Tải bản đầy đủ

ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU VÀ XÂM NHẬP MẶN TỈNH TRÀ VINH

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA KHÍ TƢỢNG THỦY VĂN HẢI DƢƠNG HỌC

ĐẶNG THANH TÂM

ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU VÀ XÂM NHẬP MẶN TỈNH TRÀ VINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Hà Nội – 2019


TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA KHÍ TƢỢNG THỦY VĂN HẢI DƢƠNG HỌC

ĐẶNG THANH TÂM

ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU VÀ XÂM NHẬP MẶN TỈNH TRÀ VINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ


Giảng viên hƣớng dẫn: PGS.TS Trần Quang Đức
TS. Mai Văn Khiêm

Hà Nội – 2019


LỜI CẢM ƠN
Trƣớc tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Thầy hƣớng dẫn
của tôi – PGS.TS Trần Quang Đức, TS. Mai Văn Khiêm vì những chỉ bảo, hƣớng
dẫn tận tình cho tôi hoàn thành luận văn.
Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, các thầy cô trong Khoa Khí tƣợng,
Thủy văn và Hải Dƣơng học nói riêng và các thầy cô trong trƣờng Đại học Khoa
học Tự nhiên Hà Nội nói chung đã chỉ dạy những bài học quý báu cho tôi trong
chuyên môn và cuộc sống. Tôi vô cùng cảm ơn những công lao to lớn đó.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Phòng Sau đại học, Trƣờng Đại học Khoa học Tự
nhiên, đã tạo điều kiện tốt cho tôi trong quá trình tôi học tập tại trƣờng.
Tôi cũng xin cảm ơn những đồng nghiệp tại Trung tâm Nghiên cứu khí
tƣợng - khí hậu, Viện Khoa học Khí tƣợng Thủy văn và Môi trƣờng đã giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện luận văn đặc biệt là TS. Mai Văn Khiêm về những giúp
đỡ, góp ý và thảo luận quý báu về kĩ thuật cũng nhƣ chuyên môn giúp tôi có thể
hoàn thiện đƣợc luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo Viện Khoa học Khí tƣợng Thủy văn
và Môi trƣờng, ban lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu khí tƣợng - khí hậu và Đài Khí
tƣợng Thủy văn khu vực Nam Bộ đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và cơ sở
vật chất cho tôi đƣợc học tập trong quá trình công tác.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn ba m và ngƣời bạn đời của tôi cùng những ngƣời
thân trong gia đình tôi đã luôn động viên và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành
luận văn này.
Đặng Thanh Tâm


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... 1
MỤC LỤC .............................................................................................................. i
DANH MỤC HÌNH .............................................................................................. ii
DANH MỤC BẢNG ............................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ..................................................................... iv
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu ...................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .......................................................................................... 2


3. Dự kiến những đóng góp của đề tài .................................................................. 2
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 3
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ........................... 4
1.1. Vị trí địa lý, địa hình tỉnh Trà Vinh ............................................................ 4
1.2. Điều kiện khí hậu và thủy văn .................................................................... 7
1.3. Tổng quan về một số nghiên cứu liên quan.............................................. 10
1.4. Đặc điểm Xâm nhập mặn ở Trà Vinh ...................................................... 14
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU SỬ DỤNG ...... 19
2.1. Số liệu ....................................................................................................... 19
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................... 20
2.2.1 Các chỉ tiêu và cách thức xác định các chỉ tiêu:................................. 20
2.2.2 Phƣơng pháp tính toán các đặc trƣng ................................................. 21
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................... 23
3.1 Đặc điểm khí hậu tỉnh Trà Vinh ................................................................ 23
3.1.1 Chế độ bức xạ ..................................................................................... 23
3.1.2 Chế độ nhiệt ........................................................................................ 23
3.1.3 Chế độ mƣa ......................................................................................... 26
3.1.4 Khí áp ................................................................................................. 29
3.1.5 Chế độ gió........................................................................................... 29
3.1.6 Chế độ ẩm - mây - nắng - bốc hơi ..................................................... 31
3.1.7 Một số hiện tƣợng thời tiết đặc biệt ................................................... 33
3.1.8 Đặc điểm về hạn hán ở Trà Vinh theo chỉ số K ................................ 34
3.2 Xu thế xâm nhập mặn ở Trà Vinh ............................................................. 37
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 48

i


DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Vị trí các trạm khí tƣợng và đo mặn tỉnh Trà Vinh .......................................20
Hình 3.1 Biến trình năm nhiệt độ trung bình tại Trà Vinh ............................................24
Hình 3.2. Xu thế diễn biến nhiệt độ trung bình (°C) năm tại Trà Vinh ........................25
Hình 3.3. Xu thế diễn biến nhiệt độ tối cao trung bình (°C) tại Trà Vinh.....................25
Hình 3.4. Xu thế diễn biến nhiệt độ tối thấp trung bình (°C) tại Trà Vinh ...................26
Hình 3.5. Biến trình năm và lƣợng mƣa trung bình (mm) các thời kỳ ở Trà Vinh .......27
Hình 3.6. Xu thế diễn biến của lƣợng mƣa mùa và năm (%) tỉnh Trà Vinh .................28
Hình 3.9. Biến trình năm của các yếu tố nắng, bốc hơi, độ ẩm ở Trà Vinh ..................33
Hình 3.11. Xu thế biến đổi độ mặn trung bình tại trạm Trà Vinh giai đoạn 2007-2018
.......................................................................................................................................39
Hình 3.12. Xu thế biến đổi độ mặn cao nhất tại trạm Trà Vinh giai đoạn 2007-2018 .39
Hình 3.13. Xu thế biến đổi độ mặn trung bình tại trạm Hƣng Mỹ giai đoạn 2007-2018
.......................................................................................................................................40
Hình 3.14. Xu thế biến đổi độ mặn cao nhất tại trạm Hƣng Mỹ giai đoạn 2007-2018 41
Hình 3.15. Xu thế biến đổi độ mặn trung bình tại trạm Trà Kha giai đoạn 2007-2018
.......................................................................................................................................41
Hình 3.16. Xu thế biến đổi độ mặn cao nhất tại trạm Trà Kha giai đoạn 2007-2018 ...42
Hình 3.17. Xu thế biến đổi độ mặn trung bình tại trạm Cầu Quan giai đoạn 2007-2018
.......................................................................................................................................43
Hình 3.18 Xu thế biến đổi độ mặn cao nhất tại trạm Cầu Quan giai đoạn 2007-2018 44
Hình 3.1 Mối quan hệ giữa độ mặn lớn nhất với thời kỳ El Nino ……………….....45

ii


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Vị trí các trạm đo mặn ở Trà Vinh ................................................................ 20
Bảng 3.1. Một số đặc trƣng của chế độ nhiệt (T) khu vực tỉnh Trà Vinh .....................24
Bảng 3.2. Một số đặc trƣng của chế độ mƣa (R), số ngày mƣa (N) khu vực tỉnh Trà
Vinh ............................................................................................................................... 27
Bảng 3.3. Một số đặc trƣng của gió (V) khu vực tỉnh Trà Vinh ...................................30
Bảng 3.4. Một số đặc trƣng của độ ẩm (U), mây, nắng (S), bốc hơi (E) khu vực tỉnh
Trà Vinh .........................................................................................................................32
Bảng 3.5. Mùa hạn và độ dài mùa hạn trên khu vực tỉnh Trà Vinh trong thời đoạn 1978
- 2017 (dựa trên số liệu quan trắc khí tƣợng tại trạm Càng Long) ................................ 35
Bảng 3.6. Số tháng hạn với các mức độ khác nhau .......................................................36
Bảng 3. 7. Các đợt El Nino giai đoạn 1990-2018 .........................................................44

iii


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CPC

Trung tâm Dự báo Khí hậu Hoa Kỳ

ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long

KHCN

Khoa học công nghệ

KHTL

Khoa học Thủy lợi

KTTV

Khí tƣợng thủy văn

ONI

Oceanic Niño Index

STH

Số tháng hạn

Stb

Độ mặn trung bình

Sx

Độ mặn lớn nhất

Ttb

Nhiệt độ không khí trung bình tháng

Txtb

Nhiệt độ tối cao trung bình tháng

Tmtb

Nhiệt độ tối thấp trung bình tháng

Tx

Nhiệt độ tối cao tuyệt đối tháng

Tm

Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối tháng

TBNN

Trung bình nhiều năm

TCTB

Tối cao trung bình

TTTB

Tối thấp trung bình

WB

World bank

WMO

Tổ chức Khí tƣợng Thế giới

iv


MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Khí hậu là một thành phần của môi trƣờng tự nhiên. Các điều kiện tự
nhiên về nhiệt độ, độ ẩm, khí áp, gió, mƣa, nắng, mây, bức xạ,… có mối quan hệ
đa dạng và luôn luôn biến động theo thời gian và không gian, đƣợc phản ánh đầy
đủ và sinh động bởi thời tiết, khí hậu.
Hiểu biết, nắm vững quy luật phân bố, diễn biến của các yếu tố khí hậu là
một không những giúp con ngƣời sử dụng, khai thác hợp lý tài nguyên khí hậu
mà còn tạo tiền đề cho các quá trình quy hoạch, phát triển kinh tế-xã hội vùng,
quốc gia và khu vực.
Tỉnh Trà Vinh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, phía nam và
đông nam giáp biển, ở địa thế nằm k p giữa hai con sông lớn: sông Hậu và sông
Cổ Chiên, có hai cửa sông Cung Hầu và Định An - hai cửa sông quan trọng của
vùng đồng bằng sông Cửu Long, thông với biển Đông. Chính vì vậy, Trà Vinh
có vị trí quan trọng về kinh tế cũng nhƣ quốc phòng.
Trà Vinh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên hầu hết các tháng trong
năm đều nhận đƣợc một lƣợng bức xạ khá dồi dào, nền nhiệt độ cao và ổn định,
là một tỉnh nằm giữa hai sông lớn và tiếp giáp với biển Đông nên khí hậu Trà
Vinh mang đậm nét khí hậu đại dƣơng. Mùa mƣa kéo dài từ trung tuần tháng 5
đến cuối tháng 11, trong mùa mƣa thƣờng xảy ra những đợt ít mƣa giữa mùa.
Mùa khô bắt đầu từ đầu tháng 12 đến đầu tháng 5 năm sau, trong mùa khô
thƣờng xảy ra những đợt mƣa trái mùa. Gió chƣớng mạnh, bốc hơi cao.
Cũng nhƣ nhiều tỉnh khác thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, tình trạng
xâm nhập mặn đã và đang diễn ra ngày càng phức tạp và mạnh mẽ ở Trà Vinh.
Độ mặn lớn nhất ở Trà Vinh thƣờng xuất hiện chủ yếu vào tháng 4 và tháng 5.
Nguyên nhân chủ yếu do lƣu lƣợng dòng chảy từ thƣợng nguồn sông Mê Công
đổ về ít, thủy triều mang nƣớc biển xâm nhập sâu vào nội đồng. Ngoài ra, lƣợng
mƣa giảm, tình hình nắng nóng, khô hạn làm cho lƣợng bốc hơi cao cũng là
những yếu tố góp phần làm cho tình hình xâm nhập mặn diễn biến gay gắt hơn.

1


Bên cạnh những yếu tố tự nhiên, việc con ngƣời khai thác và sử dụng nƣớc
ngầm quá mức phục vụ nhu cầu trong đời
Chính vì vậy, việc nghiên cứu “Đặc điểm khí hậu và xâm nhập mặn tỉnh
Trà Vinh” là một nhƣ cầu cần thiết, nhằm tạo cơ sở khoa học cho các định
hƣớng phát triển kinh tế - xã hội, khai thác bền vững tài nguyên đất, nƣớc và bảo
vệ môi trƣờng. Phục vụ công tác phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn và phát
triển bền vững ở Trà Vinh.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá đƣợc:
- Đặc điểm khí hậu tỉnh Trà Vinh (chế độ nhiệt, chế độ mƣa, chế độ nắng,
chế độ gió, chế độ ẩm,hạn hán…)
- Đặc điểm xâm nhập mặn trong những năm gần đây ở tỉnh Trà Vinh.
3. Dự kiến những đóng góp của đề tài
Các kết quả nghiên cứu, đánh giá của đề tài sẽ là:
Về mặt khoa học:
- Đặc điểm chế độ nhiệt ở Trà Vinh (nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tối
cao, nhiệt độ tối thấp).
- Đặc điểm chế độ mƣa
- Đặc điểm chế độ ẩm, gió, bốc hơi,...
- Đặc điểm về chế độ hạn mặn tại tỉnh Trà Vinh.
Về mặt kinh tế: Làm cơ sở để xây dựng quy hoạch các vùng kinh tế, các
vùng sản xuất nông nghiệp. Quy hoạch các công trình kỹ thuật phục vụ phòng
tránh giảm nh tác hại của hạn hán, xâm nhập mặn.
Về mặt xã hội: Làm cơ sở để xây dựng quy hoạch các vùng dân cƣ phù
hợp với việc đảm bảo nguồn nƣớc, phát triển kinh tế và phòng tránh thiên tai.
Về mặt môi trƣờng: Làm cơ sở để xây dựng quy hoạch các vùng rừng đặc
dụng, rừng phòng hộ nhằm cản giữ nƣớc trong mùa mƣa, cung cấp nƣớc trong
mùa khô tránh tác hại nặng nề của hạn hán.

2


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu nhƣ sau:
- Đối tƣợng nghiên cứu: các yếu tố khí hậu và xâm nhập mặn
- Phạm vi nghiên cứu: khu vực tỉnh Trà Vinh.
5. Cấu trúc của luận văn
Luận văn bao gồm các phần:
Mở đầu
Chƣơng I: Tổng quan trình hình nghiên cứu
Chƣơng II Phƣơng pháp nghiên cứu và số liệu sử dụng.
Chƣơng III: Kết quả nghiên cứu: Đặc điểm khí hậu và xâm nhập mặn tỉnh Trà
Vinh.
Kết luận.

3


CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Vị trí địa lý, địa hình tỉnh Trà Vinh
Tỉnh Trà Vinh nằm trong tọa độ địa lý giới hạn từ: 9o31’46’’ đến 10o04’5”
vĩ độ Bắc và 105o57’16” đến 106o36’04” kinh độ Đông; Bắc và Tây Bắc giáp
tỉnh Vĩnh Long; Đông giáp sông Cổ Chiên, ngăn cách với tỉnh Bến Tre; Tây
giáp sông Hậu, ngăn cách với tỉnh Sóc Trăng; Nam và Đông Nam giáp biển với
chiều dài hơn 65 km. Trung tâm tỉnh lỵ nằm trên quốc lộ 53, cách thành phố Hồ
Chí Minh gần 200 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km.
Ở địa thế nằm k p giữa hai con sông lớn: sông Hậu và sông Cổ Chiên, có
hai cửa sông Cung Hầu và Định An - hai cửa sông quan trọng của vùng đồng
bằng sông Cửu Long, thông với biển Đông, Trà Vinh có vị trí quan trọng về
kinh tế cũng nhƣ quốc phòng. Thông qua các con sông và cửa sông, Trà Vinh có
thể dễ dàng giao lƣu với các tỉnh bằng đƣờng thủy. Việc giao lƣu theo đƣờng bộ
chủ yếu diễn ra trên tuyến quốc lộ 53 nối liền với tỉnh Vĩnh Long; hai tuyến
quốc lộ 54 và 60 nối Trà Vinh với tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Bến Tre bị chặn lại bởi
hai dòng sông lớn, gây nên nhiều khó khăn, trở ngại. Nên năm 2018 đƣợc nhà
nƣớc bắc cầu Cổ Chiên qua sông Cổ Chiên việc lƣu thong trên quốc lộ 60 đã rút
ngắn khoảng cách giữa Trà Vinh và thành phố Hồ Chí Minh thông qua tỉnh Bến
Tre.
Địa hình Trà Vinh mang tính chất vùng đồng bằng ven biển, chịu ảnh
hƣởng bởi sự giao thoa giữa sông và biển đã hình thành các vùng trũng, phẳng
xen lẫn các giồng cát. Càng về phía biển, các giồng cát càng cao và rộng lớn. Do
sự chia cắt bởi các giồng cát và hệ thống trục lộ, kênh rạch chằng chịt, địa hình
toàn vùng khá phức tạp. Các vùng trũng xen k p với các giồng cao, xu thế độ
dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng. Nhìn chung, độ cao địa hình phổ biến từ
0,4 - 1,0 m, chiếm 66% diện tích đất tự nhiên. Khu vực phía Bắc địa hình bằng
phẳng hơn phía Nam. Địa hình cao nhất trên 4m, gồm các giồng cát phân bố ở
Nhị Trƣờng, Long Sơn (Cầu Ngang); Ngọc Biên (Trà Cú); Long Hữu (Duyên
Hải). Địa hình thấp nhất dƣới 0,4 m, tập trung tại các cánh đồng trũng xã Tập
4


Sơn, Ngãi Xuyên, Ngọc Biên (Trà Cú); Thanh Mỹ (Châu Thành); Mỹ Hoà, Mỹ
Long, Hiệp Mỹ (Cầu Ngang); Long Vĩnh (Duyên Hải).
Địa hình phức tạp của tỉnh Trà Vinh đã hình thành nên 1 nền sản xuất đa
dạng và phong phú nhƣ: màu, lƣơng thực, thực phẩm, cây ăn trái phát triển trên
các giồng cát. Cây lúa chiếm ƣu thế ở các vùng trung bình - thấp, một số vùng
trũng ven sông có thể nuôi tôm tự nhiên. Sự phân cắt của các giồng cát đã làm
cho việc thực hiện các công trình dẫn ngọt khó khăn cũng nhƣ tập trung nƣớc
mƣa nhanh gây ngập úng cho các vùng trũng k p giữa giồng. Nhìn chung, địa
hình thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp là từ: 0,6 - 1m. Cao trình này thích hợp
cho việc tƣới tiêu tự chảy, ít bị hạn cũng nhƣ không bị ngập úng. Riêng đối với
rừng ở Duyên Hải, cao trình 0,4 - 1 m là dạng địa hình thích hợp cho sự phát
triển của hầu hết các loại cây rừng ngập mặn có giá trị nhƣ: đƣớc, lá, mắm…
Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 01-01-2008, tổng
diện tích đất tự nhiên của tỉnh Trà Vinh là 229.500 ha. Đất đai đƣợc chia thành
các nhóm chính nhƣ sau:
- Đất cát giồng: phân bố tại các giồng cát hình cánh cung chạy dài song
song với bờ biển, thuộc địa bàn các huyện Trà Cú, Cầu Ngang, Duyên Hải,
Châu Thành. Độ cao địa hình từ 1,4 - 2 m. Loại đất này thích hợp trồng cây ăn
trái và hoa màu.
- Đất phù sa: chia thành các loại sau:
+ Đất phù sa phát triển ở chân giồng cát phân bố chủ yếu ở Trà Cú, Duyên Hải,
Châu Thành. Đất này hình thành ở địa hình cao từ 0,8 - 1,2 m, không bị ngập
nƣớc do triều. Loại đất này đang đƣợc sử dụng trồng hoa màu với cơ cấu 2 - 3
vụ/năm hoặc luân canh lúa - màu. Tuy nhiên, năng suất và mùa vụ chƣa ổn định.
+ Đất phù sa không nhiễm mặn phân bố chủ yếu ở Cầu Kè, Càng Long, một
phần nhỏ phân bố ở Tiểu Cần, Châu Thành. Đất có độ cao từ 0,6 - 1,2 m, chủ
yếu trồng lúa 2 - 3 vụ/năm, một số diện tích có thể trồng cây ăn trái hay hoa
màu.
+ Đất phù sa nhiễm mặn ít nằm trong vòng cung mặn, nƣớc kênh rạch bị nhiễm
mặn 2 - 5 tháng. Loại đất này phân bố tập trung tại Trà Cú, Tiểu Cần, Cầu
5


Ngang; một phần nhỏ phân bố ở Cầu Kè, Châu Thành. Độ cao từ 0,6 - 1,2 m nên
hầu nhƣ không bị ngập úng. Đất thích hợp trồng lúa 2 vụ/năm hay 1 vụ lúa + 1
vụ màu. Đất này cũng thích hợp để trồng mía.
+ Đất phù sa nhiễm mặn trung bình có nguồn nƣớc bị nhiễm mặn từ 6 - 8 tháng
phân bố tập trung ở Cầu Ngang, Duyên Hải và một ít ở Trà Cú, Châu Thành.
Đất thấp nên thƣờng bị ngập khi triều cƣờng hoặc ngập theo mùa. Điều kiện
canh tác khá hạn chế, chỉ trồng lúa 1 vụ vào mùa mƣa và kết hợp nuôi trồng
thủy sản.
+ Đất phù sa nhiễm mặn nhiều: tập trung ở Duyên Hải, thời gian mặn trên 8
tháng, độ mặn 100/00. Đất này sử dụng cho nuôi trồng thủy sản, khoanh nuôi bảo
vệ rừng và làm muối.
- Đất phèn gồm có các loại:
+ Đất phèn không nhiễm mặn: phân bố ở Càng Long, Cầu Kè. Địa thế cao,
không bị ngập lũ, có thể cải tạo để trồng lúa.
+ Đất phèn nhiễm mặn ít: tập trung ở Châu Thành, Cầu Ngang, có thể cải tạo để
trồng lúa.
+ Đất phèn nhiễm mặn trung bình: phân bố ở Châu Thành, Duyên Hải, Cầu
Ngang, Trà Cú. Địa hình khá cao, từ 0,6 - 1,2m, không thể ngập lũ. Ngƣời dân ở
đây có thể canh tác bằng cách trồng lúa mùa, nuôi thủy sản.
+ Đất phèn nhiễm mặn nhiều, tập trung ở Duyên Hải. Đất nhiễm mặn quanh
năm do ảnh hƣởng của biển, chỉ thích hợp trồng rừng ngập mặn.
Nhìn chung, đất đai ở Trà Vinh có đến 56% diện tích nhiễm mặn và
27% diện tích nhiễm phèn. Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tỉnh phải thực
hiện nhiều dự án cải tạo đất nhằm rửa phèn, rửa mặn. Dự án thủy lợi Nam Mang
Thít (Nam Măng Thít) là một trong những công trình trọng điểm do Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn đầu tƣ trên địa bàn hai tỉnh Vĩnh Long và Trà
Vinh. Mục tiêu của dự án là nhằm kiểm soát mặn, lấy nƣớc và giữ nƣớc ngọt,
tiêu úng, tiêu chua, rửa phèn cho gần 171.626 ha đất canh tác và 225.628 ha đất
tự nhiên, đồng thời có nhiệm vụ cấp nƣớc sinh hoạt cho nhân dân trong vùng,
kết hợp khai thác nguồn lợi thủy sản, phát triển giao thông, cải tạo môi trƣờng.
6


1.2. Điều kiện khí hậu và thủy văn
Trà Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển, có điều kiện
ánh sáng bức xạ dồi dào, nền nhiệt độ cao và ổn định, tuy nhiên, do đặc thù của
vùng khí hậu ven biển tỉnh Trà Vinh có một số hạn chế về mặt khí tƣợng nhƣ:
gió chƣớng mạnh, bốc hơi cao, mƣa ít.... Một năm có hai mùa: mùa mƣa từ
tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
- Nhiệt độ trung bình toàn tỉnh là 26,9oC, trung bình tất cả các tháng trong
năm đều có nhiệt độ trên 25oC nhiệt độ cao nhất vào tháng 5, thấp nhất vào
tháng 1.
- Tổng số giờ nắng trung bình năm trên 2500 giờ, cao nhất vào tháng 3 và
thấp nhất vào tháng 6
- Độ ẩm trung bình năm phổ biến từ 83 - 85%, độ ẩm có xu thế biến đổi
theo mùa; mùa khô từ 79 đến 81%, mùa mƣa từ 85 đến 88%.
- Gió: một năm có hai mùa gió. Gió mùa Tây Nam hoạt động từ tháng 5 10, gió thổi từ Biển Tây vào mang nhiều hơi nƣớc gây ra mƣa. Gió mùa Đông
Bắc hoặc Đông Nam (gió chƣớng) hoạt động từ tháng 11 năm trƣớc đến tháng 3
năm sau có hƣớng song song với các cửa sông lớn. Gió chƣớng là nguyên nhân
khiến cho nƣớc biển dâng cao và đẩy mặn truyền sâu vào nội đồng. Vận tốc gió
đạt cao nhất từ 5 - 8 m/s (chủ yếu trong tháng 2, 3) và thƣờng mạnh vào buổi
chiều. Sự xuất hiện các đỉnh mặn do gió chƣớng tác động đã làm cho việc sản
xuất không ổn định trong thời gian này.
- Bốc hơi: tổng lƣợng bốc hơi toàn tỉnh cao, bình quân 876.6 mm/năm.
Vào mùa khô, lƣợng bốc hơi rất mạnh từ 95 - trên 100 mm/tháng, nhất là các
vùng giồng cát cao và khu vực sát biển, gây ra sự khô hạn gay gắt ở các vùng
này. Riêng huyện Duyên Hải, lƣợng bốc hơi cao hơn lƣợng mƣa năm đã gây ra
sự mao dẫn muối lên và tập trung ở tầng mặt làm cho lý tính đất trở nên xấu và
khó sử dụng hơn.
- Mƣa: tổng lƣợng mƣa trung bình năm trên 1600mm, phân bố không ổn
định và phân hoá mạnh theo thời gian và không gian. Về thời gian, trên 90%
lƣợng mƣa của năm tập trung vào mùa mƣa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11. Về
7


không gian, lƣợng mƣa giảm dần từ Bắc xuống Nam, cao nhất ở Càng Long, Trà
Vinh; thấp nhất ở Cầu Ngang và Duyên Hải; ở các huyện gần biển, mùa mƣa bắt
đầu muộn nhƣng kết thúc sớm.
- Hạn: hạn hàng năm thƣờng xảy ra gây khó khăn cho sản xuất với số
ngày không mƣa liên tục từ 10 - 18 ngày. Cầu Kè, Càng Long, Trà Cú là các
huyện ít bị hạn.
Đặc điểm thuỷ văn
Hai con sông chính là sông Cổ Chiên (một nhánh của sông Tiền) và sông
Hậu. Đây là nguồn cung cấp nƣớc trực tiếp cho toàn bộ hoạt động sản xuất và
sinh hoạt của tỉnh.
- Sông Hậu chảy theo hƣớng Tây Bắc Đông Nam, đoạn qua địa phận tỉnh
Trà Vinh có chiều dài 55 km. Sông đổ ra biển theo cửa Định An. Lƣu lƣợng
nƣớc bình quân 2.000 - 3.000 m3/s. Hàm lƣợng phù sa là 200 - 600 g/m3.
- Sông Cổ Chiên là 1 trong 3 nhánh chính của sông Tiền, đoạn chảy qua
địa bàn tỉnh Trà Vinh có chiều dài khoảng 45 km. Mặt sông rộng nhất ở khu vực
huyện Càng Long (1.800 - 2.100 m). Lƣu lƣợng nƣớc 12.000 - 19.000 m3/s.
Hàm lƣợng phù sa 100 - 500 g/m3.
Bên cạnh đó, Trà Vinh còn có hệ thống kênh rạch chằng chịt cung cấp
nƣớc cho nội đồng. Mật độ kinh trục phân bố khá đều trong tỉnh từ 4 - 10 m/ha.
Đối với mật độ kinh nội đồng, Trà Vinh có mật độ còn thấp (< 50% so với yêu
cầu sản xuất). Huyện có mật độ kênh cao nhất của toàn tỉnh là Tiểu Cần (45
m/ha); thấp nhất là Duyên Hải, Trà Cú, Cầu Ngang (18 - 28 m/ha). Các hệ thống
trục chính bao gồm:
- Phía sông Cổ Chiên: rạch Láng Thé, kênh Trà Vinh, rạch Bãi Vàng rạch
Thâu Râu
- Phía sông Hậu: Rạch Mỹ Văn, sông Cần Chông, rạch Trà Cú, Tống
Long, Vàm Ray, kênh Láng Sắc (Nguyễn Văn Pho).
- Hệ thống kênh trục dọc: Kênh Trà Ngoa, kênh 3/2 - Thống nhất quan
trọng nhất mang nhiệm vụ tiếp ngọt cho từng vùng.

8


Hệ thống thủy văn của tỉnh chịu ảnh hƣởng mạnh mẽ của chế độ triều
biển Đông. Đây là chế độ bán nhật triều không đều, ngày có 2 lần triều lên và 2
lần triều xuống, mỗi tháng có 2 kỳ triều cƣờng (vào ngày 1 và 15 âm lịch) và 2
kỳ triều kém (vào ngày 7 và 23 âm lịch). Do gần biển, biên độ và mực nƣớc trên
sông rạch khá cao nên tiềm năng tiêu tự chảy của tỉnh rất lớn. Chỉ riêng một
phần ở Càng Long và khu vực giữa tỉnh (phần giáp ranh của các huyện: Châu
Thành, Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Ngang) do có sự giáp nƣớc từ nhiều hƣớng và
biên độ triều tắt nhanh nên bị ngập kéo dài 3 - 4 tháng.
Nhìn chung, khoảng 1/3 diện tích đất tự nhiên của tỉnh bị ngập khá sâu
vào mùa mƣa (> 0,6 m) phân bố tập trung ở ven sông và các vùng trũng giữa
giồng của các huyện Cầu Ngang, Duyên Hải, Trà Cú. Tuy tiêu rút dễ dàng
nhƣng độ sâu ngập này đã hạn chế việc thâm canh lúa mùa nhƣ bón phân, sử
dụng giống mùa cao sản. Các vùng gò ngập ít (< 0,4 m) phân bố chủ yếu ở khu
vực giữa tỉnh (thuộc vùng lúa cao sản), đây là vùng có khả năng canh tác màu và
thâm canh lúa cao sản nhƣng dễ bị hạn ảnh hƣởng. Do bị mặn ảnh hƣởng nên dù
động lực triều cao nhƣng chỉ 1 phần diện tích của tỉnh có khả năng sử dụng nƣớc
sông để tƣới tự chảy và chủ yếu ở các khu vực nhiễm mặn ít (2 - 3 tháng).
Hàng năm có khoảng 90% diện tích đất tự nhiên của tỉnh bị nhiễm mặn
trong phạm vi 30 km tính từ biển trở vào. Độ mặn bình quân là 4g/lít. Hiện
tƣợng nhiễm mặn thƣờng bắt đầu từ tháng 12 tại Hƣng Mỹ trên sông Cổ
Chiên và Trà Kha trên sông Hậu. Mặn lên cao nhất vào tháng 4 tại cửa Vũng
Liêm (sông Cổ Chiên) và Cầu Quan (sông Hậu). Mặn thƣờng kết thúc vào tháng
6, thời gian sớm hay muộn phụ thuộc vào thời gian, lƣợng mƣa tại thƣợng
nguồn và địa phƣơng. Dựa trên ranh giới độ mặn 4‰, có thể phân tỉnh ra làm 6
vùng ảnh hƣởng mặn nhƣ sau:
- Vùng mặn thƣờng xuyên (mặn 4‰ quanh năm): chiếm 17,7% diện tích nông
nghiệp.
- Vùng mặn 5 - 6 tháng (từ tháng 1 - 6 dƣơng lịch): 25,8%.
- Vùng mặn 4 tháng (từ tháng 2 - 5 dƣơng lịch): 13,9%
- Vùng mặn 3 tháng (từ tháng 3 - 5 dƣơng lịch): 16,6%
9


- Vùng mặn 2 tháng (từ tháng 4 - 5 dƣơng lịch): 1,8%
- Vùng mặn 2 tháng bất thƣờng (từ tháng 4 - 5 dƣơng lịch): 15,1%
Việc canh tác 2 vụ lúa ổn định chỉ giới hạn ở vùng mặn < 4 tháng. Riêng
1 phần khu vực Cầu Ngang và huyện Duyên Hải, thời gian nhiễm mặn dài,
nguồn nƣớc ngọt khan hiếm mà lại có lƣợng mƣa và thời gian mƣa ít nên sản
xuất nông nghiệp rất khó khăn, vùng này thích hợp cho nuôi trồng thủy sản và
sản xuất lâm nghiệp.
1.3. Tổng quan về một số nghiên cứu liên quan
Đã có nhiều các công trình nghiên cứu về khí hậu, đặc điểm khí hậu, tài
nguyên khí hậu trên phạm vi quy mô cả nƣớc, quy mô vùng khí hậu, quy mô
khu vực và quy mô địa phƣơng. Có thể kể ra đây một số công trình tiêu biểu
nhƣ:
Một trong những nghiên cứu đầu tiên, ngoài phục vụ nghiên cứu khoa
học, nghiên cứu của Nguyễn Kim Môn (1971) còn gắn việc đánh giá về đặc
điểm khí hậu với đặc thù tiềm năng của địa phƣơng. Tác giả đã đánh giá đặc
điểm khí hậu thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng dựa trên sự phân bố theo thời
gian và không gian của các các yếu tố nhƣ nhiệt độ, lƣợng mƣa, độ ẩm, gió, bức
xạ,…tại khu vực nghiên cứu, đồng thời tác giả cũng đã có những đánh giá liên
quan giữa đặc điểm khí hậu với việc phát triển du lịch tại thành phố Đà Lạt.
Năm 1971, Phòng Nghiên cứu khí hậu thuộc Nha Khí tƣợng đã xây dựng
tập Atlas khí hậu miền Bắc và tập Atlas khí hậu miền Nam. Tập Atlas khí hậu
bao gồm các bản đồ của các yếu cơ bản nhƣ bức xạ, nắng, mƣa, nhiệt độ,...
Trong các năm 1976-1980, hai công trình nghiên cứu khá toàn diện về khí
hậu và xây dựng Atlas khí hậu địa phƣơng là Khí hậu Tây Nguyên của Nguyễn
Đức Ngữ [5] và Khí hậu Tây Bắc của Nguyễn Trọng Hiệu [6]. Các tác giả đã
phân tích vai trò của các nhân tố bức xạ mặt trời, hoàn lƣu khí quyển và điều
kiện địa lý trong sự hình thành khí hậu, những đặc điểm của khí hậu địa phƣơng
đƣợc thể hiện qua các yếu tố khí hậu nhƣ gió, nhiệt độ, mƣa, ẩm, bốc hơi, mây,
nắng và các hiện tƣợng thời tiết. Trên cơ sở phân tích các quy luật phân hóa khí

10


hậu của vùng nghiên cứu tác giả đã xây dựng tập bản đồ khí hậu với tỷ lệ:
1:500.000.
Chƣơng trình cấp nhà nƣớc 42A (1988) đã xây dựng bộ sản phẩm khoa học
gồm bộ số liệu và bộ bản đồ khí hậu đồ sộ, phong phú cho toàn quốc, phục vụ
hiệu quả trong nhiều năm qua. Nhiều công trình nghiên cứu về khí hậu Việt
Nam đã tham khảo tập số liệu và các bản đồ khí hậu này. Cơ sở số liệu quan trắc
đƣợc sử dụng đến năm 1985 và về mức độ chi tiết, các bản đồ khí hậu có tỷ lệ
1:1.000.000.
Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc (1998) trong “Khí hậu Việt Nam” đã
phân tích chi tiết đầy đủ về các yếu tố khí hậu, điều kiện khí hậu trên toàn bộ
phạm vi lãnh thổ nƣớc ta.
Năm 2002, Nguyễn Duy Chinh đã thực hiện đề tài NCKH cấp Bộ “Kiểm
kê, đánh giá tài nguyên khí hậu Việt Nam” trên cơ sở bổ sung số liệu khí tƣợng
đến năm 2000 và đã xây dựng bộ bản đồ tƣơng tự bộ bản đồ của chƣơng trình
42A cho cả nƣớc. Ngoài ra đề tài có những đánh giá chi tiết, cụ thể về tài
nguyên khí hậu, cũng nhƣ rút ra những điều kiện thuận lợi, khó khăn về mặt khí
hậu cho từng vùng lãnh thổ. Trong công trình này cũng chƣa đề cập đến việc cập
nhật, điều chỉnh sơ đồ phân vùng khí hậu và mức độ chi tiết cũng chỉ dừng ở tỷ
lệ bản đồ 1:1.000.000 và trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tác giả chƣa có
điều kiện phân tích, đánh giá cho một tỉnh, vùng lãnh thổ cụ thể nào.
Trần Việt Liễn (2004) trong giáo trình “Khí hậu Việt Nam” cũng đã đƣa
ra kết quả nghiên về các đặc điểm khí hậu Việt Nam cũng nhƣ các nhân tố hình
thành khí hậu, các quy luật khí hậu cơ bản, diễn biến của các yếu tố khí hậu cơ
bản trên lãnh thổ Việt Nam và phân vùng khí hậu lãnh thổ Việt Nam.
Nguyễn Đức Ngữ và Nguyễn Trọng Hiệu (2004) trong cuốn “Khí hậu và
tài nguyên khí hậu Việt Nam” đã phân tích chuỗi số liệu khí hậu cơ bản thời kỳ
1960-2000 trên hệ thống mạng lƣới trạm, bao gồm 150 trạm khí tƣợng, khí hậu
và 500 trạm đo mƣa phân bố trên phạm vi cả nƣớc. Cuốn sách bao gồm 11
chƣơng tập trung chủ yếu vào các nội dung: tổng quan về khí hậu Việt Nam; các
nhân tố hình thành khí hậu và chi phối khí hậu Việt Nam; đặc điểm phân bố
11


không gian và diễn biến thời gian của các yếu tố khí hậu chủ yếu nhƣ khí áp,
gió, mây, nắng, nhiệt độ, mƣa, ẩm, bốc hơi và một số hiện tƣợng thời tiết thƣờng
xảy ra ở nƣớc ta nhƣ sƣơng muối, sƣơng mù, mƣa phùn, dông, mƣa đá, bão,
mƣa lớn, hạn hán,…Phân vùng khí hậu, tài nguyên khí hậu các vùng lãnh thổ, sự
dao động và biến đổi khí hậu ở nƣớc ta trong khoảng 100 năm qua; đánh giá
tác động của sự biến đổi khí hậu toàn cầu đối với khí hậu, môi trƣờng và một số
ngành kinh tế xã hội ở Việt Nam.
Mai Văn Khiêm (2014) trong đề tài Nghiên cứu cấp Nhà nƣớc “Nghiên
cứu xây dựng Atlas khí hậu và biến đổi khí hậu Việt Nam” đã đúc kết và minh
họa đƣợc những quy luật, đặc điểm phân bố (không gian và thời gian) của khí
hậu và biến đổi khí hậu ở Việt Nam trong thế kỷ 20 và thập kỷ đầu của thế kỷ
21.
Huỳnh Nguyên Lan (2017) trong “Khí hậu nông nghiệp Nam Bộ Việt
Nam” đã phân tích, đánh giá các đặc điểm khí hậu, thủy văn đồng thời đánh giá
vai trò của các yếu tố khí hậu, thủy văn đối với nền nông nghiệp ở khu vực Nam
Bộ.
Bên cạnh những nghiên cứu về đặc điểm khí hậu, còn có các nghiên cứu
về hạn hán, đặc biệt là hạn hán kéo theo hiện tƣợng xâm nhập mặn.
WMO, thông qua các chƣơng trình khoa học và kỹ thuật, mạng lƣới các
Trung tâm Khí tƣợng toàn cầu và khu vực, các Trung tâm Khí hậu và các
NMHSs (Trung tâm KTTV các quốc gia), cung cấp các dịch vụ khoa học và kỹ
thuật quan sát, phát hiện, theo dõi, dự báo và cảnh báo sớm các tác hại của thời
tiết, khí hậu và các tác hại liên quan đến nguồn nƣớc, trong đó có xâm nhập
mặn. Hệ thống cảnh báo sớm của chƣơng trình này đã đƣợc triển khai ở các
nƣớc: Băng La Đét, Cu Ba, Pháp, Đức, Nhật, Mỹ v.v.
Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu phƣơng pháp để dự báo và cảnh báo
xâm nhập mặn. Các phƣơng pháp chủ yếu sử dụng phƣơng pháp mô hình hoá
mặn một chiều nhƣ WENDY, HEC1, MIKE 11, các mô hình này có ƣu thế
trong việc giải các bài toán đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tế. Ngoài ra còn có các
mô hình 2 chiều và 3 chiều nhƣ TELEMAC, EFDC, MIKE 21, KOD02 với ƣu
12


điểm mô phỏng truyền tải chất theo các phƣơng. Tuy nhiên, yêu cầu về số liệu
địa hình và thời gian thực vẫn còn hạn chế, khó áp dụng trong nghiệp vụ dự báo
hàng ngày.
Ngân hàng thế giới (WB) năm 2004 đã thực hiện đánh giá các phƣơng án
phát triển hạ lƣu sông Mekong với sự hỗ trợ của bộ công cụ DSF (công cụ quyết
định và hỗ trợ) để đánh giá tác động của các kịch bản phát triển trên lƣu vực
sông Mekong. Nghiên cứu đã sơ bộ đánh giá đƣợc tác động các kịch bản đến sự
thay đổi chế độ dòng chảy sông Mekong, tác động đến giao thông thủy, thủy
sản, đến lũ và xâm nhập mặn ở hạ lƣu. Có thể coi đây là nghiên cứu tổng hợp có
ý nghĩa nhất về nguồn nƣớc trong phạm vi toàn lƣu vực có xét đến các yếu tố
chính về nguồn nƣớc và sử dụng nƣớc, do vậy đã có một ƣớc lƣợng về dòng
chảy cho các nƣớc hạ lƣu sông Mekong.
Cùng với sự hình thành và phát triển vùng ĐBSCL công tác đo đạc, quan
trắc và nghiên cứu xâm nhập mặn đã đƣợc tiến hành từ rất sớm từ những năm 30
của thế kỹ trƣớc và tiếp tục mở rộng cho đến ngày nay. Những năm gần đây đã
có nhiều nghiên cứu về xâm nhập mặn vùng ĐBSCL, một số nghiên cứu về xâm
nhập mặn và các giải pháp ứng phó cho khu vực ĐBSCL, tiêu biểu có các đề tài,
dự án sau:
Dự án “Khảo sát điều tra chua mặn ĐBSCL”, do Viện Khoa học Thủy lợi
(KHTL) Miền Nam thực hiện từ năm 1993-2000. Nội dung chính của dự án:
Khảo sát tình hình xâm nhập mặn từ 1982-1991, phân tích nguyên nhân và đề ra
các biện pháp ứng phó với xâm nhập mặn.
Đề tài độc lập cấp nhà nƣớc KC08-18 “Nghiên cứu xâm nhập mặn phục
vụ phát triển kinh tế-xã hội vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long”, do Viện
Khoa học Thủy lợi Miền Nam thực hiện năm 2001-2004. Mục tiêu chính là:
Nghiên cứu xâm nhập mặn, từ đó xây dựng các kịch bản phát triển và các mô
hình khai thác thích hợp trong mối quan hệ tổng thể toàn đồng bằng sông Cửu
Long.
Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam trong đề tài độc lập cấp Nhà nƣớc
“Nghiên cứu đề xuất các giải pháp KHCN phục vụ xây dựng hệ thống đê biển,
13


đê ngăn mặn cửa sông Nam Bộ” (2002) đã đánh giá hiện trạng xâm nhập mặn,
xác định nguyên nhân gây xâm nhập mặn vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu
Long, đề xuất các giải pháp xây dựng hệ thống đê biển ngăn sóng và ngăn mặn
vùng cửa các sông Nam Bộ.
Ngoài ra, đề tài cấp nhà nƣớc: “Nghiên cứu cơ sở khoa học xác định
nguyên nhân, đề xuất giải pháp ứng phó với xâm nhập mặn trong điều kiện Biến
đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long” do Trung tâm Thẩm định - Tƣ
vấn Tài nguyên nƣớc, Cục Quản lý Tài nguyên nƣớc thực hiện năm 2012-2013
đã đánh giá hiện trạng xâm nhập mặn dựa trên chuỗi số liệu đến năm 2012, xác
định nguyên nhân gây xâm nhập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đề xuất
các giải pháp ứng phó với xâm nhập mặn trong điều kiện biến đổi khí hậu.
1.4. Đặc điểm Xâm nhập mặn ở Trà Vinh
Tỉnh Trà Vinh nằm ở hạ lƣu sông Mêkông, giữa hai nhánh là sông Cổ
Chiên (thuộc sông Tiền) và sông Hậu, có hệ tọa độ địa lí từ 9°30’07’’ đến
10°05’20’’ vĩ độ Bắc và từ 105°59’21’’ đến 106°35’ kinh độ Đông.
Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Bến Tre (ranh giới là sông Cổ Chiên). Phía
tây và tây bắc giáp tỉnh Vĩnh Long; phía tây và tây nam giáp tỉnh Sóc Trăng
(ranh giới là sông Hậu); phía đông và đông nam giáp biển Đông.
Khí hậu của Trà Vinh có hai mùa rõ rệt: là mùa mƣa và mùa khô. Mùa
mƣa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lƣợng
mƣa tập trung trong mùa mƣa tới 85,6% tổng lƣợng mƣa cả năm. Các tháng mùa
khô đều ít mƣa, đặc biệt tháng 1 và tháng 2 rất ít mƣa, lƣợng mƣa dƣới
20mm/tháng, hạn hán trong năm xảy ra thời kỳ này.
Tỉnh Trà Vinh có 3 sông lớn: sông Hậu, sông Cổ Chiên sông Long Toàn
với tổng chiều dài 578km. Ngoài ra còn có hàng trăm sông rạch nhỏ và nhiều
kênh đào dẫn nƣớc từ sông chính về đồng ruộng với chiều dài 1876 km.
Tình trạng nhiễm mặn của Trà Vinh tƣơng đối nghiêm trọng. Hàng năm
có khoảng 90% diện tích tự nhiên bị nhiễm mặn với chiều dài xâm nhập mặn
khoảng 30 - 50km tính từ biển vào… Xâm nhập mặn thƣờng xuất hiện trên vùng
các cửa sông đồng bằng sông Cửu Long từ khoảng tháng 12 năm trƣớc đến
14


tháng 5 năm sau, với đỉnh điểm là cuối tháng 3 và đầu tháng 5. Riêng tỉnh Trà
Vinh xâm nhập mặn xuất hiện từ những tháng 11 năm trƣớc đến khoảng cuối
tháng 6 năm sau.
Xâm nhập mặn của tỉnh chủ yếu theo hai cửa Cung Hầu, Định An và
Láng Nƣớc, (gần đây dự án luồn tàu trọng tải lớn vào sông hậu đã mở thêm kênh
tắc) nối liền biển đông với sông Long Toàn làm tăng khả năng xâm nhập mặn
vào trong nội đồng.
Do độ mặn trên các sông chính luôn ở mức cao, không đủ nguồn nƣớc
ngọt để tiếp nƣớc cho khu vực nội đồng, kết hợp với nắng nóng kéo dài đã làm
cho mực nƣớc trong nội đồng liên tục sụt giảm, độ mặn trên các kênh nội đồng
gia tăng do nƣớc bốc hơi. Mực nƣớc dự trữ trong các kênh nội đồng đã xuống
thấp. Trên các kênh trục chính độ mặn dao động từ 1,5 đến 2‰, trong hệ thống
kênh cấp II, cấp III, một số nơi độ mặn lên tới 2 - 3‰ và không thể bơm tƣới.
Không có nguồn nƣớc ngọt để tƣới, nƣớc liên tục bốc hơi đã làm gia tăng độ
phèn, mặn trong ruộng lúa gây thiệt hại rất lớn.
Trong phần dƣới đây, để đánh giá về đặc điểm xâm nhập mặn ở Trà Vinh,
trƣớc hết sẽ là phần đánh giá về mùa hạn và độ dài mùa hạn ở Trà Vinh, đồng
thời sẽ đánh giá về mức độ thiếu hụt nƣớc, đó là 2 trong nhiều yếu tố dẫn đến
tình trạng xâm nhập mặn ở Trà Vinh.
Các nguồn nhập mặn và đặc điểm truyền mặn
Nƣớc ngọt là nguồn tài nguyên khan hiếm. Theo Tổ chức Khí tƣợng Thế
giới, chỉ có 2,5% tổng lƣợng nƣớc trên trái đất là nƣớc ngọt, phần còn lại là
nƣớc mặn. Nguồn nƣớc ngọt lớn nhất là nằm dƣới lòng đất và một phần nƣớc
mặt nằm rải rác ở nhiều khu vực trên thế giới. Nƣớc ngầm đƣợc sử dụng rộng rãi
để bổ sung cho nguồn nƣớc mặt nhằm đáp ứng nhu cầu nƣớc ngày càng tăng.
Tuy nhiên, một trong những vấn đề đối với hệ thống nƣớc ngầm ở những vùng
ven biển chính là xâm nhập mặn. Xâm nhập mặn là quá trình thay thế nƣớc ngọt
trong các tầng chứa nƣớc ở ven biển bằng nƣớc mặn do sự dịch chuyển của khối
nƣớc mặn vào tầng nƣớc ngọt. Xâm nhập mặn làm giảm nguồn nƣớc ngọt dƣới

15


lòng đất ở các tầng chứa nƣớc ven biển do cả hai quá trình tự nhiên và con
ngƣời gây ra.
Xâm nhập mặn là vấn đề nghiêm trọng đối với đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL), vấn đề này đã đƣợc nỗ lực giải quyết trong bối cảnh đang diễn ra biến
đổi khí hậu nhƣ nƣớc biển dâng, tăng nhiệt độ, khai thác nƣớc ngầm quá mức để
đáp ứng nhu cầu nƣớc cho phát triển, những nguyên nhân này đang làm tăng
nguy cơ xâm nhập mặn
Quá trình bổ sung nƣớc hoặc khai thác nguồn nƣớc ngầm đều dẫn đến sự
dịch chuyển bề mặt phân cách giữa nƣớc ngọt và nƣớc mặn từ vị trí này sang vị
trí khác. Sự dịch chuyển đó có thể làm mực nƣớc dâng lên hoặc hạ xuống tùy
thuộc vào việc nƣớc ngọt đổ vào tầng ngậm nƣớc tăng hay giảm. Do đó, sự thay
đổi lƣợng nƣớc ngầm gây ảnh hƣởng trực tiếp đến xâm nhập mặn. Tình trạng
này sẽ tăng nhanh hơn nếu giảm bổ sung nƣớc ngầm.
Những thay đổi do biến đổi khí hậu nhƣ lƣợng mƣa và nhiệt độ, thay đổi
mục đích sử dụng đất cũng có thể làm thay đổi đáng kể tốc độ bổ sung nƣớc
ngầm cho các hệ thống tầng ngậm nƣớc, gây ảnh hƣởng đến quá trình xâm nhập
mặn.
Biến đổi khí hậu có thể ảnh hƣởng sâu sắc đến chu trình thủy văn thông
qua thay đổi mô hình lƣợng mƣa, lƣợng nƣớc bốc hơi và độ ẩm của đất. Lƣợng
mƣa có thể tăng hoặc giảm và phân bố không đồng đều trên toàn cầu. Hiện
tƣợng này sẽ làm thay đổi lƣợng nƣớc ngầm đƣợc bổ sung, đồng thời thay đổi
tốc độ xâm nhập mặn vào tầng ngậm nƣớc ven biển.
Các hoạt động thay đổi mục đích sử dụng đất và quản lý đất cũng có thể
làm thay đổi trực tiếp đến hệ thống thủy văn, chế độ bốc hơi nƣớc và dòng chảy.
Do đó, sử dụng đất cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá nguồn
nƣớc ngầm.
Đối với các cửa sông tiếp giáp với biển, hiện tƣợng xâm nhập mặn từ biển
vào các sông xảy ra khá phổ biến, đặc biệt vào mùa khô. Khi đó lƣợng nƣớc từ
sông đổ ra biển giảm, thủy triều từ biển sẽ mang nƣớc mặn lấn sâu vào lòng

16


sông làm cho nƣớc sông bị nhiễm mặn. Nồng độ mặn sẽ giảm dần khi càng tiến
sâu vào đồng bằng.
Mức độ xâm nhập mặn vào sâu trong nội đồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
• Lƣợng nƣớc từ thƣợng nguồn đổ về, lƣu lƣợng càng giảm, nƣớc mặn càng
tiến sâu vào đất liền.
• Biên độ triều vùng cửa sông: vào giai đoạn triều cƣờng, nƣớc mặn càng
lấn sâu vào.
• Địa hình: Địa hình bằng phẳng là yếu tố thuận lợi cho sự xâm nhập mặn.
• Các yếu tố khí tƣợng: Gió từ biển hƣớng vào đất liền, nhiệt độ cao, mƣa
ít, ... sẽ là tác nhân làm mặn lấn sâu vào nội địa.
• Hoạt động kinh tế của con ngƣời: Nhu cầu sử dụng nƣớc ngọt vào mùa
khô tăng sẽ làm giảm nguồn nƣớc ngầm, làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn.
Do vị trí địa lý, ĐBSCL ảnh hƣởng mặn cả từ biển Đông và biển Tây. Đặc
biệt là trong mùa kiệt, khi lƣu lƣợng thƣợng lƣu về giảm, thủy triều ảnh hƣởng
mạnh lên thƣợng lƣu và vào hệ thống sông, kênh rạch nội đồng, dẫn theo nƣớc
mặn xâm nhập sâu cả trên sông và nội đồng.
Do chế độ bán nhật triều không đều ở biển Đông nên quá trình truyền mặn
vào sông cũng theo nhịp điệu của quá trình triều. Tại một điểm cố định, đƣờng
quá trình mặn và đƣờng quá trình triều (mực nƣớc) có dạng tƣơng ứng giống
nhau nhƣng đƣờng quá trình mặn diễn ra chậm hơn đƣờng quá trình triều
khoảng 1-2 giờ, độ mặn cũng giảm dần từ cửa sông trở vào. Trên cùng một dọc
sông độ mặn trạm trên nhỏ hơn độ mặn trạm dƣới (cùng một thời gian đo xác
định). Tại cửa sông, mặn cũng có chu kỳ hàng ngày, chu kỳ 15 ngày và chu kỳ
hàng tháng tƣơng tự nhƣ chu kỳ thủy triều, và thƣờng luôn có độ mặn nhỏ hơn
độ mặn ở biển. Ngoài tác động ảnh hƣởng của thủy triều, xâm nhập mặn còn bị
ảnh hƣởng bởi các yếu tố khí tƣợng, đặc biệt là gió mùa Đông Bắc (hay còn
đƣợc gọi là gió chƣớng) thƣờng xuất hiện mạnh nhất trong tháng II-III, làm cho
mực nƣớc đỉnh triều gia tăng kéo theo độ mặn cũng tăng lên đáng kể.
Đặc điểm truyền mặn vùng cửa sông:

17


Vào cuối mùa lũ, khi nguồn nƣớc từ thƣợng lƣu về trong sông giảm dần,
mặn từ biển bắt đầu lấn dần vào vùng cửa sông và theo triều xâm nhập sâu hơn
trong nội đồng ĐBSCL. Khi truyền vào sông, hiện tƣợng khuyếch tán đóng vai
trò quan trọng trong việc đẩy mặn lên cao hơn và tỏa ra toàn mặt cắt sông. Nếu
dòng chảy êm, mặn sẽ ít bị trộn lẫn mà tạo thành nêm mặn theo dòng triều, khi
đó độ mặn trên một mặt cắt dƣợc phân hóa rõ rệt giữa trên mặt và dƣới sâu, giữa
dòng sông và hai bờ. Với vùng cửa sông, do ảnh hƣởng xáo trộn mạnh mẽ của
thủy triều, lƣu lƣợng nƣớc ngọt lại không đáng kể nên hiện tƣợng phân tầng độ
mặn rất ít xảy ra. Trong mùa kiệt, độ mặn tầng mặt và tầng đáy gần nhƣ bằng
nhau trong suốt quá trình triều, gây rất nhiều khó khăn trong việc lấy nƣớc ngọt
trên tầng mặt phục vụ cho tƣới tiêu.
Hàng năm, đỉnh mặn trên các sông thƣờng xuất hiện vào cuối mùa kiệt,
thƣờng là tháng IV và đôi khi là đầu tháng V đối với những năm mƣa đến muộn.
Vào mùa lũ, do nƣớc từ thƣợng nguồn đổ về nhiều nên mặn nhanh chóng bị đẩy
ra cửa sông. Vào giữa mùa lũ, mặn 1g/l cũng thƣờng chỉ còn xuất hiện ở ven cửa
sông

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×