Tải bản đầy đủ

NGHỀ LÀM GIẦY DA Ở HAI LÀNG GIẼ THƯỢNG VÀ GIẼ HẠ, XÃ PHÚ YÊN, HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN NGỰ

NGHỀ LÀM GIẦY DA
Ở HAI LÀNG
GIẼ THƯỢNG VÀ GIẼ HẠ, XÃ PHÚ YÊN,
HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

Mã số : 9310302
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. BÙI XUÂN ĐÍNH

HÀ NỘI – 2019


LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Những luận điểm mà luận án kế thừa của các tác giả đi trước
đều được ghi rõ xuất xứ.
Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2019
Nghiên cứu sinh

Nguyễn Văn Ngự


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận án tiến sĩ Nhân học với đề tài “Nghề làm
giầy da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ, xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên,
thành phố Hà Nội”, tôi nhận được sự giúp đỡ của các cơ quan, tập thể, cá nhân.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới:
- Học viện Khoa học xã hội, Khoa Dân tộc học - Nhân học thuộc Học viện đã
tạo điều kiện để tôi hoàn thành chương trình học tập, nghiên cứu, bảo vệ luận án.
- Huyện ủy Phú Xuyên, Đảng ủy, HĐND, UBND xã Minh Tân - nơi tôi
đang công tác đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi được theo học, hoàn thành
chương trình nghiên cứu sinh khóa 2014 - 2018.
- Lãnh đạo Đảng ủy, Ủy ban nhân dân và cán bộ các bộ phận giúp việc xã Phú
Yên, nhân dân hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi tiếp
cận, khai thác các nguồn tư liệu cho luận án trong các đợt điền dã từ 2014- 2018.
- Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã khích lệ, động viên, tạo điều kiện tốt
nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận án.
- Đặc biệt, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy Bùi Xuân Đính, đã
tận tình chỉ bảo tôi trong việc định hướng đề tài, tiếp cận các phương pháp, các
kinh nghiệm nghiên cứu, thu thập, xử lý tư liệu, thực hiện các ý tưởng khoa học,
để tôi hoàn thành tốt luận án này.
Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2018
Nghiên cứu sinh

Nguyễn Văn Ngự


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài



1

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu
của luận án

5

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

7

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

8

7. Kết cấu của luận án

8

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,

9

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

9

1.2. Cơ sở lý thuyết của luận án

21

1.3. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

31

Tiểu kết Chương 1

43

Chương 2. NGHỀ LÀM GIẦY DA

45

Ở HAI LÀNG GIẼ THƯỢNG, GIẼ HẠ TRƯỚC NĂM 1992

2.1. Nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ trong bối cảnh

45

sản xuất giầy da của Việt Nam
2.2. Nghề làm giày da truyền thống ở hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ

49

Tiểu kết Chương 1

65

Chương 3.

67

NGHỀ LÀM GIÀY DA Ở HAI LÀNG GIẼ TỪ NĂM 1992 ĐẾN NAY


2

3.1. Sự hồi phục nghề làm giày da và sự phát triển của nghề

67

3.2. Đại lý nguyên vật liệu, phụ kiện và sự chuyển biến trong tổ chức

82

sản xuất nghề làm giày da
3.3. Sự hình thành tầng lớp chủ cơ sở sản xuất - kinh doanh

94

Tiểu kết Chương 3

108

Chương 4. TÁC ĐỘNG CỦA NGHỀ LÀM GIÀY DA VỚI CÁC KHÍA CẠNH

110

VĂN HÓA, XÃ HỘI, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỚI NGHỀ HIỆN NAY

4.1. Tác động của nghề làm giầy da đối với đời sống kinh tế - xã hội

110

4.2. Tác động của nghề tới giáo dục, văn hóa

115

4.3. Những vấn đề đặt ra về cơ hội phát triển của làng nghề giày da Giẽ
Thượng, Giẽ Hạ hiện nay

130

4.4. Một số đề xuất, khuyến nghị từ nghiên cứu nghề làm giày da ở
hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ

143

Tiểu kết Chương 4

145

KẾT LUẬN

148

CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN CỦA TÁC GIẢ ĐÃ
CÔNG BỐ

151

TÀI LIỆU THAM KHẢO

152

PHỤ LỤC

163

Phụ lục 1. Danh sách các cộng tác viên cung cấp tư liệu và được
phỏng vấn

163

Phụ lục 2. Hệ thống các di tích thờ cúng của hai làng Giẽ Thượng,
Giẽ Hạ

158

Phụ lục 3. Điều lệ Hội Da - Giầy Phú Yên (theo y bản chính)

174

Phụ lục 3. Một số hình ảnh làng nghề Giẽ Thượng, Giẽ Hạ

184


3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HỘP PHỎNG VẤN

STT
1

Tên bảng, sơ đồ, hộp phỏng vấn
Bảng 3.1. Các loại hộ sản xuất,

Trang
71

kinh doanh của các thôn (năm 2017)
2

Bảng 3.2. So sánh sự giống nhau và khác nhau về nghề truyền
thống và nghề hiện nay của hai làng Giẽ

106

3

Bảng 3.3. So sánh sự giống nhau và khác nhau của làng nghề
Giẽ Thượng, Giẽ Hạ với một số làng nghề tiêu biểu vùng châu
thổ Bắc Bộ

107

4

Bảng 4.1: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội xã Phú Yên
(2010 - 2017)

112

5

Sơ đồ 1. Mô hình tổ chức sản xuất giày da ở Giẽ Thượng, Giẽ

80

Hạ (Giai đoạn 1996 - 2016)
6

Sơ đồ 2. Mô hình tổ chức sản xuất giày da ở Giẽ Thượng, Giẽ
Hạ hiện nay

90

7

Hộp 3. 1. Về quan hệ không tốt trong làm ăn với người trong họ

85

8

Hộp 3. 2:.Về sự hình thành cơ sở sản xuất mới nhờ sự giúp đỡ
của chủ cơ sở sản xuất ở làng Giẽ

88

9

Hộp 4.1. Lúng túng trong việc mở rộng quy mô xưởng sản xuất

133

10

Hộp 4.2. Khó khăn về tư duy sản xuất

133

11

Hộp 4.3. Về việc không muốn xây dựng thương hiệu giầy da

139

12

Hộp 4. 4. Khó khăn trong việc xây dựng thương hiệu

140

13

Hộp 4.5. Về nguyên nhân muốn chuyển sang kinh doanh
nguyên vật liệu, phụ kiện nghề giày da

142

14

Hộp 4.6. Về sự lưỡng lự trong mở rộng nghề hiện nay

144


4

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trên vùng châu thổ Bắc Bộ, từ xưa đã hình thành nhiều nghề thủ công.
Bên cạnh những nghề ra đời từ rất sớm, gắn với quá trình cha ông ta mở làng,
lập nước, như đan lát, dệt, làm gốm…; lại có nghề xuất hiện rất muộn do điều
kiện của cuộc sống. Một trong những nghề đó là làm giày da, xuất hiện vào
giữa thế kỷ XVI. Tập quán sinh hoạt cũng như mức sống thấp kém của người
nông dân trước đây làm cho sản phẩm của nghề giày da không có chỗ đứng ở
nông thôn, mà chủ yếu phục vụ người Pháp và tầng lớp trên của người Việt
sinh sống ở các đô thị. Do vậy, số người làm nghề không nhiều và phải mưu
sinh ở các thành phố. Tình hình này tiếp diễn đến tháng 10 - 1954.
Từ hòa bình lập lại, chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước Việt
Nam giúp cho nghề làm giày da có những phát triển nhất định. Tại nhiều địa
phương đã xuất hiện các hợp tác xã thủ công nghiệp hoặc các tổ sản xuất giày
da, chủ yếu làm gia công cho các nhà máy, xí nghiệp; sản phẩm chủ yếu để phân
phối cho cán bộ và quân đội. Đại bộ phận cư dân nông thôn do điều kiện kinh tế
khó khăn và do chế độ phân phối, bao cấp không sử dụng sản phẩm này.
Nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ (xã Phú Yên,
huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội) bắt đầu hình thành từ năm 1918, do
một số người làng học được nghề ở phố Tràng Tiền (Hà Nội), sau đó cùng
con cháu làm nghề ở nhiều nơi, lập được các cửa hàng cửa hiệu lớn, rồi đưa
người của hai làng ra làm nghề ở các đô thị suốt những năm thời Pháp thuộc.
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, trong kháng chiến chống Pháp và
sau hòa bình lập lại, nghề làm giày da của người hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ
không có điều kiện phát triển, do chiến tranh, đời sống khó khăn. Một số thợ


5

tiếp tục bám trụ ở các đô thị để mưu sinh, một số trở về quê sinh sống. Sản
phẩm giày da chủ yếu phục vụ một bộ phận những người có thu nhập trong xã
hội; công chức, nhà buôn, người có điều kiện kinh tế ở đô thị, vì thế nghề làm
giầy da không phát triển.
Đến năm 1965, Hợp tác xã Giày da Phú Yên được thành lập, gồm các
thợ giày cũ và mới là người trong, ngoài xã; chủ yếu làm gia công cho Tổng
Công ty giày da xuất khẩu Hà Nội. Đến năm 1985, do khủng hoảng kinh tế,
hợp tác xã phải giải thể. Hầu hết những người thợ giầy hai làng Giẽ Thượng,
Giẽ Hạ phải bỏ nghề, trong sự xót xa, tiếc nuối.
Từ năm 1990, những thành tựu bước đầu của công cuộc đổi mới đã tác
động đến nghề làm giày da. Đời sống nhân dân được cải thiện. Số người sử
dụng giày da tăng lên mạnh mẽ, kể cả ở nông thôn. Đó là điều kiện để nghề
làm giày da phát triển về nông thôn, làm hình thành các làng chuyên làm giày
da. Tại nhiều địa phương, từ một làng nghề phát triển thành xã nghề. Một
trong những làng nghề - xã nghề làm giày da phải kể đến là làng nghề Giẽ
Thượng và Giẽ Hạ. Những người thợ giầy hai làng tập hợp lại, khôi phục, mở
mang nghề giầy truyền thống của quê hương. Nhiều lớp thanh niên đi các nơi
học nghề, tiếp thu kinh nghiệm, tiếp nối, phát huy truyền thống tài hoa của
cha ông, phát triển nghề làm giày thành nghề tạo ra kinh tế mũi nhọn của địa
phương. Đến năm 2017, hai làng có 03 công ty, gần 400 cơ sở hộ gia đình sản
xuất, kinh doanh nghề da - giày, thường xuyên thu hút khoảng 2.000 lao động
(khoảng 80% lao động trong xã) và trên 1.000 lao động từ các nơi khác về
học nghề, làm nghề. Nghề sản xuất giày da truyền thống của hai giữ vai tròlớn
trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu nhập của cả xã Phú Yên. Năm
2017, giá trị thu nhập từ ngành nghề của xã ước đạt trên 90 tỷ đồng, chiếm
60% cơ cấu kinh tế của xã. Nghề làm giày da giúp hai làng cũng như cả xã
Phú Yên từ một vùng đất chiêm trũng nghèo, trở nên trù phú và hiện được xác


6

định là ngành kinh tế chủ lực của địa phương trong tương lai. Đặc biệt từ năm
2006, từ hai làng Giẽ, nghề làm giày da được mở rộng sang địa bàn các xã lân
cận và khu vực, tạo ra các xã nghề và vùng nghề.
Nghiên cứu nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ về mặt
khoa học làm rõ sự hình thành và phát triển của một loại hình nghề lâu nay
chưa được quan tâm, góp phần vào việc nghiên cứu nghề thủ công và làng
nghề nói chung; nhất là làm sáng tỏ quy luật hình thành, phát triển từ làng
nghề đến xã nghề - vùng nghề. Về mặt thực tiễn, tìm hiểu nghề làm giầy da ở
hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ, xã Phú Yên tạo cơ sở khoa học để ngành
công nghiệp và các ngành có liên quan huyện Phú Xuyên, cấp ủy và chính
quyền xã Phú Yên đề ra các giải pháp để nghề tiếp tục được mở rộng, các
làng nghề phát triển theo hướng bền vững.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Nghề làm giầy da ở hai làng Giẽ
Thượng và Giẽ Hạ xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội” 1làm
luận án tiến sĩ Nhân học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2. 1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ các khía cạnh cơ bản của nghề làm giày da ở hai làng Giẽ
Thượng và Giẽ Hạ (các yếu tố tác động đến nghề, quy trình làm nghề và tổ
chức làm nghề, sản phẩm nghề, vị trí của nghề trong đời sống, các khía cạnh
nổi bật về xã hội và văn hóa liên quan đến nghề làm giày da hiện nay) dưới góc
độ Nhân học.

Quyết định đề tài luận án của Học viện Khoa học xã hội ghi là “Nghề làm giầy da ở hai
làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội”. Tuy
nhiên, để phù hợp với cách viết chính tả, trong luận án, nghiên cứu sinh dùng từ “giày da”.
Cách dùng này không làm thay đổi mục đích và nội dung được trình bày của luận án.
1


7

- Chỉ ra thực trạng phát triển, những vấn đề đang đặt ra đối với nghề và
làng nghề làm giày da, tạo cơ sở khoa học cho việc đề ra các giải pháp góp
phần phát triển bền vững cho làng nghề.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập các nguồn tài liệu thứ cấp (các tài liệu lưu trữ về hai làng
Giẽ Thượng, Giẽ Hạ, các công trình nghiên cứu về các khía cạnh của nội
dung luận án), tổng quan các nguồn tài liệu để có cái nhìn ban đầu về nghề,
làng nghề và hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ.
- Tiến hành điền dã tại thực địa để thu thập các nguồn tài liệu liên quan
đến các khía cạnh của nội dung luận án.
- Tổng hợp tư liệu và phân tích, giải mã các hiện tượng, nhằm làm rõ
các nội dung đề ra của luận án, trong đó, tập trung làm nổi bật các khía cạnh
của nghề giày da trước đây và sự biến chuyển trong điều kiện hiện nay,
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những khía cạnh nổi bật nhất của
nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ trong giai đoạn hiện nay từ
tư liệu khảo sát thực tế. Nội dung về “Những khía cạnh bật nhất của nghề làm
giày da” và khái niệm “Giai đoạn hiện nay” sẽ được làm rõ ở phần sau.
3. 2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu của luận án là hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ
thuộc xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án chủ yếu là từ năm 1992 đến
nay, khi nghề giày da được phục hồi, tập trung vào khoảng thời gian 10 năm
gần đây (2007 - 2017), khi nghề giày da có bước phát triển mạnh mẽ.


8

4. Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu của luận án
4.1. Phương pháp luận
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin. Phép biện
chứng có nội dung chủ đạo là coi yếu tố kinh tế luôn có quan hệ chặt chẽ với
các yếu tố khác và ngược lại. Trong trường hợp đang bàn, nghề làm giày da ở
hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ là một hoạt động kinh tế, nên có mối quan hệ
với các yếu tố môi trường, dân cư, xã hội, chính sách, và các khía cạnh kinh tế
khác. Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử đòi hỏi đặt các khía
cạnh nghiên cứu trong những điều kiện lịch sử nhất định.
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở các quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về kinh tế nông thôn, về nghề thủ công và làng nghề, đặc biệt coi
nghề thủ công là một di sản văn hóa.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp thu thập, phân tích kế thừa các tài liệu
nghiên cứu đi trước, để thấy rõ các khía cạnh về nghề và làng nghề đã được
nghiên cứu, các khía cạnh còn bỏ ngỏ, từ đó, đặt ra các vấn đề cần nghiên cứu
cho luận án.
Để có được nguồn tư liệu cho luận án, nghiên cứu sinh sử dụng phương
pháp điền dã Dân tộc học. Mỗi lần điền dã tại địa bàn, ngoài các thao tác
quan sát, quan sát - tham dự, nghiên cứu sinh chú trọng sử dụng các thao tác
cơ bản dưới đây:
- Phỏng vấn: nghiên cứu sinh thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn (phỏng
vấn có định trước và phỏng vấn ngẫu nhiên) với 57 người, đối tượng phỏng
vấn là các bậc cao niên am hiểu, các chủ cơ sở sản xuất (chủ gia đình gia


9

công, các chủ sản xuất giầy, chủ công ty, doanh nghiệp), các công nhân làm
thuê, các cán bộ lãnh đạo của xã, thôn…, để thu thập các thông tin, tư liệu về
nghề và làng nghề hiện nay.
- Điều tra hồi cố: thao tác áp dụng với các bậc cao niên am hiểu để thu
thập các thông tin về các khía cạnh của làng truyền thống, về nghề cổ truyền
(sự du nhập nghề và tổ chức làm nghề). Trong điều tra hồi cố, nghiên cứu
sinh sử dụng phương pháp tìm hiểu lịch sử kinh tế gia đình để thấy được con
đường đi lên từ làm nghề của một số cơ sở sản xuất tiêu biểu của hai làng.
- Trao đổi nhóm: nghiên cứu sinh tiến hành một số cuộc trao đổi nhóm
với các đối tượng là các bậc cao niên của các làng, ban quản lý các thôn làng,
một số chủ cơ sở sản xuất để thu thập tư liệu, các ý kiến tập thể về nghề và
làng nghề hiện nay.
Sau khi có tương đối đầy đủ thông tin tư liệu đã được thẩm định,
nghiên cứu sinh sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp phân tích và diễn giải: là phương pháp thường dùng
trong các công trình nghiên cứu Dân tộc học, để lý giải các hiện tượng mà
nguồn tư liệu phản ánh.
- Phương pháp thống kê: là việc lập các bảng thống kê các sự kiện, hiện
tượng, phục vụ cho việc phân tích, diễn giải và so sánh.
- Phương pháp so sánh: nhằm làm rõ sự khác biệt giữa nghề làm giầy
da truyền thống với nghề làm giày da hiện nay; so sánh một số điểm tương
đồng và khác biệt giữa nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ với
các làng nghề có tiếng trên vùng châu thổ Bắc Bộ hiện nay, như Triều Khúc
(huyện Thanh Trì, Hà Nội), Phương La (huyện Hưng Hà, Thái Bình), Đại Tự
(huyện Hoài Đức, Hà Nội) để thấy được tính đa dạng của việc làm nghề của
cư dân các làng trên vùng châu thổ Bắc Bộ.


10

- Phương pháp hệ thống (hay phương pháp tổng thể), đặt hiện tượng
được nghiên cứu với các yếu tố khác. Trong trường hợp đang bàn, phương
pháp hệ thống đặt làng nghề Giẽ Thượng, Giẽ Hạ trong mối quan hệ với yếu
tố vùng (vùng chiêm trũng, tiểu vùng văn hóa Xứ Nam), đặt nghề làm giày da
trong một quan hệ với các yếu tố điều kiện tự nhiên, con người, cơ cấu tổ
chức làng xã, các yếu tố chính sách, xã hội, văn hóa …
Trong quá trình điều tra tư liệu và viết luận án, nghiên cứu sinh sử dụng
phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia để có thêm các ý tưởng khoa học
cho nội dung luận án.
4.3. Nguồn tư liệu của luận án
Nguồn tư liệu chính của luận án là tư liệu điền dã, được thu thập từ các
cuộc khảo sát tại hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ, gồm tư liệu phỏng vấn, thảo
luận nhóm và tư liệu thành văn (các báo cáo của cấp ủy, chính quyền địa
phương, Hội Da giày Phú Yên).
Luận án kế thừa các tư liệu, các kết quả nghiên cứu về làng Việt, về
nghề thủ công và làng nghề của các công trình đã công bố từ trước đến nay.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về nghề làm giày da ở hai
làng cụ thể dưới góc độ Nhân học, góp phần làm sáng tỏ một trong những đặc
điểm văn hóa nổi bật của người Việt về tiếp thu, vận dụng, phát triển nghề
trong vùng châu thổ sông Hồng.
- Luận án tạo cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách, các
nhà quản lý đề ra các chính sách, các giải pháp giúp địa phương phát huy các
tiềm năng, thế mạnh, những đức tính và truyền thống tốt đẹp của của nhân
dân trong xã để phát triển kinh tế và văn hóa bền vững.


11

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án cung cấp thêm tư liệu về một loại hình nghề và làng nghề lâu
nay chưa được quan tâm nghiên cứu; góp phần vào nghiên cứu nghề thủ công
và làng nghề nói chung, nghề làm giày da nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án chỉ ra những yếu tố thuận lợi, khó khăn, thách thức hay những
vấn đề đặt ra đối với sự phát triển của nghề và làng nghề hiện nay, tạo cơ sở
khoa học góp phần giúp cấp ủy, chính quyền địa phương có thêm những giải
pháp phát triển nghề làm giày da.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận án
được chia làm bốn chương:
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Chương 2: NGHỀ LÀM GIÀY DA Ở HAI LÀNG GIẼ THƯỢNG, GIẼ HẠ TRƯỚC
NĂM 1992

Chương 3: NGHỀ LÀM GIÀY DA Ở HAI LÀNG GIẼ THƯỢNG, GIẼ HẠ TỪ NĂM
1992 ĐẾN NAY

Chương 4: TÁC ĐỘNG CỦA NGHỀ LÀM GIÀY DA VỚI CÁC KHÍA CẠNH VĂN
HÓA, XÃ HỘI, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA.


12

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về nghề thủ công người Việt
Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nghề thủ công và làng
nghề của người Việt ở Bắc Bộ, bao gồm các cuốn sách, các đề tài khoa học,
các luận văn, luận án tiến sĩ... dưới các góc độ: Kinh tế học, Sử học, Văn hóa
học, Nhân học… Các công trình đã phản ánh sinh động nhiều khía cạnh của
nghề và làng nghề trong các bối cảnh xã hội khác nhau. Dưới đây, luận án
điểm các công trình tiêu biểu nhất dưới góc độ Dân tộc học/ Nhân học.
1.1.1.1. Những công trình giới thiệu và khảo tả về các nghề thủ công
Đây là chủ đề nổi bật của các công trình nghiên cứu. Tiêu biểu trong số
các tác phẩm này là Quê gốm Bát Tràng, Làng Vó và nghề đúc đồng truyền
thống của Đỗ Thị Hảo [25, 26], Gốm Bát Tràng thế kỷ XIV - XIX do Phan
Huy Lê chủ biên [48], Ba tập Nghề cổ truyền của Sở Khoa học công nghệ và
Môi trường, Bảo tàng Hải Hưng [31, 32, 33], Làng thủ công mỹ nghệ miền
Bắc, Gốm sành nâu ở Phù Lãng của Trương Minh Hằng [27, 28], Làng tranh
Đông Hồ của Nguyễn Thái Lai [46]… Sau khi điểm qua nguồn gốc của nghề,
các nghiên cứu tập trung trình bày các đặc điểm chính yếu nhất của nghề thủ
công truyền thống, gồm nguồn nguyên liệu, bộ công cụ làm nghề, quy trình kỹ
thuật gắn với tổ chức sản xuất, phân công lao động, quan hệ xã hội trong làm
nghề, các loại hình và đặc trưng sản phẩm; hệ thống dịch vụ tiêu thụ sản phẩm;
thu nhập của người làm nghề; các tín ngưỡng, kiêng kỵ liên quan đến nghề.


13

Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam (gồm 6 tập) do
Trương Minh Hằng chủ biên [29], Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành, tập
hợp các bài viết, chương sách giới thiệu về nghề, làng nghề của Việt Nam,
trong đó tập 1 có 5 chương tập trung vào lý luận chung về nghề, làng nghề
truyền thống; các vùng nghề, địa danh, địa chí làng nghề; tổ nghề; nghệ nhân
dân gian; thực trạng làng nghề; việc bảo tồn nghề, làng nghề; những biến đổi
của nghề, làng nghề trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các tập
còn lại giới thiệu các nghề, làng nghề và cụm nghề, gồm tập 2 (nghề chế tác
kim khí), tập 3 (nghề mộc chạm), tập 4, tập 5, tập 6 giới thiệu nghề gốm, đan
lát, thêu, dệt, làm giấy, làm tranh... Bộ Tổng tập đã giới thiệu tương đối toàn
diện các nghiên cứu trong và ngoài nước về nghề, làng nghề truyền thống của
nước ta. Tổng tập cũng đề cập đến những vấn đề lý luận chung; sự hình thành,
phát triển nghề, làng nghề; tổ nghề; quy trình kỹ thuật; cách tổ chức sản xuất;
những biến đổi của nghề, làng nghề trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, đô thị hóa, toàn cầu hóa.
1.1.1.2. Những công trình nghiên cứu về nghề thủ công trong bối cảnh
làng xã
Đây là hướng nghiên cứu của nhiều tác phẩm.
Trước hết phải kể đến tác phẩm Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ của
Nhà Địa lý học Pháp Pièrre Gourou, tiếp cận nghề dưới góc độ Địa lý nhân
văn qua nghiên cứu thực địa. Trên cơ sở khái quát tình hình sản xuất thủ công
nghiệp, qua thống kê 108 nghề thủ công phân theo nhóm nghề được gọi là
‘‘nền công nghiệp làng xã’’, tác giả đã chỉ rõ hoạt động của ngành kinh tế này
(cùng các ngành nông nghiệp, thương nghiệp) trong không gian sinh tồn của
người Việt là làng, đồng thời phản ánh sự vận động, biến đổi của các làng nghề
trước Cách mạng Tháng Tám 1945 [23].


14

Các nghề thủ công ở Hà Đông là một chuyên khảo mỏng của Hoàng
Trọng Phu - Tổng đốc Hà Đông, giới thiệu các nghề thủ công (tên nghề, làng
có nghề, nguồn gốc nghề, các thông tin sơ bộ về hiện trạng nghề) của các làng
ở tỉnh Hà Đông, tỉnh được coi là “vương quốc của các nghề thủ công trên vùng
châu thổ Bắc Bộ thời Pháp thuộc” [59].
Tác phẩm Nền kinh tế công xã Việt Nam của Vũ Quốc Thúc, tập trung
nghiên cứu hoạt động kinh tế, trong đó có nghề thủ công gắn liền với văn hóa
trong xu thế không ngừng vận động và biến đổi của các làng, xã; chỉ ra mối
quan hệ, sự tác động, ảnh hưởng của kinh tế với văn hóa xã hội của làng Việt
cổ truyền, từ đó tái hiện sinh động bản chất nền kinh tế công xã [74].
Hai bộ sách Nông thôn Việt Nam trong lịch sử [86, 87] và Nông dân và
nông thôn Việt Nam thời cận đại do Viện Sử học biên soạn [88, 89] có nhiều
bài viết đánh giá tổng quan sự phân bố các nghề, làng nghề của nước ta trong
lịch sử, làm rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng nghề thủ công đối với đời sống
kinh tế, văn hóa xã hội của người nông dân Việt Nam thời phong kiến và thời
thực dân nửa phong kiến, song chưa khảo tả đầy đủ, chi tiết, sâu sắc, đa chiều
các khía cạnh về nghề và làng nghề.
Làng Việt Nam, một số vấn đề kinh tế - xã hội và văn hóa của Phan Đại
Doãn là công trình nghiên cứu tổng thể về làng Việt dưới góc độ Sử học.
Cuốn sách tập trung phân tích những vấn đề cơ bản của làng xã Việt Nam từ
truyền thống đến hiện đại; kết cấu kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó nổi bật là
thủ công nghiệp kết hợp chặt chẽ với nông nghiệp, là yếu tố quan trọng của
kinh tế hộ gia đình, gắn liền với sở hữu ruộng đất giúp làng Việt ổn định, phát
triển theo kinh tế thị trường [11].
Hành trình về làng Việt cổ (tập I, tập II) của Bùi Xuân Đính giới thiệu
một số làng quê tiêu biểu của Xứ Đoài và Xứ Nam. Chiếm dung lượng lớn


15

trong các bài viết là những nội dung giới thiệu, phân tích, làm rõ bức tranh
nghề thủ công của các làng trên các phương diện: kinh tế, văn hóa, xã hội,
lịch sử, mạng lưới dịch vụ... Mỗi làng nghề cụ thể đều có những nét văn hóa
nghề và làm nghề riêng, tạo nên tính đa dạng, phong phú [16, 18]. Có nhiều
nét tương đồng với công trình này là các cuốn sách Văn hóa truyền thống
làng Đồng Kỵ do Lê Hồng Lý chủ biên, nghiên cứu làng Đồng Kỵ (thị xã Từ
Sơn, tỉnh Bắc Ninh) [52]; Ninh Hiệp - truyền thống và phát triển của nhóm
tác giả do Tô Duy Hợp chủ biên, nghiên cứu về làng - xã Ninh Hiệp - một
làng nghề, làng buôn bán nổi tiếng ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội [37].
Có nhiều tác phẩm khảo tả, đánh giá sâu khía cạnh văn hóa làng nghề,
trong đó nổi bật là cuốn Bát Tràng - làng nghề làng văn do Bùi Xuân Đính
chủ biên. Tác phẩm nghiên cứu công phu, đánh giá sâu sắc, toàn diện về một
làng nghề ngoại thành Hà Nội, làm rõ nét đặc trưng, khác biệt của làng Bát
Tràng làm nghề gốm gắn với nghề buôn bán, dịch vụ. Đây là làng nghề
chuyên sản xuất gốm, không gắn với sản xuất nông nghiệp; các hoạt động của
làng nghề, những tác động của nghề đến các lĩnh vực đời sống xã hội của làng
Bát Tràng. Cuốn sách cũng đánh giá, làm rõ truyền thống, biến đổi, ảnh
hưởng của nền kinh tế thị trường, áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào
sản xuất, đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, để phát triển
làng nghề bền vững [19].
Bên cạnh đó, nhiều đề tài luận án, luận văn thuộc các chuyên ngành:
Dân tộc học; Nhân học; Văn hóa học; Văn hóa dân gian đã nghiên cứu về
nghề, làng nghề, tiêu biểu là các luận án tiến sĩ: Nghề dệt cổ truyền ở đồng
bằng Bắc Bộ của Lâm Bá Nam [55]; Làng gốm Phù Lãng của Trương Minh
Hằng [27]; Làng nghề Cúc Bồ trong cảnh quan văn hoá xứ Đông của Phạm
Văn Hiệp [30]; Làng nghề sơn quang Cát Đằng (truyền thống và biến đổi)
của Nguyễn Lan Hương [41]; Làng nghề thủ công Triều Khúc (xã Tân Triều,


16

huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội), truyền thống và biến đổi của Đỗ Ngọc
Yến [95], Biến đổi văn hóa làng dệt Phương La (huyện Hưng Hà, tỉnh Thái
Bình) của Bùi Thị Dung [12] hay các luận văn thạc sĩ: Làng Nhị Khê với nghề
tiện truyền thống của Vũ Thanh Hà [24], Làng chạm bạc Đồng Sâm ở Thái
Bình của Đỗ Thị Tuyết Nhung [56] v.v.. Các luận án, luận văn đã tập trung
điều tra, khảo sát, phân tích tác động của điều kiện địa lý cảnh quan, môi
trường văn hóa xã hội với nghề, đặc trưng nghề và làng nghề ở nhiều chiều
cạnh như: mô hình, cấu trúc làng xóm, nơi thờ cúng tâm linh của làng (đình,
chùa, đền miếu, thờ tổ nghề...), các phong tục tập quán, lễ hội, thiết chế văn
hóa... Bên cạnh đó còn nhiều bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học, đề
cập đến việc bảo tồn, phát triển các nghề, làng nghề trong giai đoạn hiện nay.
Đáng lưu ý là luận án Làng nghề cơ khí - mộc dân dụng Đại Tự (xã Kim
Chung, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội) của Nguyễn Đình Phúc, đề cập
đến sự du nhập của nghề mới (làm két bạc) ở một làng ngoại thành Hà Nội
trong điều kiện công nghiệp hóa: điều kiện để du nhập nghề, quy trình sản
xuất và sản phẩm nghề, tác động của nghề đối với đời sống của dân làng [60].
1.1.1.3. Nghiên cứu nghề thủ công trong bối cảnh kinh tế - xã hội đương
đại
Từ hòa bình lập lại đến nay, nông thôn Việt Nam và làng nghề trải qua
nhiều thăng trầm, biến động, đặc biệt là tác động mạnh mẽ của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bám sát thực tiễn sinh động đó, nhiều công trình đã tập
trung nghiên cứu về nghề, làng nghề; tìm hiểu, làm rõ những đặc điểm truyền
thống, những tác động của kinh tế thị trường đến mọi mặt của làng nghề, từ
đó có những định hướng, đề xuất giải pháp phát triển làng nghề bền vững. Có
thể chia những công trình nổi bật nghiên cứu theo xu hướng này sau:
- Về các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, có thể kể đến tác phẩm


17

Ritual, feast and politics in North Vietnam between ideology and tradition của
Endres, Kirsten, nghiên cứu về làng nghề đúc đồng Đại Bái (huyện Lương
Tài, tỉnh Bắc Ninh) vào các năm 1996, 1998, song nội dung chủ yếu quan tâm
đến quá trình phục hồi các nghi lễ, lễ hội và đời sống văn hóa ở làng nghề này
từ sau Đổi mới đến thời điểm khảo sát [104].
Luận án tiến sĩ Iron Works:Excavating alternative Futures in a
Northern Vietnamese Craft Village (Luyện sắt: tương lai lựa chọn ở một làng
nghề miền Bắc Việt Nam) của DiGregorio, Michael, Đại học California miêu
tả quá trình tái phát triển của làng nghề Đa Hội, từ một làng rèn truyền thống,
sau Đổi mới trở thành một nơi sản xuất, cung cấp thép lớn cho thị trường
trong nước và quốc tế. Hệ thống sản xuất ở Đa Hội bao gồm các hộ gia đình
và các doanh nghiệp gia đình gắn kết với nhau qua sự phân công sản xuất và
các mối quan hệ chồng chéo về giới, dòng họ và nơi cư trú. Nghiên cứu cho
thấy sự quan trọng của bản sắc địa phương trong phát triển làng nghề. Câu
chuyện của Đa Hội cho thấy phân khúc công nghiệp ở Việt Nam thường bị
phá vỡ, các nhà sản xuất ở làng nghề đã áp dụng các công nghệ linh hoạt và
thành công trong việc gia nhập nền công nghiệp sản xuất lớn trong cuộc cạnh
tranh với thị trường vốn còn bất ổn và chưa hoàn chỉnh về mặt thể chế. Giống
như nghề thủ công ở các nước phát triển khác, làng nghề Đa Hội hình thành
nên các mạng lưới hỗ trợ nhau hơn là các nhóm hợp tác; các công ty tư nhân
tự do giao dịch ở bên ngoài nhóm của mình, trong khi ở bên trong nhóm lại
chia sẻ với nhau khả năng sản xuất, dịch vụ vận chuyển và lợi nhuận bán lẻ.
Các nhóm sản xuất quy mô lớn được điều hành bởi các thành viên trưởng
thành trong gia đình, ở đó người khởi xướng nghề vẫn còn hoạt động năng
động. Các nhóm nhỏ hơn được hình thành bởi các anh chị em khác trong gia
đình, thậm chí là bạn bè. Khả năng linh hoạt và gần gũi với thị trường là điều
làm nên sự khác biệt của Đa Hội: trong khi nhiều với tổng công ty cổ phần và


18

công ty của nhà nước trong ngành thép thua lỗ thì Đa Hội vẫn bán được sản
phẩm có lãi và ngày càng tăng thị phần. Tương lai của Đa Hội sẽ là sự tiếp tục
mô hình sản xuất bao gồm các xưởng quy mô nhỏ gắn trong các mạng lưới
kinh doanh và xã hội của gia đình và làng xã [107].
- Về các công trình nghiên cứu ở trong nước, cuốn Làng nghề, phố
nghề, Thăng Long - Hà Nội của Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo [91] là
công trình đánh giá vị trí của Thăng Long - Hà Nội với phát triển nghề thủ
công. Các tác giả đưa ra định nghĩa về làng nghề thủ công, phố nghề gắn với
lịch sử Thăng Long - Hà Nội. Chương 3 của sách tập trung nói về nghề, làng
nghề, phố nghề của đô thị này, quan điểm phát triển làng nghề. Cuốn sách
cũng chỉ rõ những khó khăn, thách thức của nghề, làng nghề trong bối cảnh
kinh tế thị trường, trong đó khó khăn, thách thức lớn nhất là sự cạnh tranh gay
gắt trong cùng một làng nghề cũng như giữa các làng nghề với nhau, nhất là
trong tiêu thụ sản phẩm, đòi hỏi cần có cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp
trên tầm vĩ mô cũng như vi mô để các nghề, làng nghề phát triển bền vững.
Cuốn Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá do Mai Thế Hởn chủ biên [36]; Làng nghề truyền thống
trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá của Trần Minh Yến [94]…
tập trung làm rõ các yếu tố tác động đến làng nghề, đặc biệt là hoạt động thích
ứng, phát triển của làng nghề, đề xuất giải pháp bảo tồn làng nghề trong bối
cảnh toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa.
Cuốn Làng nghề, phố nghề Hà Nội trong bối cảnh toàn cầu hóa của tác
giả Lê Hồng Lý [53]; Làng nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường
phát triển của nhóm tác giả Vũ Quốc Tuấn [69] đưa ra cái nhìn khái quát về
làng nghề, phố nghề trong lịch sử, đánh giá thực trạng của làng nghề phố nghề
hiện nay, chỉ ra hướng phát triển và các giải pháp để phát triển làng nghề.


19

Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay của Nguyễn Thị Phương Châm
là công trình nghiên cứu dưới góc độ Nhân học văn hóa về ba làng Đồng Kỵ,
Trang Liệt, Đình Bảng - những làng nghề thị xã Từ Sơn (tỉnh Bắc Ninh). Những
biến đổi văn hóa ở các làng này được tác giả phản ánh tương đối toàn diện trên
các mặt: sự chuyển đổi về địa lý, dân cư, cơ cấu kinh tế, xã hội, các công trình
thờ tự, các nghi lễ, phong tục, các sinh hoạt văn hóa khác của các làng. Từ đó,
tác giả tìm ra được bản chất và cơ chế của sự biến đổi văn hóa ở các làng quê
Bắc Ninh trong bối cảnh đô thị hóa, công nghiệp hóa hiện nay. Đó là, biến đổi về
cơ cấu kinh tế, các dịch vụ xã hội, hệ thống quản lý làng xã trong điều kiện nền
kinh tế thị trường. Kết quả của quá trình biến đổi này là tăng trưởng kinh tế,
nâng cao đời sống người dân; các dịch vụ phát triển, đa dạng hóa các hình thức
quan hệ sản xuất.... ; những đổi thay về không gian, cảnh quan, đời sống xã hội,
các giá trị đạo đức, sự phân hóa giầu nghèo; các di tích, tín ngưỡng, lễ hội được
quan tâm, cùng với đó là sự xuất hiện của nhiều nét văn hóa hiện đại. Cuốn sách
đã chỉ ra xu thế phát triển kinh tế, xã hội nhất là sự tác động của truyền thông,
được xem như chất xúc tác quan trọng, làm biến đổi đời sống văn hóa tinh thần
của người dân; đồng thời cho thấy sự sống động trong đời sống nông thôn, phục
dựng các nghi lễ, sinh hoạt văn hóa truyền thống, sự cố kết dòng họ ở làng quê
Việt Nam hiện nay [8].
Cuốn Một số yếu tố văn hóa và giáo dục ảnh hưởng đến sự phát triển
làng-xã của hai tác giả Nguyễn Lâm Tuấn Anh và Nguyễn Thị Minh Phương,
lấy làng Đồng Kỵ (huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) “làm nền” để đi sâu phân
tích những chuyển biến trên lĩnh vực văn hóa giáo dục, những thay đổi trong
cơ cấu lao động, việc làm... đã tạo nên sự thay đổi từ một làng nông nghiệp
thành làng nông - công nghiệp và tiến tới làng phi nông nghiệp... [1].
Nghiên cứu biến đổi của nghề, làng nghề dưới góc độ Dân tộc
học/Nhân học được nhiều tác giả quan tâm, làm rõ những biến đổi của làng


20

nghề truyền thống từ hòa bình lập lại tới nay. Một số nghiên cứu đã chỉ rõ
những tác động to lớn của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa
và hội nhập quốc tế với các làng nghề. Có thể kể những công trình nổi bật sau:
Cuốn Sự phát triển của làng nghề La Phù do Tạ Long chủ biên lựa
chọn một làng đa nghề (nghề dệt, nghề may, cơ khí, làm bánh kẹo, mạch
nha…) của huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội để nghiên cứu sâu sự biến đổi
bộ mặt làng nghề và nghề thủ công. Thông qua các tư liệu lịch sử, cuốn sách
đã làm rõ truyền thống và những biến đổi của nghề - làng nghề, chỉ ra các
khía cạnh, biểu hiện trên lĩnh vực kinh tế; sự xuất hiện các thành phần kinh tế,
các hình thức tổ chức kinh doanh, hệ thống dịch vụ, thu nhập của người sản
xuất, kinh doanh, sự phân công lao động và thu hút lao động từ bên ngoài vào
sản xuất của làng nghề. Đặc biệt trong cơ chế thị trường, làng nghề đã hình
thành các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ổn định, mang lại hiệu quả kinh
tế cao, đóng góp vào ngân sách địa phương, có những tác động tích cực đến
đời sống chính trị ở cơ sở. Trên lĩnh vực văn hóa xã hội, nghề và biến đổi của
làng nghề đã làm tư duy, cách nghĩ, cách làm, lối ứng của người nông dân có
nhiều thay đổi; hoạt động mùa vụ thay bằng quy trình sản xuất có tính tổ chức
cao, thời gian sản xuất quanh năm, hình thành hoạt động công - thương
nghiệp. Sự phát triển của nghề và làng nghề làm quá trình đô thị hóa diễn ra
nhanh hơn, ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội của người dân
làng nghề. Các tác giả cũng góp tiếng nói về bảo tồn và phát triển làng nghề
trước quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời đưa ra các chỉ báo,
giải pháp giúp làng nghề vượt qua khó khăn, phát triển bền vững [51].
Cuốn Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) - truyền thống và
biến đổi do Bùi Xuân Đính chủ biên, tập trung nghiên cứu các nghề thủ công
ở huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội - huyện được coi là “vương quốc của
các nghề thủ công trên vùng châu thổ Bắc Bộ” theo hướng so sánh truyền


21

thống và biến đổi. Sách chỉ rõ sự biến đổi của nghề và làng nghề thủ công
truyền thống trong một giai đoạn tương đối dài (từ trước Cách mạng Tháng
Tám 1945 đến năm 2008); lý giải các điều kiện để các làng nghề thủ công
huyện Thanh Oai thích nghi, hội nhập, phát triển trong bối cảnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Cuốn sách còn khảo tả chín làng nghề truyền thống tiêu
biểu về các khía cạnh, chỉ rõ những biến đổi của nghề, làng nghề từ sau hòa
bình lập lại đến đầu thập niên 2000, chỉ ra xu hướng vận động và dự báo sự
phát triển của nghề, làng nghề trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập
[17]. Cùng dạng với cuốn sách này là cuốn Bát Tràng - làng nghề làng văn
cũng do Bùi Xuân Đính chủ biên, đề cập đến sự biến đổi của nghề gốm cổ
truyền và làng gốm Bát Tràng (huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội) [19].
Đề tài cấp bộ Văn hóa kinh tế làng nghề: thách thức và giải pháp trong
bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa do Đinh Thị Vân Chi (Trường Đại
học Văn hóa Hà Nội) thực hiện năm 2012, khảo sát các làng nghề tiêu biểu ở
Bắc Bộ, đặt ra một số vấn đề của làng nghề dưới góc độ văn hóa kinh tế [9].
Tóm lại, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về nghề và làng
nghề, có thể khái quát nội dung và hướng nghiên cứu như sau:
- Về nội dung, chiếm phần lớn các công trình là nghiên cứu về nghề và
làng nghề truyền thống, tập trung khảo tả, đánh giá thực trạng nghề và làng
nghề; nhiều công trình chủ yếu mô tả quy trình kỹ thuật; nguồn gốc nghề và
tổ nghề, các hoạt động văn hóa của làng nghề, vùng nghề gắn liền với nông
thôn Việt Nam…, từ đó chỉ ra những mặt được, chưa được của các làng nghề,
đưa ra các giải pháp phát triển nghề và làng nghề.
- Các nghiên cứu về nghề, làng nghề dưới góc độ Nhân học (nghiên
cứu về các nhân tố con người, nhân tố địa phương đối với sự tồn tại và phát
triển của nghề thủ công, về các mối quan hệ con người trong tổ chức làm


22

nghề; hay người thợ thủ công sử dụng nguồn vốn xã hội và mạng xã hội như
thế nào để duy trì và phát triển nghề) chưa thật sự được chú ý đúng mức.
Cùng với một số luận án, công trình đi trước, luận án này khắc phục
những hạn chế trên: ngoài việc tập trung phân tích, lý giải các hoạt động kinh
tế, văn hóa xã hội của nghề gắn với làng nghề ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ
Hạ xã Phú Yên, chúng tôi quan tâm đến vai trò của con người trong sự vận
động và phát triển của nghề, làng nghề; coi con người là chủ thể của văn hóa
nghề, làng nghề và con người giữ vai trò quyết định sự tồn tại, phát triển của
nghề, làng nghề.
1.1.2. Những nghiên cứu về hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ và về nghề
giày da ở hai làng
Hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ đã có một số công trình đề cập đến.
Bài “Làng Giẽ Hạ và Phủ từ họ Đặng” cảu Trần Quốc Vượng, Nguyễn
Hồng Kiên in trong sách Hà Tây - làng nghề làng văn, tập 2, giới thiệu về
điều kiện địa lý tự nhiên, địa lý hành chính làng Giẽ Hạ, nguồn gốc và sự phát
đạt của dòng họ Đặng Đình cùng dấu tích còn lại ở làng [90, tr. 143 - 163].
Cuốn Di tích Hà Tây, Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây ấn hành (năm 1999)
có các bài giới thiệu về đình Giẽ Hạ và đình Giẽ Thượng [66, tr. 367 - 370].
Cuốn Đất Phú Xuyên, người Phú Xuyên do Huyện ủy, Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân huyện Phú Xuyên xuất bản (2006) có phần giới thiệu sơ
bộ về xã Phú Yên [39].
Nghề giày da xuất hiện ở nước ta rất muộn, do đời sống vật chất của
nhân dân trước đây rất khó khăn nên số người sử dụng giày rất ít, không hình
thành các làng nghề chuyên biệt, mà chỉ có những người làm nghề lẻ tẻ ở các
đô thị. Có lẽ đây là lý do đến nay nghề làm giày da chưa được quan tâm


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×