Tải bản đầy đủ

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN DU LỊCH MẠO HIỂM TẠI VƢỜN QUỐC GIA BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------

ĐỖ TUYẾT NGÂN

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN
DU LỊCH MẠO HIỂM TẠI VƢỜN QUỐC GIA BA BỂ,
TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội, 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------

ĐỖ TUYẾT NGÂN


NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN
DU LỊCH MẠO HIỂM TẠI VƢỜN QUỐC GIA BA BỂ,
TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Mạnh Hà

Hà Nội, 2015


MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ........................................................................2
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ .................................................................3
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................4
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................12
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................5
4. Lịch sử nghiên cứu ...............................................................................................6
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................................8
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...........................................................10
7. Bố cục của luận văn............................................................................................12
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH MẠO HIỂM ........13
1.1. Các khái niệm và cách tiếp cận.......................................................................13
1.2. Đặc điểm của loại hình du lịch mạo hiểm ......................................................15
1.3. Phân loại du lịch mạo hiểm ............................................................................16
1.4. Nguyên tắc phát triển sản phẩm du lịch mạo hiểm.........................................17
1.5. Các điều kiện phát triển của du lịch mạo hiểm...............................................18
1.6. Mối quan hệ giữa du lịch mạo hiểm và các loại hình du lịch khác ................18
1.7. Thị trƣờng và đối tƣợng khách tham gia vào du lịch mạo hiểm ....................29
1.8. Thực tiễn tổ chức và khai thác du lịch mạo hiểm ...........................................32
Chƣơng 2. ĐIỀU KIỆN VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH MẠO HIỂM
TẠI VƢỜN QUỐC GIA BA BỂ ..............................................................................40
2.1. Khái quát về vƣờn quốc gia Ba Bể .................................................................40
2.2. Điều kiện phát triển du lịch mạo hiểm tại vƣờn quốc gia Ba Bể....................44
2.3. Hiện trạng khai thác phát triển du lịch mạo hiểm tại vƣờn quốc gia Ba Bể...50
2.4. Nguyên nhân của thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm ở Ba Bể ................65
2.5. Đánh giá chung hoạt động du lịch mạo hiểm tại vƣờn quốc gia Ba Bể .........67
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH MẠO HIỂM TẠI


VƢỜN QUỐC GIA BA BỂ ..................................................................................70
3.1. Những căn cứ chủ yếu ....................................................................................70
3.2. Một số giải pháp cụ thể ...................................................................................72
KẾT LUẬN ...............................................................................................................84
KIẾN NGHỊ ..............................................................................................................85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATTA

: Adventure Travel Trade Association
Tổ chức Du lịch Thương mại Mạo hiểm

BQL

: Ban Quản lý

Bộ NN&PTNN

: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

CSHT

: Cơ sở hạ tầng

CSVCKT

: Cơ sở vật chất kỹ thuật

DLMH

: Du lịch mạo hiểm

DLST

: Du lịch sinh thái

KBTTN

: Khu bảo tồn thiên nhiên

KT-XH

: Kinh tế - Xã hội

MICE

: Meeting, Incentive, Conventions and Exhibition
Du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện,
du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên

Sở VHTT&DL

: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch

TAT

: Tourism Authority of Thailand
Cơ quan Du lịch Thái Lan

UNWTO

: United National World Tourism Organization
Tổ chức Du lịch Thế giới

VQG

: Vƣờn Quốc Gia

2


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng biểu
Bảng 1.1. So sánh giữa du lịch sinh thái và du lịch mạo hiểm .................................27
Bảng 2.1. Số liệu khí hậu khu vực VQG Ba Bể………………………………..…..46
Bảng 2.2. Dân số các xã trong khu vực VQG Ba Bể……………..……….………47
Bảng 2.3. Nơi lƣu trú của khách du lịch tại Ba Bể……………………….….…….56
Bảng 2.4. Trình độ cán bộ TTGDMT&DVMTR VQG Ba Bể………………….....59
Biểu đồ
Biểu đồ 2.1. Lƣợng khách du lịch tại Ba Bể giai đoạn 2012 - 2014 .........................43
Biểu đồ 2.2. Cơ cấu khách tham gia du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể ...................54
Biểu đồ 2.3. Các hoạt động du lịch mạo hiểm du khách tham gia ............................58
Biểu đồ 2.4. Các kênh thông tin về du lịch mạo hiểm Ba Bể ...................................63
Sơ đồ
Sơ đồ 2.1. Bản đồ du lịch VQG Ba Bể…………………………………….…...….41

3


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trên thế giới, du lịch mạo hiểm đã đƣợc biết đến từ những năm đầu của thế kỷ
XX và có sự tăng trƣởng khá nhanh thông qua việc ra đời của các sản phẩm cũng
nhƣ điểm đến mới. Ngày càng nhiều khách du lịch từ nhiều độ tuổi khác nhau,
không phân biệt giới tính tham gia vào các chƣơng trình du lịch mạo hiểm. Đối
tƣợng khách du lịch mạo hiểm thƣờng có khả năng chi trả cao, đi du lịch dài ngày.
Vì vậy, những nƣớc quan tâm phát triển du lịch thƣờng trú tâm tới loại hình du lịch
này nhằm đề ra chiến lƣợc quảng bá hiệu quả.
Việt Nam là quốc gia có tiềm năng du lịch và đang nổi lên là một điểm đến
mới, hấp dẫn trên bản đồ du lịch thế giới. Với 3/4 địa hình là đồi núi, hệ thống sông
ngòi đa dạng, các dãy núi đá vôi, nhiều hang động đẹp, nhiều khu rừng nguyên sinh
nhiệt đới, với hơn 3.000 km bờ biển tạo nên những cảnh đẹp vô cùng phong phú,
v.v. là những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch mạo hiểm.
Các hoạt động đi bộ băng rừng, leo núi, mô tô, xe đạp địa hình, khám phá hang
động, lặn biển, xuôi dòng bằng bè mảng, đua thuyền, lƣớt ván, nhảy dù, đu dây v.v.
trở thành các hoạt động du lịch hấp dẫn cho cả du khách trong nƣớc và quốc tế.
Hiện nay đã có một số doanh nghiệp lữ hành nghiên cứu, tổ chức các chƣơng trình
du lịch mạo hiểm nhƣ chƣơng trình chinh phục đỉnh Fan Xi Păng, đỉnh Lang Biang,
đỉnh Bạch Mã, đèo Prenn, các chƣơng trình lặn biển ở Nha Trang, Cù Lao Chàm,
Phú Quốc, Côn Đảo, đi xe đạp địa hình, xe mô tô thể thao ở Hà Giang, chèo thuyền
kayak trên vịnh Hạ Long, đảo Cát Bà, các trò chơi dây nƣớc, dây cáp ở Phong Nha
– Kẻ Bàng, v.v. Tuy nhiên, các hoạt động đó mới chỉ khai thác tài nguyên du lịch tại
khu vực đồng bằng, ven biển và một số khu vực miền núi gần các thị trấn, gần
đƣờng quốc lộ, còn một phần lớn các khu vực có điều kiện phát triển loại hình du
lịch mạo hiểm vẫn chƣa đƣợc đánh giá, khai thác. Việc xây dựng các chƣơng trình
du lịch mạo hiểm cho khách còn tƣơng đối manh mún, khai thác ở mức thí điểm,
4


thăm dò, chƣa đƣợc tổ chức hiệu quả. Do đó, cần có những nghiên cứu, đánh giá
sâu về loại hình du lịch đƣợc đánh giá là tiềm năng này ở Việt Nam nhằm có các đề
xuất cho việc khai thác hiệu quả giá trị đó, góp phần vào việc thực hiện chiến lƣợc
du lịch của quốc gia và của địa phƣơng.
Vƣờn quốc gia Ba Bể đƣợc thành lập năm 1992 theo Quyết định số 83/TTg, là
nơi bảo tồn sinh cảnh rừng thƣờng xanh mƣa ẩm nhiệt đới điển hình với đa dạng
sinh học cao. Ngoài ra, Ba Bể cũng đƣợc công nhận là một trong các khu đất ngập
nƣớc quan trọng của thế giới, và gần đây cũng đƣợc công nhận là một trong các khu
RAMSAR của Việt Nam.
Trung tâm VQG Ba Bể là hồ Ba Bể - hồ kiến tạo tự nhiên lớn nhất ở Việt
Nam, đƣợc UNESCO xếp vào một trong 20 hồ nƣớc ngọt tự nhiên đẹp trên thế giới
cần đƣợc bảo vệ và phát triển. Hồ có diện tích mặt nƣớc khoảng trên 500 ha với
chiều dài khoảng 7km, đƣợc bao bọc bởi vách núi đá và dạng địa hình đá vôi điển
hình. Tại khu vực hồ Ba Bể có nhiều điểm tham quan, thắng cảnh đẹp và hấp dẫn,
tiêu biểu là thác Đầu Đẳng, Ao Tiên, hệ thống các hang động có vẻ đẹp kỳ vĩ là điều
kiện rất thuận lợi cho các hoạt động tham quan, khám phá, mạo hiểm.
Tuy nhiên du lịch mạo hiểm tại Ba Bể phát triển chƣa xứng đáng với tiềm
năng. Các sản phẩm, dịch vụ còn đơn điệu, khai thác chƣa đồng bộ, hấp dẫn và chƣa
giữ chân đƣợc khách du lịch. Chính vì vậy việc tạo ra yếu tố mới, lạ về loại hình sản
phẩm, phƣơng thức tổ chức phù hợp sẽ là điều kiện quan trọng nhằm phát huy đƣợc
các tiềm năng du lịch ở đây, đặc biệt là loại hình du lịch mạo hiểm.
Từ những thực tế và sự cấp thiết đó, tác giả đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
thực trạng và đề xuất phát triển du lịch mạo hiểm tại vƣờn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc
Kạn”.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Du lịch mạo hiểm VQG Ba Bể.

5


Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Vƣờn quốc gia Ba Bể và các bên liên quan đến hoạt động du
lịch mạo hiểm ở Ba Bể.
+ Về thời gian: Từ tháng 09/2014 đến tháng 08/2015.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và kinh nghiệm phát triển du lịch mạo hiểm
tại Ba Bể nhằm đề xuất các giải pháp cho việc phát triển, khai thác hoạt động du
lịch mạo hiểm ở Ba Bể theo hƣớng hiệu quả, bền vững và trách nhiệm hơn.
4. Lịch sử nghiên cứu
Du lịch mạo hiểm đƣợc nghiên cứu ở nhiều nơi cả trên thế giới cũng nhƣ Việt
Nam. Mỗi nghiên cứu, đều thể hiện những quan điểm riêng, đánh giá vào các vấn
đề riêng của hoạt động du lịch mạo hiểm, từ tiềm năng, cách tổ chức, vận hành, lợi
ích, hiệu quả cũng nhƣ các tác động của chúng.
Trên thế giới có một số nghiên cứu đánh giá điển hình về du lịch mạo hiểm
nhƣ:
John Swarbrooke (2003), “Du lịch mạo hiểm: Lĩnh vực mới” (Adventure
tourism: The New Frontier): Tài liệu đã đề cập tới các vấn đề lý luận của du
lịch mạo hiểm nhƣ khái niệm du lịch mạo hiểm, các nhân tố của du lịch mạo
hiểm, thị trƣờng cung – cầu, việc quảng bá du lịch mạo hiểm, vấn đề quản lý
trong du lịch mạo hiểm.
Ralf Buckley (2006), “Du lịch mạo hiểm” (Adventure tourism): Tác giả dành
ra 23 trong 27 chƣơng để mô tả các loại hình du lịch mạo hiểm cụ thể tại các vùng
trên thế giới nhƣ đi xuyên rừng, chèo thuyền vƣợt thác, leo núi, lặn dƣới đáy biển,
nhảy dù. Ralf Buckley nhấn mạnh hai khía cạnh tạo nên sản phẩm du lịch đó là hoạt
động và nơi diễn ra các hoạt động ấy, đồng thời ông cũng đánh giá du lịch mạo

6


hiểm sẽ là tiềm năng của ngành du lịch nhằm tạo ra nét đặc sắc riêng giữa một môi
trƣờng cạnh tranh du lịch đang ngày càng gay gắt hiện nay.
Tại Việt Nam có một số nghiên cứu khoa học trong nƣớc nhƣ:
Trƣơng Quang Hải (2006): “Nghiên cứu tuyến Du lịch mạo hiểm Phong Nha –
Kẻ Bàng”. Đề tài tập trung vào vấn đề khai thác tiềm năng của một số tuyến du lịch
mạo hiểm, từ đó đƣa ra định hƣớng phát triển du lịch mạo hiểm tại Phong Nha – Kẻ
Bàng.
Phạm Trung Lƣơng (2008): “Cơ sở khoa học để phát triển các sản phẩm du
lịch thể thao - mạo hiểm ở vùng núi phía Bắc”. Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý
luận, tiềm năng, thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển sản phẩm du lịch mạo
hiểm – thể thao ở khu vực vùng núi Phía Bắc, xây dựng những sản phẩm du lịch
phù hợp, đáp ứng nhu cầu xã hội.
Trịnh Lê Anh (2006): “Du lịch Trekking ở Việt Nam: Loại hình và phƣơng
thức tổ chức (Nghiên cứu trƣờng hợp ở Sa Pa – Lào Cai)”. Đề tài bƣớc đầu khái
quát cơ sở khoa học loại hình du lịch trekking và hiện trạng phƣơng thức tổ chức
trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn (trong phân hệ du lịch thể thao – khám phá, mạo
hiểm). Từ đó khuyến nghị phƣơng thức tổ chức khai thác du lịch trekking phù hợp
tại Sa Pa.
Trƣơng Việt Trƣờng (2010): “Nghiên cứu du lịch sinh thái kết hợp với du lịch
mạo hiểm tại khu mỏ Kẽm - Chì Chợ Đồn, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”. Nghiên
cứu trình bày cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và du lịch mạo hiểm, hiện trạng các
loại hình du lịch sinh thái và du lịch mạo hiểm trên thế giới nói chung và Việt Nam
nói riêng, phân tích hiện trạng khu mỏ Kẽm – Chì, huyện Chợ Đồn, làm rõ các tiềm
năng, khả năng phát triển và đƣa ra một số định hƣớng nhằm phát triển du lịch sinh
thái, du lịch mạo hiểm cho khu mỏ này.
Các công trình trên đều tập trung vào việc phân tích, đánh giá về tiềm năng du
lịch của điểm nghiên cứu và đề xuất khai thác các hoạt động du lịch nên đƣợc khai
7


thác và phát triển cho địa phƣơng. Đây cũng là các nghiên cứu quan trọng nhất về
cở sở lý luận và định hƣớng cho việc phát triển du lịch mạo hiểm ở Việt Nam, đặc
biệt là ở Bắc Kạn và Ba Bể.
5.

Phƣơng pháp nghiên cứu

5.1. Các phương pháp nghiên cứu
Thu thập và xử lý thông tin: Mục đích của hoạt động này là nhằm tìm hiểu lịch
sử nghiên cứu, kế thừa thành tựu, bài học mà đồng nghiệp đã làm về cùng một vấn
đề. Do vậy, việc thu thập và đánh giá thông tin nhằm không lặp lại những công việc
mà đồng nghiệp đã thực hiện. Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả thực hiện việc
thu thập các nghiên cứu, văn bản, tài liệu lý luận, các bài báo, công bố nghiên cứu
khác nhau về du lịch mạo hiểm, từ đó lựa chọn thông tin quan trọng phục vụ cho đề
tài nghiên cứu của mình. Các thông tin đƣợc thu thập từ các nghiên cứu, đánh giá,
bài bao khoa học, luận văn, đề án nghiên cứu, từ các nguồn khác nhau, các thông tin
về Ba Bể và các hoạt động du lịch ở Ba Bể đƣợc tập trung thu thập ở Sở
VHTT&DL tỉnh Bắc Kạn, Ban Quản lý VQG Ba Bể, v.v. Dựa trên nguồn thông
tin đó tác giả đã đánh giá, chọn lọc nội dung, thông tin, kinh nghiệm, so sánh,
bình luận, nhận định và trích dẫn trong luận văn.
Khảo sát thực địa: Các hoạt động nghiên cứu, đánh giá tại thực địa đã giúp tác
giả kiểm tra, đánh giá lại độ chính xác của các tƣ liệu, tài liệu và thu thập các số liệu
thực tế, các nguồn thông tin mới nhất mà các tài liệu chƣa cập nhật đƣợc. Khảo sát
thực địa đƣợc thực hiện thông qua các hoạt động thăm, quan sát, trải nghiệm và
đánh giá về hoạt động du lịch mạo hiểm tại Ba Bể. Tác giả đã tiến hành khảo sát
thực tế trên các tuyến du lịch chính đang đƣợc khai thác tại Ba Bể nhƣ:
1. Tuyến du lịch sông: Bến thuyền Buốc Lốm - Động Puông - Bản làng ven
sông Năng (Bản Cám, Bản Tàu) - Thác Đầu Đẳng.
2. Tuyến du lịch hồ: Hồ Ba Bể - Đảo Bà Goá - Đền An Mã - Ao Tiên.
8


3. Tuyến du lịch rừng: Đƣờng đi bộ trong rừng nguyên sinh VQG, các chòi
quan sát ngắm cảnh hồ, làng bản.
4. Tuyến du lịch làng bản ven hồ: Bản Pác Ngòi (Phía nam hồ) - Bản Bó Lù
(Phía Tây nam hồ) - Bản Cốc Tộc (Phía Tây nam hồ).
5. Các điểm tham quan du lịch lân cận hồ Ba Bể: Động Hua Mạ (Xã Quảng
Khê) - Thác Bạc (Xã Hoàng Trĩ).
Khảo sát ở các tuyến và điểm du lịch chính này nhằm tìm hiểu, đánh giá đƣợc
hiện trạng cơ sở hạ tầng – vật chất kĩ thuật, phƣơng thức tổ chức, hiệu quả và các
bất cập từ mô hình và cách quản lý vận hành các mô hình này.
Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả sử dụng phƣơng pháp điều tra xã
hội học để lấy ý kiến chủ quan của các đối tƣợng bằng những câu hỏi về nhu cầu
và mức độ hài lòng của đối tƣợng đƣợc khảo sát về du lịch mạo hiểm tại VQG
Ba Bể. Phƣơng pháp này đƣợc tiến hành với các giai đoạn nhƣ sau:
Giai đoạn 1: Lựa chọn nhóm đối tƣợng điều tra
Đối tƣợng tác giả lựa chọn là các bên liên quan tới hoạt động du lịch mạo
hiểm tại VQG Ba Bể. Tuy nhiên, việc am hiểu về tiềm năng và thực trạng của du
lịch mạo hiểm tại đây có thể khác nhau đối với từng nhóm đối tƣợng. Vì vậy, tác
giả đã phân khúc ra một số nhóm nhƣ sau:
- Những ngƣời làm công tác nghiên cứu, giảng dạy có hiểu biết sâu rộng về
du lịch mạo hiểm.
- Những ngƣời làm công tác tại ban quản lý và hƣớng dẫn viên tại địa
phƣơng tiến hành khảo sát.
- Ngƣời dân địa phƣơng sinh sống quanh khu vực nghiên cứu.
- Khách du lịch đến VQG Ba Bể.
Giai đoạn 2: Thực hiện khảo sát
9


Tác giả trực tiếp điều tra theo từng nhóm đối tƣợng dựa trên bảng hỏi (Xem
phụ lục 5, 7). Có 2 loại bảng hỏi đã đƣợc sử dụng là:
Bảng hỏi dành cho du khách (cho cả khách Việt Nam và khách nƣớc ngoài)
nhằm thu thập thông tin về những đánh giá, cảm nhận và góp ý của du khách về du
lịch mạo hiểm Ba Bể. Nội dung bảng hỏi gồm 2 phần chính: Phần thông tin của du
khách và đánh giá của du khách về du lịch mạo hiểm Ba Bể. Tổng số phiếu phát ra
là 60 phiếu, tổng số phiếu thu về là 52 phiếu (chiếm tỉ lệ 86,7%), số phiếu không
hợp lệ (không gửi lại hoặc không điền đầy đủ thông tin) là 8 phiếu (chiếm 13,3%).
Bảng hỏi dành cho ngƣời dân kinh doanh du lịch tại VQG Ba Bể nhằm thu
thập thông tin về nhận thức và nhu cầu của cộng đồng dân cƣ bản địa sinh sống
quanh khu vực nghiên cứu. Tổng số phiếu phát ra và thu về là 20 phiếu.
Nhờ sự giúp đỡ của ban quản lý và hƣớng dẫn viên tại VQG Ba Bể, tác giả đã
thu nhận đƣợc phần lớn bảng hỏi của du khách quốc tế. Theo tác giả nhận định, việc
tiếp cận với khách nội địa khó khăn hơn ngƣời nƣớc ngoài, bởi tính cách của ngƣời
Việt ngại hoặc chƣa quen với hoạt động cho ý kiến.
Giai đoạn 3: Tổng hợp và đƣa ra kết quả đánh giá
Sau khi tiến hành điều tra khảo sát, tác giả xử lý dữ liệu thu thập đƣợc để từ đó
đƣa ra các ý kiến mang tính khách quan nhất có thể. Để trình bày và xử lý những số
liệu điều tra, tác giả đã áp dụng phƣơng pháp tính tỉ lệ phần trăm. Phƣơng pháp này
đƣợc thực hiện qua việc lập bảng thống kê các số liệu thu đƣợc và tính tỉ lệ phần
trăm của các biến đƣợc chọn trong tổng số những ngƣời trả lời câu hỏi (áp dụng cho
những câu hỏi đƣợc soạn theo thang định danh nhƣ các câu hỏi về độ tuổi, giới tính,
v.v). Ngoài ra, việc sử dụng thang đo xếp hạng theo thứ tự cho biết đƣợc khoảng
cách giữa các thứ bậc. Ví dụ, khi đánh giá về tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng – vật
chất kỹ thuật phục vụ du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể, du khách sẽ đánh giá dựa
trên 5 mức độ: 1: Rất kém; 2: Kém; 3: Trung bình; 4: Tốt; 5: Rất tốt. Việc đánh giá

10


qua các mức độ của từng yếu tố giúp tác giả xác định mức độ giá trị, xếp hạng các
yếu tố và từ đó có thể rút ra nhận xét khách quan, khoa học.
Tham vấn chuyên gia: Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, ngoài những
phƣơng pháp kể trên, tác giả cũng đã tiến hành lấy ý kiến của các hãng lữ hành, các
chuyên gia du lịch, các nhà quản lý tại VQG Ba Bể (phụ lục 8) về các vấn đề: Nhận
thức chung về du lịch mạo hiểm, những điều kiện thuận lợi, hiện trạng, tồn tại và
thách thức, các đề xuất, định hƣớng trong việc phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG
Ba Bể.
5.2. Kế hoạch thực hiện luận văn
STT

Thời gian thực

Nội dung

hiện
1

15/8/2014 -

Xác định tên đề tài và lập đề cƣơng chi tiết

15/09/2014
2

15/09/201430/10/2014

Thu thập tài liệu
- Những nghiên cứu trong nƣớc và nƣớc ngoài về du
lịch mạo hiểm
- Những tài liệu liên quan đến VQG Ba Bể.

3

30/10/2014-

Khảo sát tại Ba Bể

09/11/2014

- Các điều kiện , thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm
Ba Bể nhƣ tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, v.v.

4

09/11/20114-

Thu thập ý kiến của các chuyên gia

15/12/2014
5

15/12/2014-

Phân tích xử lý số liệu, tổng hợp tài liệu

15/02/2015
6

15/02/2015-

Viết, chỉnh sửa và hoàn thiện luận văn

20/08/2015
11


6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần bổ xung cơ sở lý luận khoa học thực tiễn
cho việc phát triển loại hình du lịch mạo hiểm ở Việt Nam, đặc biệt là Ba Bể.
Ý nghĩa thực tiễn: Bƣớc đầu tìm hiểu về thực trạng và các kinh nghiệm thực
tế từ mô hình du lịch mạo hiểm ở Ba Bể với các kinh nghiệm, bài học thành công,
thất bại. Từ bài học và kinh nghiệm đó, đề xuất giải pháp nhằm phát triển, khai thác
hiệu quả hơn, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các nhà quản lý, cộng đồng địa
phƣơng và du khách khi tham gia du lịch mạo hiểm tại Ba Bể.
7. Bố cục của luận văn
Luận văn gồm các phần chính sau:
Mở đầu
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch mạo hiểm
Chƣơng 2. Điều kiện và thực trạng phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể
Chƣơng 3. Một số giải pháp phát triển du lịch mạo hiểm tại VQG Ba Bể
Kết luận
Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

12


Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
DU LỊCH MẠO HIỂM
1.1. Các khái niệm và cách tiếp cận
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt
động của những ngƣời du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và
tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thƣ giãn cũng nhƣ
mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhƣng
không quá một năm, ở bên ngoài môi trƣờng sống định cƣ; nhƣng loại trừ các
chuyến du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Còn lữ hành là việc thực hiện
chuyến đi từ nơi cƣ trú và làm việc thƣờng xuyên của con ngƣời đến một nơi khác
nhằm những mục đích nhất định và những hoạt động phục vụ cho chuyến đi ấy
(Trần Đức Thanh, 2005). Nhƣ vậy, những chuyến đi không nhất thiết nhằm mục đích

du lịch cũng đƣợc coi là chuyến lữ hành. Khái niệm “lữ hành” mở rộng hơn khái
niệm “du lịch” cả về nội hàm và ngoại diên của nó. Du lịch mạo hiểm là một
trong những loại hình du lịch đang thu hút sự quan tâm của nhiều du khách, đặc
biệt là những ngƣời ƣa khám phá, hoạt động mạo hiểm, gần gũi với thiên nhiên,
xu hƣớng hiểu và hòa mình với tự nhiên. Tuy nhiên, đây là một loại hình du
lịch còn mới, đang tiếp tục phát triển do đó thuật ngữ du lịch mạo hiểm vẫn
chƣa thực sự thống nhất và đƣợc hiểu theo nhiều cách với nhiều khái niệm.
Theo John Swarbrooke và cộng sự (2003), du lịch mạo hiểm là một hoạt động
giải trí, vì vậy có nhiều tên để chỉ loại hình du lịch này: sự mạo hiểm thú vị, hoạt
động giải trí mạo hiểm tự nhiên, sự theo đuổi những hoạt động ngoài trời, hoạt động
giải trí mạo hiểm, v.v.
Trong nghiên cứu của Millington (2001), ông cho rằng du lịch mạo hiểm là
một hoạt động giải trí đƣợc tổ chức tại một nơi xa nơi cƣ trú thƣờng xuyên, mới lạ
và hoang sơ, kết hợp với các hoạt động có mức độ vận động cao, chủ yếu là các
hoạt động ngoài trời. Ngƣời tham gia loại hình du lịch mạo hiểm mong muốn đƣợc

13


trải nghiệm sự mạo hiểm ở nhiều mức độ mạo hiểm khác nhau, cảm nhận sự thú vị,
tận hƣởng sự mới lạ và rèn luyện bản thân.
Muller & Cleaver (2000) đã đƣa ra một định nghĩa dƣới góc độ của những
ngƣời cung cấp dịch vụ rằng du lịch mạo hiểm đƣợc đặc trƣng bằng khả năng cung
cấp cho du khách các mức độ cảm nhận hào hứng thƣờng có đƣợc nhờ đƣa các
thành tố thực nghiệm có tính chất thách thức về mặt thể chất vào trải nghiệm của du
khách (thƣờng là ngắn). Trong định nghĩa này, các tác giả nhấn mạnh cảm nhận của
du khách thông qua việc tham gia trực tiếp vào các hoạt động đòi hỏi nỗ lực về mặt
thể chất để vƣợt qua một thách thức.
Theo Trƣơng Quang Hải (2006) thì “Du lịch mạo hiểm là một hoạt động
ngoài trời diễn ra ở nơi chúng ta không thƣờng xuyên tới hay ở một nơi đặc
biệt nào đó. Hoạt động này có thể dẫn đến một số rủi ro, song qua đấy chúng ta
có thể học đƣợc những kinh nghiệm mới để chế ngự chúng và vƣợt qua những
thử thách đối với bản thân” [21, tr.2].
Tác giả Phạm Trung Lƣơng (2008) trong báo cáo Cơ sở khoa học để phát
triển các sản phẩm du lịch thể thao mạo hiểm vùng núi phía bắc cho rằng “Du
lịch mạo hiểm là loại hình du lịch tại những khu vực tự nhiên còn tƣơng đối
hoang sơ, nơi du khách sẽ đƣợc thỏa mãn nhu cầu khám phá những điều không
ngờ tới cũng với những cảm xúc bị “đe dọa” bởi những hoạt động “mạo hiểm”
mà trƣớc đó họ chƣa thể hình dung đƣợc song đã tự nguyện chấp nhận tham
gia”[9, tr.18]. Ngoài ra, để làm rõ hơn nội hàm của khái niệm này, tác giả cũng
đồng thời đƣa ra khái niệm về du lịch thể thao – mạo hiểm: “Du lịch thể thao –
mạo hiểm là loại hình du lịch mang tính chất thể thao dựa vào việc khai thác các
giá trị tự nhiên có thể kết hợp với văn hóa địa phƣởng những khu vực còn tƣơng
đối hoang sơ, nhằm thỏa mãn nhu cầu tăng cƣờng sức khỏe và khám phá những
điều không ngờ tới với những cảm giác mạo hiểm”. Nhƣ vậy, du lịch mạo hiểm
thực chất là một phần nằm trong du lịch thể thao – mạo hiểm và cùng bao gồm
những yếu tố nỗ lực cao về mặt thể chất, tinh thần. Tuy nhiên du lịch mạo hiểm
14


chú trọng vào mục đích khám phá, vƣợt qua những khó khăn, thử thách, điều
kiện khắc nghiệt để đạt đƣợc cảm giác “mạo hiểm” còn du lịch thể thao – mạo
hiểm, ngoài mục đích trên còn hƣớng vào các hoạt động mang tính thể thao để
tăng cƣờng sức khỏe. Đây chính là dấu hiệu quan trọng để nhận biết sản phẩm
của 2 loại hình này.
Từ các định nghĩa, khái niệm, cách hiểu trên, có thể thấy rằng du lịch mạo
hiểm là loại hình du lịch trong đó cần có những đặc trƣng cụ thể sau đây: Tác động
linh hoạt, sự mạo hiểm, sự thách thức, tính mục đích, tính mới lạ, sự kích thích, sự
độc lập, sự thám hiểm và khám phá, sự say mê, sự trải nghiệm cảm xúc.
1.2. Đặc điểm của loại hình du lịch mạo hiểm
Du lịch mạo hiểm là một hình thức giải trí tạo cảm giác mạnh, có thể hoặc
không kết hợp việc di chuyển từ vùng nay sang vùng khác theo lịch trình, đòi hỏi
phải có sự nghiên cứu kĩ lƣỡng lịch trình chuyến đi và khu chọn làm địa điểm để
thực hiện chuyến đi, bởi trên nguyên tắc địa điểm đƣợc chọn phải đáp ứng đầy đủ
các tính chất phục vụ cho du lịch mạo hiểm (nhƣ tạo đƣợc thử thách cho du khách,
cảm giác gần gũi với thiên nhiên, gắn liền với văn hóa và phong tục địa phƣơng).
Không nhất thiết tất cả các chuyến mạo hiểm đều dựa vào thiên nhiên (trong
một vài trƣờng hợp có thể đƣợc tổ chức ở trong các thành phố lớn theo ý đồ của các
nhà tổ chức), đó có thể là sự kết hợp giữa các yếu tố mạo hiểm và giải trí ở các công
viên, cầu vƣợt trong thành phố hoặc là các trò chơi mang tính xếp hạng giữa các đội
chơi kết hợp với các yếu tố mạo hiểm.
Du lịch mạo hiểm rất an toàn khi có sự hỗ trợ của các trang thiết bị hiện đại,
và tùy theo mức độ hoạt động mà sự cần thiết của các trang thiết bị là khác nhau.
Nguồn nhân lực phục vụ loại hình du lịch mạo hiểm cần là những ngƣời có
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến các loại hình du lịch này. Thông
thƣờng các hƣớng dẫn viên trong các tuyến, điểm du lịch mạo hiểm là các huấn
luyện viên cho các trò chơi, trải nghiệm, khám phá thử thách sẽ diễn ra trên tuyến.

15


Cũng nhƣ những loại hình khác, du lịch mạo hiểm cần có các sản phẩm và
dịch vụ đặc biệt dành riêng cho nó. Các sản phẩm dành cho du lịch mạo hiểm là các
trang thiết bị giúp du khách trải nghiệm đƣợc các hoạt động du lịch và công cụ để
đảm bảo an toàn cho du khách. Đối với các hoạt động trên cạn nhƣ đi bộ băng rừng,
leo vách núi cần dây leo, móc khóa, lều bạt, mũ bảo hiểm, các dụng cụ bảo vệ đầu
gối, cổ tay, máy bộ đàm, v.v. Các hoạt động trên không nhƣ nhảy dù, tàu lƣợn cần
mũ bảo hiểm, dù nhảy, các dụng cụ bảo về đầu, đầu gối khửu tay, v.v. Tùy theo các
hoạt động mà các thiết bị giống nhau đƣợc thiết kế khác nhau. Ví dụ, các công cụ để
tham gia các hoạt động khám phá dƣới nƣớc khác với trên cạn, mặc dù chúng có tên
gọi tƣơng tự (nhƣ mũ bảo hiểm các hoạt động leo núi khác với mũ bảo hiểm các
hoạt động dƣới nƣớc). Đối với du lịch mạo hiểm, yếu tố an toàn là yêu cầu quan
trọng nhất, trong đó bao gồm các dụng cụ cơ bản nhƣ hộp y tế và thông tin liên lạc
đơn giản, bên cạnh đó là các thiết bị chuyên dụng để trải nghiệm các hoạt động du
lịch cụ thể tại từng điểm.
Cơ sở nghỉ ngơi, lƣu trú dành cho loại hình du lịch mạo hiểm cũng rất phong
phú, có thể là các khách sạn đạt tiêu chuẩn, nhà dân hoặc chỉ là điểm cắm trại ngoài
trời để phù hợp với nhu cầu và ý thích của du khách. Các dịch vụ đi kèm nhƣ hƣớng
dẫn kỹ thuật, khuân vác, dẫn đƣờng, bán và cho thuê trang thiết bị, cứu hộ, v.v. luôn
là các gói dịch vụ cần có trong bất cứ loại hình nào của du lịch mạo hiểm.
1.3. Phân loại du lịch mạo hiểm
Trên thế giới, du lịch mạo hiểm đƣợc phân loại theo một số nhóm, mục tiêu,
đặc điểm chính nhƣ sau:
Phân loại theo mục đích chuyến đi
Phân loại theo mục đích chuyến đi có 2 loại: Du lịch với mục đích khám phá,
trải nghiệm; Du lịch với mục đích và khám phá, nghiên cứu của các nhà khoa học
qua việc thực hiên các chuyến khảo sát, phân tích, tìm hiểu các loài động, thực vật,
các hiện tƣợng trong tự nhiên.
Phân loại theo tính chất và đặc điểm
16


Phân loại theo tính chất và đặc điểm có 3 loại: Du lịch mạo hiểm trên cạn (leo
núi, khám phá hang động, đi bộ băng rừng); Du lịch mạo hiểm dƣới nƣớc (chèo
thuyền, vƣợt thác, lặn biển khám phá đại dƣơng); Du lịch mạo hiểm trên không
(nhảy dù, tàu bay, tàu lƣợn).
Phân loại theo mức độ mạo hiểm
Phân loại theo mức độ nguy hiểm có 3 loại: Loại hình có mức độ mạo hiểm
thấp (đi xe đạp địa hình, chèo thuyền, đi bộ băng rừng); Loại hình có mức độ mạo
hiểm trung bình (leo núi, chèo thuyền vƣợt thác); Loại hình có mức độ mạo hiểm
cao – đây là các hoạt động mang tính chất rủi ro cao hay địa điểm tổ chức là những
nơi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt (trƣợt tuyết trên miệng núi lửa ở Nhật Bản,
bay lƣợn trên không trung ở Brazil, nhảy xuống hồ cá mập ở Mexico, nhảy từ cao
ốc ở Dubai, leo núi băng ở Nepal).
Nhƣ vậy, sự phân loại du lịch mạo hiểm có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác
nhau tùy theo mục đích, tính chất hay mức độ mạo hiểm.
1.4. Nguyên tắc phát triển sản phẩm du lịch mạo hiểm
Một số nguyên tắc đặc thù cần lƣu ý khi phát triển du lịch mạo hiểm gồm:
Tăng cƣờng các dịch vụ đảm bảo an toàn cho du khách, theo đó các dịch vụ
nhƣ huấn luyện, hƣớng dẫn, hỗ trợ an toàn phải đƣợc đƣa vào cấu thành chính mang
tính bắt buộc của sản phẩm du lịch mạo hiểm.
Ngoài các giá trị về tài nguyên nhƣ đặc điểm địa hình, độ cao, độ hoang sơ,
v.v. đóng vai trò chính ảnh hƣởng tới việc xây dựng các sản phẩm du lịch mạo
hiểm, cần chú trọng khai thác các giá trị văn hóa bản địa nhƣ sinh hoạt truyền thống
cộng đồng, kiến trúc nhà ở, văn nghệ dân gian, lễ hội truyền thống nhằm tạo sự
khác biệt và tăng tính hấp dẫn của sản phẩm.
Các sản phẩm du lịch mạo hiểm thƣờng đƣợc phát triển ở những khu vực
hoang sơ nên cần phát triển chúng theo nguyên tắc chỉ thỏa mãn nhu cầu của một
nhóm nhỏ du khách tại một thời điểm phù hợp với sức chứa của tài nguyên để giảm
thiểu tác động của hoạt động du lịch đến môi trƣờng. Đây là nguyên tắc quan trọng
17


đối với việc phát triển các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên ở những khu vực
hoang sơ, nhạy cảm trƣớc những tác động của du lịch.
Chính vì thế, nếu đảm bảo những nguyên tắc cơ bản có tính đặc thù này sẽ
giúp xây dựng các sản phẩm du lịch mạo hiểm có tính hấp dẫn và tính cạnh tranh
cao, đáp ứng kỳ vọng của du khách.
1.5. Các điều kiện phát triển của du lịch mạo hiểm
Trong khi các loại hình du lịch tham quan, nghỉ dƣỡng, đòi hỏi hạ tầng cơ sở,
đặc biệt là hệ thống giao thông và cơ sở vật chất phục vụ du lịch đóng vai trò quan
trọng, thì đối với du lịch mạo hiểm những yếu tố trên ít có ảnh hƣởng. Trong nhiều
trƣờng hợp, sự khó khăn về hạ tầng và yếu kém về cơ sở vật chất lại là những yếu tố
góp phần làm tăng tính mạo hiểm của sản phẩm du lịch mạo hiểm mà du khách sẽ
trải nghiệm. Nhƣ vậy, đứng từ góc độ khái niệm về sản phẩm du lịch, có thể thấy có
những yếu tố cơ bản sau ảnh hƣởng tới sự phát triển của du lịch mạo hiểm.
1.5.1. Hệ thống tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch đƣợc phân loại theo tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các
yếu tố tự nhiên, và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố về con ngƣời và xã
hội. Tuy nhiên vai trò của tài nguyên du lịch nhân văn không quyết định mà chỉ là
yếu tố bổ trợ quan trọng (Luật du lịch, 2005).
Cũng theo Luật du lịch (2005) thì tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên,
di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của
con ngƣời có thể đƣợc sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để
hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch.
Nhƣ vậy, tài nguyên du lịch đƣợc xem nhƣ tiền đề để phát triển sản phẩm du
lịch. Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu
thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu. Theo tác giả
Phạm Trung Lƣơng (2008) thì các dạng tài nguyên có thể khai thác để phát triển
loại hình du lịch mạo hiểm (DLMH) bao gồm :

18


Các dạng địa hình: Các dạng địa hình sử dụng để khai thác du lịch mạo hiểm
phải có các yếu tố phức tạp, hiểm trở về độ cao, độ dốc. Độ dốc càng lớn thì tính
mạo hiểm của sản phẩm du lịch tạo ra cũng sẽ càng lớn. Hiện nay, các tuyến du lịch
mạo hiểm (đi bộ mạo hiểm xuyên rừng, đi xe máy, xe đạp địa hình mạo hiểm, tàu
lƣợn) thƣờng đƣợc thiết kế ở những khu vực có độ dốc lớn nhằm khai thác tính
“mạo hiểm” ẩn chứa trong dạng tài nguyên này .
Ngoài ra, một dạng tài nguyên du lịch địa hình khác thƣờng đƣợc khai thác là
phần mở rộng chƣa đƣợc khám phá của hệ thống các hang động. “Những hang động
càng sâu, càng phức tạp (đƣợc cấu tạo hỗn hợp giữa 2 tính chất động thủy và động
khô) đƣợc quan tâm khai thác. Tất nhiên các giá trị cảnh quan, thẩm mỹ của hang
động cũng sẽ đóng vai trò quan trọng, tuy nhiên sẽ là thứ yếu nếu tài nguyên địa
hình này đƣợc khai thác cho mục đích du lịch mạo hiểm. Một dạng tài nguyên du
lịch địa hình khác hiện cũng thƣờng đƣợc khai thác cho mục đích du lịch mạo hiểm
là dạng địa hình sa mạc (hoặc bán hoang mạc) này chứa yếu tố chinh phục hấp dẫn
du khách” [9, tr.28].
Hệ thống sông, suối và hồ: Các đặc điểm về tốc độ dòng chảy và địa hình của
lòng sông, suối, thác ghềnh thƣờng đƣợc khai thác khi phát triển loại hình du lịch
mạo hiểm. Độ dốc, tốc độ dòng chảy càng lớn thì yếu tố mạo hiểm càng cao. Ngoài
đặc điểm cơ bản này, các giá trị cảnh quan xung quanh sẽ là yếu tố tài nguyên bổ
trợ quan trọng góp phần tạo nên tính hấp dẫn cho các hoạt động du lịch mạo hiểm.
Các giá trị cảnh quan, hệ sinh thái: Khi phân tích các dạng tài nguyên đƣợc sử
dụng phát triển các sản phẩm du lịch thể thao – mạo hiểm, tác giả Phạm Trung
Lƣơng (2008) cho rằng giá trị cảnh quan, hệ sinh thái tại các vƣờn quốc gia, khu
bảo tồn thiên nhiên (KBTTT) là dạng tài nguyên du lịch bổ trợ quan trọng. Thực tế
cho thấy các tuyến du lịch mạo hiểm ở vùng núi thƣờng đƣợc thiết kế đi qua các
khu vực có cảnh quan đẹp, hấp dẫn hay những vƣờn quốc gia (VQG), KBTTT có
các giá trị đa dạng sinh học cao. Nhƣ vậy, những giá trị tài nguyên này sẽ góp phần
không nhỏ tạo nên tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch mạo hiểm.
19


Các giá trị văn hóa bản địa: Tiêu biểu là phong tục tập quán, tín ngƣỡng, sinh
hoạt sản xuất truyền thống, tính quần cƣ, kiến trúc công trình đƣợc xem là dạng tài
nguyên du lịch bổ trợ quan trọng đối với du lịch mạo hiểm ở vùng núi. Một số nƣớc
phát triển du lịch mạo hiểm trên thế giới đã cho thấy rằng mức độ quan trọng của tài
nguyên du lịch chủ yếu trên đối với sự phát triển của loại hình du lịch mạo hiểm có
khác nhau. Cụ thể (theo thứ tự về mức độ quan trọng): Địa hình (độ cao, độ dốc,
hang động ); Hệ thống sông, suối và hồ; Các giá trị cảnh quan, hệ sinh thái; Các giá
trị văn hóa bản địa (Ralf Buckey, 2006).
Ngoài các yếu tố vừa nêu, còn có các điều kiện tự nhiên có ảnh hƣởng đến
hoạt động du lịch nói chung và du lịch mạo hiểm nói riêng nhƣ khí hậu, thời tiết, sự
an toàn và bất trắc của môi trƣờng tự nhiên.
Với các nguyên tắc và yêu cầu đó, Ba Bể đáp ứng gần nhƣ đầy đủ các điều
kiện cơ bản mà một điểm du lịch mạo hiểm cần có: Ở Ba Bể có sự hội tụ của sự đa
dạng của địa hình, sự phong phú của các loài, tính đa dạng của hệ thống thủy vực,
suối, hồ, sông với mức độ khó khăn của địa hình, sự phong phú về văn hóa và đời
sống của ngƣời dân địa phƣơng. Sự đa dạng và các tiềm năng đó cho thấy tiềm năng
thực sự và sự phù hợp của Ba Bể nhƣ một điểm lý tƣởng cho những du khách yêu
thích loại hình du lịch mạo hiểm và vấn đề làm thế nào, phát triển ra sao để phát
huy đƣợc các tiềm năng và thế mạnh đó.
1.5.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu làm xuất
hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con ngƣời thành hiện thực. Nền sản xuất
xã hội phát triển tạo điều kiện ra đời của nhiều nhân tố khác nhau nhƣ nhu cầu nghỉ
ngơi, giải trí, mức sống, mức thu nhập, thời gian rỗi rãi. Ở các nƣớc có nền kinh
tế chậm phát triển, nhìn chung nhu cầu nghỉ ngơi du lịch còn hạn chế, ngƣợc lại
nhu cầu nghỉ ngơi ở các nƣớc kinh tế phát triển rất đa dạng. Bên cạnh nhu cầu
giải trí cuối tuần, hàng năm ngƣời dân còn đòi hỏi những đợt nghỉ dài ngày ở
những vùng biển, trên núi, trong nƣớc hoặc nƣớc ngoài. Rõ ràng những nhu cầu
20


này phải dựa trên cơ sở vững chắc của nền sản xuất xã hội (Trần Thị Thúy Lan,
2005). Nhu cầu du lịch mạo hiểm cũng xuất phát từ các nƣớc phát triển, khi
ngƣời dân đã đƣợc đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về xã hội, thì ngƣời ta sẽ tìm tới
những nhu cầu cao cấp hơn.
VQG Ba Bể có đặc điểm khá phức tạp về mặt quản lý do địa bàn rộng lớn
với 15 điểm dân cƣ (hơn 3000 ngƣời) sinh sống cả ngoài và trong vùng lõi. Nhìn
chung đời sống kinh tế của đồng bào sống trong vùng đang gặp nhiều khó khăn,
đặc biệt là trong vùng lõi. Tỷ lệ hộ đói nghèo chung cho các xã là 26.5%, tỷ lệ
ngƣời mù chữ ở độ tuổi 15 – 60 là 9.36%. Sức ép về phát triển kinh tế - xã hội và
nhu cầu lâm sản vào VQG là không nhỏ (khai thác và săn bắt động vật hoang dã,
xâm lấn đất đai, sử dụng chất nổ, xung điện đánh bắt cá ở vùng lòng hồ, v.v.).
Thực tế này đã ảnh hƣởng tới việc phát triển các loại hình dịch vụ nói chung
cũng nhƣ dịch vụ du lịch trên địa bàn
1.5.3. Điều kiện cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật
Điều kiện cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng có vai trò quan trọng đối với việc phát triển du lịch nói chung và
du lịch mạo hiểm nói riêng, đặc biệt kết cấu hạ tầng du lịch là những nhân tố quan
trọng hàng đầu. Kết cấu hạ tầng du lịch bao gồm hệ thống giao thông, thông tin liên
lạc, hệ thống cung cấp điện, nƣớc và xử lý chất thải từ hoạt động du lịch. Giao
thông là một bộ phận của cơ sở hạ tầng kinh tế, nhƣng có những loại phƣơng tiện
giao thông sản xuất chỉ phục vụ riêng cho nhu cầu du lịch (Trần Thị Thúy Lan,
2005). Cũng nhƣ vậy, đối với du lịch mạo hiểm, giao thông là một điều kiện quan
trọng để du khách có thể tiếp cận tới nơi có các loại hình, hoạt động du lịch mạo
hiểm đang đƣợc khai thác.
Nhƣ vậy, cơ sở hạ tầng rất quan trọng trong phát triển du lịch. Tuy nhiên đối
với du lịch mạo hiểm nó không yêu cầu kết cấu hạ tầng du lịch ở những tiêu chuẩn
cao nhƣ đối với những loại hình du lịch khác (du lịch nghỉ dƣỡng, du lịch thăm
quan, du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen
21


thƣởng v.v.). Đây là điều dễ hiểu bởi sự khó khăn, hạn chế đối với điều kiện trong
giao thông, nƣớc đƣợc xem nhƣ một phần không thể thiếu để kiểm chứng bản lĩnh
của du khách tham gia loại hình du lịch này. Nói một cách khác sự phát triển loại
hình và các sản phẩm du lịch mạo hiểm không nhất thiết phải là những điều kiện về
hạ tầng du lịch hoàn hảo. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là điều kiện hạ tầng du
lịch mạo hiểm không cần phát triển.
Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra và
khai thác sản phẩm du lịch cũng nhƣ quyết định mức độ hiệu quả khai thác các tiềm
năng du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch.
Du lịch là một ngành sản xuất nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ, hàng hóa
nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Do vậy cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
bao gồm nhiều thành phần khác nhau, nhƣ toàn bộ các phƣơng tiện vật chất tham
gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu
của khách du lịch (các cơ sở lƣu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, dịch vụ bổ sung
nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách).
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch mạo hiểm bao gồm hệ thống thống cơ
sở lƣu trú, các biển báo an toàn, sơ đồ chỉ đƣờng, các phƣơng tiện bổ trợ cho các
hoạt động du lịch mạo hiểm, v.v. Tuy nhiên tỷ trọng này trong thành phần các sản
phẩm du lịch thuộc các loại hình du lịch khác nhau sẽ khác nhau. Ví dụ: hệ thống
khách sạn, đặc biệt là các khách sạn cao cấp sẽ có vai trò rất quan trọng trong việc
phát triển các sản phẩm du lịch nghỉ dƣỡng chất lƣợng cao, các sản phẩm du lịch kết
hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen thƣởng của các công
ty cho nhân viên (MICE). Tuy nhiên loại cơ sở vật chất kỹ thuật này lại không thật
sự cần thiết khi phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái ở các khu bảo tồn thiên
nhiên hoặc du lịch làng quê, thiên nhiên. Đối với việc phát triển loại hình du lịch
mạo hiểm thì hệ thống cơ sở lƣu trú, đặc biệt tại các khu trung tâm, nơi xuất phát
của các chuyến du lịch mạo hiểm là cần thiết nhất. Đối với du lịch mạo hiểm, nhu
22


cầu lƣu trú ở các khách sạn cao cấp rất hạn chế. Do đó, điều kiện về cơ sở vật chất
kỹ thuật thƣờng không đƣợc đặt ra nhƣ một yêu cầu cấp thiết để phát triển loại hình
du lịch mạo hiểm. Tùy thuộc vào điều kiện của từng điểm, loại hình khai thác và
thời gian của chuyến du lịch mạo hiểm mà các cơ sở lƣu trú sẽ đƣợc bố trí trên
tuyến.
Tác giả Phạm Trung Lƣơng cho rằng “Ngoài các dịch vụ cơ bản có trong bất
cứ sản phẩm du lịch nào nhƣ dịch vụ lƣu trú, đi lại, ăn uống, v.v. Một số dịch vụ
đặc thù chủ yếu cần có và luôn đƣợc đƣa vào nhƣ một điều kiện cần khi khai thác
du lịch mạo hiểm bao gồm:
Dịch vụ huấn luyện: Nhằm trang bị cho du khách những kiến thức, kỹ năng cơ
bản để có thể làm chủ kỹ thuật, thiết bị, phƣơng tiện đƣợc sử dụng trong quá trình
tham gia vào các hoạt động du lịch mạo hiểm.
Dịch vụ hướng dẫn: Dịch vụ này thƣờng sẽ đặc biệt hơn so với dịch vụ hƣớng
dẫn ở những loại hình du lịch truyền thống nhƣ du lịch thăm quan, du lịch văn hóa.
Trong trƣờng hợp này ngƣời hƣớng dẫn viên không chỉ đơn thuần đƣợc trang bị tốt
những kiến thức về tự nhiên, văn hóa bản địa ở những khu vực diễn ra hoạt động du
lịch mạo hiểm, để đáp ứng yêu cầu tìm hiểu của du khách, họ còn cần đáp ứng nhu
cầu trợ giúp kỹ thuật, cứu trợ trong các trƣờng hợp khẩn cấp trong quá trình thực
hiện chƣơng trình du lịch mạo hiểm. Đối với hoạt động phát triển du lịch mạo hiểm,
ngƣời hƣớng dẫn viên (trong nhiều trƣờng hợp thực hiện cả vai trò huấn luyện viên)
đƣợc xem là yếu tố quan trọng có ý nghĩa đặc biệt đảm bảo sự thành công của các
hoạt động du lịch đó.
Dịch vụ ứng cứu: Du lịch mạo hiểm luôn chứa đựng những tình huống bất
ngờ, khó đoán trong quá trình thực hiện các hoạt động khám phá và thám hiểm.
Trong nhiều trƣờng hợp, du khách có thể cần sự hỗ trợ ứng cứu kịp thời để đảm bảo
sự an toàn cho bản thân và các thành viên khác trong đoàn. Chính vì thế, dịch vụ
ứng cứu luôn đƣợc xác định là quan trọng cùng với đó là các phƣơng tiện tìm kiếm,
cấp cứu phù hợp.
23


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×