đến nay, chưa hề có một
công trình nghiên cứu riêng biệt, chuyên sâu, hệ thống về vấn đề VHCT thời
thịnh Trần. Định vị được một khái niệm công cụ quan trọng trong văn hóa học,
thấu hiểu được một bộ phận thiết yếu trong đời sống văn hóa xã hội của dân tộc
ở buổi đầu dựng nền độc lập tự chủ rạng rỡ, oai hùng và còn nhiều ẩn số, thiết nghĩ
là việc làm cần thiết và ý nghĩa.
- Xuất phát từ nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy đáp ứng yêu cầu phát triển
đất nước thời kỳ mới
Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền văn
hóa và con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã
được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định, đó là: “Chú trọng chăm lo xây dựng văn
hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể; coi đây là nhân tố
quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh” [41, tr.29].
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đó, nội dung VHCT đã và đang được triển khai
nghiên cứu, giảng dạy ở nhiều góc độ, nhiều chuyên ngành. Ở chuyên ngành văn
hóa học, VHCT mới chỉ dừng lại ở những nghiên cứu bước đầu với kết quả còn
khiêm tốn, VHCT truyền thống Việt Nam cũng chưa thực sự được quan tâm thỏa
đáng. Do đó, việc nghiên cứu đề tài VHCT thời thịnh Trần sẽ góp phần đi sâu vào
địa hạt VHCT truyền thống theo cách tiếp cận của văn hóa học, từ đó, giúp ích cho
việc nghiên cứu, giảng dạy các nội dung quan trọng liên quan như: Lịch sử văn hoá,
VHCT, Văn hóa công vụ...


3

Xuất phát từ những lí do trên, nghiên cứu sinh (NCS) lựa chọn đề tài
“Văn hóa chính trị thời thịnh Trần” cho luận án tiến sĩ, chuyên ngành Văn hóa
học với mong muốn nhận chân một cách hệ thống diện mạo, giá trị của nền
VHCT thời thịnh Trần, từ đó góp phần luận bàn về những bài học kinh nghiệm
của thời Trần đối với việc xây dựng và phát triển nền VHCT Việt Nam hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án tiến hành nghiên cứu VHCT thời thịnh Trần, qua đó liên hệ, bàn
luận về vấn đề xây dựng nền VHCT Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về VHCT (khái niệm, cấu trúc của VHCT);
+ Miêu tả diện mạo VHCT thời thịnh Trần qua các thành tố cơ bản;
+ Nhận định về giá trị của VHCT thời thịnh Trần, từ đó liên hệ và bàn luận về
một số bài học đối với công cuộc xây dựng nền VHCT Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu VHCT thời thịnh Trần (mà trọng tâm là diện mạo, giá
trị và bài học lịch sử đối với giai đoạn hiện nay).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận án nghiên cứu giai đoạn thịnh trị của triều Trần (12251329), tức từ lúc vua Trần Thái Tông lên ngôi cho đến khi vua Trần Minh Tông
nhường ngôi cho thái tử Vượng.
Giai đoạn sau không thuộc phạm vi nghiên cứu mà chỉ được đề cập đến ở
mức độ liên quan cần thiết của luận án.
- Về không gian: Ở thời thịnh Trần, nước Đại Việt gồm 12 lộ, kéo dài từ
Lạng Giang đến Hóa Châu (Lạng Sơn đến Thừa Thiên Huế ngày nay). Không
gian nghiên cứu của luận án chính là nước Đại Việt thời thịnh Trần trong mối
quan hệ với các nước láng giềng, đặc biệt là nước Trung Hoa (ở phương Bắc) và
nước Chiêm Thành (ở phương Nam).


4

- Về nội dung: Luận án chủ yếu nghiên cứu VHCT của của các vương triều
thời thịnh Trần (tức của chủ thể cầm quyền cơ bản: vua, quan lại và tướng lĩnh).
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở phương pháp luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của học thuyết mác xít để phân tích tiền
đề, bối cảnh lịch sử dẫn đến sự hình thành VHCT thời thịnh Trần, phân tích vấn đề
vai trò cá nhân (người anh hùng) và quần chúng (thần dân) trong lịch sử, nhận định
giá trị và bài học của VHCT thời thịnh Trần đối với giai đoạn hiện nay.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp tư liệu, sử liệu:
Đây là phương pháp chủ đạo và hết sức cần thiết đối với một đề tài mang
tính hồi cố và nguồn tài liệu chủ yếu là tài liệu thứ cấp như luận án. Thông qua
việc sưu tầm và tập hợp tư liệu từ các văn bản đáng tin cậy, như các văn bản Hán
Nôm (văn bản hành chính, văn bản luật pháp, văn bản nghệ thuật... ra đời trong
thời Trần), các tài liệu lịch sử, các công trình khoa học của các tác giả trong và
ngoài nước về thời Trần, VHCT thời Trần, luận án có thể nhận diện cụ thể các
vấn đề thuộc VHCT thời thịnh Trần. Phương pháp này cho phép NCS thu thập
được các thông tin lịch sử, khảo sát nhiều nội dung quan trọng liên quan đến vấn
đề nghiên cứu một cách chính xác, tránh tình trạng võ đoán, tư biện.
- Phương pháp liên ngành:
Văn hóa là đối tượng của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn: triết
học, sử học, dân tộc học, nhân học, tâm lý học, đạo đức học, nghệ thuật học... Văn
hóa học vừa là khoa học độc lập, vừa là khoa học liên ngành gắn với các khoa học
xã hội và nhân văn kể trên. Do vậy, khi nghiên cứu một nền văn hóa, một hiện
tượng văn hóa dưới góc độ văn hóa học, người nghiên cứu có thể sử dụng các kết
quả nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và nhân văn làm cơ sở, tài liệu cho
việc nghiên cứu. Ngoài ra, người nghiên cứu văn hóa còn có thể sử dụng các tri
thức, các khái niệm, phạm trù, các phương pháp của các ngành khoa học xã hội và
nhân văn trên để nghiên cứu các hiện tượng, quá trình văn hóa.


5

Vấn đề VHCT thời thịnh Trần có liên quan đến tri thức của nhiều môn
khoa học khác nhau như: nhân học văn hóa, xã hội học văn hóa, tâm lý học, triết
học, sử học, văn học... Chính vì vậy, NCS đã vận dụng những tri thức của các
môn khoa học trên để làm rõ vấn đề nghiên cứu của luận án. Mặt khác, trong quá
trình thực hiện luận án, NCS đã sử dụng các thuật ngữ, khái niệm, các khái quát
lí luận (nguyên lí, quy luật, kết luận khoa học), các cứ liệu, tài liệu và một số
phương pháp nghiên cứu của các khoa học khác.
- Phương pháp logic - lịch sử:
Lịch sử là bản thân quá trình vận động và phát triển của hiện thực. Logic là
cái được trừu tượng hóa từ lịch sử, là cái phản ánh lịch sử trong các mối quan hệ và
liên hệ cơ bản nhất của nó trong ý thức con người. Kết hợp lịch sử và logic nhằm
khám phá bản chất và quy luật nội tại chi phối sự phát triển của sự vật, hiện tượng
và phản ánh khái quát lịch sử ở nét chủ yếu của nó.
Phương pháp logic - lịch sử giúp NCS chỉ ra được diện mạo của VHCT khi
xem xét nó trong một giai đoạn cụ thể (thời thịnh Trần), đồng thời lại có thể nhìn
nhận, đánh giá VHCT thời thịnh Trần trong chiều lịch đại, đồng đại của sự vận
động, phát triển của văn hóa dân tộc. Mặt khác, phương pháp này giúp người viết
đi sâu vào những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp chuyên gia: Trên cơ sở nội dung của Luận án, NCS phỏng
vấn sâu, tham khảo các ý kiến, nhận định của các chuyên gia, những người am
hiểu về văn hóa, VHCT, về lịch sử thời Trần..., từ đó bổ sung, hoàn chỉnh cho
các phân tích, kết luận trong luận án.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đây là phương pháp phân chia
(trong thực tế và tư duy) sự vật hiện tượng thành các yếu tố cấu thành, sau đó
nghiên cứu từng yếu tố cấu thành ấy một cách riêng rẽ để cuối cùng bằng
phương pháp tổng hợp, tức là bằng cách xác định những cái chung cũng như cái
quy luật, mối liên hệ, tác động qua lại giữa các yếu tố ấy, ta lại kết hợp chúng lại
với nhau thành một chỉnh thể cố kết. Cái tổng thể ta thu được là kết quả nghiên
cứu, không phải là cái tổng thể giản đơn mà là cái tổng thể được nhận thức đầy
đủ và sâu sắc.


6

Luận án đã sử dụng phương pháp này để phân chia cấu trúc VHCT và tiến
hành nhận diện VHCT thời thịnh Trần theo các thành tố thuộc cấu trúc VHCT nói
chung đó. Rồi từ diện mạo các thành tố đã được nhận diện, phân tích đó, NCS lại
tổng hợp, đánh giá những giá trị chung của cả nền VHCT thời thịnh Trần.
Để thực hiện tốt các phương pháp trên, luận án tiến hành các thao tác nghiên
cứu cụ thể: phỏng vấn sâu, thống kê, so sánh,...
5. Đóng góp mới của luận án
5.1. Về lý luận
- Hệ thống hóa, bổ sung và phát triển một số vấn đề liên quan đến lý luận
về VHCT; góp phần xác lập khái niệm và cấu trúc của VHCT dưới góc nhìn văn
hóa học;
- Qua việc nghiên cứu về VHCT thời thịnh Trần, luận án góp phần bổ
sung về phương pháp luận cho việc nghiên cứu một bộ phận của văn hóa xã hội
trong một thời đại lịch sử cụ thể.
5.2. Về thực tiễn
- Luận án làm rõ được diện mạo và giá trị của VHCT trong giai đoạn
thịnh Trần, thông qua đó có thể hiểu rõ hơn về lịch sử văn hoá Việt Nam;
- Từ việc hiểu về VHCT của một giai đoạn trong lịch sử với tất cả những
ưu điểm và hạn chế, luận án rút ra bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng, phát
triển VHCT Việt Nam hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm phong phú thêm nguồn
tư liệu về văn hóa, văn hóa Việt Nam, VHCT Việt Nam và là nguồn tư liệu tham
khảo cho công tác học tập, nghiên cứu và giảng dạy các học phần VHCT, Văn
hóa công vụ, Lịch sử văn hóa Việt Nam...
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình đã công bố của tác
giả liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án
kết cấu thành 04 chương, 11 tiết.


7

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
VĂN HÓA CHÍNH TRỊ THỜI THỊNH TRẦN
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1. Nghiên cứu của các nước phương Đông
Ở phương Đông, các nhà tư tưởng cổ đại Trung Quốc đã mở đầu cho
truyền thống tiếp cận VHCT trong lịch sử tư tưởng nhân loại với các hệ tư tưởng
về đức trị, pháp trị và vô vi nhi trị.
Khổng Tử là đại diện tiêu biểu cho chủ trương đức trị. Nhà tư tưởng này rất
tin ở sức hấp dẫn và sự tác động của đạo đức đến hoạt động chính trị. Ông khẳng
định: “Vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi” (Dùng
đức mà làm chính trị cũng ví như ngôi sao Bắc Đẩu, ở yên tại vị trí của mình mà
các ngôi sao khác đều chầu về) [19, tr.6], nghĩa là nếu nhà cầm quyền làm chính trị
bằng đức thì vương hầu và dân chúng sẽ mến đức mà quy phục. Việc lấy đạo đức
làm tiêu chuẩn chi phối hành vi chính trị đã đưa Khổng Tử đi đến phủ nhận vai trò
của luật pháp. Theo ông, vua không cần dùng tới hình luật nghiêm khắc, chỉ ngồi rủ
áo xiêm, dùng đạo đức của mình cảm hóa bề tôi và dân chúng mà mọi việc trôi chảy
tốt đẹp, đất nước thái bình. Ông cho rằng nếu nhà cầm quyền chuyên dùng pháp
chế, cấm lệnh mà dẫn dắt dân chúng, thì dân sợ mà không dám phạm pháp thôi chứ
không phải vì họ biết xấu hổ. Vậy muốn dẫn dắt dân chúng, nhà cầm quyền phải
dùng lễ tiết đức hạnh, khi đó chẳng những dân biết xấu hổ, mà còn được cảm hóa
để trở nên tốt lành. Quan điểm của Khổng Tử được kế tục và phát triển bởi các học
trò của ông, tiêu biểu là Mạnh Tử - người đã đề ra tư tưởng “văn trị giáo hóa”, nghĩa
là dùng văn để giáo hóa thiên hạ. Để hiện thực hóa tư tưởng đức trị, họ đã đề ra mô
hình “tam cương, ngũ thường” với tư cách là mô hình đạo đức chuẩn mực mà con
người phải tuân thủ. Từ năm 136 trước công nguyên (TCN), khi được Hán Vũ Đế
thừa nhận là tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị, Khổng giáo đã trở thành hệ


8

tư tưởng có ảnh hưởng lớn, là công cụ tinh thần để bảo vệ cho chế độ quân chủ suốt
hai nghìn năm ở Trung Quốc.
Khác với tư tưởng đức trị, tư tưởng pháp trị - mà người nâng lên thành học
thuyết pháp trị hoàn chỉnh nhất Trung Quốc cổ đại là Hàn Phi Tử (280 - 233
TCN) - lại đề cao giá trị của pháp luật. Theo Hàn Phi Tử, nhà nước rất cần tới
pháp luật bởi pháp luật là công cụ quan trọng để điều chỉnh xã hội. Ông phủ
nhận lý luận đề cao mọi cái cao quý của con người cũng như lý luận chính trị
thần quyền. Để hiện thực hóa tư tưởng pháp trị, Hàn Phi Tử đã đề xuất mô hình:
“Pháp - Thế - Thuật” và coi đó là 3 nguyên lý trong chính trị. Trong đó, “pháp”
là trung tâm, còn “thế” và “thuật” là điều kiện tất yếu để thực hành pháp luật.
Ông cho rằng, chỉ cần duy trì hiệu lực của pháp luật thì sẽ giữ vững được trật tự
chính trị bình thường và thu được những hiệu quả lớn. Cho nên, việc làm cho
pháp luật không bị hỏng nát là tiền đề và mục đích tối cao của chính trị. “Thuật”
thực chất là thủ đoạn của người làm vua dùng để điều khiển cho các quan lại
phải giữ gìn pháp luật và tuân theo mệnh lệnh. “Thế” là một thứ quyền lực đặt ra
cho phù hợp với yêu cầu của pháp luật. Lý thuyết của Hàn Phi Tử được Tần
Thủy Hoàng dùng để thống nhất Trung Quốc. Sau này, các triều đại phong kiến
Trung Quốc cũng tiếp tục sử dụng lý thuyết pháp trị của ông nhưng nó bị che
dấu dưới cái vỏ bề ngoài của Nho giáo mà thường được gọi là “dương Nho, âm
Pháp” hay “nội Pháp, ngoại Nho”.
Lão Tử là thuỷ tổ của phái Đạo gia. Trong Đạo đức Kinh, Lão Tử bàn về
chính trị không nhiều, nhưng tương đối có hệ thống. Ông nêu ra lý luận triết
học “Đạo pháp tự nhiên” và vận dụng nhuần nhuyễn, nhất quán lý luận này vào
việc lý giải lĩnh vực chính trị. Bao trùm tư tưởng chính trị của ông là tư tưởng
“vô vi nhi trị”. Đây là quan điểm cai trị xã hội hướng người cầm quyền đến
việc để xã hội tự nhiên như nó vốn có, không can thiệp bằng bất cứ cách nào,
xã hội sẽ được ổn định. “Vô vi” không phải là không làm gì cả mà là không
làm gì trái với tự nhiên, không dùng tâm mà xen vào việc của người khác,
không dùng tham vọng cá nhân mà can thiệp vào mọi việc, là hành sự thuận


9

theo quy luật tự nhiên. Theo ông, tự nhiên là không bị chi phối bởi tình cảm, ý
muốn, trí tuệ của con người, nếu có sự can thiệp của con người dù bằng bất cứ
cách nào thì chính trị cũng trở nên rắc rối. Tuy có nhiều mặt hạn chế nhưng
phương pháp “vô vi” của ông vẫn có những nhân tố hợp lý, tư tưởng chính trị
của ông vẫn có một vị trí ảnh hưởng nhất định đến ngày nay.
Sang thời kỳ hiện đại, từ sau thập niên 70 của thế kỷ XX, ở nhiều nước
châu Á, các học giả Nhật Bản, Đài Loan bắt đầu nghiên cứu VHCT. Sau năm
1980, ở Trung Quốc, việc nghiên cứu VHCT (hay còn gọi là “văn minh
chính trị”) ngày càng phổ biến rộng rãi. Văn minh chính trị ở Trung Quốc
được nhìn nhận trong mối quan hệ với thành quả của quá trình cải tạo xã hội
của loài người. Trong cuốn Trung Quốc Đại bách khoa toàn thư, quyển
Chính trị học viết: “Văn minh chính trị là sự tổng hòa các thành quả chính
trị do con người cải tạo xã hội mà có, thông thường nó biểu hiện thành mức
độ thực hiện dân chủ, tự do, bình đẳng, giải phóng con người trong một hình
thái xã hội nhất định” [49]. Tác giả Ngu Sùng Thắng (Đại học Vũ Hán)
trong bài Phân biệt khái niệm văn minh chính trị đã nêu ra:
Văn minh chính trị, xét từ trạng thái tĩnh, nó là toàn bộ thành
quả tiến bộ đạt được trong tiến trình chính trị; xét từ trạng thái
động, nó là quá trình tiến hóa cụ thể trong sự phát triển chính trị
của xã hội loài người [49].
1.1.1.2. Nghiên cứu của các nước phương Tây
Ở phương Tây, từ thời cổ đại cho đến thời đại Khai sáng, vấn đề VHCT
được nghiên cứu như đối tượng của triết học. Platon (khoảng 427 - 347 TCN)
với tác phẩm Nền cộng hoà và Aristoteles (384 - 322 TCN) với tác phẩm Chính
trị được coi là những người mở đầu cho cách tiếp cận VHCT truyền thống ở
phương Tây. Khi bàn về VHCT, cả hai nhà tư tưởng này đều đặc biệt chú ý đến
quan điểm, thái độ cơ bản của con người đối với các vấn đề như: quyền lực, tác
động của chính thể đến người dân, cách thức để quản lý các mối quan hệ xã
hội. Học thuyết chính trị - xã hội của Platon quan tâm đến vấn đề nhà nước và


10

theo ông, trong nhà nước đó, các nhà triết học là những người cầm quyền. Còn
Aristoteles thì nhấn mạnh vai trò của chính trị trong việc xác định tư cách tồn
tại của con người khi ông coi con người là “động vật chính trị”. Ông cho rằng
mục đích cao nhất của chính trị là làm sao để mọi người có thể sống và sống tốt
hơn, sứ mệnh của nhà nước, của những người cầm quyền - chủ thể chính trị không chỉ là đảm bảo cho mọi người sống bình thường mà còn là làm sao để
mọi người sống hạnh phúc: “Mục đích của nhà nước là cuộc sống phúc lợi...,
bản thân nhà nước là sự giao thiệp của các gia tộc và dân cư nhằm đạt được sự
tồn tại một cách hoàn thiện và tự lập” [147, tr.210].
Cho đến cuối thế kỷ XVIII, thuật ngữ “VHCT” mới xuất hiện bởi nhà triết
học cổ điển Đức I.Herder (1744 - 1803) khi ông nghiên cứu mối quan hệ tương tác
giữa văn hóa và chính trị. Trong cuốn sách Các phương pháp triết học lịch sử nhân
loại (năm 1784), lần đầu tiên ông đưa ra khái niệm “VHCT”, “sự chín muồi của
VHCT” hay “những đại biểu của VHCT” [147, tr.460].
A.Tocqueville (1805-1859), là học giả người Pháp nhưng đã viết một số
khảo luận về hệ thống chính trị của Hoa Kỳ. Nền dân chủ Mỹ là một trong những
tác phẩm nổi tiếng của ông. Trong tác phẩm này, ông đã đưa các giá trị văn hóa
lên vị trí hàng đầu trong việc phân tích về nền dân chủ ở Mỹ. Tocqueville khẳng
định: “Nếu không có những quan điểm và thói quen thích hợp về vai trò của dân
chúng thì đến cả những thể chế dân chủ sáng giá nhất cũng khó có thể tránh khỏi
sự lung lay từ cơ sở” [147, tr.462]. Nhà chính trị học nổi tiếng khác của Mỹ là
L.Pye, năm 1961, khi biên soạn Bách khoa toàn thư khoa học xã hội quốc tế, đã
đưa ra định nghĩa rõ hơn về VHCT:
Văn hóa chính trị là một hệ thống thái độ, niềm tin và tình cảm; nó đem
lại ý nghĩa và trật tự cho quá trình chính trị; nó đưa ra tiền đề cơ
bản và quy tắc chế ước hành vi của hệ thống chính trị; nó bao
gồm lý tưởng chính trị và quy phạm vận hành của một chính thể.
Bởi vậy, VHCT là biểu hiện hình thức tập hợp tâm lý chính trị và
góc độ chủ quan; một loại VHCT vừa là lịch sử tập thể của một


11

hệ thống chính trị, lại vừa là sản phẩm của lịch sử đời sống của
các cá thể trong hệ thống đó; do đó, nó bắt rễ sâu xa trong lịch sử
các sự kiện chung và lịch sử cá nhân [68, tr.83-84].
Nói cách khác, VHCT thuộc phương diện chủ quan trong hệ thống chính trị,
nó chế ước chế độ chính trị và xác định hành vi chính trị của con người.
Mặc dù vấn đề VHCT xuất hiện sớm như vậy, nhưng môn Nghiên cứu
VHCT lại thực sự ra đời cùng với ngành khoa học chính trị hiện đại. Trong đó,
nổi lên hai xu hướng nghiên cứu chính:
Thứ nhất, coi VHCT chỉ là chiều cạnh chủ quan của hệ thống chính trị và
quá trình chính trị.
Công trình The Civic Culture, Political Attitudes and Democracy in
Five Nations (“Văn hóa công dân - Những thái độ chính trị và nền dân chủ ở
năm quốc gia”) của hai nhà khoa học Mỹ G.Almond và S.Verba, được coi là
chuyên khảo đầu tiên khai phá và đặt nền móng cho môn Nghiên cứu VHCT
ở phương Tây. Hiện nay, nhiều công trình nghiên cứu về VHCT thường giới
thiệu một định nghĩa được thừa nhận là “kinh điển” của G.Almond. Học giả
này đã tiến hành khái quát các công trình nghiên cứu diện xã hội - văn hóa
của các quá trình chính trị để đưa ra khái niệm VHCT: “VHCT của một dân
tộc là cách chia sẻ riêng của các thành viên của dân tộc ấy những dạng thức
của sự định hướng quan tâm tới các khách thể chính trị” [147, tr.14-15]. Như
vậy, G.Almond (cùng với S.Verba) là những người đầu tiên đưa ra quan
điểm: VHCT chỉ là chiều cạnh chủ quan của hệ thống chính trị và quá trình
chính trị. Almond cho rằng VHCT “gồm các yếu tố về nhận thức, tình cảm
và giá trị. Nó hàm chứa nhận thức và ý kiến, quan niệm giá trị và tình cảm
đối với chính trị” [68, tr.83]. Verba khẳng định: VHCT không phải là chế độ
và cơ cấu chính trị, cũng không phải là mô hình hành vi chính trị: “nó không
nói về các sự việc phát sinh trong lĩnh vực chính trị mà là nói về những suy
nghĩ và niềm tin của người ta đối với các sự việc đó” [68, tr.84].
Hai ông cũng đưa ra ba loại hình cơ bản của VHCT: văn hóa chính trị bộ lạc,
văn hóa chính trị thần thuộc và văn hóa chính trị tham dự (hay văn hóa công dân).


12

Một số trường phái khoa học chính trị và các nhà nghiên cứu ở phương
Tây sau này đã dựa trên cơ sở lý thuyết khoa học về VHCT của G.Almond và
S.Verba. Tiêu biểu có thể kể đến:
- Định nghĩa của nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Tổng hợp
Berkeley (California) trong cuốn Đề cương bài giảng VHCT (năm 2006):
“VHCT được tạo thành bởi những tri nhận, những giá trị và những bộc lộ cảm
tình mà dân chúng của một cộng đồng/ tập thể nào đó mang lại cho một quá trình
mà tại đó những giá trị chân xác sẽ được định vị” [147, tr.29]. Theo trường phái
này, cả ba bộ phận hợp thành của VHCT trên đây chỉ được xem xét, phân tích
khi đặt trong mối quan hệ với hệ thống chính trị và đặc biệt là trong quá trình
chính trị, nơi mà những bộ phận này được “định vị”. Điều này có nghĩa là tương
tự như trong cách tiếp cận và định nghĩa khái niệm của G.Almond và S.Verba,
các chiều cạnh chủ quan của hệ thống chính trị và quá trình chính trị được xem
như hệ quy chiếu gốc của môn nghiên cứu về VHCT.
- Định nghĩa được công bố trong cuốn Từ điển chính trị xuất bản năm
2007 của trường phái học thuật Heidelberg (Đức): VHCT là khái niệm “dùng để
chỉ chiều cạnh chủ quan của những cơ sở xã hội của các hệ thống chính trị.
VHCT liên quan tới những bộ phận khác nhau của ý thức chính trị, những
“phong thái”, những lối nghĩ và ứng xử “điển hình” của những nhóm xã hội hoặc
của toàn xã hội. VHCT bao gồm tất cả những đặc tính chính trị cá nhân của từng
cá thể, tiềm ẩn trong những thái độ và các giá trị, bắt rễ trong những động cơ
bẩm sinh của hành vi chính trị, và có trong những hình thức bộc lộ có tính chất
biểu tượng và những ứng xử chính trị cụ thể” [147, tr.24]. Đây cũng có thể coi là
một quan điểm gợi mở những khía cạnh có tính phương pháp luận trong nghiên
cứu về VHCT.
Thứ hai, coi VHCT là một bộ phận trong chỉnh thể văn hóa chung của xã hội.
Không phải tất cả các nhà khoa học chính trị hiện đại ở phương Tây đều
dựa trên cơ sở lý thuyết khoa học về VHCT của G.Almond và S.Verba. Xu
hướng tiếp cận VHCT khác đáng chú ý ở phương Tây là coi VHCT là một bộ
phận trong chỉnh thể văn hóa chung của xã hội. Nhà sử học và chính trị học Hoa


13

Kỳ P.X.Taquar đã nhiều năm có dự định giải quyết vấn đề về cách tiếp cận và
các khái niệm, liên quan tới các phạm vi của khái niệm VHCT. Ông cho rằng: có
thể nói về VHCT như một bộ phận tự trị (tách riêng) trong chỉnh thể văn hóa
chung của xã hội. Lý giải vấn đề trên đây, quan điểm của ông có hai mặt tương
liên đáng lưu ý là: Thứ nhất, luận chứng về ưu thế của cách tiếp cận văn hóa học đối
với VHCT (khác với cách phân tích hệ thống hoặc phân tích tâm lý hẹp, chủ yếu
dùng trong khoa chính trị học). Thứ hai, trong khi phân tích phê phán khái niệm
VHCT của Almond, học giả này cũng đã xây dựng nên hàng loạt vấn đề mang tính
chất phương pháp luận, chủ yếu là để xác lập hệ hình khái niệm cho VHCT. Theo
ông, G.Almond và những người kế tục ông chỉ tập trung chú ý vào một phương
diện (dù đó là quan trọng nhất) của VHCT - đó chính là phương diện chủ quan
(nhiều khi mang tính chất tâm lý học), nhận định đặc trưng của VHCT như “một tổ
hợp những ý đồ và mục tiêu” của các nhân vật chính trị.
Các trường phái chính trị học Nga với các tên tuổi như E.A.Dodin,
G.Grat, A.X.Carmin, I.X.Piroparov… cũng đưa ra nhiều quan niệm khác nhau.
Theo E.A.Dodin:
Văn hóa chính trị là quá trình xã hội hóa chính trị, suy cho cùng là quá
trình phổ cập những giá trị và quy tắc chính trị nhất định” và “quá
trình xã hội hóa trong chừng mực nào đó đưa đến sự ra đời các thiết
chế xã hội, các giá trị và những chuẩn mực hành vi phù hợp với tiến
trình phát triển [147, tr.64-65].
Với quan điểm này, E.A.Dodin đã không đồng tình với các tác giả
phương Tây khi quy VHCT về các khuôn mẫu xác định nào đó. Bởi điều đó
thường mang tính chủ quan của nhà nghiên cứu và sẽ rất dễ nhầm lẫn với các
hiện tượng bề mặt.
Thông qua lăng kính của những yếu tố cấu trúc cơ bản, G.Grat cho rằng
VHCT được cấu trúc bởi 3 thành tố: “Cấu trúc của VHCT gồm: Văn hóa về ý thức
chính trị, văn hóa hành vi chính trị và văn hóa vận hành các hành vi chính trị của
Nhà nước” [191, tr.45].


14

Còn nhà chính trị học Liên Xô cũ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc
dùng VHCT mới để đả phá những thói quen do xã hội cũ để lại và xây dựng một
nhà nước kiểu mới. Họ phê phán các học giả Mỹ quá nhấn mạnh định nghĩa
VHCT là một thứ động cơ tâm lý, là thái độ chủ quan mà coi nhẹ vấn đề giai cấp
và lợi ích giai cấp, bỏ qua việc đời sống chính trị luôn phụ thuộc vào lợi ích giai
cấp và những mối quan hệ kinh tế nhất định. Theo họ, VHCT là thành phần quan
trọng của văn hóa tinh thần, nó thuộc về lĩnh vực thượng tầng kiến trúc, có tính
giai cấp và tính xã hội rõ ràng; nó phản ánh lợi ích, nguyện vọng và yêu cầu của
một giai cấp nhất định.
Ngoài ra, V.I.Lê-nin đưa ra khái niệm VHCT dựa trên quan niệm về mối
liên hệ chặt chẽ giữa chính trị và văn hóa. Sử dụng các thành quả đấu tranh để
xây dựng chính quyền Xô Viết, Lê-nin khẳng định: “Giờ đây, trước mắt chúng ta
đang phải thực hiện các nhiệm vụ văn hóa, cần nắm vững các kinh nghiệm chính
trị và có thể nhân rộng ra để tái hiện trong đời sống [195, tr.246].
Như vậy, VHCT ra đời từ rất sớm cả ở phương Đông và phương Tây. Có
thể nói, từ khi có chính trị thì vấn đề VHCT cũng được đặt ra. Nhưng, việc
nghiên cứu VHCT như một môn khoa học thì ra đời khá muộn. Dù vậy, với
những nghiên cứu công phu, phong phú từ nhiều góc nhìn, các tài liệu trên đã
giúp NCS có được những nhận thức khái quát về hệ thống lý thuyết cũng như
phương pháp tiếp cận VHCT. Việc kế thừa các thành tựu nghiên cứu đó có ý
nghĩa quan trọng và là việc làm hết sức cần thiết.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.1.2.1. Nghiên cứu phương diện thực tiễn của văn hóa chính trị truyền thống
Quá trình tiếp cận VHCT ở Việt Nam đã được bắt đầu từ khá sớm, trong
đó, chủ yếu là quan niệm về những yêu cầu làm chính trị của những chủ thể
chính trị - những nhà cầm quyền tối cao của các triều đại quân chủ.
Trong khoa học nghiên cứu VHCT, người đầu tiên trình bày VHCT Việt
Nam trong lịch sử một cách hệ thống là Nguyễn Hồng Phong trong công trình
VHCT Việt Nam - truyền thống và hiện đại [129]. Trên cơ sở những tri thức


15

chung về VHCT trong xã hội truyền thống phương Đông, tác giả này trình bày
mô hình tổ chức quản lý xã hội Việt Nam truyền thống trên hai phương diện
quốc gia và làng xã.
Nguyễn Văn Huyên và cộng sự trong công trình Bước đầu tìm hiểu những
giá trị VHCT truyền thống Việt Nam [81] đã trình bày những nhân tố hình thành
tư tưởng VHCT và những nét đặc sắc của VHCT Việt Nam trong lịch sử. Nhiều
giá trị tiêu biểu của VHCT được các nhà nghiên cứu phân tích khá sâu sắc như:
yêu nước, lấy dân làm gốc; tư tưởng chính trị độc lập tự chủ...
Thừa nhận lịch sử xã hội là do con người sáng tạo nên trong những điều
kiện lịch sử nhất định và theo những cách thức nhất định, mà cách thức này lại
do nền tảng văn hóa quy định, Phạm Hồng Tung trong công trình VHCT và lịch
sử dưới góc nhìn VHCT đã đi sâu nghiên cứu hàng loạt vấn đề của lịch sử Việt
Nam cận đại nhằm chỉ ra những khía cạnh mới và mang lại những nhận thức
mới. Đó là vấn đề ý thức dân tộc, tâm thức cộng đồng dân tộc, cuộc vận động
giải phóng và duy tân đất nước...
Lê Quý Đức, trong Giáo trình VHCT (hệ đào tạo sau Đại học, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), đã có những phân tích, lý giải sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của lịch sử VHCT Việt Nam. Theo đó, VHCT Việt Nam
trong xã hội truyền thống được ông chia làm ba thời kỳ: thời kỳ hình thành nhà
nước sơ khai (nhà nước Văn Lang - Âu Lạc), thời kỳ nhà nước Đại Việt độc lập
tự chủ, thời kỳ nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tác giả cũng đã tập trung
phân tích các thành tố trong cấu trúc của nền VHCT Việt Nam trong từng thời
kỳ cụ thể (Triết lý, tư tưởng chính trị; Thiết chế, thể chế chính trị; Công nghệ
chính trị; Nhân cách của những nhà chính trị tiêu biểu; Hệ thống ngoại hiện).
Công trình nghiên cứu mới nhất hiện nay về vấn đề thực tiễn trong VHCT
Việt Nam truyền thống là đề tài cấp Bộ trọng điểm “Các nguyên nhân làm sụp đổ
chế độ chính trị Việt Nam trong lịch sử” [45] do Phạm Duy Đức làm chủ nhiệm.
Công trình này đã lý giải nguyên nhân của sự suy vong và sụp đổ của các triều đại
quân chủ Việt Nam suốt 10 thế kỷ (nguyên nhân về thể chế chính trị, từ thiết chế


16

chính trị và từ nhân cách của người cầm quyền). Từ đó, đề tài nêu ra một số bài
học đối với việc đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị Việt
Nam hiện nay như: Đặt lợi ích quốc gia dân tộc là tối thượng; Khoan sức dân, thân
dân, vì dân; Nền tảng tư tưởng ổn định; Trọng dụng nhân tài, đề cao văn hóa dân
tộc, tiếp thu sáng tạo giá trị văn hóa từ bên ngoài... Đây là những gợi ý cho NCS
khi lý giải bài học thịnh - suy của triều Trần.
Như vậy, những công trình nghiên cứu về VHCT Việt Nam trong lịch sử
nêu trên thường đề cập đến các yếu tố cụ thể của VHCT như giá trị VHCT, tư
tưởng VHCT, nhân cách nhà chính trị tiêu biểu, bài học kinh nghiệm với việc
xây dựng và phát triển VHCT Việt Nam hiện nay,... Với các kết quả nghiên cứu
đó, diện mạo chung của VHCT Việt Nam truyền thống bước đầu được phác họa.
Đây là những tài liệu tham khảo bổ ích cho NCS khi nghiên cứu một giai đoạn
của VHCT Việt Nam truyền thống.
1.1.2.2. Nghiên cứu phương diện lý luận/lý thuyết của khoa học hiện đại
Điểm chung của các công trình nghiên cứu theo hướng này là các tác giả
đều đề cập tới những vấn đề cơ bản của môn Nghiên cứu VHCT, tập trung làm rõ
một số khái niệm công cụ cơ bản được sử dụng phổ biến trong khoa học chính trị
như: khái niệm VHCT, nội dung, cấu trúc, chức năng, vai trò của VHCT. Tuy
nhiên, tùy vào các góc độ tiếp cận, mỗi tác giả lại đưa ra những quan niệm khác
nhau về VHCT. Có thể khái quát thành ba nhóm chính như sau:
1/ Nhóm thứ nhất: coi VHCT là một tổ hợp từ chỉ tài năng, sự khôn khéo
trong hoạt động chính trị, VHCT có thể thay bằng “nghệ thuật làm chính trị”.
Theo quan điểm này, nhóm tác giả Đặng Xuân Kỳ, Vũ Khiêu, Hoàng Chí
Bảo trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và phát triển con người cho rằng:
Văn hóa chính trị không phải là bản thân chính trị, mà là chính trị có
văn hóa, chính trị tác động vào con người và xã hội như một sức mạnh
văn hóa, sức mạnh không chỉ dựa vào quyền lực mà phải dựa vào sự
cảm hóa con người, thức tỉnh lương tri, lay động tâm tư, tình cảm con
người, thuyết phục, chinh phục, thu phục con người [91, tr.248].


17

Trong khi đó, Phạm Ngọc Anh và Bùi Đình Phong (trong sách Hồ Chí
Minh - văn hóa và phát triển) quan niệm:
Văn hóa chính trị là cái đẹp, cái giá trị của chính trị, tức là chính trị thấm sâu
vào tâm lý quốc dân, vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng
người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng như một sức mạnh văn hóa,
sức mạnh hợp nhất lý và tình, thuyết phục bằng cảm hóa [4, tr.63].
2/ Nhóm thứ hai: VHCT được hiểu là văn hóa trong chính trị, chỉ sự vận
dụng các yếu tố văn hóa trong lĩnh vực này, nhằm tạo ra môi trường đạo đức cho
hoạt động chính trị, làm sao cho hoạt động ấy vừa lành mạnh, vừa đạt được hiệu
quả là duy trì quyền lực.
Tiếp cận theo hướng này có nhóm nghiên cứu thuộc Viện Chính trị học
(Học viện CTQG Hồ Chí Minh) với quan niệm: VHCT là một phương diện của
văn hóa trong xã hội có giai cấp, là tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần mà hạt nhân là các giá trị chính trị dân chủ, nhân văn, nhân đạo - được hình
thành trong thực tiễn hoạt động chính trị của các giai cấp, các tập đoàn xã hội; nó
là cái góp phần định hướng, chi phối hoạt động của các tổ chức và con người
chính trị (các nhà lãnh đạo, quản lý, các thủ lĩnh chính trị, công dân) trong quá
trình hiện thực hóa những mục tiêu chính trị nhằm phục vụ lợi ích căn bản của
một giai cấp nhất định, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.
Bên cạnh đó, Nguyễn Đăng Dung (và nhóm nghiên cứu thuộc Đại học
Quốc gia Hà Nội) trong Giáo trình Chính trị học [34] cho rằng: VHCT là một hệ
giá trị văn hóa được con người tiếp nhận và lựa chọn, biến nó thành nhu cầu,
thành vũ khí, phương tiện trong hoạt động chính trị.
Như vậy, hầu như các quan niệm về VHCT đã trình bày ở trên được nhìn
nhận từ góc độ triết học, chính trị học. Ở đây, VHCT được tiếp cận như một bộ
phận của chính trị học, tiếp cận từ mối quan hệ giữa chính trị và văn hóa và về cơ
bản các tác giả coi văn hóa như một thuộc tính, phẩm chất của chính trị. Như vậy,
tuy có gắn VHCT với văn hóa nói chung nhưng hầu như các quan niệm, ý kiến của
các tác giả chỉ quan tâm đến trình độ, hiệu quả của hoạt động chính trị mà chưa nêu
lên được VHCT là một phương diện của văn hóa, nghĩa là thừa nhận phạm trù văn


18

hóa rộng lớn, bao trùm lên VHCT. Vì thế, tiếp cận VHCT dưới góc độ văn hóa học
để bổ sung thêm một hướng nghiên cứu là việc làm cần thiết.
3/ Nhóm thứ ba: quan niệm VHCT là một thành tố của văn hóa.
Phạm Ngọc Quang trong cuốn Văn hóa chính trị và việc bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay đã định nghĩa: “Văn hóa chính trị là một
phương diện của văn hóa” [131, tr.19]. Trong cuốn “Các chuyên đề bài giảng chính
trị học” (dành cho hệ cao học chuyên ngành Chính trị học), Phan Xuân Sơn quan
niệm: “Văn hóa chính trị là một loại hình văn hóa” [140, tr.260].
Thừa nhận VHCT là một thành tố của văn hóa, Lê Quý Đức (trong Giáo
trình Văn hóa chính trị) nhận định:
VHCT là một lĩnh vực (bộ phận, thành tố) của văn hóa tổ chức xã
hội, bị quy định bởi trình độ, tính chất văn hóa của một cộng đồng
người (bộ lạc, bộ tộc, dân tộc, quốc gia) trong việc tổ chức đời sống
cộng đồng, trong việc nắm giữ quyền lực và thực thi quyền lực của
cộng đồng, thể hiện ra như một “kiểu”, “dạng”, “nền”, “hệ thống”
chính trị nhất định trong lịch sử [49, tr.10].
Như vậy, quan điểm này đã cụ thể hóa vị trí của VHCT trong văn hóa nói
chung. Là một thành tố của văn hóa, nên VHCT cũng như văn hóa nói chung,
thể hiện “trình độ người”, nhưng ở đây là “cộng đồng người” trong vấn đề tổ
chức xã hội, cụ thể là trong tổ chức đời sống cộng đồng và trong nắm giữ quyền
lực và thực thi quyền lực cộng đồng, thuộc bộ phận văn hóa tổ chức xã hội.
1.1.2.3. Nghiên cứu mang tính ứng dụng/vận dụng trong thực tiễn văn hóa
chính trị hiện nay
Trên cơ sở những vấn đề lý luận về VHCT, nhiều công trình nghiên cứu
đã hướng đến việc vận dụng/ứng dụng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn VHCT
Việt Nam hiện nay.
Một là, nghiên cứu thực trạng chung của VHCT. Nhiều tác giả nêu lên
thực trạng VHCT Việt Nam trên cả hai phương diện tích cực và hạn chế.
Về những mặt tích cực của VHCT Việt Nam, các tác giả Nguyễn Văn Vĩnh,
Lê Văn Đính nhấn mạnh rằng VHCT mang tính chất xã hội chủ nghĩa ở nước ta


19

không ngừng phát triển cả về bề rộng và bề sâu; khẳng định cùng với chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nền VHCT Việt Nam kế thừa những giá trị
VHCT truyền thống tiêu biểu của dân tộc, tạo nên một “nền VHCT Việt Nam khoa
học - cách mạng - nhân văn theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa” [201, tr.262].
Bàn về hạn chế của VHCT Việt Nam, có thể kể đến một số tác giả với những
góc nhìn sắc sảo như: Phạm Ngọc Quang trong VHCT và việc bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay [131] đã nêu lên sự kém hiểu biết về văn hóa
tranh luận, văn hóa dân chủ, văn hóa pháp quyền; bệnh quan liêu cả về tư duy, tổ
chức bộ máy, phong cách lãnh đạo, phương pháp hoạt động của các thành tố cấu
thành nên hệ thống chính trị. Từ đó, nhóm tác giả đề ra một số tố chất mà cán bộ
lãnh đạo quản lý cần đạt tới như: “tinh tế về chính trị, có năng lực đàm thoại chính
trị, có sáng kiến và khả năng tìm tòi những quyết định chính trị vốn không dễ dàng”
[131, tr.8]. Cuốn Giáo trình Chính trị học [201] nhấn mạnh đến năng lực, kỹ năng
lãnh đạo chính trị và phẩm chất đạo đức của một bộ phận lãnh đạo - quản lý chưa
ngang tầm với yêu cầu của quá trình đổi mới; tình trạng xuống cấp về đạo đức nói
chung và về đạo đức chính trị nói riêng trong một bộ phận nhân dân.
Cũng trên cơ sở phân tích một số yếu tố tích cực, tiêu cực trong VHCT,
một số nhà nghiên cứu đã hướng đến việc đề ra giải pháp để đổi mới, phát triển
VHCT hiện nay. Nguyễn An Ninh trong bài viết Khắc phục một số yếu tố tiêu
cực trong quá trình xây dựng VHCT đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay [112]
hướng đến giải pháp chung nhằm khắc phục các yếu tố tiêu cực để xây dựng một
nền VHCT đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước. Lâm Quốc Tuấn,
trong sách Nâng cao VHCT của cán bộ lãnh đạo quản lý ở nước ta hiện nay
[148] hướng đến việc phát triển VHCT của một chủ thể quan trọng của VHCT là
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, coi đây là vấn đề then chốt của công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước.
Lồng vào trong công trình nghiên cứu về văn hóa và giá trị văn hóa nói
chung, một số học giả đã có những khảo cứu về các giá trị VHCT, tiêu biểu có: Ngô
Đức Thịnh với cuốn Giá trị văn hóa Việt Nam - truyền thống và biến đổi [163],
Trần Ngọc Thêm với Hệ giá trị Việt Nam - từ truyền thống đến hiện đại và con


20

đường tới tương lai [158]. Ngô Đức Thịnh và cộng sự đã nêu ra một số giá trị văn
hóa của dân tộc Việt Nam cũng chính là những giá trị thuộc về VHCT: tính cộng
đồng, tính cởi mở trong giao lưu và hội nhập, nghệ thuật quân sự trong đánh giặc
giữ nước. Trần Ngọc Thêm khi phác thảo ra mô hình “hệ giá trị cốt lõi trọng điểm”,
đã nêu ra hai giá trị xã hội phổ biến là: dân chủ và pháp quyền. Tác giả đã thẳng
thắn nhìn nhận những điểm hạn chế của hai giá trị này, cũng có thể hiểu là một
trong những hạn chế trong văn hóa chính trị nước ta hiện nay:
Thứ nhất là giá trị “dân chủ”:
Đi vào thực tế thì mặc dù từ khi chuyển sang thời kỳ Đổi mới, dân
chủ đã được mở rộng hơn, các quyền tự do cá nhân được coi trọng
hơn, nhưng tình trạng tha hóa quyền lực, lạm dụng quyền lực, vi
phạm và xâm phạm quyền làm chủ của dân... cũng đa dạng hơn và
nghiêm trọng hơn [158, tr.473-474].
Thứ hai là giá trị “pháp quyền”:
Từ phía dưới, người dân thiếu hiểu biết về pháp luật, coi thường
pháp luật (...). Từ phía trên, có tình trạng pháp luật chưa đầy đủ và
chưa hoàn thiện, chất lượng chưa cao, nhưng quan trọng hơn là việc
thi hành chưa nghiêm. Người dưới ứng xử tùy tiện, coi thường
pháp luật là do thiếu hiểu biết, còn người trên ứng xử tùy tiện, coi
thường pháp luật là do tự cho mình quyền đứng trên pháp luật, coi
thường dân [158, tr.483].
Hai là, nghiên cứu những vấn đề cụ thể của VHCT:
- Nghiên cứu tư tưởng chính trị, thể chế chính trị: Các phương diện như
triết lý chính trị, quan điểm về quyền lực, đường lối trị nước, luật pháp đã trở
thành nội dung của nhiều bài viết gần đây: Văn hóa trong tổ chức, sử dụng và
tuân thủ quyền lực [20] của Vũ Hoàng Công; Tư tưởng thượng tôn pháp luật
trong VHCT Việt Nam hiện nay [63] của Nguyễn Ngọc Hà.
- Nghiên cứu phương thức thực hành chính trị: Vấn đề rất quan trọng trong
phương thức thực hành chính trị là cách sử dụng người tài được nhiều tác giả đề cập
đến, chẳng hạn: Trong cuốn Phương sách dùng người của cha ông ta trong lịch sử


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×