Tải bản đầy đủ (.pdf) (196 trang)

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NGHỆ AN THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.31 MB, 196 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NGHỆ AN THEO
HƯỚNG HIỆN ĐẠI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
Ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 9.31.01.02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH LONG
PGS.TS ĐINH TRUNG THÀNH

Hà Nội, 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu
trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Những kết luận khoa học trong
luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận án

Nguyễn Thị Hải Yến

i




DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AEC

:

Cộng đồng kinh tế ASEAN (Asean Economic Community)

BĐKH

:

Biến đổi khí hậu

BVTV

:

Bảo vệ thực vật

CNC

:

Công nghệ cao

CNH, HĐH


:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CDCCKTNN

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

CPTPP

Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình
Dương

DNNN

:

Doanh nghiệp nông nghiệp

FAO

:

Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên Hợp Quốc (The
Food and Agriculture Organization of the United Nations)

FTA

:


Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement)

GAHP

:

Thực hành sản xuất chăn nuôi tốt (Good Animal Husbandry
Practice)

GDP

:

GLOBALGAP :

Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu (Global Good Agricultural
Practice)

GTSX

:

Giá trị sản xuất

HNKTQT

:

Hội nhập kinh tế quốc tế


HTX

:

Hợp tác xã

HTXNN

:

Hợp tác xã nông nghiệp

ICM

Quản lý cây trồng tổng hợp (Integrated Crop Management)

IPM

:

Quản lý dịch hại tổng hợp (Integrated Pest Management)

ISO

:

Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (International Organization for
Standardization)


KHCN

:

Khoa học công nghệ

KHKT

:

Khoa học kỹ thuật

ii


KH&CN

:

Khoa học và công nghệ

KTTT

:

Kinh tế thị trường

KT-XH

:


Kinh tế- xã hội

NSLĐ

:

Năng suất lao động

NNCNC

:

Nông nghiệp công nghệ cao

NNƯDCNC

:

Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

NNHĐ

Nông nghiệp hiện đại

PPP

:

Hình thức hợp tác công tư (Public Private Partnership)


PTNN

:

Phát triển nông nghiệp

PTBV
PTNNTHHĐ

Phát triển bền vững
:

PVS

Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại
Phỏng vấn sâu

SRI

:

Hệ thống canh tác lúa cải tiến (System Rice Intensification)

SXNN

:

Sản xuất nông nghiệp


TCSX

:

Tổ chức sản xuất

UBND

:

Ủy ban nhân dân

VietGAP

:

Thực hành nông nghiệp tốt Việt Nam (Vietnamese Good
Agricultural Practices)

WTO

:

Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)

iii


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI .................................................................................................................................. 9
1.1. Những công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài luận án ...................... 9
1.2. Đánh giá chung các công trình đã nghiên cứu về phát triển nông nghiệp và
khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án .......................................................... 23
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI .................................. 27
2.1. Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại ................................... 27
2.2. Kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại và
bài học rút ra......................................................................................................................... 57
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NGHỆ AN.......... 68
THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI............................................................................................. 68
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển nông nghiệp theo
hướng hiện đại ở Nghệ An .................................................................................................. 68
3.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại ở tỉnh Nghệ An ................. 72
3.3. Những hạn chế và vấn đề đặt ra trong quá trình PTNNTHHĐ ở Nghệ An. ..........113
CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP NGHỆ AN THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ .........................................................................................122
4.1. Bối cảnh quốc tế, trong nước tác động đến quá trình phát triển nông nghiệp Nghệ
An theo hướng hiện đại .....................................................................................................122
4.2. Quan điểm và định hướng phát triển nông nghiệp Nghệ An theo hướng hiện đại128
4.3. Một số giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp Nghệ An theo hướng hiện đại trong
điều kiện HNKTQT ...........................................................................................................133
KẾT LUẬN .......................................................................................................................149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ...............................151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................152
PHỤ LỤC ..........................................................................................................................164


iv


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. So sánh nông nghiệp truyền thống với nông nghiệp hiện đại ..................29
Bảng 2.2. Tiêu chí đánh giá kết quả phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại cấp
tỉnh .............................................................................................................................53
Bảng 3.1. Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Nghệ An giai đoạn
2010 – 2016 (giá thực tế) ..........................................................................................73
Bảng 3.2. Cơ cấu giá trị SXNN theo giá hiện hành phân theo ngành kinh tế...........74
Bảng 3.3. Cơ cấu cây hàng năm theo giá hiện hành .................................................75
Bảng 3.4. Cơ cấu cây lâu năm theo giá hiện hành ....................................................76
Bảng 3.5. So sánh hiệu quả của việc áp dụng KHCN vào sản xuất một số cây trồng,
vật nuôi ở Nghệ An ...................................................................................................86
Bảng 3.6. Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của các DNNN ở Nghệ An ..........95
Bảng 3.7 Đánh giá hiệu quả hoạt động của các mô hình tổ chức sản xuất lúa trên địa
bàn tỉnh Nghệ An ......................................................................................................96
Bảng 3.8. So sánh hiện trạng phát triển nông nghiệp Nghệ An với bộ tiêu chí phát
triển nông nghiệp hiện đại cấp tỉnh .........................................................................102

v


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế (1986), sau hơn 30 năm,
nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đóng vai trò đặc biệt
quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm và thu nhập cho
hơn 70% dân cư. Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đạt khá cao khoảng 5,5%
trong suốt giai đoạn từ 1986 đến 2005 [4]. Từ một nền nông nghiệp sản xuất trì trệ,

yếu kém, hàng năm phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã vươn lên trở thành
một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới về lương thực và hàng nông
sản. Trong tình hình kinh tế thế giới suy giảm, nhờ sự ổn định của nông nghiệp mà
kinh tế Việt Nam vẫn giữ được thế cân bằng. Phát triển nông nghiệp đã góp phần
làm cho nông thôn ngày càng đổi mới, đời sống cư dân nông thôn ngày càng được
cải thiện rõ rệt.
Tuy vậy, những năm gần đây tốc độ tăng trưởng nông nghiệp có xu hướng
giảm, từ 4,7% (năm 2008) xuống 3,16% (năm 2016) [83] và bộc lộ nhiều bất cập
như: (i) Trong nông nghiệp còn phổ biến tập quán canh tác lạc hậu, trình độ dân trí
thấp, lạm dụng hóa chất làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm nguồn nước;
(ii) Phương pháp, năng lực và điều kiện thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp chưa
đồng bộ; (iii) Do đầu tư dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm cho nên không thể tạo
bước đột phá trong phát triển nông nghiệp; (iv) Các mô hình hiện đại hóa nông
nghiệp chưa thực sự hiệu quả; (v) Nhiều chính sách nông nghiệp chưa thực sự phát
huy tác dụng; (vi) Vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển nông nghiệp chưa
được thể hiện rõ… Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng,
nông nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều những trở ngại, thách thức,
bởi trình độ phát triển của nông nghiệp nước ta còn thấp, quy mô sản xuất nhỏ, năng
suất lao động chưa cao, chất lượng nông sản kém đồng đều, chưa an toàn và khả
năng cạnh tranh còn hạn chế ngay cả trên thị trường nội địa. Tăng trưởng nông
nghiệp chững lại trong thập kỷ gần đây đang đặt ra áp lực phải cơ cấu lại và đổi mới
toàn diện nền nông nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững.
Nghệ An là một tỉnh rộng có nhiều tiềm năng và lợi thế của 3 vùng sinh thái:
trung du miền núi, đồng bằng và vùng ven biển, hội tụ những điều kiện cần thiết
1


cho sự phát triển của nông nghiệp. Trong những năm qua, ngành nông nghiệp Nghệ
An đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định. Cùng với việc xây dựng kết
cấu hạ tầng khu vực nông thôn, vấn đề đầu tư phát triển nền nông nghiệp công nghệ

cao gắn với việc hình thành chuỗi liên kết, nâng cao giá trị sản phẩm đã được chú
trọng thực hiện, bước đầu đã hình thành được một số vùng sản xuất hàng hóa gắn
với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, phát triển chăn nuôi tập trung theo hướng trang
trại, gia trại, đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm và thu nhập cho dân cư
nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội….Tuy vậy,
nông nghiệp Nghệ An vẫn không tránh khỏi những tồn tại chung của nền nông
nghiệp đất nước như: sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chưa tạo ra được các chuỗi sản
phẩm có giá trị gia tăng cao; Mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp chủ yếu là
tăng trưởng theo chiều rộng nên hiệu quả và tính bền vững còn hạn chế; Thu nhập
và đời sống của nông dân còn thấp…đang là những thách thức lớn đối với Nghệ An
trong giai đoạn hiện nay.
Với yêu cầu sản xuất nông nghiệp phải đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng nhanh
của người dân với chất lượng tốt hơn, an toàn hơn và trước sức ép cạnh tranh gay
gắt khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, nhất là sau khi Cộng
đồng kinh tế ASEAN (AEC) và Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái
Bình Dương (CPTPP) đi vào hoạt động thì việc phát triển nông nghiệp của tỉnh
Nghệ An theo hướng hiện đại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2015- 2020) cũng đã chỉ rõ:
Phải chuyển đổi cách nghĩ, cách làm, phải phát triển nông nghiệp theo hướng hiện
đại, hiệu quả; Đổi mới quy hoạch, tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hướng quy mô
lớn, có tính cạnh tranh quốc tế, đạt đến hiệu quả cao, đem lại thu nhập cao hơn cho
nông dân.[23]
Từ thực tế đó có thể thấy, việc đánh giá đúng thực trạng hoạt động của nông
nghiệp Nghệ An trong thời gian qua để xây dựng một chiến lược phát triển nông
nghiệp toàn diện, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững là vấn đề có tính
thời sự và cấp thiết cả về lý luận cũng như thực tiễn. Vấn đề đặt ra là phải phát triển
nông nghiệp theo định hướng cụ thể như thế nào? Cơ sở để thực hiện là gì? Cần có
những giải pháp gì để phát triển một nền nông nghiệp mới?... Xuất phát từ những lý
2



do đó, nghiên cứu sinh đã lựa chọn vấn đề: "Phát triển nông nghiệp Nghệ An theo
hướng hiện đại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế" làm đề tài luận án tiến sĩ
kinh tế, chuyên ngành Kinh tế chính trị với mong muốn đóng góp thêm những cơ sở
lý luận và thực tiễn cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp Nghệ An thời gian tới.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc hệ thống hóa cơ sở lý luận chung và khái quát kinh nghiệm thực tiễn
trong việc phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại (PTNNTHHĐ), luận án đi
sâu phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ rõ những vấn đề đặt ra trong quá trình
PTNNTHHĐ ở Nghệ An. Trên cơ sở đó, đề xuất quan điểm, định hướng và những
giải pháp cơ bản nhằm phát triển nông nghiệp Nghệ An theo hướng hiện đại trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT).
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về phát triển nông nghiệp và những kinh
nghiệm thực tiễn trong việc PTNNTHHĐ, xây dựng khung phân tích của luận án.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp ở Nghệ An giai đoạn từ
năm 2010 - 2016, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế tồn tại và các vấn
đề đặt ra cần giải quyết đối với việc phát triển nông nghiệp Nghệ An theo hướng
hiện đại trong những năm tới.
- Xây dựng quan điểm, đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển nông
nghiệp Nghệ An theo hướng hiện đại đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
* Câu hỏi nghiên cứu
Luận án đứng trước những câu hỏi cần được giải mã như sau:
1) Tại sao Nghệ An phải phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại?
2) Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại gồm những nội dung gì? Có
những nhân tố nào ảnh hưởng đến mô hình phát triển đó?
3) Cần có những giải pháp nào để nông nghiệp Nghệ An phát triển theo hướng
hiện đại?

* Khung phân tích của luận án: Trên cơ sở xác định mục đích nghiên cứu,

luận án sẽ giải quyết các nhiệm vụ đặt ra theo sơ đồ khung phân tích như sau:
3


Phát triển nông nghiệp theo
hướng hiện đại

Các nhân tố ảnh hưởng đến
PTNNTHHĐ

Nhân tố khách
quan:
- Điều kiện tự
nhiên
- HNKTQT
- Thị trường
- Cách mạng 4.0
- Nhân tố BĐKH

Nhân tố chủ quan
- Năng lực các
yếu tố đầu vào
(đất, vốn, nhân
lực, kết cấu hạ
tầng)
- Chính sách của
Nhà nước
- Sự đồng thuận

của cộng đồng
- Quá trình xây
dựng NTM

- Quy hoạch các vùng sx tập
trung, vùng NNCNC
- Đẩy mạnh ứng dụng
KHCN, hình thành chuỗi
giá trị sản phẩm.
- Gắn kết thị trường, phát
triển thương mại trong bối
cảnh hội nhập quốc tế
- Đổi mới tổ chức sản xuất
và quản lý theo hướng hiện
đại
- Liên kết chặt chẽ giữa các
chủ thể, trong đó doanh
nghiệp là chủ đạo

Phát triển bền vững

4

Sản phẩm đầu ra
- Năng suất, chất
lượng, hiệu quả
- Giá trị gia tăng
- Tiết kiệm tài
nguyên


Tác động lan tỏa
- Bảo vệ tài
nguyên
- Giải quyết việc
làm
- Ứng phó với
BĐKH
- Kết nối phát
triển

Quan
điểm
Những
vấn đề
đặt ra

Giải
pháp


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự
phát triển ngành nông nghiệp Nghệ An theo hướng hiện đại trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung:
Luận án nghiên cứu, phân tích, luận giải quá trình phát triển nông nghiệp ở
Nghệ An chủ yếu trong giai đoạn 2010 - 2016, trong đó giới hạn bàn về lĩnh vực
trồng trọt và chăn nuôi, tức là tiếp cận khái niệm nông nghiệp theo nghĩa hẹp.

- Phạm vi về không gian:
Luận án tập trung nghiên cứu ngành nông nghiệp thuần ở tỉnh Nghệ An trong
đó chú ý nhiều hơn đến các huyện có hoạt động sản xuất nông nghiệp nổi bật gồm:
Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu, Nghĩa Đàn.
- Phạm vi về thời gian:
Thời gian nghiên cứu được xác định là từ năm 2010 đến năm 2016, giải pháp
đến 2025 và tầm nhìn 2030.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Để thực hiện luận án, tác giả dựa vào:
- Cơ sở phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng (tức là
nghiên cứu đối tượng trên cơ sở các quan điểm lịch sử - cụ thể, nguyên lý phát triển,
nguyên lý về mối liên hệ phổ biến) và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác
- Lênin. Phương pháp luận duy vật lịch sử được cụ thể bằng các quan điểm, đường
lối của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước, của tỉnh Nghệ An về các vấn đề
nông nghiệp, cơ cấu lại ngành nông nghiệp.
- Luận án cũng kế thừa kết quả của một số công trình nghiên cứu đã công bố
có liên quan đến chủ đề nghiên cứu.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận án, tác giả sử dụng hai nhóm phương pháp nghiên cứu chính:
5


- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyế t: phương pháp trừu tượng hóa, lôgic
kết hợp với lịch sử; phương pháp hê ̣ thố ng hóa lý thuyế t; phương pháp phân tích,
tổ ng hơ ̣p.
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học được sử dụng trong luận án với đặc
trưng gạt bỏ những yếu tố cụ thể, đơn lẻ của các hiện tượng và quá trình kinh tế để
đi vào nghiên cứu những vấn đề mang tính phổ biến, có ảnh hưởng đến quá trin
̀ h

phát triển nông nghiệp... Phương pháp này được áp dụng chủ yếu ở chương 2 và
chương 3 để làm rõ các khái niệm, nội dung của nông nghiệp hiện đại và thực trạng
phát triển nông nghiệp ở Nghệ An.
Phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử được sử dụng trong toàn luận án nhưng
nhiều nhất là ở chương 3 nhằm đưa ra những nhận xét, đánh giá sát thực về tình
hình phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại của Nghệ An trên các mă ̣t nội dung
cơ bản, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó.
Phương pháp tâ ̣p hơ ̣p, hệ thống hóa lý thuyết được sử dụng trong tất cả các
chương của luận án, nhằm kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước và
vận dụng một cách phù hợp với mục đích nghiên cứu.
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi đánh giá tác động của các
nhân tố khách quan và chủ quan có ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp ở Nghệ
An. Phương pháp này giúp xem xét mối tương quan giữa các nhân tố như hội nhập
kinh tế quốc tế, biến đổi khí hậu, cách mạng 4.0, thị trường, cơ chế, chính sách…với
phát triển nông nghiệp của tỉnh hiện nay như thế nào. Từ sự phân tích đó kết hợp với
những vấn đề đặt ra sẽ là cơ sở để luận án giải quyết các nhiệm vụ đặt ra trong
chương 4.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp thố ng kê, so sánh;
phương pháp phân tić h mô hiǹ h thực tiễn...
Nhóm phương pháp này được sử dụng trong cả chương 2 và chương 3, đặc
biệt trong phần nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn và đánh giá thực trạng của phát
triển nông nghiệp.
Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Luận án sử dụng các số liệu thứ cấp,
tức là các số liệu thống kê đã công bố từ các nguồn: Tổng cục Thống kê, Cục Thống
kê tỉnh Nghệ An, Uỷ ban nhân dân tỉnh và các sở, ban, ngành của tỉnh Nghệ An...
Trên cơ sở các nguồn số liệu đó, tác giả tiến hành phân tích, tính toán thông qua

6



công cụ là phần mềm Word, Excel trên máy tính. Phương pháp này chủ yếu được sử
dụng trong chương 3.
Ngoài ra, tác giả còn chú trọng phương pháp chuyên gia, tức là tham khảo,
phỏng vấn sâu (PVS) các chuyên gia, các nhà khoa học quan tâm tới nông nghiệp,
các nhà quản lý trong lĩnh vực này nhằm hình thành được đánh giá và cách phân
tích mang tính chuyên môn, từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp có tính khả thi,
thực tiễn.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án có một số đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn sau:
Thứ nhất, luận án góp phần làm rõ hơn các khái niệm: phát triển nông nghiệp,
nông nghiệp hiện đại, đưa ra định nghĩa phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại,
khẳng định tính tất yếu khách quan của sự phát triển này trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế. Tác giả luận án đã phân tích các lý thuyết về phát triển nông nghiệp
từ cách tiếp cận của kinh tế chính trị làm căn cứ xây dựng những nội dung của phát
triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, phân tích các nhân tố ảnh hưởng và thiết lập
tiêu chí đánh giá đối với mô hình tăng trưởng này ở cấp độ địa phương. Trên cơ sở
đánh giá thực tiễn hoạt động nông nghiệp của một số điển hình trong nước và quốc
tế, luận án cũng đã rút ra những bài học kinh nghiệm hữu ích cho quá trình phát
triển nông nghiệp theo hướng hiện đại ở Nghệ An hiện nay
Thứ hai, từ việc đánh giá đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh, luận
án đã tập trung phân tích, làm rõ thực trạng về phát triển nông nghiệp Nghệ An giai
đoạn 2010- 2016, lựa chọn phân tích một số nhân tố cơ bản ảnh hưởng và xác định
được những vấn đề đặt ra cần giải quyết để phát triển nông nghiệp theo hướng hiện
đại trong thời gian tới.
Thứ ba, dựa trên việc phân tích về tác động của bối cảnh quốc tế, trong nước,
luận án nêu quan điểm, định hướng và xây dựng hệ thống giải pháp nhằm phát triển
nông nghiệp Nghệ An theo hướng hiện đại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế,
cụ thể là giai đoạn trước mắt từ nay đến năm 2025.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận án đã tập trung luận giải những vấn đề lý luận về PTNNTHHĐ làm cơ
sở cho nghiên cứu về nội dung này ở tỉnh Nghệ An một cách có hệ thống bao gồm:

7


khái niệm, tính tất yếu, nội dung, tiêu chí đánh giá về phát triển nông nghiệp theo
hướng hiện đại. Đồng thời, luận án cũng đã phân tích kỹ tác động của các nhân tố
liên quan đến quá trình phát triển nông nghiệp hiện đại, từ đó có cơ sở để xây dựng
hệ thống giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp ở địa phương.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án nghiên cứu thực tiễn phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ
An trong điều kiện HNKTQTQ, gắn với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn và xây dựng nông thôn mới, đồng thời còn có sự tác động sâu sắc của biến đổi
khí hậu. Nghệ An vốn là tỉnh nông nghiệp và đa số dân cư tập trung ở địa bàn nông
thôn nên định hướng, mục tiêu phát triển nền nông nghiệp toàn diện theo hướng
hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đã trở nên có ý nghĩa thực
tiễn hết sức to lớn.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
được kết cấu gồm 4 chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 2. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nông nghiệp
theo hướng hiện đại
Chương 3. Thực trạng phát triển nông nghiệp Nghệ An theo hướng hiện đại
Chương 4. Định hướng và giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp Nghệ An
theo hướng hiện đại trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

8



CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Nông nghiệp vốn là một bộ phận cấu thành hết sức quan trọng của nền kinh tế
quốc dân. Đây là lĩnh vực sản xuất ra sản phẩm tất yếu để xã hội tồn tại, phát triển
nhưng lại có những nét đặc thù gắn với các đối tượng cây, con và bị chi phối bởi
quy luật sinh học, chịu ảnh hưởng trực tiếp và dựa vào các điều kiện ngoại cảnh (đất
đai, thời tiết, khí hậu) để phát triển. Chủ đề nông nghiệp và phát triển nông nghiệp
(PTNN) vì thế mà từ lâu đã là mối quan tâm lớn trong giới nghiên cứu và học thuật,
nhất là trong các mô hình phát triển kinh tế của các nước chậm phát triển hiện đang
tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH).
1.1. Những công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài luận án
1.1.1. Các nghiên cứu về phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu lý luận về phát triển nông nghiệp và vấn đề
CNH, HĐH nông nghiệp
Tiếp cận từ vai trò của nông nghiệp, đã có nhiều nghiên cứu của các cá nhân
và tổ chức quan tâm đến vấn đề này. Mellor và Johnston trong“The Role of
Agriculture in Economic Development” (Vai trò của nông nghiệp trong phát triển
kinh tế) [63,tr 9] đã coi nông nghiệp chính là cơ sở, là tiền đề của quá trình CNH.
Các tác giả cho rằng, việc xây dựng một nền nông nghiệp vững mạnh và năng động
sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy công nghiệp phát triển và đưa tới sự tăng trưởng
của toàn bộ nền kinh tế. Theo các hai học giả, nông nghiệp có 5 vai trò quan trọng:
(1) Cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu trong nước; (2) Xuất khẩu nông
sản để thu ngoại tệ; (3) Tạo nguồn lao động cho khu vực công nghiệp; (4) Mở rộng
thị trường nội địa cho sản phẩm công nghiệp; (5) Tăng nguồn tiết kiệm để tạo vốn
cho phát triển công nghiệp.
Tổ chức FAO (1992) trong “World Food Dry” [122] chỉ ra rằng: Phát triển
nông nghiệp (PTNN) là điều kiện, phương tiện để nền kinh tế đạt được sự bền vững.
Điều này được thể hiện: (i) Trong các chu kỳ khủng hoảng kinh tế, tài chính, nông
nghiệp ít bị tác động nên nếu ngành này tăng trưởng cao sẽ giúp nền kinh tế vượt


9


qua được khủng hoảng, tạo điều kiện phục hồi kinh tế nhanh hơn; (ii) Phát triển
nông nghiệp giúp ổn định về mặt xã hội khi đời sống con người được đảm bảo: nhờ
tăng sản lượng lương thực và tăng thu nhập của người dân ở nông thôn nên tỷ lệ đói
nghèo sẽ giảm, còn ở thành thị người lao động sẽ có cơ hội tiêu dùng tối ưu hơn do
giá nông sản đã giảm xuống; (iii) Phát triển nông nghiệp còn làm chậm quá trình
biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu. Quá trình PTNN gắn với bảo vệ môi trường, bởi
môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực quan trọng của SXNN.
Chung cách tiếp cận này, World Bank trong cuốn “Tăng cường cho phát triển
nông nghiệp”(2007) [137] đã cho rằng PTNN là điều kiện sống còn để đạt mục tiêu
Thiên niên kỷ (Phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo). Bởi nông nghiệp khi
kết hợp với các ngành khác sẽ đưa đến nhiều lợi ích: Một là, nông nghiệp tăng
trưởng sẽ cung cấp cơ hội đầu tư cho khu vực tư nhân và tạo động lực chính cho các
ngành công nghiệp, dịch vụ liên quan đến nông nghiệp. Hai là, nông nghiệp là một
sinh kế bởi ngành kinh tế này tạo việc làm cho 1,3 tỉ hộ tiểu nông. Sự tăng trưởng
nông nghiệp đã trở thành cơ sở để thực hiện nhiều mục tiêu KT- XH ở các quốc gia.
Ba là, thông qua thực tiễn SXNN sẽ phát triển các dịch vụ về môi trường. Bởi chính
những hoạt động trong nông nghiệp là tác nhân không nhỏ làm ảnh hưởng đến chất
lượng môi trường như việc làm suy kiệt nguồn nước ngầm, ô nhiễm hóa chất nông
nghiệp, bạc màu đất và BĐKH toàn cầu. Đồng thời nông nghiệp cũng là ngành trực
tiếp chịu ảnh hưởng bất lợi từ những hiệu ứng không mong muốn mà môi trường
đưa đến.
Như vậy, điểm nổi bật trong các nghiên cứu trên là đều nhấn mạnh vai trò đặc
biệt quan trọng của nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa nói riêng và trong
sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Các quan điểm này còn cho rằng, PTNN cần
phải đặt trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu; Yếu tố cạnh tranh cần được chú
trọng và tăng cường trên cơ sở nâng cao năng suất lao động; Nâng cao tính tự chủ

của nông dân trong quá trình ra quyết định sản xuất; Đảm bảo chuyển dần nông
nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại; Kết hợp phát triển công nghiệp gắn
với nông nghiệp và các ngành công nghiệp khác. Đối với nghiên cứu sinh, những lý
luận đề cập trong các công trình này rất có giá trị. Bởi nó cho thấy quan điểm rằng,
10


bên cạnh việc đầu tư phát triển cho các ngành kinh tế nhất là nông nghiệp thì yếu tố
xã hội không hề bị bỏ qua mà trái lại những nghiên cứu trên rất chú trọng tới mục
tiêu PTBV, nghĩa là hướng tới lợi ích xã hội lâu dài, cho con người, vì con người.
Từ góc độ tiếp cận kinh tế chính trị của luận án, những tư tưởng đó thật sự là định
hướng có ý nghĩa.
Ở giác độ khác, khi nghiên cứu các vấn đề phát triển nông nghiệp, nông dân,
nông thôn trong quá trình CNH, các tác giả Nguyễn Kế Tuấn, Mai Ngọc Cường,
Nguyễn Danh Sơn đã khẳng định CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn chính là
trọng tâm của sự nghiệp CNH đất nước. Cuốn "Phát triển đất nước thành nước
công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN" [87] do tác giả Nguyễn Kế Tuấn chủ
biên, đã nêu bật những vấn đề lý luận cơ bản về nước công nghiệp hiện đại theo
định hướng XHCN. Các tác giả cho rằng, trong mọi giai đoạn, nông nghiệp vẫn là
ngành kinh tế không thể thay thế; CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, phát triển
nông nghiệp theo hướng hiện đại vẫn luôn phải được đặt trọng tâm trong chiến lược
CNH, HĐH đất nước. Điều này không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa
chính trị- xã hội sâu sắc. Với lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới và tài nguyên
sinh học đa dạng, khả năng xác lập vị thế của một số loại nông sản trên thị trường
trong nước và quốc tế, định hướng chung của ngành là phát triển nông nghiệp toàn
diện, thâm canh theo hướng hiện đại với năng suất, chất lượng hiệu quả, khả năng
cạnh tranh cao và bảo đảm yêu cầu bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường.
Tác giả Nguyễn Danh Sơn (chủ biên) trong cuốn: “Nông nghiệp, nông dân,
nông thôn Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại hoá”
[67] đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận chung của bước chuyển biến từ một nước

nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp hiện đại, đồng thời rút ra các kinh
nghiệm của quốc tế về giải quyết vấn đề nông nghiệp trong quá trình phát triển đất
nước theo hướng hiện đại, trên cơ sở đó, tác giả đã tổng kết lý luận và thực tiễn về
vấn đề tam nông ở Việt Nam. Tác giả cũng đã chỉ rõ định hướng là: CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn không chỉ nhằm mục đích tự thân mà còn là mục tiêu chính,
cơ bản cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn…

11


1.1.1.2. Các nghiên cứu về thực tiễn phát triển nông nghiệp
Khi bàn về triển vọng của kinh tế nông nghiệp, nghiên cứu: “Agriculture in
the Global Economy” (Nông nghiệp trong nền kinh tế toàn cầu) của Julian M.Alston
[128] đã phân tích một số mô hình cụ thể, chẳng hạn nước Mỹ- nền kinh tế số 1 thế
giới, có thu nhập cao với tỉ trọng của ngành dịch vụ, công nghiệp chiếm ưu thế
trong tổng sản phẩm quốc nội, còn sản lượng của nông nghiệp thì suy giảm. Trong
khi đó, các nước đang phát triển như Ấn Độ, Brazil, Trung Quốc thì tỷ trọng của
ngành nông nghiệp lại có sự gia tăng. Các tác giả đã đi sâu phân tích các mô hình
tăng trưởng nông nghiệp từ yếu tố đầu vào ở các nước, đề xuất định hướng phải
chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp mới giải quyết được các vấn đề KT-XH ở
nông thôn trong đó chú ý nhiều đến nhu cầu của những người nghèo.
Cũng gần quan điểm đó, tức là tiếp cận vấn đề từ góc độ lợi ích của các
nhóm, Max Spoor trong cuốn: “Agricultural Restructuring and Trends in Rural
Inequalities in Central Asia: A Socio-Statistical Survey” (Tái cấu trúc nông
nghiệp và xu hướng bất bình đẳng nông thôn ở khu vực trung tâm châu Á: khảo
sát thống kê xã hội học) [131] đã phân tích sự phát triển của các mô hình cấu
trúc nông nghiệp và xã hội dân sự ở các nước chuyển đổi, cụ thể là trường hợp
một số nước ở Trung Á. Trong tác phẩm này, tác giả bàn nhiều đến vấn đề tái
cơ cấu nông nghiệp và xu hướng bất bình đẳng nông thôn, trong đó đưa ra kết
luận rằng việc tái cấu trúc nông nghiệp có liên quan đến sự bất bình đẳng giữa

các nhóm dân cư ở nông thôn và đề cập đến vai trò của xã hội dân sự ở các
nước này.
Đối với mảng kinh nghiệm phát triển nông nghiệp, đáng chú ý là các nghiên
cứu của Csaba Csaki và Zvi Lerman, J.Brooks, FAO. Csaba Csaki và Zvi Lerman
trong tác phẩm "Structural change in the farming sector in central and Eastern
Europe- Lesson for EU Accession" (Thay đổi cơ cấu nông nghiệp ở Trung và Đông
Âu- Bài học cho các nước mới gia nhập Liên minh châu Âu)[120] đã làm rõ các nội
dung: (1) Phát triển các cấu trúc trang trại và nâng cao năng lực cạnh tranh trong
nông nghiệp; (2) Luật đất đai và cơ chế quản lý thị trường đất đai và tái cơ cấu nông
trại; (3) Đẩy mạnh các dịch vụ nông nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh của
12


nông sản... Từ thực tiễn kinh tế ở các nước Trung và Đông Âu, cuốn sách đã cung
cấp hàm ý chính sách trong quản lý nông nghiệp đối với các nước và Việt Nam
hoàn toàn có thể tham khảo, vận dụng.
Nghiên cứu “Agricultural Policy Choices in Developing Countries” (Lựa
chọn chính sách phát triển nông nghiệp của các nước trong khối OECD) [129] của
tác giả Jonnathan Brooks đã chỉ ra rằng quá trình tái cơ cấu nông nghiệp làm tỷ
trọng đóng góp của ngành này vào GDP có xu hướng giảm nhưng lại tăng lên về
mặt giá trị. Theo đó, cơ cấu lao động trong nông nghiệp cũng thay đổi theo chiều
hướng giảm nhưng thu nhập đầu người tăng lên. Trên cơ sở nghiên cứu các mô hình
nông nghiệp điển hình ở châu Á, chẳng hạn ở Thái Lan, tác giả nhận định: Tái cơ
cấu nông nghiệp và phát triển nông nghiệp là một quá trình được định hướng bởi thị
trường và chính thị trường thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, thể
hiện ở các khía cạnh căn bản như: Đẩy mạnh ứng dụng KHKT trong sản xuất; Thay
đổi về tổ chức, quản lý. Dưới sự định hướng của thị trường, các tác nhân tham gia
chuỗi phải tìm cách điều chỉnh hành vi kinh tế của mình sao cho hiệu quả nhất.
Một nghiên cứu của FAO là "Rapid growth of selected Asian economies
lesson and implications for agriculture and food security China and India" (Bài học

tăng trưởng nhanh của các nền kinh tế tiêu biểu ở châu Á và ý nghĩa đối với SXNN
và an ninh lương thực ở Trung Quốc và Ấn Độ) [124], đã chỉ ra rằng việc phát triển
kinh tế của một quốc gia được bắt đầu với sự phát triển của ngành nông nghiệp, quá
trình đó được thúc đẩy bởi nhu cầu thị trường. Một trong những nội dung quan
trọng của tái cơ cấu nông nghiệp là vấn đề đa dạng hóa hoạt động sản xuất kinh
doanh trong ngành để đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của thị trường nói chung.
Nghiên cứu đã đưa ra các trường hợp cụ thể như Trung Quốc, Ấn Độ và một số
nước khác ở châu Á để minh chứng cho những phân tích đó.
Ở trong nước, khi đề cập đến các vấn đề thực tiễn nông nghiệp, đã có các tác
giả như Đỗ Kim Chung, Đặng Kim Sơn, Nguyễn Thị Tố Quyên… bàn về mô hình
tăng trưởng mới cũng như xu hướng phát triển của ngành nông nghiệp trong bối cảnh
lịch sử có nhiều thay đổi đưa đến cả những thuận lợi lẫn khó khăn, thách thức.
Nghiên cứu "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế
13


mới giai đoạn 2011-2020”[63] của tác giả Nguyễn Thị Tố Quyên cho rằng: Trong
bối cảnh mới - bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với
nhiều nhân tố xuất hiện và nhiều vấn đề nảy sinh (khủng hoảng kinh tế, biến đổi khí
hậu, an sinh xã hội không được đảm bảo…) thì cần nhìn nhận, đánh giá lại nông
nghiệp, nông dân, nông thôn. Trên cơ sở xác định vị trí, nhấn mạnh vai trò của tam
nông, tác giả đã nêu lên cơ hội và thách thức, đồng thời đề xuất những chính sách giải
quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong mô hình tăng trưởng kinh tế
mới. Với chủ đề phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại trong bối cảnh HNKTQT
thì những nội dung trình bày trong cuốn sách là những gợi ý giá trị đối với việc giải
quyết nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.
Trong cuốn "Tái cơ cấu nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng giá trị gia tăng
cao”[66] tác giả Đặng Kim Sơn đã đánh giá những kinh nghiệm quốc tế về PTNN
giá trị cao và những mô hình tổ chức sản xuất (TCSX) nông nghiệp thành công
trong nước, từ đó chỉ rõ bối cảnh tương lai đối với SXNN có nhiều thách thức và

khó khăn như: khả năng cạnh tranh thấp, các nguồn lực cho tăng trưởng nông
nghiệp có xu hướng suy giảm, cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp còn yếu kém, thể
chế kinh tế nông thôn chậm đổi mới, kết cấu sản xuất hiệu quả thấp… Vì vậy, khi
đề xuất một nền nông nghiệp mới, tác giả đã đưa ra định hướng nâng cao giá trị gia
tăng trong nông nghiệp và thực hiện tái cấu trúc ngành nông nghiệp theo hướng
phát huy lợi thế cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
Nghiên cứu “Nông nghiệp Việt Nam: Những thách thức và một số định hướng
cho phát triển bền vững" của Đỗ Kim Chung, Kim Thị Dung [11] đã đánh giá về tầm
quan trọng của nông nghiệp Việt Nam như tạo ra sinh kế cho 68,2% dân số, đóng góp
22% GDP và 23% giá trị xuất khẩu của quốc gia. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, lao
động tham gia vào nông nghiệp và dân số tập trung ở khu vực nông thôn vẫn chiếm tỉ
lệ lớn nhưng quỹ đất cho nông nghiệp ngày càng giảm, năng lực cạnh tranh của nhiều
nông sản còn thấp, lượng vốn đầu tư vào nông nghiệp thấp. Thêm vào đó, những năm
qua nông nghiệp chưa thật sự đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, sự chênh lệch
giữa các vùng và các nhóm cư dân ngày một tăng, kèm theo đó là sự tác động bất lợi
của điều kiện tự nhiên do BĐKH đang là những thách thức lớn đối với việc phát triển
14


nông nghiệp ở nước ta. Chính vì thế, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp về quy
hoạch, giải pháp đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao và phát triển chuỗi giá trị, xây
dựng thương hiệu nông sản, gắn phát triển nông nghiệp với bảo vệ môi trường để ứng
phó kịp thời với biến đổi khí hậu… với mục đích phát triển nền nông nghiệp một
cách bền vững.
1.1.1.3. Các nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp hiện đại
Theo cách tiếp cận này, các nghiên cứu đã đề cao vai trò của các tác nhân trụ
cột trong chuỗi, trong đó xác định doanh nghiệp là hạt nhân chính có tính trung tâm
lãnh đạo chuỗi. Do vậy, nếu doanh nghiệp đủ khả năng kết nối trong sản xuất sẽ là
một nhân tố thúc đẩy tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển nông nghiệp đạt hiệu quả
cụ thể. Các nhà nghiên cứu Stamm & Christian trong nghiên cứu “ILO Value Chain

Development: Approaches and activities by seven UN agencies and opportunities for
interagency cooperation” (Phát triển chuỗi giá trị ILO: Phương pháp tiếp cận và các
hoạt động của bảy cơ quan Liên hợp quốc và các cơ hội cho sự phát triển liên
ngành) [133], cho rằng: Doanh nghiệp tư nhân đặc biệt là các doanh nghiệp chế
biến và phân phối đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc kết nối và dẫn dắt
người nông dân sản xuất nhỏ lẻ, quy mô nhỏ tham gia vào chuỗi giá trị nông sản.
Nghiên cứu “Agricultural Value Chains in Developing Countries”(Các chuỗi
giá trị nông nghiệp ở các nước đang phát triển) [135] của tác giả Trieneken Jacques
H đã nói về thực trạng yếu của chuỗi giá trị hàng nông sản ở các nước đang phát
triển. Theo tác giả, các nền nông nghiệp phải từng bước tìm cách cải thiện vị trí của
mình trong chuỗi giá trị nông sản toàn cầu và tham gia vào những công đoạn tạo ra
giá trị gia tăng cao, cụ thể là các khâu nghiên cứu, phát triển, chế biến, phân phối và
tiêu thụ sản phẩm một cách hiệu quả trên cơ sở dựa vào sản phẩm đặc thù của từng
vùng hay là những sản phẩm có lợi thế so sánh
Theo hướng đó, trong "The strategic role of the private sector in agriculture
and rural development" (Vai trò chiến lược của khu vực tư nhân trong nông nghiệp
và phát triển nông thôn) of Global Donor Platform for Rural Development [125] đã
nhấn mạnh vai trò hết sức quan trọng của các doanh nghiệp tư nhân đối với sự phát
triển của nông nghiệp và nông thôn. Nghiên cứu đã cho rằng, khu vực tư nhân chính
là trụ cột để có sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp. Từ đó, đưa ra các

15


chính sách cụ thể hỗ trợ hoạt động cho khu vực tư nhân, nâng cao hiệu quả và vai
trò chiến lược của khu vực này trong phát triển nông nghiệp và nông thôn
Ở một hình thức khác, để phát huy vai trò của các tác nhân trong chuỗi, tác giả
Trần Đại Nghĩa trong “Liên kết nông dân doanh nghiệp trong sản xuất nông nghiệp
theo hướng hàng hóa quy mô lớn tại Việt Nam” [55] từ việc phân tích xu hướng
phát triển của nông nghiệp hiện nay là SXHH tập trung, quy mô lớn đã cho rằng

việc liên kết nông dân với doanh nghiệp trong các khâu của quá trình sản xuất là
một yêu cầu mang tính tất yếu. Tác giả cũng đã phân tích các hình thức liên kết, có
lưu ý riêng cho một số trường hợp cụ thể, trên cơ sở đó khẳng định rằng, mối liên
kết này chắc chắn mang lại lợi ích cho cả hai bên, và hơn cả là sẽ giúp cho việc sản
xuất tiết kiệm được chi phí, gia tăng năng suất và chất lượng, từ đó ngành nông
nghiệp sẽ tăng giá trị, tăng lợi nhuận và PTBV.
Bên cạnh nhóm công trình tập trung nhiều vào các nhân tố bên trong của quá
trình phát triển nông nghiệp, các yếu tố về chính sách, cơ chế cũng thu hút sự quan
tâm của nhiều học giả. Tác giả Đoàn Xuân Thủy trong cuốn "Chính sách hỗ trợ sản
xuất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay" [82] đã phân tích, đánh giá mức độ phù hợp
của các chính sách hỗ trợ SXNN ở nước ta thời gian qua so với yêu cầu của thông lệ
quốc tế, đặc biệt là các quy định của WTO. Sách trình bày những nội dung lý luận
và thực tiễn của chính sách hỗ trợ SXNN và trên cơ sở đó luận án tham chiếu việc
thực hiện nội dung này ở Nghệ An như thế nào, từ đó vận dụng các nhóm giải pháp
nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ SXNN theo hướng vừa phù hợp với các
cam kết quốc tế, vừa thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp hiện đại, tạo cơ sở bền
vững cho việc giải quyết vấn đề nông dân và nông thôn trong thời gian tới.
Các tác giả Vũ Văn Phúc và Trần Thị Minh Châu trong "Chính sách hỗ trợ
của Nhà nước ta đối với nông dân trong điều kiện hội nhập WTO" [59] từ việc đi
sâu phân tích cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn và thực trạng chính sách hỗ trợ
nông dân của Nhà nước ta trong điều kiện hội nhập WTO, đã khẳng định rằng:
trong điều kiện đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là trong bối cảnh
thực hiện thương mại theo quy định của WTO, nông nghiệp, nông dân Việt Nam
gặp phải không ít khó khăn, nếu không có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước thì khó có thể
vượt qua. Vì vậy, vấn đề xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông
thôn và nông dân phù hợp với điều kiện của đất nước và tương thích với các quy

16



định của WTO thực sự cần thiết và cấp bách. Từ quan điểm đó, các tác giả đã đề
xuất một số giải pháp đổi mới chính sách để giúp nông dân Việt Nam vững bước
tiến vào thị trường thế giới.
Nghiên cứu "Phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam" của
Phạm Văn Hùng, Sally P.Marsh, T. Gordon MacAulay [37] đã cho thấy việc chia
nhỏ đất đai một mặt phát huy được tính tự chủ của nông dân, giúp gia tăng sản
lượng, mặt khác chính việc chia nhỏ đất đai lại làm cản trở các ứng dụng cơ giới
hóa, hiện đại hóa vào đồng ruộng và chính điều đó lại làm chậm lại quá trình
PTNNTHHĐ.
1.1.1.4. Các nghiên cứu liên quan đến nông nghiệp công nghệ cao- một tiêu chí của
nền nông nghiệp hiện đại
Khi nói về nền nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, một trong các tiêu
chí nhận dạng đó là nền nông nghiệp dựa trên nền tảng khoa học công nghệ hiện đại
mà nhất là công nghệ cao. Hiện nay trên thế giới có nhiều cách gọi khác nhau về
nông nghiệp công nghệ cao (High-Technical Agriculture) để phân biệt với nông
nghiệp truyền thống như: Nông nghiệp năng suất cao (Productive Agriculture);
Nông nghiệp sinh học, hữu cơ, sinh thái (Biological, Organic, Ecological
Agriculture) [34].
Đề án "Phát triển NNƯDCNC đến năm 2020" của Thủ tướng chính phủ theo
Quyết định số 176/QĐ-TTg [76] đưa ra quan điểm phát triển NNƯDCNC phải gắn
liền với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và phát triển NNCNC phải
khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn lực trong nước, tiếp thu có chọn lọc thành tựu
công nghệ cao của thế giới để làm chủ khoa học hiện đại, công nghệ tiên tiến trong
nông nghiệp
Tác giả Nguyễn Văn Tuất với bài viết "Phát triển ứng dụng công nghệ cao
trong nông nghiệp phục vụ tăng trưởng xanh và tái cơ cấu ngành nông nghiệp" [89]
đã chỉ ra công nghệ sinh học là một trong những lĩnh vực công nghệ cao được các
nước trên thế giới đầu tư, phát triển như Israel, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc...
và đã mang lại những sản phẩm chất lượng tốt, hiệu quả kinh tế cao. Điều đó cho
thấy việc mở rộng hợp tác quan hệ quốc tế là điều kiện giúp Việt Nam tiếp cận và

tiếp thu những kết quả nghiên cứu thành công đó vào quá trình PTNN một cách

17


hiệu quả, nhưng đồng thời đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải ƯDCNC trong SXNN
một cách có quy mô và hệ thống.
Trên cơ sở phân tích sự phát triển của ngành nông nghiệp qua các thời kỳ, các
tác giả Trần Đức Viên và Nguyễn Việt Long trong bài "Hướng tới nền nông nghiệp
công nghệ cao và xây dựng nông thôn tri thức trong tiến trình tái cơ cấu ngành
nông nghiệp Việt Nam"[93] khẳng định: Tổ chức lại SXNN theo hướng gắn với
chuỗi giá trị toàn cầu mà điểm tựa của công cuộc tái cơ cấu ấy là KHCN cao. Từ
việc phân tích các nhân tố cơ bản như công nghệ cao, tri thức kỹ thuật và thể chế thị
trường có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển nông nghiệp hiện đại, các tác giả
đã chỉ ra một số việc cần làm trước mắt nhằm thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp một
cách hiệu quả.
Bài viết "Nông nghiệp công nghệ cao: Đôi dòng suy nghĩ!" của tác giả
Nguyễn Thơ [75] lại cho rằng tùy theo đối tượng sản xuất, không nhất thiết lúc nào
cũng phải sản xuất bằng công nghệ sinh học hiện đại và sản xuất NNCNC chỉ thành
công trong những mô hình của những doanh nghiệp, trang trại, hợp tác xã có sự ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của các nhà khoa học dưới sự hỗ trợ của Nhà nước.
Tác giả cũng đưa ra các tiêu chí về nền NNCNC, cung cấp thêm cơ sở thực tiễn cho
hoạt động nông nghiệp ở các địa phương trong giai đoạn hiện nay.
Có thể thấy từ các nghiên cứu trên vai trò của KHCN trong phát triển nông
nghiệp là rất quan trọng. Chính nhờ đó đã đem lại hiệu quả cao trong việc sử dụng
các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, đất đai, giống, phân bón…góp phần làm tăng
năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra và bảo vệ tài nguyên, hạn chế được
những rủi ro thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, từ đó sẽ đẩy nhanh quá trình
phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại.
1.1.2. Các nghiên cứu về phát triển nông nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế

quốc tế
Ở mảng nghiên cứu này, có thể chia các công trình thành hai nhóm. Nhóm thứ
nhất là hệ thống các văn bản, chính sách của Nhà nước nhằm hướng dẫn quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế của ngành nông nghiệp, đồng thời đánh giá kết quả của quá
trình đó. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong khuôn khổ của Chương
trình Hỗ trợ kỹ thuật hậu gia nhập WTO đã triển khai dự án “Đánh giá tác động
của việc thực hiện các cam kết WTO và khu vực đối với ngành nông nghiệp và phát

18


triển nông thôn” triển khai từ 8/2012 đến 9/2013 [5]. Dự án đã phân tích, đánh giá
tác động của hội nhập đến hiệu quả hoạt động một số ngành hàng nông sản, nhất là
mức độ nhạy cảm của một số ngành hàng nông sản của Việt Nam trước các cú sốc
bên ngoài; Đồng thời nghiên cứu, đánh giá các vấn đề sinh kế, giảm nghèo và doanh
nghiệp nông nghiệp trong quá trình hội nhập. Để minh chứng cho việc đánh giá tác
động, dự án đã lựa chọn ba ngành hàng điển hình là cá tra, sữa và đường để phân
tích và dùng các mô hình mô phỏng để đánh giá việc thực hiện các cam kết WTO
và khu vực, trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị chính sách. Dù vậy, dự án chưa đề
cập đến các giải pháp cần có để phát huy lợi thế và khắc phục những hạn chế trong
quá trình HNKTQT của lĩnh vực nông nghiệp.
Bộ Công thương, trong khuôn khổ của “Dự án Hỗ trợ Thương mại đa biên MUTRAP”, đã có báo cáo “Tác động của cam kết mở cửa thị trường trong WTO và
các Hiệp định khu vực Thương mại tự do (FTA) đến hoạt động sản xuất, thương
mại của Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện cơ chế điều hành xuất nhập khẩu
giai đoạn 2011-2015”[2]. Dự án đã đánh giá tác động sau 3 năm kinh tế Việt Nam
hội nhập WTO, trong đó có phần về nông nghiệp. Điểm chú ý trong báo cáo là khi
xét đến năng lực cạnh tranh của các ngành hàng, phương pháp được sử dụng phổ
biến để phân loại cấp độ cạnh tranh của từng ngành hàng cụ thể, phân loại những
ngành hàng có sức cạnh tranh và không có sức cạnh tranh, dựa trên chỉ số lợi thế so
sánh RCA. Chỉ số RCA của một ngành nào đó càng lớn, mức độ chuyên môn hóa

của ngành hàng đó trong nền kinh tế cao so với thế giới thể hiện rằng lợi thế so sánh
của ngành hàng đó mạnh hơn. Chính vì vậy, chỉ số RCA qua thời gian sẽ cung cấp
những thông tin về sự thay đổi lợi thế so sánh của một ngành hàng trong nền kinh tế
và sự cải thiện trong cơ cấu xuất khẩu.
Nhóm thứ hai, bàn về những khả năng trong quá trình HNKTQT của ngành
nông nghiệp. Tác giả Nguyễn Vĩnh Thanh, Lê Sĩ Thọ trong "Nông nghiệp Việt Nam
sau khi gia nhập WTO - Thời cơ và thách thức" [72] đã nêu vị trí và vai trò quan
trọng của nông nghiệp trong sự phát triển KT-XH và thấy rằng trong thời đại ngày
nay, hội nhập kinh tế quốc tế về nông nghiệp là xu hướng khách quan. Sách nêu lên
những kinh nghiệm của một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Đài
Loan của về việc PTNN trong điều kiện thực hiện các cam kết WTO, từ đó rút ra
bài học cho Việt Nam là: Cần đánh giá đúng mức độ tác động của việc gia nhập

19


Xem Thêm

×