Tải bản đầy đủ

PHÁT TRIỂN HÀNG NÔNG SẢN THEO CHUỖI GIÁ TRỊ Ở TỈNH TUYÊN QUANG

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGÔ THỊ PHƯƠNG LIÊN

PHÁT TRIỂN HÀNG NÔNG SẢN
THEO CHUỖI GIÁ TRỊ Ở TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGÔ THỊ PHƯƠNG LIÊN

PHÁT TRIỂN HÀNG NÔNG SẢN
THEO CHUỖI GIÁ TRỊ Ở TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 62 31 01 02


LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. HOÀNG THỊ BÍCH LOAN

HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo
quy định.
Tác giả luận án

Ngô Thị Phương Liên


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ........................................... 8
1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ................................. 8
1.2. Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và
khoảng trống luận án tiếp tục nghiên cứu ...................................................... 32
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HÀNG NỒNG SẢN
THEO CHUỖI GIÁ TRỊ VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN.... 36
2.1. Khái niệm và vai trò của phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị .......... 36
2.2. Nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hàng nông sản theo
chuỗi giá trị..................................................................................................... 49
2.3. Kinh nghiệm phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị của một số địa
phương và bài học rút ra cho tỉnh Tuyên Quang ........................................... 66
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HÀNG NÔNG SẢN THEO
CHUỖI GIÁ TRỊ Ở TỈNH TUYÊN QUANG GIAI ĐOẠN
2014-2018.......................................................................................... 77
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến phát triển hàng nông
sản theo chuỗi giá trị ở tỉnh Tuyên Quang..................................................... 77
3.2. Phân tích thực trạng phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị ở tỉnh
Tuyên Quang.................................................................................................. 82
3.3. Đánh giá thực trạng phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị ở tỉnh
Tuyên Quang................................................................................................ 115


Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HÀNG
NÔNG SẢN THEO CHUỖI GIÁ TRỊ Ở TỈNH TUYÊN
QUANG ĐẾN NĂM 2025 ............................................................. 123
4.1. Dự báo và phương hướng phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị ở
tỉnh Tuyên Quang đến năm 2025................................................................. 123
4.2. Giải pháp phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị ở tỉnh Tuyên Quang.... 127
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 146
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .................................................................................... 149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 150


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV

: Bảo vệ thực vật

CGT

: Chuỗi giá trị

GTGT

: Giá trị gia tăng

HĐND

: Hội đồng nhân dân

HTX

: Hợp tác xã

TNHH MTV: Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
UBND

: Ủy ban nhân dân

XNK

: Xuất nhập khẩu

WTO

: Tổ chức Thương mại thế giới


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Khả năng đáp ứng của các quầy kinh doanh vật tư nông nghiệp ........87
Bảng 3.2: Nhu cầu sử dụng vốn vay ....................................................................88
Bảng 3.3: Thông tin thị trường.............................................................................89
Bảng 3.4: Hiệu quả kinh tế trung bình của các hộ có diện tích dưới 0,8 ha và
trên 0,8 ha. (tính cho 1 ha) ................................................................92
Bảng 3.5: Hiệu quả kinh tế trung bình của hộ thu gom cam ...............................93
Bảng 3.6: Hiệu quả kinh tế trung bình trong chuỗi giá trị cam ...........................94
Bảng 3.7: So sánh hiệu quả kinh tế khâu sản xuất chè tươi giữa các nhóm hộ
được khảo sát.....................................................................................99
Bảng 3.8: So sánh hiệu quả kinh tế khâu chế biến chè khô giữa các nhóm hộ
được khảo sát...................................................................................100
Bảng 3.9: Hiệu quả kinh tế trung bình của hộ nuôi trâu ....................................104
Bảng 3.10: Hiệu quả kinh tế trung bình của hộ thu gom trâu thịt......................105
Bảng 3.11: Hiệu quả kinh tế trung bình của hộ giết mổ trâu .............................105
Bảng 3.12. Hiệu quả kinh tế trung bình trong chăn nuôi lợn thịt ......................110


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Chuỗi giá trị của Michael Porter ..........................................................40
Hình 2.2: Hệ thống Chuỗi giá trị ..........................................................................42
Hình 2.3: Mô hình chuỗi giá trị đơn giản .............................................................43
Hình 2.4: Quá trình sản xuất hàng nông sản theo chuỗi giá trị ............................45
Hình 3.1: Sơ đồ chuỗi giá trị cam tỉnh Tuyên Quang ..........................................90
Hình 3.2: Sơ đồ chuỗi giá trị chè tỉnh Tuyên Quang ...........................................98
Hình 3.3: Sơ đồ chuỗi giá trị trâu tỉnh Tuyên Quang.........................................103
Hình 3.4: Sơ đồ chuỗi giá trị lợn tỉnh Tuyên Quang .........................................108


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập sâu rộng vào
nền kinh tế thế giới. Để đáp ứng được yêu cầu này, phát triển chuỗi giá trị (CGT)
trong sản xuất nông nghiệp được coi là chìa khóa cho sự thành công. Hiện nay,
gần 90% hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu dưới dạng thô, sơ chế, mang
thương hiệu nước ngoài, do vậy giá trị gia tăng (GTGT) thấp, dễ gặp rủi ro trong
hoạt động xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu nông sản chủ yếu tập trung vào các
nước trong khu vực và luôn chịu sự cạnh tranh bởi các nước có các sản phẩm
tương đồng như: Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia… Trong bối cảnh ấy, xây dựng và
phát triển chuỗi giá trị nông sản là xu hướng tất yếu, là nhân tố quan trọng thay
đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, giúp ngành nông nghiệp tái cơ cấu theo hướng
nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi, có trên 85% dân số sống ở nông thôn.
Sản xuất nông nghiệp của tỉnh luôn phải đối mặt với những khó khăn như năng
suất thấp; quy mô sản lượng nhỏ; thị trường tiêu thụ chưa được mở rộng và ổn
định, các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp còn ít, quy mô vốn
đầu tư nhỏ. Để đưa nông nghiệp tăng trưởng bền vững, tỉnh Tuyên Quang chủ
trương phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung dựa trên
phát triển CGT theo nhu cầu của thị trường. Hiện nay, Tuyên Quang đã hình
thành được một số CGT điển hình như: cam, chè, lạc, dong riềng, trâu... và đã
thực hiện liên kết với các cơ sở kinh doanh tư nhân và các doanh nghiệp kinh
doanh nông nghiệp trong và ngoài tỉnh như: Công ty chè Sông Lô; Công ty Cổ
phần thức ăn CP (Hà Nội); Siêu thị BigC; trại giống Tam Đảo, Công ty giống
cây trồng Hà Tĩnh... Việc liên kết nhằm tạo ra quy trình sản xuất - kinh doanh
khép kín từ cung cấp cây, con giống, phân bón, thức ăn đến việc bao tiêu sản
phẩm giữa các thành viên tổ hợp tác và doanh nghiệp. Nhiều hàng nông sản khi


2
tham gia CGT đã đạt được kết quả khả quan, tăng giá trị kinh tế, hình thành vùng
sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP... Toàn tỉnh hiện hình thành một số vùng sản
xuất chuyên canh như: Vùng cam sành diện tích trên 5.000 ha, vùng lạc diện tích
trên 3.000 ha, vùng mía nguyên liệu diện tích trên 11.150 ha, vùng chè diện tích
trên 8.700 ha; đàn trâu trên 110 nghìn con, chiếm 20% tổng đàn trâu vùng Trung
du miền núi phía Bắc; diện tích nuôi trồng thủy sản trên 11 nghìn ha, trong đó
358 lồng nuôi cá đặc sản... [82];[83]. Đây là lợi thế quan trọng để phát triển hàng
nông sản theo CGT.
Tuy nhiên, việc phát triển hàng nông sản theo CGT ở tỉnh Tuyên Quang
còn nhiều hạn chế như: quy mô sản xuất hàng hóa nhỏ lẻ do kinh tế hộ gia đình
hiện vẫn chiếm tỷ trọng lớn; việc đổi mới mô hình tổ chức sản xuất diễn ra rất
chậm; tính liên kết giữa các chủ thể trong liên kết sản xuất còn mờ nhạt; năng
suất cây trồng, vật nuôi thấp; việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, chế biến chưa cao; hoạt động xúc tiến thương mại, nghiên cứu thị trường,
kết nối giữa doanh nghiệp với người nông dân còn lỏng lẻo; các khó khăn về cơ
chế, chính sách chưa được tháo gỡ kịp thời, việc tổ chức thực hiện còn hạn chế
bởi năng lực cán bộ dẫn đến tính hiệu quả còn thấp…
Từ thực tiễn trên đòi hỏi cần thiết phải có những nghiên cứu cơ bản, hệ
thống về lý luận phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị của tỉnh Tuyên
Quang để làm cơ sở tổng kết đánh giá thực tiễn, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm
góp phần giải quyết những khó khăn, vướng mắc của địa phương. Vì lẽ đó,
nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài: “Phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá
trị ở tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính
trị tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, khóa 2016-2019.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển hàng
nông sản theo chuỗi giá trị, luận án phân tích và đánh giá thực trạng phát triển
hàng nông sản theo chuỗi giá trị ở tỉnh Tuyên Quang; Từ đó đề xuất các giải


3
pháp để phát triển hàng nông sản theo CGT ở tỉnh Tuyên Quang nhằm góp phần
xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nông dân, phát triển kinh tế nông
thôn tỉnh Tuyên Quang.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã nêu ở trên, luận án tập trung giải quyết các
nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, tổng quan các công trình nghiên cứu đã được công bố có liên
quan đến đề tài luận án, từ đó tìm ra khoảng trống cả về lý luận và thực tiễn để
luận án tập trung nghiên cứu.
Thứ hai, xây dựng khung lý luận về phát triển hàng nông sản theo CGT
theo hướng làm rõ những ưu thế, tiềm năng của tỉnh có thể khai thác để tạo lợi
thế so sánh. Từ đó giúp ngành nông nghiệp của tỉnh tăng trưởng nhanh, bền
vững, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Ngoài ra, luận án
nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn phát triển hàng nông sản theo CGT của các
tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình là các tỉnh có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội tương đồng với tỉnh Tuyên Quang để rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh
Tuyên Quang.
Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng hàng hóa nông sản theo CGT ở tỉnh
Tuyên Quang giai đoạn 2014 - 2018.
Thứ tư, đề xuất phương hướng và giải pháp để phát triển hàng nông sản
theo CGT ở tỉnh Tuyên Quang đến năm 2025.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị với tư cách
tổng thể hoạt động của các chủ thể trong các khâu của chuỗi.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận án nghiên cứu các quan hệ kinh tế trong phát
triển hàng nông sản theo CGT ở tỉnh Tuyên Quang, gồm: chiến lược phát triển
hàng nông sản theo chuỗi giá trị; quy mô sản xuất; các mô hình tổ chức sản xuất


4
theo CGT; quan hệ lợi ích giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị; ứng dụng khoa
học kỹ thuật, xây dựng thương hiệu… để xác định các sản phẩm chủ lực của tỉnh
có khả năng phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị nhằm nâng cao giá trị gia tăng.
- Phạm vi về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu chuỗi giá trị
chè, chuỗi giá trị cam, chuỗi giá trị lợn và chuỗi giá trị trâu trên địa bàn tỉnh
Tuyên Quang.
- Phạm vị về thời gian: Luận án nghiên cứu tình hình phát triển hàng nông
sản theo chuỗi giá trị ở tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2014 - 2018 và đề xuất định
hướng, giải pháp đến năm 2025.
4. Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam;
chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển sản xuất nông nghiệp, phát
triển hàng nông sản, phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị. Ngoài ra, luận
án kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố ở
trong và ngoài nước để xây dựng khung lý luận của đề tài.
4.2. Cở sở thực tiễn
- Luận án nghiên cứu kinh nghiệm phát triển hàng nông sản theo CGT của
các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình để rút ra bài học kinh nghiệm cho phát triển
hàng nông sản theo chuỗi giá trị ở tỉnh Tuyên Quang.
- Luận án còn dựa trên thực tiễn phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá
trị ở tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn 2014-2018 để đánh giá những kết quả đã
đạt được, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận của luận án:
+ Tiếp cận từ cơ sở lý luận về phát triển hàng nông sản, chuỗi giá trị và
phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị dưới góc độ tiếp cận của chuyên
ngành kinh tế chính trị.


5
+ Tiếp cận từ khảo cứu các tài liệu, báo cáo tổng kết, niên giám thống kê
của các cơ quan chức năng tỉnh Tuyên Quang để đánh giá thực trạng phát triển
hàng nông sản theo chuỗi giá trị.
+ Tiếp cận từ định hướng chiến lược trong phát triển hàng nông sản theo
chuỗi giá trị của tỉnh Tuyên Quang và của cả nước.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến của Chủ nghĩa
Mác - Lênin như: phương pháp trừu tượng hóa khoa học; phương pháp phân
tích, tổng hợp; phương pháp logic kết hợp với lịch sử; phương pháp thống kê, so
sánh; phương pháp hệ thống; phương pháp điều tra thực tế để lấy số liệu phục vụ
nghiên cứu luận án… cụ thể như sau:
Chương 1: Luận án sử dụng phương pháp hệ thống; phương pháp logic
kết hợp lịch sử; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp trừu tượng
hóa khoa học, trong đó: Phương pháp hệ thống, logic kết hợp lịch sử được sử
dụng để phân loại, sắp xếp các công trình nghiên cứu đã được công bố có liên
quan đến đề tài luận án đảm bảo tính logic, khoa học và đúng theo các nội dung
nghiên cứu của luận án; Phương pháp phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa khoa
học để luận giải các vấn đề đã được nghiên cứu, chỉ ra khoảng trống cả về lý
luận và thực tiễn mà luận án có thể khai thác, nghiên cứu.
Chương 2: Luận án sử dụng phương pháp hệ thống, phương pháp phân
tích, tổng hợp, phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp phỏng vấn
chuyên gia, cụ thể: Phương pháp hệ thống, khái quát hóa và phân tích, tổng hợp
dùng để hệ thống các vấn đề lý luận đã được làm rõ trong các công trình nghiên
cứu đã được công bố về: phát triển hàng nông sản, chuỗi giá trị, phát triển hàng
nông sản theo chuỗi giá trị… Phương pháp trừu tượng hóa khoa học được sử
dụng để xây dựng khái niệm trung tâm của luận án là: Phát triển hàng nông sản
theo chuỗi giá trị, chỉ ra vai trò, nội dung, các nhân tố ảnh hưởng của phát triển
hàng nông sản theo chuỗi giá trị. Phương pháp trừu tượng hóa khoa học và khái
quát hóa còn được sử dụng để tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của các tỉnh Lào


6
Cai, Yên Bái, Hòa Bình về phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị, từ đó rút
ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Tuyên Quang.
Chương 3: Luận án sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích,
so sánh, trừu tượng hóa khoa học, phỏng vấn, khảo sát thực tế, cụ thể: Phương
pháp khảo sát thực tế được dùng để điều tra, tổng hợp số liệu phục vụ đánh giá
thực trạng phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị ở tỉnh Tuyên Quang giai
đoạn 2014-2018. Nghiên cứu sinh đã tiến hành phát 100 mẫu phiếu khảo sát (30
phiếu tại các hộ, trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất, chế biến và tiêu
thụ chè tại các huyện Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên; 30 phiếu tại các hộ, trang
trại, tổ hợp tác, hợp tác xã trồng cam tại huyện Hàm Yên; 20 phiếu tại các hộ,
trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Yên Sơn, Chiêm Hóa, thành phố Tuyên
Quang; 20 phiếu tại các hộ, trang trại chăn nuôi trâu tại các huyện Chiêm Hóa,
Nà Hang, Hàm Yên). Phương pháp phỏng vấn được sử dụng để phỏng vấn tổ
trưởng tổ sản xuất, chủ trang trại, giám đốc doanh nghiệp để lấy ý kiến về những
khó khăn, vướng mắc trong liên kết sản xuất hàng nông sản theo chuỗi giá trị.
Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp được dùng để tổng hợp số liệu từ các
nguồn báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND tỉnh, niên
giám thống kê của Cục thống kê tỉnh Tuyên Quang.
Chương 4: Luận án sử dụng phương pháp phân tích, dự báo, đề xuất, trong
đó: Phương pháp phân tích, dự báo được dùng đề phân tích tình hình trong nước,
quốc tế và đưa ra các dự báo về thuận lợi và khó khăn có tác động tới phát triển
hàng nông sản theo chuỗi giá trị ở tỉnh Tuyên Quang. Phương pháp đề xuất được
dùng để đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết những khó khăn, khắc phục hạn chế
từ đó thúc đẩy phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị ở tỉnh Tuyên Quang.
5. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án luận giải rõ nội hàm khái niệm phát triển hàng nông sản theo
chuỗi giá trị trên phạm vị địa bàn của một tỉnh.
- Luận án nghiên cứu luận giải rõ vai trò, nội dung và các nhân tố ảnh
hưởng đến phát triển hàng nông sản theo CGT.


7
- Luận án đánh giá thực trạng phát triển hàng nông sản theo CGT ở tỉnh
Tuyên Quang giai đoạn 2014-2018.
- Luận án đề xuất giải pháp nhằm phát triển hàng nông sản theo CGT ở
tỉnh Tuyên Quang đến năm 2025.
6. Ý nghĩa khoa học của luận án
- Hệ thống và làm rõ lý luận về phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị
đặt trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
- Phân tích thực trạng phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị ở tỉnh
Tuyên Quang, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế làm cơ sở đề
xuất những giải pháp.
- Đề xuất các giải pháp để thúc đẩy phát triển hàng nông sản theo chuỗi
giá trị ở tỉnh Tuyên Quang làm cơ sở giúp chính quyền địa phương đưa ra các
chiến lược phát triển ngành nông nghiệp của tỉnh nói chung và hàng nông sản
theo chuỗi giá trị nói riêng tới năm 2025.
- Kết quả nghiên cứu của luận án được sử dụng làm tài liệu tham khảo
phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về phát triển hàng nông sản, về
CGT, về phát triển hàng nông sản theo CGT.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các
phụ lục kèm theo, nội dung chính của luận án gồm 4 chương, 10 tiết.


8
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển hàng
nông sản
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Frank Ellis (1995) trong tác phẩm “Chính sách nông nghiệp trong các
nước đang phát triển” [18] của mình đã phân tích một cách tổng quát tám vấn đề
chính sách cốt lõi trong phát triển nông nghiệp. Mặc dù vậy, tác giả cũng khẳng
định rằng, chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển là một vấn đề
hết sức phức tạp, mỗi nước có một hệ thống chính sách khác nhau, có phạm vi
và mức độ tác động khác nhau. Thậm chí với cùng một loại chính sách, các nước
có mức độ phát triển khác nhau và với các vấn đề kinh tế khác nhau cũng có
những sự thích ứng và biến đổi khác nhau.
Trong Báo cáo Phát triển Việt Nam 2016 “Chuyển đổi Nông nghiệp Việt
Nam: Tăng giá trị, giảm đầu vào” [48], Ngân hàng Thế giới đưa ra một số
khuyến nghị để hiện thực hóa tầm nhìn phát triển nông nghiệp Việt Nam đến
năm 2030, thông qua đổi mới chính sách và thể chế, trong đó nhấn mạnh:
Khuyến khích đổi mới, sáng tạo trong toàn bộ CGT nông nghiệp; Tăng cường hệ
thống tổ chức và năng lực quản lý rủi ro an toàn thực phẩm; Đẩy mạnh hành
động tập thể nhằm xây dựng CGT nông nghiệp cạnh tranh và bao trùm; Tái
khẳng định vị thế và thương hiệu của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường
quốc tế.
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước
Đỗ Kim Chung (2002) trong nghiên cứu “Từ marketing nông nghiệp sang
marketing thực phẩm nông sản: Kinh nghiệm từ các nước châu Á” [5] đã phân
tích những cách tiếp cận mới về tiếp thị hàng nông sản. Từ sự thay đổi nhanh
chóng về thị hiếu tiêu dùng, về toàn cầu hóa, công nghệ thông tin… các nước


9
Châu Á đã hình thành phương thức mới về marketing trong nông nghiệp, đó là
marketing thực phẩm nông sản, là chiến lược thị trường để bán các sản phẩm
được tiêu chuẩn hóa, phân loại, bảo quản và sơ chế (hay chế biến), gọi tắt là
công nghệ sau thu hoạch. Chiến lược này hướng về cầu tiêu dùng, làm gắn kết
bền chặt giữa sản xuất và chế biến, khuyến khích các thành phần kinh tế tham
gia vào marketing và dần hình thành chợ bán buôn. Hệ thống marketing này đã
và đang thành công ở Singapore, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, giúp
hàng nông sản các nước này chiếm lĩnh được thị trường trong nước và một số thị
trường xuất khẩu.
Nguyễn Kế Tuấn (2003, 2004) trong nghiên cứu “Nâng cao khả năng
cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” [80] và
“Nông sản xuất khẩu Việt Nam và một số giải pháp phát triển” [81] đã đánh giá
hiệu quả xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam thời gian
qua như gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, cao su, rau quả, chè, lạc và đưa ra một số
giải pháp phát triển trong đó nhấn mạnh vai trò của việc phát triển công nghiệp
chế biến, đó là cách thức nâng cao GTGT của hàng nông sản, hạn chế tình trạng
xuất khẩu sản phẩm thô, góp phần ổn định cho sản xuất nông nghiệp; và đặc biệt
là giải pháp liên kết quốc tế trong sản xuất và xuất khẩu nông sản, một cách làm
mới nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm sản xuất và quản lý của
các nước phát triển.
Hoàng Hải Anh (2005) trong nghiên cứu “Nông sản Việt Nam và con
đường xây dựng thương hiệu” [1] đã bàn về thực trạng 90% hàng hóa nông sản
chủ lực của Việt Nam, mặc dù đã có mặt tại hơn 80 quốc gia nhưng đều được
xuất khẩu qua trung gian, phải mang nhãn mác của một số nước mà không có
thương hiệu riêng. Đòi hỏi cấp bách đặt ra trong quá trình phát triển hàng nông
sản đó là phải xây dựng được các thương hiệu nông sản chủ lực với đặc thù
vùng, miền, chỉ dẫn địa lý, có chiến lược tiếp thị, quảng bá thương hiệu vươn
tầm thế giới, chỉ khi đó, nông sản Việt Nam mới có thể phát triển độc lập, không
phải mang nhãn hiệu nước ngoài trên thị trường thế giới.


10
Nguyễn Văn Nam (2005) chủ biên công trình nghiên cứu “Sàn giao dịch
nông sản với việc giảm rủi ro về giá cả” [46] đã đề cập đến chiến lược thiết lập
các hệ thống giao dịch nông sản ở Việt Nam, đó là thị trường hàng hóa giao
ngay, giao dịch hợp đồng giữa các doanh nghiệp (B2B), thị trường hàng hóa giao
sau (triển hạn, kỳ hạn và quyền chọn). Trong kinh tế thị trường, việc tiêu thụ
nông sản được thực hiện qua các kênh nhất định, tạo nên hệ thống giao dịch
hàng hóa. Hệ thống giao dịch hàng hóa càng mở rộng, phát triển sẽ tạo thế chủ
động cho sản xuất nông nghiệp phát triển, tránh những rủi ro tiêu cực của thị
trường như rớt giá, hủy hợp đồng…
Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (2006) “Tăng hiệu quả tiêu thụ nông sản hàng
hóa thông qua hợp đồng” [24] và Minh Hoài (2006) “Tiêu thụ nông sản theo
hợp đồng” [25] cùng bàn về những giải pháp để thực hiện có hiệu quả Quyết
định số 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng
hóa thông qua hợp đồng. Các nhóm giải pháp chính sách vĩ mô của Nhà nước,
đối với doanh nghiệp và hộ nông dân, thể chế được đưa ra nhằm khuyến khích
việc ký kết hợp đồng giữa các doanh nghiệp kinh doanh, chế biến, xuất khẩu
nông sản với người sản xuất trực tiếp, các hộ nông dân, đó là xu hướng phát triển
của nền sản xuất hàng hóa.
Đào Vũ Hoài Giang (2006) có nghiên cứu “Việt Nam cần sớm có thị
trường giao sau cho nông sản hàng hóa” [20] nêu lên tính cần thiết cấp bách và
là xu thế tất yếu của thương mại nông sản, Thị trường nông sản giao sau, một
mặt tạo cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước và xuất khẩu chủ động trong
việc tìm và chọn đối tác phù hợp, chủ động quyết định về số lượng, chất lượng
và giá cả, đồng thời giúp người sản xuất chủ động đầu ra cho sản phẩm.
Mai Thị Thanh Xuân (2006) khi nghiên cứu “Công nghiệp chế biến với
việc nâng cao giá trị hàng nông sản xuất khẩu ở Việt Nam” [89] đã lưu ý những
hậu quả chính do công nghiệp chế biến lạc hậu gây ra cho hoạt động xuất khẩu,
đó là: Thứ nhất, tỷ lệ hàng nông sản xuất khẩu qua chế biến nhỏ, mức độ thỏa
mãn nhu cầu của thị trường thế giới thấp, gây bất lợi cho hoạt động xuất khẩu.


11
Thứ hai, mức tiêu hao nguyên liệu cao, chất lượng sản phẩm thấp, dẫn đến khả
năng cạnh tranh kém. Thứ ba, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch cao, gây thiệt hại lớn
cho nền kinh tế. Bài báo cũng đã đề xuất một số giải pháp thúc đẩy công nghiệp
chế biến phát triển theo hướng tăng nhanh giá trị hàng nông sản xuất khẩu.
Đặng Kim Sơn (2008) trong công trình nghiên cứu “Kinh nghiệm quốc tế
về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa” [61] đã
phân tích chiến lược phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình
công nghiệp hóa ở nhiều quốc gia trên thế giới, những bài học thành công và
những mâu thuẫn mới nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa. Từ đó gợi mở
cho Việt Nam những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng phù hợp với thực tiễn
phát triển nông nghiệp nước nhà.
Nguyễn Lê Huy (2008) trong nghiên cứu “Thực trạng và một số giải pháp
phát triển sản xuất nông sản hàng hóa tại 4 huyện vùng cao phía bắc tỉnh Hà
Giang” [37] phân tích tình hình phát triển trong 5 năm (2002-2006) của một số
cây trồng ở 4 huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, là 4 huyện có diện
tích đất nông nghiệp ít ỏi, manh mún, chủ yếu là núi đá nên hệ thống thủy lợi
không đáp ứng được nhu cầu về nước tưới để canh tác lúa mà chủ yếu dựa vào
nguồn nước tự nhiên. Vấn đề căn cốt là phát triển được các loại giống cây trồng có
khả năng thích ứng với điều kiện khắc nghiệt của đất đai, khí hậu, thời gian sinh
trưởng ngắn và có thể trồng xen với cây nông nghiệp khác để tiết kiệm đất.
Vũ Văn Hùng (2009) gợi ý “Phát triển kênh phân phối nông sản trực tiếp
thông qua siêu thị ở Việt Nam” [34] là một cách để nâng cao lợi ích kinh tế của
các chủ thể tham gia vào quán trình phân phối hàng nông sản trong bối cảnh hệ
thống các siêu thị ở các thành phố lớn đã phát triển rầm rộ và tạo thành mạng
lưới phân phối tới tận từng gia đình.
Phan Huy Đường (2009) bàn đến một kênh phân phối khác trong nghiên
cứu “Phát huy vai trò của hợp tác xã để tiêu thụ hàng nông sản” [16]. Hợp tác
xã là tổ chức kinh tế hợp tác cùng có lợi, hoạt động dựa trên 4 nguyên tắc: Tự
nguyện; dân chủ, bình đẳng và công khai; tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có


12
lợi; hợp tác và phát triển cộng đồng. Với vai trò gắn kết các hộ sản xuất kinh
doanh nhỏ lẻ, HTX góp phần quan trọng thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa.
Trần Quang Minh (2010) trong cuốn “Nông nghiệp Hàn Quốc trên đường
phát triển” [45] đã nhấn mạnh đến những thay đổi chủ yếu của nông nghiệp Hàn
Quốc, trong đó đáng quan tâm nhất là những thay đổi về thị hiếu tiêu dùng hàng
nông sản. Đây là chìa khóa mở ra những thay đổi trong cơ cấu hàng nông sản,
chế biến hàng nông sản… và hàng loạt các thay đổi khác trong sản xuất nông
nghiệp để đưa nông nghiệp Hàn Quốc phát triển hiện đại.
Vũ Văn Hùng (2010) khi nghiên cứu về “Giải pháp cho những nghịch lý
trong phân phối nông sản ở Việt Nam” [35] đã chỉ ra một số điểm đặc trưng của
sản xuất nông nghiệp như: sản xuất nông nghiệp thì theo mùa vụ nhưng nhà
phân phối thì đòi hỏi được cung cấp hàng hóa quanh năm; nông dân có có xu
hướng dùng nhiều thuốc BVTV, thuốc kháng sinh… để đảm bảo năng suất hàng
nông sản trong khi nhà phân phối và thị trường cần hàng nông sản sạch; nông
dân sản xuất thiếu tính liên kết, mạnh mún, rời rạc, quy mô nhỏ trong khi nhà
phân phối cần khối lượng hàng hóa lớn và ít phải đi thu gom nhỏ lẻ; Nhà phân
phối muốn có hợp đồng liên kết với nông dân để ổn định nguồn cung nhưng
nông dân lại có xu hướng phá vỡ hợp đồng khi thấy có lợi trước mắt... Để giải
quyết những nghịch lý này, nhất là việc đảm bảo thực hiện đúng hợp đồng liên
kết giữa người nông dân và doanh nghiệp, rất cần vai trò trung gian, cầu nối của
Nhà nước, tạo cơ chế ràng buộc bền chặt, hữu cơ, cùng có lợi giữa người nông
dân sản xuất và doanh nghiệp tiêu thụ.
Dương Minh Tuấn (chủ biên), Phạm Quý Long và Phạm Thị Xuân
Mai (2012) trong cuốn sách “Một số vấn đề cơ bản về con đường phát triển hiện
đại của nông nghiệp và nông thôn Nhật Bản” [79] đã tổng quan về sự phát triển
của nông nghiệp và nông thôn Nhật Bản, từ một nước nghèo tài nguyên, nông
nghiệp lạc hậu song Nhật Bản là nước đầu tiên ở Châu Á đã thực hiện quá trình
công nghiệp hóa từ cuối thế kỷ XIX và thành công vào nửa cuối thế kỷ XX.
Những giải pháp chủ yếu phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản như giải


13
pháp về đất đai trong nông nghiệp; giải pháp liên quan đến cơ cấu kinh tế nông
nghiệp; giải pháp liên quan đến quan hệ giữa đô thị và nông thôn; giải pháp đối
với sự chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, từ lao động nông nghiệp sang
lao động phi nông nghiệp; giải pháp liên quan đến hợp tác quốc tế và bảo hộ nông
nghiệp; giải pháp về tổ chức và quản lý nông nghiệp… sẽ là những tham khảo quý
giá cho Việt Nam trên con đường phát triển nông nghiệp, nông thôn của mình.
Nguyễn Quốc Trí (2013) trong nghiên cứu “Để xuất khẩu nông sản
chuyển từ thô sang tinh" [77] đã nhấn mạnh vai trò, lợi ích của khâu chế biến và
tinh chế hàng nông sản trong việc nâng cao GTGT hàng nông sản xuất khẩu. Từ
đó, cần có giải pháp đồng bộ từ Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người
nông dân trong việc liên kết sản xuất nông nghiệp, nâng cao CGT trong từng
khâu sản xuất hàng nông sản.
Hồ Quế Hậu (2013) khi nghiên cứu về “Liên kết kinh tế giữa doanh
nghiệp chế biến nông sản với nông dân ở Việt Nam” [23] đã chỉ ra rằng hoạt
động liên kết giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân ở Việt Nam
trong những năm qua đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ, đã
không những mang lại hiệu quả kinh tế cho các bên tham gia liên kết mà còn
mạng lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ nét. Tuy vậy, hoạt động liên kết này vẫn
còn ở quy mô và số lượng hạn chế, chất lượng thấp và hiệu quả chưa cao.
Nguyên nhân là do nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động liên kết
kinh tế này chưa đúng đắn, chế tài và các cơ chế giám sát đảm bảo cho liên kết
này vận hành còn nhiều bất cập, đồng thời Nhà nước chưa tạo môi trường thuận
lợi thúc đẩy liên kết phát triển.
Nguyễn Thanh Hải (2014) trong công trình nghiên cứu “Phát triển nông
nghiệp các tỉnh trung du miền núi phía Bắc Việt Nam theo hướng bền vững”
[21] đã đi sâu phân tích những yếu tố riêng có, đặc trưng về tự nhiên, kinh tế và
xã hội của 14 tỉnh trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, thấy rõ vị trí chiến
lược, vai trò đặc biệt quan trọng của khu vực này trong giữ gìn môi trường và
đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước. Từ đó đưa ra các giải pháp đặc thù


14
nhằm nâng cao tính bền vững đối với phát triển nông nghiệp ở các tỉnh trung du
miền núi phía Bắc.
Đặng Kim Sơn và các cộng sự (2014) trong cuốn sách “Đổi mới chính
sách nông nghiệp Việt Nam, bối cảnh, nhu cầu và triển vọng” [62] cho rằng để
phát triển nền nông nghiệp Việt Nam một cách bền vững, bảy giải pháp được
đưa ra, trong đó giải pháp căn cốt là phát triển các ngành hàng có lợi thế so sánh,
phải xác định được những ngành có lợi thế so sánh để tập trung đầu tư, đổi mới
tổ chức sản xuất, phát triển toàn diện CGT ngành hàng nhằm nâng cao GTGT và
giảm chi phí sản xuất hàng nông sản.
Đinh Thị Kim Thoa (2014) trong nghiên cứu “Vấn đề thương hiệu cho
nông sản Việt Nam” [70] đã chỉ ra rằng, hầu hết các mặt hàng nông sản xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam như lúa gạo, trái cây, thủy sản đều chưa xây dựng
được thương hiệu mạnh. Trong đó, yêu cầu xây dựng và phát triển các thương
hiệu nông sản chủ lực với đặc thù vùng, miền, chỉ dẫn địa lý, gắn với các doanh
nghiệp lớn để hàng nông sản Việt Nam đứng vững được trên thị trường quốc tế
chưa được phát triển như mong muốn. Để giải quyết bài toán này, việc đổi mới
cách thức quản lý trang trại theo các tiêu chuẩn trong nước và quốc tế nhằm đảm
bảo chất lượng hàng nông sản đúng chuẩn, đồng thời tăng cường công tác đăng
ký và bảo hộ nhãn hiệu thương mại sản phẩm trong nước và quốc tế là những
giải pháp chủ yếu.
Vũ Đức Hạnh (2015) trong công trình “Nghiên cứu các hình thức liên kết
trong tiêu thụ nông sản của hộ nông dân tỉnh Ninh Bình” [22] đã phân tích
những ưu điểm và hạn chế của của 4 hình thức liên kết phổ biến trong tiêu thụ
nông sản ở tỉnh Ninh Bình. Trong đó, hình thức liên kết phi chính thống, tức là
hộ nông dân liên kết với doanh nghiệp hay người thu gom trong tiêu thụ sản
phẩm nhưng không qua hợp đồng chính thống, có mức độ tuân thủ các điều
khoản thỏa thuận của hộ nông dân và của cơ sở thu gom thấp hơn so với các
hình thức liên kết chính thống. Mặc dù vậy, đa số các hộ vẫn sẽ tiếp tục tham gia
hình thức thỏa thuận này trong thời gian tới bởi vì hộ có thể bán được sản phẩm


15
nhanh chóng, thủ tục đơn giản, giá cả được thỏa thuận phải chăng tùy theo biến
động của thị trường.
Nguyễn Xuân Khoát (2017) trong nghiên cứu “Phát triển nông nghiệp bền
vững ở một số nền kinh tế chuyển đổi: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” [40] đã
phân tích quá trình chuyển đổi nền kinh tế của các nước này bắt đầu từ năm 1978
(Trung Quốc), năm 1989 (Ba Lan), và khi Liên bang Xô viết sụp đổ, trường hợp
nước Nga năm 1991. Một số kinh nghiệm về quản lý chặt chẽ, tránh đầu cơ đất
đai; thực hiện gói cải cách hoàn chỉnh, đồng bộ; xác định đúng vai trò của nông
nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp bền vững;
nông nghiệp rất cần được hội nhập, phát triển phù hợp với quy luật của nền kinh tế
thị trường và thông lệ quốc tế; chú trọng phát triển, ứng dụng KHCN và tiến bộ kỹ
thuật, tạo bước đột phá cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất, chất
lượng, hiệu quả bền vững nông nghiệp là những tham khảo tốt cho Việt Nam.
Phạm Thị Thanh Bình (2018) và các cộng sự trong tác phẩm “Nghiên cứu
so sánh chính sách nông nghiệp ở Trung Quốc, Thái Lan, Israel và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam” [2] đã phân tích, đánh giá việc thực thi các chính sách hỗ
trợ nông nghiệp, nông thôn của một số quốc gia có thế mạnh về nông nghiệp trên
thế giới. Những kinh nghiệm được đúc rút từ những thành công cũng như thất
bại của họ chỉ ra rằng, để nền nông nghiệp phát triển thì cần phải tổ chức lại sản
xuất theo hướng đa ngành, đầu tư phát triển nền sản xuất lớn nhưng không được
thủ tiêu động lực kinh tế hộ.
Trần Đình Thao, Nguyễn Phượng Lê, Đỗ Thị Diệp (2018), khi bàn về
“Hoàn thiện chính sách chế biến sâu nông sản: Nghiên cứu điển hình đối với
các ngành hàng lúa gạo, cao su và cá tra” [69] đã chỉ ra vai trò to lớn của việc
thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến nông sản làm hạn chế yếu tố thời vụ
của sản xuất nông nghiệp, giảm thiệt hại sau thu hoạch, tăng giá trị sản phẩm,
nâng cao GTGT của nông sản Việt Nam.
Tôn Đức Thảo và Trần Trung Dũng (2018) trong nghiên cứu “Nâng cao
giá trị xuất khẩu nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” [68] đã khuyến


16
nghị Nhà nước và các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu các giải pháp cần thực
hiện, trong đó Nhà nước cần phát triển hệ thống về thông tin thị trường nông sản,
nhất là thị trường quốc tế để nông dân, doanh nghiệp chủ động hơn nữa trong
các chiến lược sản xuất và kinh doanh của mình, tránh những rủi ro và thiệt hại
do tác động tiêu cực từ thị trường. Các doanh nghiệp và người nông dân lựa
chọn chiến lược sản phẩm phù hợp, có chính sách đầu tư phát triển công nghiệp
chế biến nhằm nâng cao GTGT cho mặt hàng xuất khẩu.
Đặng Huyền Trang (2018) trong nghiên cứu về “Liên kết kinh tế giữa sản
xuất với chế biến và tiêu thụ cà phê bền vững - Nghiên cứu tại tỉnh Sơn La” [75]
đã phân tích một cách toàn diện cơ sở khoa học của hình thức liên kết kinh tế
giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ cà phê bền vững và đánh giá thực tiễn của
hình thức liên kết này tại tỉnh Sơn La. Từ đó, tác giả đưa ra khuyến nghị các giải
pháp phát triển bền vững loại hình liên kết này tại tỉnh Sơn La, trong đó nổi bật
là giải pháp thúc đẩy liên kết kinh tế giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ cà
phê bền vững tại tỉnh Sơn la theo hướng phát triển CGT.
1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến chuỗi giá trị và
phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị
1.1.2.1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Michael Porter (1985), trong cuốn “Competitive Advantage” (Lợi thế
cạnh tranh) [44] của mình đã phân tích tính cạnh tranh của doanh nghiệp bằng
phân tích CGT bao gồm từ thiết kế sản xuất, mua vật tư đầu vào, hậu cần, tiếp
thị, bán hàng và dịch vụ hỗ trợ (quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu
triển khai v.v...). Ông chỉ ra rằng, CGT là chuỗi của các hoạt động, sản phẩm đi
qua tất cả các hoạt động của các chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm
thu được một số giá trị nào đó. Porter đưa ra khái niệm "giá trị hệ thống", đó là
chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản phẩm nhiều GTGT hơn tổng GTGT
của tất cả các hoạt động.
Raphael Kaplinsky và Mike Morris (2000), trong cuốn sách “A Handbook
for Value Chain Research” (Cẩm nang phân tích chuỗi giá trị) [102] đã đưa ra


17
phương pháp tiếp cận toàn cầu về CGT; xu thế hội nhập quốc tế đã tạo cơ hội
tăng trưởng kinh tế và thu nhập đáng kể cho người dân trên toàn thế giới nói
chung và cho các nước đang phát triển và khu vực nói riêng. Tuy nhiên, toàn cầu
hóa cũng làm gia tăng về sự bất bình đẳng trong và giữa các quốc gia, sự gia
tăng tỷ lệ đói nghèo tuyệt đối, không chỉ ở các nước nghèo.
Christopher L.Gilbert (2006), trong công trình “Value Chain Analysis and
Market Power in Commodity Processing with Application to the Cocoa and
Coffee Sectors” (Phân tích chuỗi giá trị và sức mạnh thị trường trong xử lý hàng
hóa với ứng dụng cho ngành ca cao và cà phê) [93] đã nghiên cứu sự đóng góp
của phân tích CGT toàn cầu (GVC) trong lĩnh vực hàng hóa. Trên cơ sở phân
tích sự hình thành chi phí và lợi nhuận trong các mắt xích của CGT cà phê và ca
cao quốc tế, tác giả phát hiện ra sự suy giảm trong tỷ lệ chi phí sản xuất của giá
cà phê bán lẻ chỉ có khoảng một nửa chi phí cơ bản giá bán lẻ cà phê là do giá cà
phê FOB. Tỷ lệ chi phí sản xuất sô cô la do ca cao thậm chí còn thấp hơn. Các
chi phí còn lại được phát sinh ở các nước tiêu thụ. Lợi ích sản xuất đã làm giảm
chi phí sản xuất cà phê nhưng chi phí chế biến và phân phối cà phê đã tăng lên,
lợi nhuận thu được trong CGT cơ bản phát sinh ở khâu chế biến và tiêu thụ. Điều
này lý giải vì sao các nước trồng cà phê và ca cao, những nước cung cấp phần
lớn lượng cà phê và ca cao ra thị trường thế giới nhưng lại thu được ít lợi nhuận
nhất trong CGT.
Hualiang Lu (2006) trong công trình nghiên cứu “A Two-Stage Value
Chain Model for Vegetable Marketing Chain Efficiency Evaluation: A
Transaction Cost Approach” (Mô hình chuỗi giá trị hai giai đoạn để đánh giá
hiệu quả chuỗi tiếp thị rau: Phương pháp tiếp cận chi phí giao dịch) [98] đã áp
dụng mô hình CGT hai giai đoạn, sử dụng các phương pháp phân tích bao số liệu
(DEA) để xem xét bên trong quá trình ra quyết định lựa chọn cách thức cung
ứng rau tại thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). Hai giai đoạn với đầu ra của giai
đoạn đầu tiên trở thành đầu vào cho giai đoạn thứ hai cho phép đánh giá mức độ
hiệu quả ở cả giai đoạn sản xuất và tiếp thị rau, để từ đó các nhà sản xuất rau để


18
tìm kiếm giai đoạn hiệu quả để đạt được sản lượng cao hơn hoặc có thu nhập cao
hơn. Đồng thời, cũng tạo cơ hội cho các nhà quản lý thiết kế các chuỗi hiệu quả
và hiệu quả thông qua việc tăng cường các điểm yếu trong toàn chuỗi. Kết quả
nghiên cứu chuỗi cung ứng rau cho thấy rằng chi phí giao dịch có ảnh hưởng
đáng kể đến hiệu quả chuỗi cung ứng của khu vực Nam Kinh nói chung. Vì vậy,
nhà sản xuất rau cần có sự hiểu biết về kinh nghiệm thị trường và thông tin thị
trường, chẳng hạn như ở đâu và như thế nào để bán sản phẩm của họ, cách giảm
chi phí trong khi tiếp thị, v.v.
John Humphrey (2006) trong công trình “Global value chains in the
agrifood sector” (Chuỗi giá trị toàn cầu trong ngành nông nghiệp) [100] đã
nghiên cứu về nông nghiệp và giảm nghèo trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tăng
trưởng nông nghiệp là trung tâm giảm nghèo ở nông thôn bằng cách gia tăng
xuất khẩu nông sản từ các nước nghèo cho thị trường toàn cầu. Thị trường nông
nghiệp toàn cầu ngày càng trở nên phức tạp vì tập trung ở tất cả các điểm trong
CGT, phạm vi và độ phức tạp của các tiêu chuẩn thực phẩm, đặc biệt là vấn đề
an toàn thực phẩm ngày càng tăng. Xu hướng kinh doanh nông nghiệp toàn cầu
và hậu quả của họ đối với chiến lược xóa đói giảm nghèo thông qua tăng trưởng
xuất khẩu được phân tích thông qua mối liên hệ giữa các doanh nghiệp trong
kinh doanh nông nghiệp toàn cầu, đặt nông nghiệp sản xuất và chế biến ở các
nước đang phát triển trong bối cảnh động lực của các hệ thống nông nghiệp và
nông nghiệp toàn cầu rộng lớn hơn.
Tổ chức năng suất Châu Á (APO - Asian Productivity Organization)
(2007) công bố công trình nghiên cứu “Southeast Asian Regional Conference on
Agricultural Value Chain Financing” (Hội nghị vùng Đông Nam Á về chuỗi giá
trị tài chính nông nghiệp) [91] Do việc tái cấu trúc các CGT nông nghiệp, tất cả
các tác nhân trong chuỗi phải điều chỉnh để có thể đáp ứng các quy tắc đã thay
đổi. Điều này bao gồm không chỉ các nhà cung cấp đầu vào như tổ chức tài
chính mà còn cả các nhà sản xuất, nhà tiếp thị, chính phủ và các đại lý phát triển.
Các CGT tài chính trong lĩnh vực kinh doanh nông nghiệp trong bối cảnh tái cơ


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×