Tải bản đầy đủ

Đề tài LƯỢC SỬ ĐẠO CÔNG GIÁO TRÊN QUÊ HƯƠNG LAI TÊ

ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE HÀ NỘI
KHOA THẦN HỌC



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài
LƯỢC SỬ
ĐẠO CÔNG GIÁO TRÊN QUÊ HƯƠNG LAI TÊ

Hướng dẫn : Linh mục Phanxicô Xaviê Đào Trung Hiệu,OP.
Thực hiện

: Chủng sinh Giuse Hoàng Trọng Hữu

Khoá

: XVI (2010-2018)

Giáo phận


: Bắc Ninh

Hà Nội - 2018


ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE HÀ NỘI
KHOA THẦN HỌC

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:

Lược Sử Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê

Hướng dẫn: Linh mục Phanxicô Xaviê Đào Trung Hiệu,OP.
Thực hiện: Chủng Sinh Giuse Hoàng Trọng Hữu
Khóa XVI (2010 - 2018)
Giáo phận: Bắc Ninh

Hà Nội, ngày 11 tháng 3 năm 2018


Lược Sử
Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê

Lưu hành nội bộ
2018


Nhận xét của Cha giáo hướng dẫn




………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

Bài luận văn thành công, Giáo hội Việt Nam hiện nay

rất cần các bài nghiên cứu kỹ những giáo xứ lâu đời như Lai Tê.

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………



………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

Sài Gòn, ngày 22 tháng 04 năm 2018
Điểm

Ký tên

9/10

Linh mục Fx. Đào Trung Hiệu, OP.


Lược sử
Đạo Công Giáo
Trên Quê Hương Lai Tê
……

Giuse Hoàng Nguyên


LỜI NGỎ
Cùng bạn xuôi về xứ Lai Tê
Theo dòng kỷ niệm chốn thôn quê
Bờ cây hóng mát sông Đồng Khởi
Ngân vang khắp cõi tiếng chuông chiều.
Ân cả phúc đầy Thiên Chúa đổ
Niềm tin cậy mến đã trổ sinh
Tìm về nguồn cội lòng sâu lắng
Mảnh đất quê nhà đẫm Phúc Âm.
Tìm về quá khứ và tái hiện lại quê hương một thuở đã qua không phải là việc đơn
giản. Song nhờ sự cộng tác tích cực của biết bao bàn tay, biết bao khối óc và biết bao con
tim nồng cháy tình yêu quê hương đất nước, người viết đã có đủ nghị lực và tài liệu để
hoàn tất được tiểu luận Lược Sử Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê.
Con xin chân thành cảm ơn cha Phanxicô Xaviê Đào Trung Hiệu đã tận tình hướng
dẫn và chỉ bảo con trong quá trình làm tiểu luận.
Con xin gửi lời tri ân tới cha xứ Đaminh Nguyễn Xuân Hùng, quý cha, quý thầy đã
cho con những thông tin hữu ích cũng như góp ý và sửa bài cho con.
Con xin cảm ơn quý Ban Hành Giáo, các hội đoàn, quý cụ ông bà và toàn thể cộng
đoàn giáo xứ Lai Tê đã nhiệt tình cộng tác và dành nhiều thời gian cho con trong việc hoàn
tất tiểu luận này.
Dù đã cố gắng rất nhiều nhưng trong quá trình tìm kiếm và sưu tầm tài liệu, người
viết không tránh khỏi những lầm lỗi, thiếu sót. Ước mong sao những điều ấy sẽ được góp ý
và bổ sung trong thời gian gần nhất.
Hà Nội, ngày 11 tháng 3 năm 2018

Giuse Hoàng Trọng Hữu



MỤC LỤC
DẪN NHẬP
I.KHÁI QUÁT

11

1. Tên gọi

11

1.1.Lai Xá

11

1.2.Lai Xá Tây, Lai Tây

13

1.3.Lai Xá Tê, Lai Tê

13

1.4.Làng Bùi, Kẻ Bùi, Làng Sải hay Bùi Sải

14

2.Địa lý

16

3.Văn hóa

16

II.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

17

III.NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

18

IV.ĐÓNG GÓP CỦA TIỂU LUẬN

18

V.PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ KẾT CẤU CỦA TIỂU LUẬN

19

VI.CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

20

CHƯƠNG I
GIAI ĐOẠN SƠ KHAI (... - 1883)
I.BƯỚC ĐẦU ĐÓN NHẬN TIN MỪNG (… - 1833)

21
21

1.Lược sử truyền giáo

21

2.Hạt giống Tin Mừng được gieo vãi

22

2.1. Truyền khẩu

22

2.2. Dấu chân thừa sai

23

II.THÁCH ĐỐ THỜI ĐẠI (1833 - 1862)

24

1.Thời kỳ nhà Nguyễn cấm đạo (1833 - 1862)

24

2.Giáo phận Đông Đàng Ngoài

27

3.Giáo điểm Xóm Trại, xã Lai Xá Tây

29

3.1. Trộm cướp thôn Lường Xá

29

3.2. Đối diện với việc cấm đạo

30

3.3. Chứng Nhân Tử Đạo

32

III.THỜI KỲ CỦNG CỐ VÀ VƯƠN LÊN (1862 - 1883)

44

1.Bối cảnh thời đại

44

2.Giáo phận Đông Đàng Ngoài

46


3.Giáo điểm Xóm Trại trở thành giáo họ Lai Tê

47

Tiểu kết chương I

CHƯƠNG II
GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN VÀ TRƯỞNG THÀNH
I.TỪ GIÁO HỌ LÊN GIÁO XỨ (1883 - 1912)
1.Bối cảnh

51
51
51

1.1.Tình hình xã hội

51

1.2.Tình hình Giáo Hội Việt Nam

52

1.3.Giáo phận Bắc Đàng Ngoài

52

2.Giáo họ Lai Tê

55

II.MỘT GIÁO XỨ NĂNG ĐỘNG (1912 - 1954)
1.Bối cảnh

57
57

1.1.Bối cảnh xã hội

57

1.2.Bối cảnh Giáo Hội Việt Nam

57

1.3.Giáo phận Bắc Ninh

57

2.Giáo xứ Lai Tê

60

2.1.Đời sống đức tin

60

2.2.Dấu chân mục tử

63

2.3.Tổ chức Nhà Đức Chúa Trời

65

2.4.Những người Lai Tê sống đời dâng hiến

67

2.5.Các đoàn hội

67

2.6.Ngôi Thánh Đường Cổ Kính Lai Tê

69

Tiểu kết chương II

CHƯƠNG III
GIÁO XỨ LAI TÊ TRONG THỜI CUỘC MỚI
I.CON TẠO XOAY VẦN (1954 - 1988)

73
73

1.Bối cảnh xã hội

73

2.Giáo Hội Việt Nam

73

3.Giáo phận Bắc Ninh

74

4.Giáo xứ Lai Tê

75

II.VƯƠN MÌNH CÙNG THỜI ĐẠI (1988 – nay)

78

1.Bối cảnh chung

78

2.Giáo phận Bắc Ninh

78


3.Giáo xứ Lai Tê

80

3.1.Những người phục vụ cộng đoàn

81

3.2.Những người sống đời dâng hiến đang phục vụ tại giáo phận

83

3.3.Những người sống đời dâng hiến đang phục vụ ngoài giáo phận

85

III.NHỮNG SINH HOẠT HIỆN NAY
1.Tổ chức giáo xứ

86
86

1.1.Hội Đồng Giáo Xứ (HĐGX)

86

1.2.Ban Hành Giáo (BHG)

86

1.3.Huynh Đoàn Dòng Ba Đaminh Giáo Dân

87

1.4.Hội Mân Côi

88

1.5.Hội Gia Trưởng (Giuse)

88

1.6.Ca Đoàn

88

1.7.Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể: Xứ Đoàn Đaminh Cẩm

89

1.8.Đoàn Trắc – Đoàn Trống

89

1.9.Đoàn Kim Nhạc

89

1.10.Đoàn Hoa

90

1.11.Hội Con Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp

90

1.12.Hội Gia Đình Ơn Gọi

90

1.13.Hội Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình

90

1.14.Hội Linh Hương

90

1.15.Hội Nến

91

1.16.Hội Hoa Tươi

91

1.17.Ban Kiệu

91

2.Kinh nguyện thường ngày

91

2.1.Kinh Sáng

92

2.2.Kinh Trưa

92

2.3.Kinh Tối

92

3.Chúa Nhật và Lễ Trọng

92

4.Lễ Hội Trong Năm

92

4.1.Lễ Giáng Sinh

93

4.2.Mùa Chay

94

4.3.Lễ Quan Thầy: Thánh Phanxicô Xaviê và Thánh Đaminh Cẩm

94

4.4.Tháng Hoa Kính Đức Trinh Nữ Maria

95

4.5.Tháng Hoa Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu

95


4.6.Lễ Hội Khác

96
Tiểu kết chương III

KẾT LUẬN
I.TÓM LƯỢC NỘI DUNG CHÍNH

II.NHỮNG THÁCH ĐỐ VÀ GỢI Ý MỤC VỤ

99
100

1.Thách đố mục vụ

100

2.Gợi ý mục vụ

101

2.1. Mục Vụ Cho Người Trẻ (7 - 18 tuổi)

101

2.2. Mục Vụ Hôn Nhân - Gia Đình

101

2.3. Đào Luyện Giáo Dân Trở Nên Những Kitô Hữu Trưởng Thành 104
2.4. Mục Vụ Di Dân – Loan Báo Tin Mừng

105

2.5. Tôn Vinh Tiền Nhân

105

PHẦN PHỤ CHƯƠNG
I.KINH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO BẮC NINH

107

II.KINH 100 VỊ ĐẦU MỤC BẮC NINH

108

III.MỘT SỐ HÌNH ẢNH GIÁO XỨ

109

IV.NIÊN BIỂU GIÁO XỨ LAI TÊ

109

THƯ MỤC SÁCH THAM KHẢO
I. TÀI LIÊU GIÁO HỘI

119

II. VĂN HOÁ, LỊCH SỬ, ĐỊA LÍ

120

III.TỪ ĐIỂN

121

IV.TRANG WED

121


Tiểu Luận: Lược Sử Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê

DẪN NHẬP
I.

KHÁI QUÁT
1. Tên gọi
Mỗi giai đoạn lịch sử, mảnh đất Lai Tê lại mang một tên gọi khác nhau, mức độ rộng

hẹp cũng khác. Dưới đây, người viết xin tìm hiểu về những tên gọi vẫn còn đôi chút thân
quen và gợi nhớ nhiều kỷ niệm với người dân Lai Tê, nhất là từ khi hạt giống đức tin được
gieo vãi trên mảnh đất này. Đó là những cái tên: Lai Xá, Lai Xá Tây, Lai Tây, Làng Bùi,
Kẻ Bùi và Lai Tê.

1.1. Lai Xá
Lai Xá có tên từ bao giờ không ai rõ. Trong các sách “Dư Địa Chí” của Nguyễn Trãi,
“Đại Nam Nhất Thống Chí” của quốc sử quán triều Nguyễn, “Các Tổng Trấn Xã Danh
Bị Lãm” và “Địa Lý Hành Chính Tỉnh Bắc Ninh” của Nguyễn Văn Huyên, các tác giả
đều cho rằng: Trước thế kỷ XV, vùng đất này thuộc huyện Thiện Tài, châu Gia Lâm, phủ
Bắc Giang1.
Đầu thời Lê (1428), huyện Thiện Tài đổi thành huyện Lang Tài2, sau lại đổi thành
Lương Tài và trực thuộc phủ Thuận An. Sách “Dư Địa Chí” của Nguyễn Trãi còn ghi lại:
Đầu thế kỷ XV, huyện Lương Tài có 74 xã3.
Trên những văn bia tiến sĩ của Văn Miếu Bắc Ninh, Văn Miếu Hà Nội4 và văn bia Kim
Bảng Lưu Phương của họ Bùi ở Lai Tê, có khắc:
1. Tiến sĩ Hoàng Sĩ Dịch5 黃仕懌 (1450-?) người xã Lai Xá, huyện Lang Tài (nay
thuộc thôn Lai Tê, xã Trung Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh). Ông là thân
phụ của tiến sĩ Hoàng Sĩ Khải. Ông đỗ Đệ Nhị Giáp Tiến Sĩ Xuất Thân, khoa
Nhâm Tuất, thời Lê, niên hiệu Cảnh Thống năm thứ 5 (1502). Ông làm tham chính.
2. Tiến sĩ Bùi Khắc Thầm6 (1493-?) người xã Lai Xá, huyện Thiện Tài (nay thuộc xã
Trung Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ

Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, Đồng Khánh Dư Địa Chí, trang 510.
Đào Duy Anh, Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời, Nxb.Hồng Đức, 2017, trang 213.
3
Xã là đơn vị hành chính cơ bản thời bấy giờ. Không giống như ngày nay, khi ấy, có những xã chỉ có một
thôn (nhất xã nhất thôn) và tên thôn cũng là tên xã; nhưng cũng có những xã bao gồm nhiều thôn (nhất xã nhị
thôn, nhất xã tam thôn, nhất xã tứ thôn...) thì tên thôn lớn nhất hoặc có trước nhất được đặt làm tên xã. Ví dụ:
Xã Bùi Xá có 3 thôn: Bùi Xá, Thiện Dũ, Trạm Trai. Do đó, cần phân biệt cách hiểu về việc gọi tên “xã” của
ngày xưa với “xã” như hiện nay.
4
http://www.hannom.org.vn
5
Số 55, bia thứ 3 (1490 - 1505) tại Văn Miếu Bắc Ninh.
6
Số 58, bia thứ 4 (1508 - 1526) tại Văn Miếu Bắc Ninh.
1
2

11


Phần Dẫn Nhập
Xuất Thân, khoa Quý Mùi, niên hiệu Thống Nguyên thứ 2 (1523) đời vua Lê Cung
Hoàng. Ông làm quan đến chức Tự Khanh.
3. Hoàng Sĩ Khải7 黃 士 愷, hiệu Lãn Trai (1525-?), người xã Lai Xá, huyện Thiện
Tài (nay thuộc thôn Lai Tê, xã Trung Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh), đỗ
Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân, khoa Giáp Thìn, niên hiệu Quảng Hòa thứ
4 (1544), đời Mạc Phúc Hải. Ông làm quan đến chức Thượng Thư, tước Vịnh Kiều
Hầu và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc), về trí sĩ.
4. Bùi Lượng Thái8 (1542-?) người xã Lai Xá, huyện Thiện Tài (nay thuộc thôn Lai
Tê, xã Trung Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ Tam Giáp Đồng
Tiến Sĩ Xuất Thân, khoa Quý Mùi, niên hiệu Diên Thành thứ 6 (1583) đời Mạc
Mậu Hợp. Sau theo về nhà Lê, ông làm quan đến chức Tham Chính, tước Tử và
được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng Tự
Khanh, tước Bá. Có tài liệu ghi ông là Bùi Lượng Cảo.
5. Đào Trung Hòa9 (1462-?) người xã Lai Xá, huyện Lương Tài (nay thuộc huyện
Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh). Ông đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân, khoa
Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 3 (1511). Ông làm quan Tổng Binh. Sau
khi mất, ông được phong Phúc Thần.
6. Nguyễn Thu10 (1488-?) người xã Lai Xá, huyện Thiện Tài (nay thuộc huyện Lương
Tài, tỉnh Bắc Ninh). Ông đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân, khoa Tân Mùi,
niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 3 (1511). Ông ra làm quan thời nhà Mạc đến chức
Thượng Thư, tước Bá.
7. Phạm Kính Trung11 (?-?) người xã Lai Xá, huyện Lương Tài (nay thuộc huyện
Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân, khoa Quý
Mùi, niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 6 (1514). Ông làm quan nhà Mạc đến Đại Lý
Tự Khanh, tước Hầu.

Số 64, bia thứ 5 (1529 - 1550) tại Văn Miếu Bắc Ninh.
Số 64, bia thứ 6 (1553 - 1592) tại Văn Miếu Bắc Ninh.
9
Số 26, bia thứ 4 (1508 - 1526) tại Văn Miếu Bắc Ninh.
Trong sách Làng xã tỉnh Bắc Ninh, ông Nguyễn Quang Khải cho rằng: Tiến sĩ Đào Trung Hòa, tiến sĩ
Nguyễn Thu và tiến sĩ Phạm Kính Trung là người Lai Xá, tổng Lường Xá, nay là thôn Lai Đông, xã Trung
Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Sách Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919, do tác giả Ngô
Đức Thọ chủ biên cho rằng: Tiến sĩ Đào Trung Hòa và Nguyễn Thu là người Lai Xá, huyện Thiện Tài nay là
thôn Lai Xá, xã Quảng Phú, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh; còn tiến sĩ Phạm Kính Trung là người Lai Xá,
huyện Thiện Tài nay là thôn Lai Xá, xã Phú Lương, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Sách Tiến Sĩ, Thạc Sĩ
tỉnh Bắc Ninh thời hiện đại, do các tác giả Trần Đình Luyện và Đỗ Thị Thu Thủy biên soạn lại cho rằng:
Ba tiến sĩ kể trên là người Lai Xá, tổng Lường Xá, nay là xã Phú Lương, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
Mặc dù đã tìm hiểu thực tế song người viết chưa tìm thấy dòng dõi con cháu của các vị tiến sĩ này hiện nay là
ai. Tuy nhiên, hiện nay, tên thôn Lai Xá không còn được sử dụng. Vì thế, người viết chỉ ghi quê quán hiện tại
của ba vị này là thuộc huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
10
Số 27, bia thứ 4 (1508 - 1526) tại Văn Miếu Bắc Ninh.
11
Số 40, bia thứ 4 (1508 - 1526) tại Văn Miếu Bắc Ninh.
7
8

12


Tiểu Luận: Lược Sử Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê
Như vậy, đến thế kỷ XVI, xã Lai Xá đã là một khu vực giàu truyền thống văn hoá, đóng
góp bảy vị tiến sĩ trong các năm 1502 – 1583. Dựa vào quê quán của các vị này, người viết
cho rằng: Xã Lai Xá nằm trong địa hạt xã Trung Chính và xã Phú Lương bây giờ. Tuy
nhiên, thật khó để xác định địa giới chính xác của xã Lai Xá. Dù vậy, dựa theo gia phả của
họ Bùi12 và họ Hoàng,13 người viết cho rằng: Lai Tê ngày nay là phần đất nằm trọn vẹn
trong xã Lai Xá.
Năm 1802, sau khi thống nhất, Vua Gia Long cho lập bản đồ cả nước thì không còn
thấy sử dụng tên xã Lai Xá nữa; các tên mới là xã Lai Xá Đông và xã Lai Xá Tây được
dùng để chỉ vùng đất này. Như thế, có thể nói: Xã Lai Xá là tên gọi được sử dụng từ
khoảng năm 1802 trở về trước.

1.2. Lai Xá Tây, Lai Tây
Như trên đã viết: Bản đồ Gia Long được thiết lập năm 1802, trong đó: Huyện Lương
Tài bao gồm 74 xã, chia về 9 Tổng: Lang Tài, Ngọc Trì, Quảng Bố, Lâm Thao, Lương Xá,
An Tráng, Tỳ Bà, Đặng Xá và Phá Lãng.
Tổng Lương Xá có 8 xã. Đó là: Lương Xá,14 Ông Lâu,15 Lãng Dương, Bích Khê, Thọ
Ninh, Lai Xá Tây, Lai Xá Đông và Tuần La.
Theo bản đồ này thì xã Lai Xá không còn. Thay vào đó, có hai xã là Lai Xá Tây và Lai
Xá Đông còn giữ lại chữ Lai Xá. Phải chăng xã Lai Xá chia thành hai xã là Lai Xá Đông
và Lai Xá Tây? Quả vậy, ông Nguyễn Quang Khải cho rằng Lai Xá Tê và Lai Xá Đông là
hai xã tách ra từ xã Lai Xá hồi đầu thế kỉ XIX.16
Có thể nói, Lai Xá Tây là tên gọi hành chính chính thức kể từ năm 1802 theo bản đồ
Gia Long.

1.3. Lai Xá Tê, Lai Tê
Như trên đã kể, Lai Xá Tây là tên gọi được sử dụng trong bản đồ Gia Long năm 1802.
Đến thời Đồng Khánh (1885 - 1889), sách Đồng Khánh Dư Địa Chí (1886) lại ghi:
Tỉnh Bắc Ninh có 4 Phủ chính, 2 phân phủ và 20 huyện.17 Trong đó, huyện Lương
Tài có 9 Tổng, 75 xã, thôn và xã Lai Xá Tê là một trong 8 xã của Tổng Lương Xá (xã
Lương Xá, xã Phú Lâu, xã Lãng Dương, xã Lai Xá Đông, xã Lai Xá Tê, xã Thọ Ninh,
xã Bích Khê và xã Tuần La).18

Họ Bùi: Cụ Bùi Khắc Thầm và cụ Bùi Lượng Thái là cụ tổ của dòng họ Bùi ở Lai Tê.
Họ Hoàng: Cụ Hoàng Sĩ Dịch và cụ Hoàng Sĩ Khải là cụ tổ của dòng họ Hoàng ở Lai Tê.
14
Lương Xá: Còn được gọi là thôn Lường.
15
Xã Ông Lâu: Đổi tên thành Phúc Lâu năm 1824.
16
Nguyễn Quang Khải, Làng Xã Tỉnh Bắc Ninh, Nxb. Thanh niên,2011,tập I, trang 232; 234.
17
Đồng Khánh Dư Địa Chí, trang 483.
18
Đồng Khánh Dư Địa Chí, trang 511.
12
13

13


Phần Dẫn Nhập
Như vậy, có thể nói, tên Lai Xá Tây đã được đổi thành Lai Xá Tê trong khoảng thời
gian này hoặc trước đó. Sách còn chỉ rõ: Khi ấy, trong huyện có 6 xã, thôn theo đạo
Thiên Chúa gián tòng19 là: Đức Trai, Thọ Ninh, Lai Xá Tê, Khải Mông,20 Trạm Du,21
Phượng Trì.22
Tên gọi Lai Tê thực chất là việc gọi vắn hay gọi nhanh của Lai Xá Tê.
Sau Cách Mạng tháng 8 năm 1945, đơn vị hành chính cấp tổng bị bãi bỏ; đơn vị hành
chính cấp xã được giữ nguyên và trực thuộc huyện Lương Tài. Năm 1946, một số xã nhỏ
(tương đương với đơn vị làng) được sáp nhập lại thành xã lớn. Do đó, xã Trung Chính ra
đời trên cơ sở một số làng thuộc Tổng Phá Lãng. Xã Trung Chính khi ấy có 18 làng và Lai
Tê là một làng thuộc xã Trung Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
Tuy tên gọi làng Lai Tê không thay đổi kể từ sau Cách Mạng Tháng 8 năm 1945 đến
nay, nhưng các đơn vị hành chính cấp huyện và tỉnh thì thay đổi trọn một vòng. Tháng 8
năm 1950 huyện Lương Tài hợp nhất với huyện Gia Bình và lấy tên là Gia Lương. Tháng 6
năm 1969 – tháng 1 năm 1974, hai huyện Gia Lương và Thuận Thành hợp nhất và gọi tên
là huyện Gia Thuận. Từ tháng 8 năm 1999 cho tới nay, huyện Gia Lương chia thành 2
huyện như trước là Gia Bình và Lương Tài. Tương tự như thế, hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc
Giang cũng sát nhập rồi tách ra như hiện nay.

1.4. Làng Bùi, Kẻ Bùi, Làng Sải hay Bùi Sải
Gia phả họ Bùi có ghi lại: Thuở xưa, cụ tổ họ Bùi cùng con cháu di cư từ khu vực làng
Phú Lộc, tỉnh Hải Dương ngày nay, sang xã Lai Xá lập nghiệp. Khi ấy, các cụ cùng con
cháu sống tại bãi bồi của sông Cẩm Giàng, phía bên Bắc Ninh, đối diện với làng Kiều
Oanh, thuộc Hải Dương. Khi cuộc sống ổn định, các cụ có xây chùa (nay gọi là Đống
Chùa) và dựng đình ở đầu làng, từ đó gọi tên là làng Bùi. Làng Bùi nổi tiếng là đất học, đã
cống hiến cho quốc gia hai tiến sĩ là Bùi Khắc Thầm và Bùi Lượng Thái như đã kể trên.
Theo các cụ cao niên kể lại, làng Bùi chỉ bao gồm phần đất xóm trên, kể từ nhà Bà Tuyết
đến nhà ông Bạ và Đống Chùa ngày nay. Làng Bùi nằm trong phần đất xã Lai Xá như đã
trình bày ở trên.
Ngày xưa, tên gọi của các xóm, thôn, xã, tổng đều được đặt tên bằng chữ Nôm, rồi sau
đó, do nhu cầu chính trị, mới được Hán hóa mà có tên gọi bằng chữ Hán. Do đó, hầu như
thôn, xã, tổng nào cũng có hai tên bằng chữ Nôm và bằng chữ Hán. Chẳng hạn: Làng Ngọc
Cục, tên Nôm là Guộc; làng Lương Xá, tên Nôm là Lường; làng Trung Trinh, tên Nôm là
Gián tòng: tức xôi đỗ, phân biệt với toàn tòng.
Xã Khải Mông: Gồm 3 thôn là Tử Nê, Hương La và Ngọc Cục. Tên Nôm là Nê-La-Guộc.
21
Trạm Du: Nay là giáo họ Trạm Ngoại, giáo xứ Phú Lộc, giáo phận Hải Phòng.
22
Phượng Trì: Nay là giáo xứ Phượng Giáo
19
20

14


Tiểu Luận: Lược Sử Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê
Chanh; làng Thọ Ninh, tên Nôm là Xá. Làng Bùi, tên Nôm là Sải nên người ta còn gọi là
làng Sải hoặc làng Bùi Sải.
Khoảng những năm cuối thế kỷ XIX, toàn bộ bà con trong làng Bùi theo Đạo Công
Giáo. Khi ấy, Lai Tê trở thành làng Công Giáo toàn tòng và người ta bắt đầu gọi bằng tên
chung là Kẻ Bùi, để chỉ vùng đất làng Bùi cũ và xóm Trại đã theo đạo từ trước đó. Kẻ Bùi
là tên gọi giống như những làng Công Giáo lân cận là Kẻ Nê, Kẻ Mốt và Kẻ Sặt. Tên gọi
Kẻ Bùi chủ yếu phổ biến với người Công Giáo trong khu vực chứ không quen thuộc với
người ngoại giáo. Theo những tài liệu sưu tập được, tên gọi Kẻ Bùi được sử dụng nhiều
nhất vào khoảng từ năm 1900 – 195423. Ngày nay, tên gọi này hầu như không còn được sử
dụng nữa.
Tóm lại, làng Bùi có từ bao giờ không ai biết nhưng ngày hôm nay khi nói tới làng Bùi,
người ta vẫn hiểu là làng Lai Tê; hoặc nhiều người còn gọi bằng tên kép: làng Bùi Lai Tê
để phân biệt với một làng Bùi không có đạo ở gần đó là làng Bùi Giàng.
1.5. Xứ họ Lai Tê
Có lẽ Lai Tê được coi như là một họ đạo, có nhà thờ mang tước hiệu thánh Phanxico
Xavie, thuộc giáo xứ Kẻ Mốt,24 giáo phận Bắc Đàng Ngoài kể từ năm 1883. Trước đó,
Lai Tê chỉ là một giáo điểm truyền giáo, gọi là xóm Trại25, thuộc giáo phận Đông
Đàng Ngoài.
Tuy nhiên, cũng cần nhớ rằng: Tính đến năm 1848, Lai Tê có một linh mục; năm 1862,
Lai Tê có 13 vị đầu mục và 3 thầy giảng hiền phúc tử đạo; có cha đến dâng lễ, có các chú
giúp lễ hay thầy giảng; có Kiệu Vàng Bát Cống và dựa vào sự việc khi thánh Vicentê Đỗ
Yến, cha xứ Kẻ Mốt chịu tử đạo, bà con giáo dân Lai Tê và Thọ Ninh rước xác về Thọ
Ninh…ta có thể nói rằng: Khi ấy, Lai Tê là một giáo điểm lớn mạnh và sầm uất.
Khoảng những năm 1902 – 1925, Đức Cha Maximino Velasco Khâm đến kinh lý các
giáo xứ, giáo họ khu vực huyện Lương Tài và đã tách các giáo họ Lai Tê, Thọ Ninh và
Nghĩa La; lập ra một giáo xứ mới, gọi là giáo xứ Lai Tê. Khi đó, giáo xứ Lai Tê bao gồm
toàn bộ phía tả ngạn sông Thái Bình, nằm trong địa giới xã Trung Chính và xã Phú Lương
hiện nay. Về sau, có thêm họ Quốc Trinh (Ấp Chanh). Tuy nhiên, giáo họ này chỉ tồn tại
cho tới năm 1947. Bởi vì sau khi chiến tranh Việt – Pháp leo thang, toàn bộ gia đình chủ
Ấp (Quan Thị) di rời đi nơi khác. Số giáo dân còn lại trở về bản hương, đa phần là Thứa.
Sổ rửa tội Lai Tê 1906 - 1931 và hôn phối Lai Tê 1908 - 1952 có chỗ ghi Kẻ Bùi, có chỗ ghi Bùi Mốt.
Cũng có người cho rằng: Lai Tê khi ấy là họ lẻ của giáo xứ Tử Nê. Tuy nhiên, dựa vào những gì thu thập
được, người viết cho rằng Lai Tê là họ lẻ của giáo xứ Kẻ Mốt thì hợp lý hơn.
25
Xóm Trại: Là cách gọi những người theo Đạo Công Giáo trong xã Lai Xá, nhằm phân biệt với tên gọi hành
chính thay đổi theo từng thời kỳ. Tên gọi này được sử dụng cho tới khi Lai Tê trở thành một làng Công Giáo
toàn tòng.
23
24

15


Phần Dẫn Nhập
Hiện nay, giáo họ Nghĩa La đang quản lý Khu Vườn Thánh26 của giáo họ này. Ngoài ra,
bên cạnh Thọ Ninh còn có một giáo điểm mà trong sổ rửa tội Lai Tê 1906-1932, sổ hôn
phối Lai Tê 1908-1952 có ghi, đó là họ Thủy Xá. Họ đạo này bao gồm một số gia đình
sinh sống ở trên thuyền, thường đậu ở sông Cẩm Giàng, đoạn Thọ Ninh. Về sau bà con
giáo dân của họ đạo này lên bờ và nhập vào Thọ Ninh.
Năm 1952, Đức Cha Đaminh Hoàng Văn Đoàn tách Thọ Ninh ra khỏi giáo xứ Lai Tê,
gọi là xứ Thọ Ninh. Khi ấy, Thọ Ninh có cha Thanh về coi xứ. Tuy nhiên, do những biến
cố thời đại, phần đông bà con giáo dân Thọ Ninh di cư vào Miền Nam (4/5 giáo dân di cư).
Sinh hoạt đạo của các giáo xứ trong vùng đều do Cha quyền coi sóc. Như thế, đến năm
1952, Lai Tê chỉ có một họ lẻ là họ Nghĩa La và địa giới thu hẹp lại, chỉ trong xã Trung
Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
Đến nay, xã Trung Chính chỉ có hai làng Công Giáo toàn tòng là Lai Tê và Nghĩa La.
Cả giáo xứ Lai Tê có khoảng 1940 tín hữu/ 10134 người dân trong toàn xã,27 trong đó, giáo
họ Lai Tê có khoảng 1470 tín hữu, giáo họ Nghĩa La có khoảng 470 tín hữu.

2. Địa lý
Làng Lai Tê có vị trí hết sức đặc biệt. Phía Đông có sông Đồng Khởi. Đây là con sông
nhân tạo dài khoảng 7 km, được đào khoảng năm 1966 - 1968, nối sông Cẩm Giàng với
sông Ngụ, nhằm dẫn nước cho các cánh đồng xung quanh.
Phía Nam và phía Tây có sông Cẩm Giàng28 (khúc Sông Bùi) – là ranh giới tự nhiên
giữa hai tỉnh Bắc Ninh và Hải Dương.
Phía Bắc là những cánh đồng bằng phẳng, bao la. Như vậy, Lai Tê nằm trong vòng bao
bọc bởi hai dòng sông, hợp nguồn ở phía Đông Nam làng rồi cùng đổ ra sông Thái Bình tại
cống Văn Thai, cách đó chừng 5km.
Lai Tê cách Tòa Giám mục Bắc Ninh 35 km về phía Đông Nam; cách Hà Nội 75km về
hướng Đông. Lai Tê được mệnh danh là vùng đất cuối tỉnh, cuối huyện, cuối xã. Vì thế,
đường xá đi lại còn nhiều khó khăn. Đó chỉ là những con đường liên xã nhỏ và hẹp nhưng
cũng đã được đổ bê tông mấy năm gần đây.

3. Văn hóa
Người viết chưa tìm thấy tài liệu nào nghiên cứu về vùng đất Lai Tê. Tuy nhiên, ngay từ
thế kỷ XIV – XV, Lai Tê đã là quê hương của những vị tiến sĩ danh tiếng như đã kể trên.

Khu Vườn Thánh: Hiện nay, khu Vườn Thánh này nằm ở khu vực phía sau gia đình ông bà Tuân Đối và
gia đình ông bà Thiệp Thê.
27
Thống kê dân số năm 2014 của Ủy Ban Nhân Dân xã Trung Chính, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
28
Là một nhánh sông nhỏ, qua mỗi vùng lại mang tên khác nhau: Sông Cẩm Giàng,sông Sặt,sông Bùi…
26

16


Tiểu Luận: Lược Sử Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê
Nằm trong cái nôi văn hóa Kinh Bắc, Lai Tê tiếp tục đóng góp các bậc hiền tài cho quốc
gia. Hiện tại có tiến sĩ Bùi Quang Tề, nguyên Trưởng phòng Sinh học thực nghiệm, Viện
Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy Sản I. Xin mượn đôi dòng tóm tắt sự nghiệp của ông trên
trang Thuysanvietnam.com.vn:
“Gần 40 năm làm nghiên cứu khoa học, Tiến sĩ Bùi Quang Tề đã có 9 đề tài cấp
Nhà nước, 6 đề tài cấp Bộ, 1 đề tài hợp tác với Đan Mạch được nghiệm thu. Ông đã
viết 20 bài báo đăng trong tạp chí trong nước và quốc tế và xuất bản 9 cuốn sách.
Được nhận Giải thưởng Nhà nước về Khoa học công nghệ: “Nghiên cứu công nghệ
sản xuất giống một số loài tôm biển” năm 2000. Thành viên tham gia; Giải Nhì
VIFOTEC đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá lăng chấm
(Hemibagrus guttatus Lacépè, 1830) trong điều kiện nuôi. Năm 2006, thành viên
tham gia; Huy chương Chiến sỹ vẻ vang; Huy chương Vì sự nghiệp nghề cá. Ngày
26.4.2010 Hội đồng xét chọn do Ban tổ chức Festival Thủy sản Việt Nam 2010 đã
bình chọn ông là “Gương cá nhân điển hình đóng góp cho ngành Thủy sản Việt
Nam” với tư cách nhà khoa học.”29

Bên cạnh đó, Lai Tê còn có tiến sĩ Bùi Thị Tào và đội ngũ đông đảo các thạc sĩ, cử nhân
đại học và cao đẳng.

II. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Cây có gốc mới nảy cành sinh ngọn
Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu
Người ta nguồn gốc từ đâu?
Tổ tiên có trước, rồi sau có mình.”30

Ngày nay, Lai Tê được xem như là một trong những giáo xứ năng động và trưởng thành
thuộc giáo phận Bắc Ninh. Thế nhưng, có mấy ai biết được rằng cộng đoàn đức tin này đã
phải trải qua biết bao thăng trầm, thử thách. Dường như ít người biết đến Lai Tê là quê
ngoại của thánh Đa Minh Cẩm, là nơi thánh nhân lớn lên và cũng chính là nơi thánh nhân
gửi lại thân xác mình. Đâu mấy người biết được rằng trong 100 vị đầu mục tử đạo tại
thành Bắc Ninh năm 1862, Lai Tê được phần vinh dự và tự hào vì có 13 vị là người Lai
Tê. Thêm vào đó là ba vị hiền phúc tử đạo đang gửi thân xác mình tại Lai Tê. Tìm lại
những hình ảnh, những câu chuyện vui buồn ít người biết đến ấy, người viết ước mong có
thể góp phần nhỏ bé của mình, hướng tới việc kỷ niệm 90 năm xây dựng ngôi thánh
đường, hơn 100 năm thành lập giáo xứ và hơn 200 năm đón nhận Tin Mừng. Do đó, người
viết xin chọn đề tài: Lược Sử Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê.
29
30

http://www.thuysanvietnam.com.vn,nha-khoa-hoc-giau-tam-huyet-article-4435.tsvn đăng ngày 15.4.2013.
Ca dao Việt Nam

17


Phần Dẫn Nhập

III. NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Nguồn tư liệu
Để nghiên cứu đề tài này, người viết sử dụng những tài liệu còn lưu giữ tại giáo xứ Lai
Tê, bao gồm: sổ Rửa tội, sổ Thêm sức, sổ Hôn phối, biên bản các cuộc họp.... và các giấy
tờ khác. Cùng với đó là những cuộc phỏng vấn nhân chứng gồm các vị Ban Hành Giáo qua
các thời kỳ, các bậc cao niên và những chứng nhân khác. Thêm vào đó, người viết còn sử
dụng tài liệu lưu trữ tại văn khố và thư viện Tòa Giám mục Bắc Ninh. Đặc biệt, các tài liệu
của Đức Giám Mục Cosma Hoàng Văn Đạt, linh mục Đào Trung Hiệu, linh mục Đỗ
Quang Chính, linh mục Bùi Đức Sinh, Đinh Đồng Phương, Trần Trọng Kim,... Ngoài ra,
người viết còn tham chiếu từ gia phả của các dòng họ, cách riêng là của họ Bùi, họ
Nguyễn, họ Hoàng và nhiều nguồn tài liệu khác.
Mặc dù đã rất cố gắng khai thác nhiều nguồn tư liệu, tiến hành so sánh, đối chiếu, phân
tích để có được kết quả đáng tin cậy, nhưng thiết nghĩ vẫn còn nhiều điều sơ lược, thiếu sót
và khiếm khuyết. Người viết ước mong nhận được sự quan tâm, những góp ý, bổ sung cho
bài luận này.

2. Phương pháp nghiên cứu
Với đặc trưng của đề tài, người viết sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp
lôgic là chủ yếu. Thêm vào đó, người viết còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh,
phương pháp định lượng toán học, phương pháp điều tra, phương pháp nhân chứng và

phương pháp tiếp xúc. Ngoài ra, tiểu luận còn sử dụng các phương pháp liên ngành khác
phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.

IV.

ĐÓNG GÓP CỦA TIỂU LUẬN
1. Mục đích nghiên cứu
Qua đề tài này, người viết ước mong có thể giúp cho những người trẻ Lai Tê có được sự

hiểu biết đầy đủ và chính xác hơn về quê hương nguồn cội; ngõ hầu có thể củng cố thêm
tình yêu quê hương trong họ, hối thúc lòng khao khát dựng xây và phát huy truyền thống
đức tin cao quý mà các bậc tiền nhân truyền lại. Hướng đến những người con Lai Tê xa xứ,
người viết hy vọng có thể ôn lại những kí ức về cố hương đang phai nhạt từng ngày do bụi
mờ thời gian.

2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là quá trình hình thành và phát triển của đạo Công Giáo tại Lai Tê kể
từ khi có sự hiện diện của người Công Giáo trên mảnh đất này. Tuy nhiên, người viết cũng đề
cập đến bối cảnh xã hội, Giáo Hội Việt Nam cũng như giáo phận Bắc Ninh trong những giai

18


Tiểu Luận: Lược Sử Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê
đoạn lịch sử tương đương, có ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt ở nơi này. Dù vậy, trong
khả năng và giới hạn, người viết chỉ tập trung tìm hiểu đạo Công Giáo trong vùng đất giáo xứ
Lai Tê hiện nay, cụ thể là họ nhà xứ Lai Tê.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Dựa vào việc khảo sát các tài liệu mang tính lịch sử ở Lai Tê và những tài liệu liên
quan, người viết sẽ cố gắng phác họa lại những bước phát triển của đạo Công Giáo trên
mảnh đất Lai Tê; đồng thời, nhận định về hướng phát triển trong tương lai cũng như gợi
ý những hoạt động mục vụ phù hợp.

4. Đóng góp trực tiếp
Vì mục đích của đề tài, người viết sẽ cố gắng tìm lại những bước phát triển của đạo
Công Giáo trên quê hương Lai Tê. Trong phạm vi cụ thể, tiểu luận bước đầu thống kê,
khảo sát và đánh giá tình trạng đời sống đạo qua những bước thăng trầm của lịch sử.
Qua quá trình khảo sát các tài liệu mang tính lịch sử ở Lai Tê, người viết thu thập
được những dữ liệu liên quan góp phần xây dựng trang lịch sử cho giáo xứ. Từ đây có
thể làm một tiền đề cho việc tìm lại các dấu ấn lịch sử đầy giá trị của rất nhiều giáo xứ,
giáo họ trong giáo phận Bắc Ninh mà do các biến động cùng khó khăn lịch sử nay đã bị
phôi pha hoặc quên lãng.

5. Đóng góp gián tiếp
Người viết hy vọng có thể cung cấp một vài thông tin căn bản về đời sống đức tin của
người Công Giáo ở phía Đông Nam của giáo phận Bắc Ninh.
Hướng tới mục vụ, người viết mạnh dạn đưa ra vài gợi ý mục vụ cụ thể, ngõ hầu góp
phần nhỏ bé của mình vào công cuộc Tân Phúc Âm Hóa tại giáo xứ thân yêu này.

V.

PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ KẾT CẤU CỦA TIỂU LUẬN
1. Không gian
Trong khả năng và giới hạn, tiểu luận này chỉ tìm hiểu vùng đất giáo xứ Lai Tê hiện nay, cụ

thể là giáo họ nhà xứ Lai Tê.

2. Thời gian
Tiểu luận tập chung chủ yếu vào giai đoạn từ thế kỷ XIX cho đến nay (2018). Tuy
nhiên, để làm rõ quá trình ra đời và phát triển của đạo Công Giáo tại Lai Tê, tiểu luận
cũng đề cập đến bối cảnh lịch sử xã hội, Giáo Hội Việt Nam nói chung và giáo phận
Bắc Ninh cách riêng.

19


Phần Dẫn Nhập

3. Kết cấu tiểu luận
Xuất phát từ giới hạn của đề tài, ngoài phần dẫn nhập, kết luận, tài liệu tham khảo và
các phụ chương, tiểu luận triển khai ba chương chính như sau:
Chương I: GIAI ĐOẠN SƠ KHAI (… - 1883)
Dựa vào lời kể của các bậc cao niên và những sử liệu liên quan, người viết tìm về thời
điểm hạt giống Tin Mừng được gieo trên mảnh đất Lai Tê. Dần dần, cây đức tin phát triển
theo thời gian và trở thành một giáo họ.
Chương II: GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN VÀ TRƯỞNG THÀNH (1883 - 1954)
Khi cuộc sống tương đối ổn định, bà con giáo dân chăm lo nhiều hơn đến việc xây dựng
và củng cố đức tin. Hoa trái thơm lành chính là việc trở thành một giáo xứ lớn mạnh. Từ
khi giáo xứ có sự hiện diện của các mục tử, đời sống kinh tế văn hoá, giáo dục được phát
triển, công cuộc loan báo Tin Mừng cũng được mở mang hơn. Nhiều đoàn hội được thành
lập. Gia đình giáo xứ được thăng tiến và triển nở về nhiều mặt.
Chương III: GIÁO XỨ LAI TÊ TRONG THỜI CUỘC MỚI (1954 - nay)
Biến cố 1954 đã làm cho giáo xứ có phần xáo trộn nhưng những cố gắng và nỗ lực của
các Đấng, Bậc cùng cộng đoàn đã giúp cho Lai Tê có thể từng bước bắt nhịp với giáo phận
và tiếp tục tiến bước trong sự quan phòng của Thiên Chúa.
Trong chương này người viết đề cập đến một số sinh hoạt tiêu biểu của xứ họ: giờ kinh,
nguyện ngắm cũng như sinh hoạt của các hội đoàn đạo đức.

VI.

CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Ký Hiệu

Ý Nghĩa

Ý Nghĩa

Ký Hiệu

Mt

Tin Mừng theo thánh Mát-thêu

Fx.

Phanxicô Xaviê / Phan-xi-cô Xa-vi-ê

Mc

Tin Mừng theo thánh Mác-cô

HĐGX

Hội Đồng Giáo Xứ

Lc

Tin Mừng theo thánh Lu-ca

BHG

Ban Hành Giáo

Ga

Tin Mừng theo thánh Gio-an

TNTT

Thiếu Nhi Thánh Thể

Cv

Sách Công Vụ Tông Đồ

Tgm.

Tòa Giám Mục

Dt

Thư gửi tín hữu Do Thái

Gs.

Giáo sư

1 Cr

Thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô

Nxb.

Nhà xuất bản

OP

Ordinis Praedicatorum: Dòng Đaminh

Sđd

Sách đã dẫn

SJ

Societas Jesu: Dòng Tên

X.

Xem

Nv

Người viết

20


Tiểu Luận: Lược Sử Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê

CHƯƠNG I
GIAI ĐOẠN SƠ KHAI (... - 1883)
I.

BƯỚC ĐẦU ĐÓN NHẬN TIN MỪNG (… - 1833)
1. Lược sử truyền giáo
Trước khi về Trời, Đức Giêsu đã trao cho các môn đệ sứ mạng quan trọng: “Anh em

hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu
phép rửa sẽ được cứu độ.”31Hơn hai ngàn năm qua, Tin Mừng vẫn luôn được loan báo; có
biết bao lớp người tiếp tục sứ mạng cấp thiết này cũng như có biết bao dân tộc đón nhận
được ánh sáng Đức Tin.
Tại Việt Nam, bước chân nhà truyền giáo đầu tiên được ghi lại trong sử sách là năm
1533. Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (XXXIII, 6B) có thuật lại:
“Vào khoảng năm Nguyên Hoà (1533), đời vua Lê Trang Tông có người tây dương
tên là Inikhu vào giảng đạo ở các xã Ninh Cường, Quần Anh, huyện Nam Chân và xã
Trà Lũ, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Sơn Nam (Nam Định). Nguyên Hòa nguyên niên, đời
Lê Trang Tôn có một dương nhân tên là I-nê-khu đi đường bể, lén vào giảng đạo Gia
Tô ở làng Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam Chân và làng Trà Lũ thuộc huyện
Giao Thủy.”32

Tất cả các địa danh trên đều thuộc giáo phận Bùi Chu hiện nay.
Theo truyền khẩu, Cha Felice Morelli, Dòng Tên, trong thời gian ở Thăng Long
(1640-1647), đến truyền giáo ở vùng Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, nhưng chưa thấy có
chứng cứ lịch sử chắc chắn. Năm 1659, khi Đức Thánh Cha Alexandro VII thiết lập
hai giáo phận đầu tiên ở Việt Nam là Đàng Trong và Đàng Ngoài, sử sách ghi nhận ít
nhất đã có một số tín hữu trong phần đất của giáo phận Bắc Ninh là Kẻ Roi (Xuân
Hoà), Kẻ Nê (Tử Nê) và Kẻ Mốt (Đức Trai)33.

Cách Lai Tê không xa, Kẻ Sặt, tỉnh Hải Dương, thuộc giáo phận Hải Phòng, là nơi quy
tụ nhiều người theo đạo thời bấy giờ. Trên đây là những địa danh được nhắc đến nhiều lần
như điểm dừng chân của các nhà truyền giáo Dòng Tên trong hành trình truyền giáo thuở
ban đầu.

31

Mc 16, 15.
Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, bản Việt Ngữ của Viện Sử
Học, Nxb. Giáo dục Hà Nội, 1998, trang 720.
33
Đức Cha Cosma Hoàng Văn Đạt, Lược Sử Giáo Phận Bắc Ninh, Lưu hành nội bộ, 2009, trang 20-21.
32

21


Chương I: Giai Đoạn Sơ Khai (... - 1883)
Năm 1679, Đức Thánh Cha Innocento XI chia giáo phận Đàng Ngoài làm hai là giáo
phận Đông Đàng Ngoài và giáo phận Tây Đàng Ngoài. Tỉnh Bắc Ninh thuộc giáo phận
Đông Đàng Ngoài. Lúc này, trên phần đất của Bắc Ninh đã có 32 nhà thờ34.
Ngày 5.9.1848, Đức Thánh Cha Piô IX ra sắc lệnh chia đôi giáo phận Đông Đàng Ngoài
thành giáo phận Trung Đàng Ngoài và giáo phận Đông Đàng Ngoài. Kinh Bắc (Bắc Ninh)
thuộc về giáo phận Đông Đàng Ngoài mới.35 Trong giai đoạn này, quê hương chúng ta có
Cha Thánh Đaminh Cẩm phục vụ tại giáo phận Trung Đàng Ngoài và được diễm phúc tử
đạo tại Hưng Yên năm 1859.
Ngày 29.5.1883, Đức thánh Cha Lêô XIII chuẩn phê và ban hành sắc lệnh thành lập
giáo phận Bắc Đàng Ngoài. Giáo phận Bắc Đàng Ngoài (Bắc Ninh) gồm các tỉnh Bắc Ninh
(Bắc Ninh và Bắc Giang), Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, một nửa Hà Giang, một
phần Tuyên Quang, Phú Thọ, Sơn Tây (Vĩnh Phúc). Lúc này, giáo phận Bắc Đàng Ngoài
có 25 000 giáo dân, quy tụ trong 11 giáo xứ và 28 họ, sống chủ yếu ở tỉnh Bắc Ninh và
vùng lân cận36. Khi ấy, Lai Tê có thể đã hiện diện như là một trong những giáo điểm
truyền giáo. Vậy Tin Mừng đến với mảnh đất Lai Tê từ khi nào?

2. Hạt giống Tin Mừng được gieo vãi
Chưa có tài liệu chính thức nào chỉ rõ đạo Công Giáo đến Lai Tê khi nào và bằng cách
nào. Tuy nhiên, dựa vào gia phả các chi họ và tham vấn các cụ cao niên trong làng cùng
những sử liệu liên quan, người viết xin ghi lại như sau.

2.1. Truyền khẩu
Các cụ trong làng kể lại: Khoảng những năm cuối thế kỷ XVIII cho tới đầu thế kỷ XIX,
một số gia đình Công Giáo lần lượt đến đây mua đất và lập nghiệp. Đó là các gia đình:
1.

Gia đình cụ Riêm, không rõ quê quán. Cụ Riêm có bốn người con là

Hằng, Ổn, Huyền, Ẩn.
2.

Gia đình cụ Hiệp, người Cẩm Giang. Cụ Hiệp có con tên là cụ Nho.

Thánh Đaminh Cẩm là cháu ngoại của cụ Nho. Gia đình cụ mua đất ở khu
vực nhà bà Tuyết hiện tại và trải dài đến một phần đất phía tây của nhà
chung hiện nay.
3.

Gia đình cụ Đò, người Phú Lộc. Cụ Đò có con trai là cụ Trại, người

trở thành Lý Trưởng đầu tiên của xóm Trại và cũng là người đã đổ máu
Đức Cha Cosma Hoàng Văn Đạt, Sđd, trang 25.
X. Nguyễn Thanh Thảo, Lịch Sử Địa Phận Đông Đàng Ngoài Hay Giáo Phận Hải Phòng, Tgm. Hải
Phòng, 2007, trang 158 – 159.
36
X. Đức Cha Cosma Hoàng Văn Đạt, Sđd, trang 37.
34
35

22


Tiểu Luận: Lược Sử Đạo Công Giáo Trên Quê Hương Lai Tê
mình ra để làm chứng cho Tin Mừng năm 1862 cùng các đầu mục khác tại
Bắc Ninh. Gia đình cụ mua đất ở khu vực xóm dưới, nằm ở phía Đông của
nhà thờ hiện nay, thuộc khu đất nhà ông Xá đang ở.
Ba gia đình này ở liền kề nhau và lập thành một xóm riêng, gọi là Xóm Trại, nằm ở phía
Bắc khúc sông Vòng của sông Cẩm Giàng. Theo thời gian, nhiều người Công Giáo cũng
như những người mới theo đạo đã tìm đến và lập nghiệp ở đây, tạo nên một xóm đạo đông
đúc. Xóm đạo này sinh hoạt trong xã Lai Xá như một làng/xóm37 riêng biệt, giống bao
làng/xóm khác trong xã.

2.2. Dấu chân thừa sai
Sau khi lập thành xóm đạo, các gia đình Công Giáo thường tụ họp với nhau vào buổi tối
để đọc kinh. Những dịp lễ lớn hay Tuần Thánh, họ trở về quê cũ để tham dự và lãnh nhận
các Bí Tích. Khi xóm đạo ngày một thêm đông, họ cũng tìm cách để đón các thừa sai đến
làm phúc. Các thừa sai có để đến Lai Tê bằng một trong hai đường sau:
Các thừa sai theo đường sông đến Lai Tê: Thông thường các thừa sai đến địa phận
Đông Đàng Ngoài từ Biển Đông vào sông Thái Bình. Ngược dòng sông Thái Bình qua tỉnh
Đông (Hải Dương) chừng 3km là tới Kẻ Mốt. Kẻ Mốt tọa lạc tại bãi bồi phía hữu ngạn
sông Thái Bình thuộc khu vực Văn Thai. Từ đây đi ngược dòng sông Thái Bình khoảng
200m tới hạ lưu sông Cẩm Giàng (sông Bùi). Nếu ngược dòng sông nhỏ này chừng 5km sẽ
tới Lai Xá (Lai Tê) và cứ tiếp tục ngược dòng thì tới Thọ Ninh, rồi tới Kẻ Sặt. Ngược lại,
các thừa sai cũng có thể đi từ Kẻ Sặt về Lai Xá hoặc Kẻ Mốt theo sông Cẩm Giàng kể trên.
Các thừa sai cũng có thể đến với Lai Tê bằng một đường khác. Đó là từ Kẻ Nê (Tử
Nê) đi theo đường tỉnh lộ 280 + 284 Bắc Ninh - Hải Dương chừng 7 km sẽ tới Lai Xá. Các
Ngài thường lui tới Kẻ Nê theo đường sông như sau: Từ Biển Đông, các Ngài đi vào cửa
sông Thái Bình tới tỉnh Đông (Hải Dương). Vượt qua Hải Dương chừng 3km sẽ tới Kẻ
Mốt, đi thêm chừng 2km sẽ tới Kênh Than. Tại Kênh Than, có nhánh sông bên trái là sông
Bá Giang. Ngược dòng sông này chừng 5km sẽ tới Kẻ Nê. Cũng cần nhắc lại rằng: Ngay
từ những ngày đầu truyền giáo lên xứ Bắc, các tên như Kẻ Nê, Kẻ Mốt và Kẻ Sặt là những
địa danh được các Thừa Sai biết đến nhiều hơn cả. Đây cũng chính là những nơi các ngài
có thể ẩn náu, dâng lễ và từ đó lên đường truyền giáo tới các khu vực xung quanh. Trong
khi ấy, Lai Xá nằm ở vị trí rất gần với cả ba địa danh này.
Hệ thống hành chính đầu thế kỷ XIX vùng đồng bằng Bắc Bộ được biết là: Trấn – Phủ – Huyện – Tổng –
Xã. Như thế, đơn vị hành chính nhỏ nhất thời bấy giờ là xã. Có xã chỉ có 1 làng hoặc 1 xóm (gọi là nhất xã
nhất thôn) nhưng cũng có xã có nhiều làng hay nhiều xóm. Do đó, làng và xóm khi ấy có thể hiểu theo nghĩa
tương đương nhau. Từ đây cho tới khi Xóm Trại trở thành giáo họ Lai Tê, người viết dùng tên Xóm Trại để
chỉ những người theo Đạo Công Giáo trong xã Lai Xá - (Nv).
37

23


Chương I: Giai Đoạn Sơ Khai (... - 1883)
Có thể tóm lại: Cho dù chưa biết chính thức các thừa sai đến Lai Tê khi nào và bằng
cách nào nhưng với vị trí thuận lợi và không xa các điểm truyền giáo như Kẻ Nê, Kẻ Mốt
và Kẻ Sặt – là những nơi có sự lui tới thường xuyên của các nhà truyền giáo, thiết nghĩ
không ít lần các nhà truyền giáo dừng chân tại Lai Xá trong hành trình của các Ngài. Tuy
nhiên, người ta đã nhắc đến sự có mặt của bà con giáo dân Lai Tê và Thọ Ninh vào năm
1838 khi Cha Vincentê Đỗ Yến chịu tử đạo tại Hải Dương hoặc khi cha Thánh Phêrô
Nguyễn Văn Tự và các bạn bị bắt tại Kẻ Mốt. Đặc biệt, năm 1848, Lai Xá đã dâng hiến
cho Giáo Hội một linh mục là cha Đaminh Cẩm, dòng Ba Đaminh. Như thế, nếu tính theo
dòng họ nhà Thánh Cẩm, ta có thể kết luận chắc chắn rằng đạo Công Giáo đã hiện diện ở
nơi đây từ trước năm 1800. Cũng vậy, nếu tính theo dòng họ cụ Trại (62 tuổi), tử đạo năm
1862, ta cũng có kết luận tương tự.

II. THÁCH ĐỐ THỜI ĐẠI (1833 - 1862)
1. Thời kỳ nhà Nguyễn cấm đạo (1833 - 1862)
Sau khi thống nhất đất nước năm 1802, Nguyễn Ánh xưng vương, hiệu Gia Long, lấy
tên nước là Việt Nam, mở ra thời kỳ mới dưới triều đại nhà Nguyễn. Triều đại này trải dài
143 năm (1802 - 1945) với 16 vị Hoàng Đế. Tuy Bắc Nam thống nhất nhưng những vị vua
đầu tiên còn phải vất vả cực nhọc để an định lòng dân. Họ tìm nhiều cách để bảo vệ và
củng cố quyền bính của mình. Về tôn giáo, nhà Nguyễn chọn độc tôn Tống Nho. Với chính
sách này, mọi tôn giáo khác, kể cả Phật Giáo, đều bị coi là tà đạo, đáng bị tiêu diệt38.
Kể từ ngày 01.6.1833 – 09.5.1862, các vua nhà Nguyễn đã ra biết bao chỉ dụ cấm đạo,
gây thiệt hại nặng nề cho Giáo Hội Việt Nam.
Khởi đầu là chỉ dụ cấm đạo ngày 01.6.1833, áp dụng trong toàn quốc. Nội dung
như sau:
“Trẫm, vua Minh Mạng, phán rằng: Từ nhiều năm nay, những người Tây Dương
đến truyền Đạo Gia Tô, lừa gạt dân chúng. Họ dạy rằng: Có một thiên đàng cực lạc
và hỏa ngục với những hình khổ khủng khiếp. Họ chẳng tôn kính thần phật, cũng
chẳng thờ kính tổ tiên. Đó là một điều vô đạo trầm trọng. Hơn nữa, họ còn xây cất
nhà thờ, tiếp đón đông người, nam nữ lẫn lộn, mê hoặc đàn bà, con gái, họ móc mắt
người bệnh. Thử hỏi còn có gì nghịch luân thường đạo lý hơn chăng?
Năm ngoái, Trẫm đã trừng trị hai làng theo thứ tà đạo ấy, cho thấy rõ ý định của
trẫm chỉ muốn người ta bỏ đường tội ác mà trở về con đường ngay chính. Cho nên,
nay Trẫm quyết định: Tuy đã có nhiều người, vì ngu dốt mà theo tà đạo, nhưng họ
38

Px. Đào Trung Hiệu, Hành Trình Ân Phúc, Chân Lý, 2013, trang 133.

24


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×