Tải bản đầy đủ

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƢỜI CAO TUỔI THUỘC HỘ NGHÈO TỪ THỰC TIỄN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG PHƢƠNG LIÊN

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE
NGƢỜI CAO TUỔI THUỘC HỘ NGHÈO TỪ THỰC TIỄN HUYỆN
YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG

Ngành: Công tác Xã hội
Mã số: 8 76 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM TIẾN NAM

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Tiến Nam.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
hoàn toàn trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

HỌC VIÊN

Đặng Phƣơng Liên


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƢỜI CAO TUỔI THUỘC HỘ NGHÈO 12
1.1.

Một số khái niệm, đặc điểm tâm lý người cao tuổi thuộc hộ nghèo ...................12

1.2.

Một số lý luận về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao

tuổi thuộc hộ nghèo .......................................................................................................15
1.3.

Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe

người cao tuổi thuộc hộ nghèo ......................................................................................21
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM
SÓC SỨC KHỎE NGƢỜI CAO TUỔI THUỘC HỘ NGHÈO TẠI HUYỆN YÊN
MINH, TỈNH HÀ GIANG ..........................................................................................25
2.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu ..................................25
2.2 Thực trạng về sức khỏe và nhu cầu của người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn
huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang ...................................................................................30
2.3. Dịch vụ Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo
đang triển khai tại huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. ....................................................34
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người


cao tuổi thuộc hộ nghèo tại huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang .......................................48
Chƣơng 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỊCH VỤ CÔNG
TÁC XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƢỜI CAO TUỔI THUỘC
HỘ NGHÈO TỪ THỰC TIỄN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG ...........59
3.1. Quan điểm, chiến lược về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi hiện nay.................59
3.2. Các nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội
trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo .............................................61
KẾT LUẬN ..................................................................................................................67


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT

Chữ viết tắt

Nội dung

1

CTXH

Công tác xã hội

2

CSSK

Chăm sóc sức khỏe

3

CTV CTXH

Cộng tác viên Công tác xã hội

4

DVCTXH

Dịch vụ Công tác xã hội

5

LĐTB-XH

Lao động – Thương binh – Xã hội

6

NVCTXH

Nhân viên Công tác xã hội

7

NCT

Người cao tuổi

8

NCTTHN

Người cao tuổi thuộc Hộ nghèo


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Tổng quan khách thể nghiên cứu ..............................................................27
Biểu đồ 2.2. Vấn đề tâm lý của người cao tuổi thuộc hộ nghèo ...................................30
Biểu đồ 2.3. Thực trạng sức khỏe thể chất của người cao tuổi thuộc hộ nghèo ...........31
Biểu đồ 2.4. Thực trạng sức khỏe xã hội của người cao tuổi thuộc hộ nghèo ..............31
Biểu đồ 2.5. Nhu cầu của người cao tuổi thuộc hộ nghèo ............................................32
Bảng 2.2. Nội dung tuyên truyền nâng cao nhận thức trong chăm sóc sức khỏe người
cao tuổi thuộc hộ ngheo .................................................................................................35
Bảng 2.3. Hình thức tuyên truyền nâng cao nhận thức NCTTHN được tiếp cận .........37
Biểu đồ 2.8. Mức độ hài lòng của người cao tuổi thuộc hộ nghèo về dịch vụ tuyên
truyền nâng cao nhận thức .............................................................................................39
Bảng 2.4. Các nội dung dịch vụ hỗ trợ, giải quyết chính sách người cao tuổi thuộc hộ
ngheo được tiếp cận .......................................................................................................40
Biểu đồ 2.10. Mức độ hài lòng của người cao tuổi thuộc hộ nghèo về dịch vụ hỗ trợ,
giải quyết chế độ chính sách. .........................................................................................43
Biểu đồ 2.11. Các loại dịch vụ tư vấn, tham vấn về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
thuộc hộ nghèo được tiếp cận ........................................................................................44
Biểu đồ 2.12. Mức độ hài lòng của người cao tuổi thuộc hộ nghèo đối với dịch vụ tư
vấn, tham vấn trong chăm sóc sức khỏe ........................................................................46
Biểu đồ 2.13. Yếu tố ảnh hưởng của đặc điểm đối tượng (NCTTHN) đến việc tiếp cận
dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe .........................................................48
Biểu đồ 2.14. Yếu tố ản h hưởng của cơ chế chính sách đến dịch vụ công tác xã hội
trong chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi thuộc hộ nghèo .................................52
Biểu đồ 2.15. Yếu tố ảnh hưởng của ngân sách, cơ sở hạ tầng đến việc cung cấp dịch
vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi thuộc hộ nghèo ...........................................54
Biểu đồ 2.16. Yếu tố ảnh hưởng của nhân viên công tác xã hội đến việc cung cấp dịch
vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo ...............56


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người cao tuổi nói chung và người cao tuổi thuộc hộ nghèo nói riêng là một
trong những nhóm đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương nhất do những thay đổi về
sức khỏe thể chất và tinh thần, sự thay đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan
hệ xã hội và lối sống gặp nhiều khó khăn. Hiện nay, tốc độ già hóa dân số của Việt
Nam đang ở mức cao. Trong khi đó, thu nhập bình quân đầu người chưa cao, hệ
thống an sinh xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu của người cao tuổi; chưa có hệ
thống chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi; chưa có hệ thống cung ứng việc làm
cho người cao tuổi... Chính vì vậy, việc trợ giúp người cao tuổi, đặc biệt là người
cao tuổi thuộc hộ nghèo trong cuộc sống là rất cần thiết.
Huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang là một huyện miền núi, đời sống kinh tế xã hội của người dân đang từng bước phát triển. Tuy nhiên vẫn còn không ít những
khó khăn còn tồn tại ở các mặt kinh tế, văn hóa, y tế, xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao
và số lượng người cao tuổi thuộc hộ nghèo cũng đang ngày càng tăng. Công tác
chăm sóc sức khỏe người cao tuổi nói chung, trong đó có người cao tuổi thuộc hộ
nghèo đã được triển khai và đem lại hiệu quả nhất định như: Luôn chi trả đúng thời
gian và đủ số tiền trợ cấp hàng tháng, việc cấp phát thẻ bảo hiểm y tế đúng thời gian
quy định, có các hoạt động tổ chức khám chữa bệnh, cấp phát thuốc miễn phí và các
hoạt động vận động nguồn lực cộng đồng trong các hoạt động nâng cao sức khỏe và
đời sống tinh thần của người cao tuổi. Tuy nhiên, số lượng NCTTHN vẫn còn ở
mức cao. Trong cuộc sống hằng ngày, NCTTHN không chỉ gặp những khó khăn về
thể chất mà còn cả tinh thần. Chính vì vậy, không chỉ nghèo đói mà tuổi cao sức
yếu cũng khiến cuộc sống của họ càng khó khăn hơn gấp nhiều lần. Vai trò của
CTXH trong việc CSSK không chỉ về sức khỏe thể chất và còn là sức khỏe tinh
thần, sức khỏe xã hội. Tuy nhiên, việc triển khai các DVCTXH tại thành phố Hà
Giang nói chung và địa bàn huyện Yên Minh vẫn chưa đồng bộ và kịp thời tới
nhóm NCTTHN. Hiện nay có nhiều nghiên cứu về CTXH đối với NCT, tuy nhiên
chưa có nghiên cứu về DVCTXH trong CSSK NCTTHN. Hơn nữa DVCTXH là

1


một hoạt động còn khá mới và chưa được triển khai một cách chuyên nghiệp tại địa
bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.
Chính vì những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Dịch vụ công tác xã hội
trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện Yên
Minh, tỉnh Hà Giang” làm đề tài cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu được đề cập trên các sách, báo, luận án,
luận văn thạc sĩ đề cập đến vấn đề sức khỏe của Người cao tuổi cũng như vấn đề
chăm sóc sức khỏe cho Người cao tuổi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng, như:
2.1. Trên thế giới:
* Nghiên cứu về Sức khỏe Người cao tuổi:
- Annette L. Fitzpatrick, Lawton S.Cooper, Diane G. Ives và John A.Robbins
(Đại học Washington, Đại học Johns Hopkins, Đại học Pittsburgh, Đại học
California – Davis và Đại học Wake Forest) (1994), “Barriers to Health Care
Access Among the Elderly and Who Perceives Them.
Nghiên cứu này khái quát thực trạng người cao tuổi được chăm sóc sức khỏe
như thế nào và những khó khăn ngăn cản việc người cao tuổi nhận được sự quan
tâm, chăm sóc tại nước Mỹ. Từ những kết quả được nghiên cứu này có thể áp dụng
để nghiên cứu những khó khăn trong việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở Việt
Nam. Điều đó đặt ra sự quan tâm lớn đối với những người làm nghiên cứu nói riêng
và những nhà hoạch định chính sách của nước ta nói chung [26].
- Masoud Pezeshkian (2002), Minister of Health and Medical Education of
Iran, Second World Assembly on Aging, Madrid. Nghiên cứu được thực hiện tại
Iran và chỉ ra rằng có hơn 4 triệu người từ 60 tuổi trở lên trong đó có 57% đang
sống trong khu vực thành thị. Phụ nữ với tỷ lệ có học vấn thấp hơn và sự phụ thuộc
về tài chính cao hơn chiếm một nửa trong tổng số người cao tuổi. Mặc dù thách
thức về già hóa đã trở nên rõ nét, Iran có những truyền thống được thiết lập trong
một thời gian dài dựa theo những lời giáo huấn của đạo Hồi. Những lời giáo huấn

2


này luôn đứng ở vị trí đầu tiên trong các vấn đề của chính phủ để cung cấp các nhu
cầu về xã hội và y tế cho người cao tuổi. Do đó, việc cấp bách là phải giúp đỡ
những điều kiện về kinh tế - xã hội để cho phép mọi người ở mọi lứa tuổi có thể
cùng hòa nhập trong xã hội. Mục tiêu của kế hoạch bảo vệ xã hội là nhằm cung cấp
sự tiếp cận về các dịch vụ y tế và an sinh xã hội cũng như sự ổn định về tinh thần và
tình cảm và an sinh là quan trọng, đặc biệt là phụ nữ. Hệ thống chăm sóc y tế ban
đầu bao gồm các chương trình toàn diện để kiểm soát và phòng chống bệnh tật
không lây nhiễm và các vấn đề y tế. Tuy nhiên, phát huy lối sống khỏe mạnh vẫn là
nền tảng của các chương trình. Việc xem xét lại những quy tắc liên quan đến y tế để
hoàn thiện lão khoa và biến tất cả cá dịch vụ trở nên có thể tiếp cận được trong hệ
thống y tế [29].
- Population Ageing in Pakistan and its implications, Mohammad Afzal,
(1994), “The Ageing of Asion Population United Nations”. Nghiên cứu được thực
hiện tại Pakistan trong những năm 1984 – 1985, khoảng 12% những người trong
nhóm tuổi từ 60 – 64 và 25% những người từ 65 tuổi trở lên có một số khuyết tật.
Trong số những người cao tuổi khuyết tật, những người mù, điếc, què và những tật
nguyền về cả thế xác lẫn tinh thần đều có tỷ lệ cao. Không phải tất cả các căn bệnh
tuổi già đều là giai đoạn cuối hoặc chúng đều dẫn đến khuyết tật. Do vậy, nếu có
một kế hoạch giáo dục về sức khỏe thì nhiều căn bệnh có thể được phòng và điều trị
để người bệnh có thể sống độc lập hơn và khỏe mạnh hơn [30].
* Nghiên cứu về Công tác xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi:
- Chanitta Soommaht, Songkoon Ratchasima, Buriram, Surin và Khon Kaen
(2008), “Developing Model of Health Care Management for the Elderly by
Community Participaton in Isan.
Trong nghiên cứu này, các tác giả đã tiến hành khảo sát bằng phương pháp
nghiên cứu định tính. Nghiên cứu đã tiến hành phân tích sự phát triển của việc chăm
sóc sức khỏe người cao tuổi có sự tham gia của cộng đồng ở Isan. Kết quả nghiên
cứu chỉ ra rằng việc quản lý của các tổ chức cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe

3


người cao tuổi là phương pháp hiệu quả. Tất cả công dân cao tuổi đều đồng ý rằng
việc chăm sóc y tế được cung cấp bởi các tổ chức cộng đồng giúp họ thoải mái và
ấm áp hơn. Mô hình này gợi cho chúng ta những bài học kinh nghiệm khi áp dụng
vào Việt Nam trong công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng [27].
- Dean Blevins, Bridget Morton và Rene McGovern (2008), “Evaluating a
community – based participatory research project for elderly mental healthcare in
rural America”. Đánh giá một dự án nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng về
chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người cao tuổi nông thôn Mỹ. Nghiên cứu này
nhằm khám phá bản chất giữa các đối tác trong chương trình chăm sóc sức khỏe
tâm thần cho người người cao tuổi ở nông thôn. Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu
hết mọi người hài lòng với vai trò của họ và mức độ thành công của chương trình.
Từ đó, các tác giả cũng đề xuất những phương pháp để cải thiện hơn nữa các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người cao tuổi tại nông thôn. Mô hình chăm sóc
sức khỏe tâm thần tại cộng đồng của Hoa Kỳ là điều chúng ta cần quan tâm nghiên
cứu để có thể góp phần xây dựng các mô hình cho người cao tuổi phù hợp với nước
ta [28].
- Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) và Tổ chức Hỗ trợ người cao tuổi
quốc tế (Hepl Age International) (2012), “Già hóa trong thể kỷ 21: Thành tựu và
thách thức”. Báo cáo đã đánh giá quá trình kể từ khi Hội nghị thế giới lần thứ 2 về
người cao tuổi thực hiện kế hoạch hành động quốc tế Madrid về người cao tuổi.
Nhiều ví dụ minh họa về những chương trình đổi mới đã đáp ứng thành công các
mối quan tâm của người cao tuổi được đưa ra trong báo cáo.
Bên cạnh đó, báo cáo này cũng đưa ra khuyến nghị về định hướng tương lai
nhằm đảm bảo mọi người ở mọi lứa tuổi trong xã hội bao gồm cả người cao tuổi và
giới trẻ đều có cơ hội góp phần xây dựng xã hội cũng như cùng được hưởng những
phúc lợi xã hội đó. Chính vì thế, phải có một chiến lược nhằm hỗ trợ riêng cho từng
đối tượng đạt hiệu quả cao nhất [25].
Các kết quả nghiên cứu cũng như báo cáo trên thế giới hầu hết đều đã chỉ ra
được thực trạng về già hóa dân số và các vấn đề khó khăn mà người cao tuổi gặp

4


phải cũng như đã đưa ra các mô hình dịch vụ công tác xã hội thực tế để trợ giúp
NCT và những rào cản khiến NCT gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm
sóc sức khỏe. Tuy nhiên, các nghiên cứu đó chưa chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến
việc tiếp cận dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe như về cơ sở hạ tầng,
về nhân viên công tác xã hội, về chính quyền địa phương mà chỉ tập trung vào yếu
tố thân chủ là NCT.
2.2. Tại Việt Nam:
* Nghiên cứu về Sức khỏe Người cao tuổi:
- Lê Vũ Anh, Đặng Huy Hoàng, Trần Vũ, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Tiến
Thắng (2010), “Đánh giá sức khỏe và sự tham gia của người cao tuổi trong phát
triển cộng đồng tại 3 xã của huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình”. Nghiên cứu chỉ ra
rằng tỷ lệ NCT tự đánh giá sức khỏe bình thường cao nhưng số người NCT mắc
một hay nhiều bệnh lý sức khỏe cũng rất cao. NCT tham gia vào các công việc gia
đình, xã hội và lao động sản xuất chiếm tỉ lệ cao. Tuy nhiên, chính quyền địa
phương vẫn thiếu công tác truyền thông và các văn bản hướng dẫn cho sự tham gia
của NCT [1].
- Lê Văn Khảm (2014), “Vấn đề về Người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay”,
Nhà xuất bản Lao động Xã hội, Hà Nội. Tác giả đã chỉ ra thực trạng tuổi thọ người
Việt Nam ngày càng cao và tỷ lệ dân số già đang tăng nhanh; điều đó phản ánh
thành tực phát triển kinh tế, xã hội, y tế và công tác dân số. Thực tế cho thấy, một
bộ phận người cao tuổi đang đối mặt với khó khăn về thu nhập, những thay đổi về
cấu trúc gia đình và các quan hệ xã hội và đặc biệt là những nguy cơ bất lợi về sức
khỏe [11].
- Phạm Thắng, Đỗ Khánh Hỷ, (2009), “Báo cáo tổng quan về chính sách
chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam”. Nghiên cứu
chỉ ra rằng, NCT sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề tiểm ẩn, bao gồm cả nghèo đói
do phải dành toàn bộ nguồn thu hạn chế của mình cho các dịch vụ chăm sóc nói
chung và chăm sóc sức khỏe nói riêng. Đói nghèo làm tăng độ nhạy của bệnh tật và
ngược lại, bệnh tật là nguyên nhân chính của đói nghèo. Báo cáo cho thấy: Nhu cầu

5


về chăm sóc y tế và xã hội của NCT tại Việt Nam là rất lớn trong khi những điều
kiện tự thân của NCT Việt Nam còn có những đặc trưng rất hạn chế như: Tỷ lệ
NCT sống độc thân tương đối cao ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam – 14,2% dẫn đến
hạn chế cả về hỗ trợ kinh tế, tinh thần từ phái gia đình, người thân và không có trợ
giúp trong sinh hoạt hằng ngày. [21].
* Nghiên cứu về Công tác xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi:
Trong bối cảnh nước ta đang gia tăng về tốc độ già hóa dân số thì việc
nghiên cứu thực trạng việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi là rất cần thiết và có
vai trò vô cùng quan trọng trong việc định hướng cũng như triển khai các chính
sách của Đảng cũng như chủ trương của Nhà nước.
- Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển đã phối hợp với Ủy Ban Dân
số, Gia đình và Trẻ em, nghiên cứu đề tài: “Người cao tuổi và các mô hình chăm
sóc người cao tuổi ở Việt Nam” trong giai đoạn 2006 – 2007 và của Viện Nghiên
cứu Truyền thống và Phát triển giai đoạn 2008 – 2009. Nghiên cứu đã được thực
hiện tại 3 tỉnh thành là Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh trên các nhóm đối
tượng: người sử dụng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi; người cung cấp dịch vụ
chăm sóc người cao tuổi; cán bộ địa phương và cộng đồng. Đề tài đã chỉ ra rằng:
Già hóa dân số, một vấn đề toàn cầu đang được nhiều quốc gia trên thế giới
quan tâm. Xu hướng già hóa dân số đang diễn ra mạnh mẽ, kéo theo nhiều vấn đề
kinh tế - xã hội cần giải quyết và Việt Nam không nằm ngoài tình trạng trên. Để
chuẩn bị cho tình trạng trên, những vấn đề như nâng cao chất lượng chăm sóc sức
khỏe người cao tuổi hoặc xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cần
được đặc biệt quan tâm. [14]
- Tổ chức Hỗ trợ người cao tuổi quốc tế (HAI) và Viện nghiên cứu Người
cao tuổi Việt Nam, (2014), “Điều tra cơ bản của Dự án về Dịch vụ chăm sóc người
cao tuổi dựa vào cộng đồng”. Cuộc điều tra ban đầu thu thập các thông tin định
lượng nhằm tìm hiểu thực trạng NCT, những người gặp khó khăn trong cuộc sống
hằng ngày hoặc cần giúp đỡ do mắc các bệnh mãn tính, từ đó đánh giá những thay

6


đổi mà dự án dịch vụ chăm sóc NCT dựa vào cộng đồng, thực hiện dựa trên mô
hình câu lạc bộ liên thế hệ tự chăm sóc [19].
Cho tới nay, các nghiên cứu về CSSK NCT nói chung và DVCTXH trong
CSSK NCT nói riêng tại Việt Nam cũng đã đem lại những kết quả thực tế và là
nguồn tài liệu hữu ích cho việc giảng dạy. Các nghiên cứu trên đều đã chỉ ra những
vấn đề về sức khỏe mà NCT hiện nay đang gặp phải, các mô hình trợ giúp và những
yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận DVCTXH. Tuy nhiên, thực tế là các đề tài
nghiên cứu về DVCTXH trong CSSK NCT vẫn chưa nhiều, đặc biệt là NCTTHN.
Chính vì vậy, đề tài “Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi từ thực tiễn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang” là đề tài còn khá mới mẻ.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người
cao tuổi thuộc hộ nghèo và đánh giá thực trạng cũng như các yếu tố ảnh hưởng và
từ đó đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả việc cung cấp dịch vụ công tác xã
hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện Yên
Minh, tỉnh Hà Giang.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về dịch vụ Công tác xã hội trong

chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo
-

Khảo sát, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ

Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn
huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
-

Đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc cung cấp

dịch vụ Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ
thực tiễn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi thuộc hộ

7


nghèo từ thực tiễn Huyện Yên Minh, Tỉnh Hà Giang.
4.2. Khách thể nghiên cứu
+ 100 Người cao tuổi thuộc hộ nghèo;
+ 04 Cán bộ các cơ quan ban ngành, đoàn thể có liên quan (02 cán bộ Lao
động thương binh và xã hội xã Mậu Duệ và xã Ngam La, 02 nhân viên y tế tại trạm
y tế xã Mậu Duệ và xã Ngam La)
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu ba loại hình dịch vụ công tác
xã hội trong chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn
huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang, bao gồm: Dịch vụ tuyên truyền, nâng cao nhận
thức; Dịch vụ hỗ trợ, giải quyết chính sách; Dịch vụ tư vấn, tham vấn tâm lý.
Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Yên Minh, tỉnh
Hà Giang
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 04/2018 đến tháng
08/2018
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Phương pháp duy vật lịch sử, khi nghiên cứu đòi hỏi phải đặt đối tượng, cụ
thể ở đây là các DVCTXH trong CSSK với NCTTHN từ thực tiễn huyện Yên Minh,
tỉnh Hà Giang trong hoàn cảnh môi trường xã hội, thời gian cụ thể mà hoạt động
này được triển khai. Trong hoàn cảnh thực tế của huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
là một huyện miền núi còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội, tỷ lệ NCTTHN
chiếm số lượng khá cao. Công tác trợ giúp cho NCTTHN được quan tâm nhưng còn
nhiều khó khăn, hoạt động còn chưa thực sự hiệu quả. Cơ chế phối hợp trong hoạt
động trợ giúp cho NCTTHN chưa được đồng bộ, rõ ràng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
-

Phương pháp phân tích tài liệu

Là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin,
số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài

8


liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu.[5]
Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, các tài liệu được lựa chọn để thu thập,
phân tích thông tin là những văn bản pháp luật liên quan đến Chính sách về
NCTTHN; Chính sách trợ giúp xã hội đối với NCTTHN; Thông tin về tình hình
kinh tế-chính trị-xã hội tại địa phương; Những thông tin có liên quan đến đề tài
nghiên cứu từ các nguồn tạp chí, internet; Báo cáo tổng kết các năm của phòng Lao
động thương binh và xã hội huyện Yên Minh, Báo cáo của Hội Người cao tuổi
huyện Yên Minh.
-

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

Phương pháp điều tra bảng hỏi là phương pháp thu thập thông tin thông qua
việc sử dụng một bảng hỏi soạn sẵn, người điều tra phát bảng hỏi, hướng dẫn cách
trả lời, người được hỏi sẽ tự mình ghi câu trả lời ra phiếu bảng hỏi. Điều tra viên thu
lại phiếu và xử lý thông tin.[5]
Trên địa bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang hiện có 1 thị trấn và 17 xã. Tất
cả các xã và thị trấn đều có NCTTHN và tổng số NCTTHN là 1988 người. Tác giả
sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn ra 100 mẫu tiến hành
khảo sát. Nội dung bảng hỏi liên quan đến: Đặc điểm tâm lý, sức khỏe và nhu cầu
của NCTTHN; Ba DVCTXH trong chăm sóc sức khỏe đối với NCTTHN; các yếu
tố ảnh hưởng đến việc cung cấp DVCTXH trong CSSK đối với NCTTHN tại địa
bàn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.
N= 1988

n= 100

Tỷ lệ lấy mẫu: N/n = 1988/100 = 19.88
Lấy danh sách của 1988 Người cao tuổi thuộc hộ nghèo
Lựa chọn ngẫu nhiên bất kỳ một số trong 20 số đầu, cách 20 người nữa lại
chọn người tiếp theo.
Người thứ 1: đứng thứ 3.
Người thứ 2: đứng thứ 23.
Người thứ 3: đứng thứ 43. Cho đến người thứ 100.
-

Phương pháp phỏng vấn sâu:

9


Phỏng vấn sâu là phương pháp thu thập thông tin bằng cách tác động tâm lý,
xã hội một cách trực tiếp giữa người phỏng vấn và người trả lời. Phỏng vấn là
phương tiện được sử dụng phổ biến trong các điều tra, nghiên cứu khoa học nhằm
thu thập, khai thác thông tin từ đối tượng được phỏng vấn.[5]
Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với
10 người gồm: 6 NCTTHN, 2 nhân viên y tế trạm y tế xã Ngam La và xã Mậu Duệ
và 2 cán bộ Lao động thương binh và xã hội xã Ngam La và xã Mậu Duệ với mục
đích nhằm tìm hiểu, thu thập thông tin chuyên sâu về thực trạng, những thuận lợi và
khó khăn trong việc cung cấp DVCTXH trong CSSK đối với NCTTHN cũng như
các yếu tố ảnh hưởng. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả cung cấp DVCTXH trong CSSK đối với NCTTHN tại huyện Yên Minh, tỉnh
Hà Giang.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Những kết quả thu được từ những nghiên cứu của đề tài có thể cung cấp
những thông tin thiết thực vè thực trạng DVCTXH với NCT nói chung và
DVCTXH trong CSSK đối với NCTTHN nói riêng, cũng như cung cấp thêm thông
tin cho công tác nghiên cứu, xây dựng chính sách có nội dung liên quan.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua nghiên cứu này để đánh giá được thực trạng DVCTXH trong
CSSK đối với NCTTHN từ thực tiễn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. Trên cơ sở
đó đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả, chất lượng cung cấp DVCTXH
trong CSSK đối với NCTTHN, nhằm giúp cho NCT nói chung và NCTTHN nói
riêng đảm bảo sức khỏe tốt, phát huy vai trò, năng lực của họ đối với cộng đồng.
7. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm các phần: Mở đầu, nội dung chính, kết luận và phụ lục.
Trong đó, phần nội dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc
sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo.

10


Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe
người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.
Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công tác
xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện
Yên Minh, tỉnh Hà Giang.

11


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƢỜI CAO TUỔI THUỘC HỘ NGHÈO
1.1.

Một số khái niệm, đặc điểm tâm lý ngƣời cao tuổi thuộc hộ nghèo

1.1.1. Người cao tuổi
NCT là nhóm người ở giai đoạn già hóa, gắn liền với việc suy giảm các chức
năng của cơ thể. Theo Luật NCT có hiệu lực từ ngày 1/7/2010, “Người cao tuổi
được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” [24].
1.1.2. Hộ nghèo
Hộ nghèo được quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư 17/2016/TTBLĐTBXH hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp
cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội ban hành. Theo đó, Hộ nghèo là hộ gia đình qua điều tra, rà soát
hằng năm ở cơ sở đáp ứng các tiêu chí về xác định hộ nghèo được quy định tại
Khoản 1 và Khoản 2 Điều 2 Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của
Thủ tướng Chính phủ và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công
nhận thuộc danh sách hộ nghèo trên địa bàn, cụ thể:
a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000
đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên.
b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000
đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên [4].
1.1.3. Người cao tuổi thuộc hộ nghèo
Chưa có một tài liệu nào đưa ra khái niệm rõ ràng về người cao tuổi thuộc hộ

12


nghèo. Tuy nhiên, dựa vào hai khái niệm người cao tuổi và khái niệm hộ nghèo, ta
có thể thấy rằng người cao tuổi thuộc hộ nghèo là những người từ đủ 60 tuổi trở lên
và hiện đang sinh sống trong hộ gia đình có các tiêu chí của hộ nghèo, cụ thể:
a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000
đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên.
b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000
đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên.
1.1.4. Sức khỏe
Theo quan điểm của Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO) – Tuyên ngôn Alam
Ata, năm 1978 nhận định: “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái toàn diện về
thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh tật
hay thương tật”. [12]
Như vậy, chúng ta có thể hiểu sức khoẻ gồm 3 mặt: Sức khoẻ thể chất, sức
khoẻ tinh thần và sức khoẻ xã hội. Để lĩnh hội được các vấn đề cụ thể hơn, trước hết
chúng ta cần biết những khái niệm sức khoẻ trên là gì.
1.1.5. Chăm sóc sức khỏe
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chăm sóc sức khỏe.:
Theo tác giả Hoàng Đình Cầu trong cuốn: “Quản lý chăm sóc sức khỏe ban
đầu”, NXB y học Hà Nội năm 1995 thì: Chăm sóc sức khỏe là việc làm thỏa mãn
các nhu cầu trong sinh hoạt (nhu cầu đầy đủ dinh dưỡng, được vui chơi, giải trí...),
để đảm bảo trạng thái thỏa mãn về thể chất, tinh thần, xã hội của mỗi thành viên
trong xã hội. [4]
Như vậy, phân tích khái niệm “Chăm sóc sức khỏe” đã chỉ ra:

13


Thứ nhất là, chăm sóc sức khỏe thể chất
Trước tiên, một yêu cầu chung và vô cùng quan trọng đặt ra cho mỗi cá nhân
là cần phải chăm sóc sức khỏe của mình một cách tích cực chủ động, thay vì đợi bị
bệnh và đi chữa bệnh. Để có sức khỏe thể chất tốt cần phải khám sức khỏe tổng
quát; không nên hút thuốc lá; uống rượu bia có chừng mực; cần phải chú ý đến cân
nặng của cơ thể; cần chú ý đến lượng cholesteron trong máu; chú ý đến việc cung
cấp dinh dưỡng cho cơ thể; cần sắp xếp một chương trình vận động cho cơ thể; phải
luôn lượng khả năng và giới hạn sức khỏe của bản thân.
Thứ hai là, chăm sóc sức khỏe tinh thần
Để có được sức khỏe tinh thần tốt mỗi cá thể cần phải trang bị cho bản thân
những cách quản lý và đối phó với stress hiệu quả nhất; phải luôn luôn sống lạc
quan, yêu đời; hãy học cách ứng phó với những thay đổi có thể ảnh hưởng đến bản
thân (tăng cường khả năng thích ứng) biết cách điều chỉnh và ứng phó cảm xúc của
bản thân, đặc biệt là những xúc cảm tiêu cực, hướng vào bản thân.
Thứ ba là, chăm sóc sức khỏe xã hội
Để có được sức khỏe xã hội tốt thì yêu cầu đặt ra đối với mỗi cá thể đó là học
cách tự đánh giá bản thân một cách lành mạnh; biết cho và nhận; tạo dựng mối quan
hệ gia đình, bên ngoài tích cực; biết đề ra những ưu tiên cho bản thân mình phù hợp
với điều kiện hoàn cảnh.
Vậy ta có thể hiểu “Chăm sóc sức khỏe là chuẩn đoán, điều trị và phòng ngừa
bệnh tật, thương tích, các khiếm khuyết về thể chất, tinh thần, xã hội trong con người”
1.1.6. Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của Người cao tuổi thuộc hộ nghèo
Người cao tuổi do những thay đổi về tâm sinh lý và tuổi tác mà sức khỏe
cũng có phần ảnh hưởng. Thường NCT sẽ bị giảm chức năng của thính giác và thị
giác. NCT sẽ không còn nhìn rõ như trước và nghe cũng giảm độ nhạy như khi còn
trẻ. Điều này gây không ít những khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày đối
với họ.
Khi bước sang giai đoạn tuổi già, những thay đổi tâm lý của mỗi người mỗi
khác, nhưng tựu trung những thay đổi thường gặp là: Hướng về quá khứ; chuyển từ

14


trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực” và có những biểu hiện tâm lý như:
Sự cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn; cảm thấy bất lực và dễ tủi
thân; nói nhiều hoặc bị trầm cảm; sợ phải đối mặt với cái chết. Trong chu kỳ của
cuộc sống, người cao tuổi thường trở lại giai đoạn phải lệ thuộc vào gia đình như
tuổi ấu thơ được gia đình nuôi dưỡng, chăm sóc. Đó là vì khi tới tuổi cao, khả năng
làm việc của người cao tuổi giảm bớt do cơ thể lão hóa, lại nẩy sinh những bệnh
liên hệ tới tuổi già, khiến người cao tuổi mất khả năng tự túc, thậm chí mất cả khả
năng hiểu biết. Địa vị của người cao tuổi phụ thuộc nhiều vào khả năng tài chính
của bản thân họ và gia đình. [18]
Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, người cao tuổi thuộc nhóm
nghèo nhất trong các nhóm nghèo. Nghèo là một trong những thách thức lớn nhất
trong cuộc sống của người lớn tuổi. Tình trạng nghèo mà người cao tuổi phải đối
mặt có tác động lớn đến chế độ ăn uống, bệnh tật, nhà ở cũng như việc tiếp cận với
các dịch vụ của xã hội. Một số lượng không nhỏ người cao tuổi phải tiếp tục tham
gia lao động. Đây là cách thức quan trọng để nâng cao điều kiện sống của nhiều
người cao tuổi. Ở tuổi này, có người tỏ ra sức yếu lực tàn, song có người vẫn còn
nhanh nhẹn, khoẻ mạnh về thể chất và minh mẫn về trí tuệ. Họ cũng có những nhu
cầu về tình cảm, những nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở. [18]
1.2. Một số lý luận về dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe
ngƣời cao tuổi thuộc hộ nghèo
1.2.1. Một số khái niệm


Dịch vụ:

Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi
được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt
động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau. Và cũng có rất
nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu
chung thì: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con
người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình)
như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. [5]

15




Công tác xã hội:

Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế
Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã
hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và
giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và
dễ chịu.
Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa
mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội,
nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành
mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội
tiên tiến. [2]
Như vậy, có thể hiểu rằng: Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động
chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng
lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi
trường xã hội thay đổi về chính sách, nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp các cá nhân,
gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm
bảo an sinh xã hội.
 Dịch vụ công tác xã hội:
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), dịch vụ xã hội (DVXH) là các hoạt
động cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định
nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội. Ngoài ra còn có một số cách hiểu
khác về dịch vụ xã hội nhìn từ vai trò của người cung cấp dịch vụ và người tiếp
nhận dịch vụ. Theo cách nhìn này, dịch vụ xã hội là các hoạt động có chủ đích của
con người nhằm phòng ngừa hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được
nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hoà nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối
tượng yếu thế. Dịch vụ xã hội là các sáng kiến can thiệp nhằm vào các nhu cầu và
các vấn đề của các nhóm người dễ bị tổn thương, bao gồm cả việc phòng ngừa bạo
lực, tan vỡ gia đình, xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ NKT, trẻ em và người già. [5]
Tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2013): Dịch vụ CTXH có thể được coi là một

16


loại hình DVXH được cung cấp, điều phối bởi các NVCTXH. Việc cung cấp các
DVCTXH không thể tách rời với các dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, dịch vụ truyền
thông và các dịch vụ khác. Chính vì vậy, NVCTXH hội phải có sự nối kết chặt chẽ
với các DVXH khác trong quá trình thực hiện DVCTXH [15].
Tác giả Nguyễn Thị Thái Lan (2016) cũng đưa ra khái niệm DVCTXH như
sau: DVCTXH là những dịch vụ hỗ trợ, can thiệp với các cá nhân, gia đình, nhóm,
cộng đồng và xã hội nhằm giúp các đối tượng giải quyết những vấn đề của mình
đảm bảo cuộc sống và môi trường phù hợp, đáp ứng lợi ích tốt nhất của thân chủ.
DVCTXH cho các nhóm đối tượng yếu thế chính là việc cung cấp các hoạt
động mang tính chất phòng ngừa- khắc phục rủi ro và hoà nhập cộng đồng cho các
nhóm đối tượng yếu thế dựa trên các nhu cầu cơ bản của họ nhằm bảo đảm các giá
trị và chuẩn mực xã hội[13].
Cụm từ "Dịch vụ công tác xã hội" được sử dụng khá phổ biến trong các tài
liệu về CTXH đã được xuất bản tại Việt Nam những năm gần đây. Song, cho đến
nay vẫn chưa có tài liệu nào chính thức đưa ra khái niệm về DVCTXH. Tuy nhiên
căn cứ vào khái niệm về CTXH, căn cứ vào khái niệm dịch vụ đã được đề cập trong
nhiều tài liệu, ta có thể đưa ra khái niệm về DVCTXH như sau:
Dịch vụ công tác xã hội là hoạt động do các cơ sở có chức năng cung cấp
dịch vụ CTXH, các nhân viên CTXH thực hiện nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình
và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường các chức năng xã
hội để giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu cơ bản
của mỗi người đồng thời góp phần đảm bảo an sinh xã hội.



Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc

hộ nghèo: Từ những khái niệm về chăm sóc sức khỏe, DVCTXH, NCTTHN nêu
trên, khái niệm về DVCTXH trong CSSK đối với NCTTHN được hiểu như sau:
Dịch vụ CTXH trong CSSK đối với NCTTHN là các hoạt động có chủ đích,
được cung cấp, điều phối bởi các NVCTXH nhằm phòng ngừa, can thiệp, phục hồi
& phát triển để hỗ trợ & giải quyết các vấn đề về sức khỏe thể chất, tinh thần xã hội
của NCTTHN và đáp ứng được nhu cầu cơ bản cho NCTTHN.

17


Như vậy, DVCTXH trong chăm sóc sức khỏe đối với NCTTHN là hoạt động
có chủ đích được cung cấp, điều phối bởi các NVCTXH. Trong quá trình cung cấp,
điều phối các DVCTXH, NVCTXH tham gia trong e kip để CSSK NCTTHN.
Chính vì vậy, để chuyên nghiệp hóa DVCTXH trong chăm sóc sức khỏe đối với
NCTTHN thì cần phải có một đội ngũ nhân viên hoặc cộng tác viên được đào tạo
bài bản về CTXH.
1.2.2. Vai trò của các dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe
người cao tuổi thuộc hộ nghèo
Trong điều kiện kinh tế, xã hội đang ở nước ta ngày càng có sự biến đổi
mạnh mẽ và nhanh chóng theo chiều hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, điều đó
đã đặt ra nhiều yêu cầu bức thiết đối với công tác an sinh xã hội nói chung và đối
với công tác chăm sóc người cao tuổi nói riêng. Tốc độ già hóa dân số ở nước ta
đang có xu hướng ngày càng nhanh hơn trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế lại
đang có xu hướng chững lại. Hậu quả là ở nước ta sẽ có một số lượng lớn người cao
tuổi cần được chăm sóc trong ít năm tới trong khi tiềm lực về kinh tế của đất nước
còn hạn chế; hệ thống các chính sách bảo hiểm còn nhiều bất cập; mạng lưới các cơ
sở trợ giúp xã hội còn chưa nhiều. Trong bối cảnh đó vai trò của các dịch vụ CTXH
trong chăm sóc sức khỏe NCTTHN càng trở nên quan trọng và được thể hiện qua
những tác động cụ thể như sau:
Một là, giúp cho NCTTHN cơ hội giảm thiểu các nguy cơ các vấn đề sức
khỏe có thể gặp phải của người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
Hai là, nâng cao tính độc lập của NCTTHN khi họ được tiếp cận với các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe của các cơ sở cung cấp dịch vụ, từ đó làm giảm sự phụ thuộc
của người cao tuổi vào gia đình, người thân và cộng đồng;
Ba là, góp phần cải thiện các mối quan hệ của NCTTHN với người thân và
các mối quan hệ xã hội khác của người cao tuổi, giúp cho NCTTHN tránh được
cảm giác cô đơn, lạc lõng và tạo ra mối liên hệ bền chặt hơn giữa người cao tuổi với
gia đình, cộng đồng và xã hội;
Bốn là, huy động thêm các nguồn lực để phục vụ cho công tác chăm sóc sức

18


khỏe NCTTHN thông qua việc kết nối vận động nguồn lực và tư vấn, hướng dẫn
chính sách. [18]
1.2.3. Các loại hình dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe
người cao tuổi thuộc hộ nghèo
- Dịch vụ tuyên truyền, nâng cao nhận thức:
+ Vai trò của tuyên truyền, nâng cao nhận thức: Giúp NCTTHN nắm được
thông tin về chế độ chính sách cũng như hiểu về các vấn đề sức khỏe mà người cao
tuổi hay gặp phải, cách phòng ngừa sớm các bệnh dễ gặp ở tuổi già. Giúp NCTTHN
nắm được các kiến thức, kỹ năng chăm sóc bản thân về chế độ dinh dưỡng, hoạt
động giao lưu, sinh hoạt, tập thể dục để nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần. Do
vậy, khi hỗ trợ cho NCTTHN cần có các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận
thức, hiểu biết để họ có thể tự bảo vệ và chăm sóc cho sức khỏe của mình.
+ Nội dung của tuyên truyền, nâng cao nhận thức: Dịch vụ này cung cấp các
thông tin liên quan đến các chế độ, chính sách dành cho NCT, NCTTHN. Bên cạnh
đó, nội dung tuyên truyền cũng bao gồm cả kiến thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe
tuổi già, chế độ ăn uống, sinh hoạt, lao động hợp lý cho bản thân NCTTHN.
+Hình thức của tuyên truyền, nâng cao nhận thức: Thông qua các các
phương tiện thông tin đại chúng một cách gián tiếp như đài phát thanh (đài phát
thanh của xã, thôn), truyền thanh, truyền hình, báo chí; tuyên truyền trực tiếp bằng
cách NVCTXH đến tận nhà của NCTTHN và kết hợp với các ban ngành tổ chức
các buổi tuyên truyền tại cộng đồng dân cư. Quay phim, ghi hình phát trên sóng
phát thanh, truyền hình của huyện. Bên cạnh đó, có thể tổ chức buổi Hội thảo về
bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho NCTTHN trên địa bàn.
+ Vai trò của NVCTXH: NVCTXH kết hợp với các cơ quan ban ngành như
phối hợp với nhân viên y tế, cán bộ lao động xã hội, cán bộ thôn, bản hỗ trợ
NCTTHN thông qua vai trò là người giáo dục. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của
NCTTHN về các vấn đề sức khỏe không phải là công việc một sớm một chiều. Bên
cạnh việc nắm vững kiến thức chuyên môn thì yêu cầu phải nắm vững các kỹ năng
tuyên truyền, vận động của mỗi cá nhân trong nhóm hành động xã hội sẽ hỗ trợ giải

19


quyết vấn đề để NCTTHN giảm bớt những khó khăn, nguy hiểm khi tuổi già đến.
- Dịch vụ hỗ trợ, giải quyết chế độ chính sách:
+ Vai trò của dịch vụ này:
Một trong những vấn đề mà NCTTHN quan tâm hiện nay bên cạnh vấn đề
kinh tế thì đó là vấn đề sức khỏe. Chính vì vậy, dịch vụ này sẽ giúp cho NCTTHN
có thể nắm bắt và hiểu được các chính sách hỗ trợ của nhà nước mà mình được
hưởng bao gồm: Khám sức khỏe định kỳ; Cấp thẻ bảo hiểm y tế đầy đủ, kịp thời;
Được theo dõi tình trạng sức khỏe thường xuyên; Được chăm lo và đảm bảo quyền
lợi về sức khỏe và cập nhật kịp thời các chế độ chính sách cũng như hỗ trợ giải
quyết chế độ chính sách như: lập hồ sơ khi NCTTHN đủ điều kiện nhận trợ cấp của
Nhà nước, được theo dõi và giám sát thường xuyên trong việc nhận và sử dụng trợ
cấp, được thông báo và vận động khám, chữa bệnh kịp thời.
+ Vai trò của NVCTXH trong dịch vụ này:
Trong dịch vụ này, NVCTXH đóng vai trò hỗ trợ cán bộ y tế trong công tác
khám chữa bệnh và theo dõi quá trình thay đổi, tiến triển sức khỏe của NCTTHN.
Hỗ trợ các cán bộ cơ quan, đoàn thể liên quan trong việc giải quyết chế độ, chính
sách cho NCTTHN như hỗ trợ tiếp nhận thông tin, đánh giá nhu cầu của NCTTHN
về CSSK: NVCTXH đánh giá tình hình của NCTTHN về các vấn đề sức khỏe mà
NCTTHN đang gặp phải. Từ đó dựa vào chức năng và nhiệm vụ để hỗ trợ kịp thời
cho NCTTHN tránh gặp phải những khó khăn trong việc tiếp cận chính sách trong
CSSK và đảm bảo việc khám, chữa bệnh được diễn ra thường xuyên, đúng quyền
lợi của NCTTHN.
Dịch vụ tư vấn, tham vấn tâm lý:
+ Vai trò của dịch vụ: Giúp NCTTHN có thể nắm được các thông tin tư vấn
và tham vấn tâm lý cần thiết để họ có thể tợ giải quyết được vấn đề của bản thân
mình. Giúp cho họ có thể lường trước được những vấn đề mình sẽ gặp phải để có
cách phòng tránh kịp thời. Giúp cho NCTTHN có thể hiểu hpn về bản thân mình
cũng như những thay đổi trong mỗi giai đoạn của tuổi tác.
NVCTXH tư vấn, tham vấn tâm lý về vấn đề sức khỏe có thể xảy ra đối với

20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×