Tải bản đầy đủ

CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

PHÙNG THỊ MINH DƢƠNG

CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC QUẢN LÝ

Hà Nội, 2014

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-----------------------------------------------------

PHÙNG THỊ MINH DƢƠNG

CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC QUẢN LÝ
CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Thế Hanh

Hà Nội, 2014

2


LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS
Đoàn Thế Hanh đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi
từ những bước đầu nghiên cứu cho đến khi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin được trân trọng gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô trong tổ Bộ
môn Quản Lý Xã Hội khoa Khoa học quản lý trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy tôi trong
suốt quá trình học tập chuyên ngành Khoa học quản lý cho đến khi hoàn
thành luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Phòng Sau Đại Học và các phòng ban
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã
tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại quý trường.
Nhân đây, tôi cũng chân thành cảm ơn các thành viên trong gia đình
tôi, bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi cả về thời
gian, vật chất và tinh thần để tôi hoàn thành luận văn .
Hà Nội, tháng 03 năm 2014
Tác giả

Phùng Thị Minh Dương



3


BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

ASXH

An sinh xã hội

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHXHTN

Bảo hiểm xã hội tự nguyện

BHYT

Bảo hiểm y tế

BHYTTN

Bảo hiểm y tế tự nguyện

BTXH

Bảo trợ xã hội

CTXH

Cứu trợ xã hội

ƢĐXH

Ưu đãi xã hội

TGXH

Trợ giúp xã hội

XĐGN

Xóa đói giảm nghèo

4


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................. 9
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................. 9
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu.......................................................... 10
3. Mục tiêu nghiên cứu………………………………………………… 11
4. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 12

5. Mẫu khảo sát .................................................................................. 12
6. Câu hỏi nghiên cứu ....................................................................... 13
7. Giả thuyết nghiên cứu ........................................................................... 13
8. Phƣơng pháp nghiên cứu ...................................................................... 13

9. Kết cấu của Luận văn ................................................................... 13
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI VÀ HỆ
THỐNG CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI...................................... 15
1.1. Khái quát chung về an sinh xã hội .................................................... 15

1.1.1. Tính tất yếu của hệ thống chính sách an sinh xã hội ............ 15
1.1.2. Quá trình hình thành và một số quan niệm về chính sách an
sinh xã hội .............................................................................................. 18
1.1.3. Pháp luật an sinh xã hội .......................................................... 24
1.2. Hệ thống chính sách an sinh xã hội và nông dân trong quá
trình đô thị hóa ...................................................................................... 26
1.2.1. Đô thị hóa, công nghiệp hóa và yêu cầu của an sinh xã hội
đối với nông dân ..................................................................................... 26
1.2.2. Bản chất của chính sách an sinh xã hội đối với nông dân
trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa ........................................ 28
1.2.3. Vai trò của chính sách an sinh xã hội đối với nông dân trong
quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa .................................................. 29
1.2.4. Cấu trúc của hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân trong
quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa .................................................. 31
5


1.2.5. Điều kiện để xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội
đối với nông dân trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa ........... 40
1.3. Tiêu chí đánh giá hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với
nông dân ................................................................................................. 42
1.3.1. Tác động của hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông
dân .......................................................................................................... 42
1.3.2. Mức độ bao phủ của hệ thống chính sách an sinh xã hội đối
với nông dân hiện nay ........................................................................... 44
1.3.3. Phương pháp đánh giá hệ thống an sinh xã hội đối với nông
dân........................................................................................................... 47
Kết luận chƣơng 1 ............................................................................. 49
CHƢƠNG 2. HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG
DÂN HIỆN NAY VÀ THỰC TRẠNG TẠI HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI ......................................................................... 51
2.1. Việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với nông dân trên
địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội ............................................. 51
2.1.1. Khái quát về huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội ........................ 51
2.1.2. Chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Ba Vì ............ 55
2.2. Nguyên nhân hạn chế của việc thực hiện chính sách an sinh
xã hội đối với nông dân hiện nay ......................................................... 70
2.2.1. Sự nhận thức xã hội về hệ thống an sinh xã hội chưa đầy đủ
70
2.2.2. Điều kiện kinh tế, tài chính để tham gia các chương trình an
sinh xã hội đối với nông dân còn hạn hẹp............................................ 71
2.2.3. Hệ thống chính sách còn chưa hoàn chỉnh ........................... 73
2.2.4. Năng lực quản lý thực hiện còn hạn chế ................................ 76
2.2.5. Các điều kiện khác ................................................................... 77

6


2.3. Những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện hệ thống chính
sách an sinh xã hội đối với nông dân trong thời gian tới .................. 79
2.3.1.Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ................. 79
2.3.2. Những thuận lợi và khó khăn để phát triển hệ thống chính . 80
sách an sinh xã hội trong những năm tiếp theo................................... 80
2.3.3. Công tác đào tạo cán bộ thực hiện chính sách an sinh xã hội
82
2.3.4. Chính sách tài chính trong việc thực hiện các chương trình
an sinh xã hội đối với nông dân ............................................................ 84
Kết luận chƣơng 2 ............................................................................. 85
CHƢƠNG 3. HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH .......... 88
AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN ........................................ 88
TRONG THỜI GIAN TỚI................................................................... 88
3.1. Phƣơng hƣớng hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội
đối với nông dân trong thời gian tới.................................................... 88
3.1.1. Quan điểm xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an
sinh xã hội đối với nông dân ................................................................. 88
3.1.2. Phương hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách
an sinh xã hội đối với nông dân ............................................................ 91
3.1.3. Các yêu cầu cơ bản của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống
chính sách an sinh xã hội đối với nông dân ở Việt Nam ..................... 95
3.1.4. Các điều kiện cơ bản để xây dựng và hoàn thiện hệ thống
chính sách ASXH đối với nông dân ...................................................... 99
3.1.5. Vận động nông dân tích cực tham gia vào hệ thống an sinh xã
hội đối với nông dân ............................................................................ 100
3.2. Giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội đối
với nông dân trong thời gian tới. ....................................................... 102
3.2.1. Đối với công tác đào tạo cán bộ............................................. 102
7


3.2.2. Vấn đề tài chính để thực hiện chương trình an sinh xã hội đối
với nông dân. ........................................................................................ 104
3.2.3. Về hệ thống pháp luật ............................................................ 106
3.2.4. Đối với công tác quản lý, tổ chức thực hiện ......................... 107
3.2.5. Đối với công tác tuyên truyền ................................................ 108
3.2.6. Một số giải pháp khác ............................................................ 109
Kết luận chƣơng 3 ........................................................................... 111
KHUYẾN NGHỊ .............................................................................. 114
DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO

8


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi sướng và lãnh đạo ( được đánh dấu
từ Đại Hội trung ương Đảng lần thứ VI năm 1986) hướng tới mục tiêu: Dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đó là một quá trình hết sức
khó khăn và lâu dài. Trong quá trình thực hiện sự nghiệp đó những thành tựu
về tăng trưởng kinh tế đã đưa hàng triệu người thoát khỏi đói nghèo. Sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một nước nông nghiệp đang dần chuyển thành
một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thu nhập bình quân đầu người
tăng, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn một số mặt hạn chế chưa khắc phục được.
Là một nước với phần lớn dân số (khoảng 70%) thuộc lĩnh vực nông nghiệp
sống ở khu vực nông thôn hiện nay vẫn còn nhiều cảnh nghèo khổ, nền nông
nghiệp còn chưa phát triển vẫn phụ thuộc nhiều vào sức lao động của con
người, máy móc chưa trở thành lực lượng chủ yếu và còn chịu sự chi phối bởi
các điều kiện tự nhiên.
Bên cạnh đó đà tăng trưởng và hành trình phát triển của chúng ta đang
ngày càng có những dấu hiệu khó khăn: phân hóa xã hội gia tăng, khoảng
cách thu nhập và điều kiện sống giữa các vùng miền còn chênh lệch nhiều,
khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, nông dân và các ngành nghề khác;
thất nghiệp vẫn ở tỷ lệ cao; môi trường bị phá hủy trầm trọng; tình trạng
nghèo và tái nghèo vẫn chưa được giải quyết triệt để, sự phân hóa xã hội ngày
càng rõ rệt và phức tạp.
Nông dân là những người ít được hưởng lợi từ sự đổi mới và quá trình
đô thị hóa. Họ là đối tượng còn chịu nhiều thiệt thòi và gặp nhiều rủi ro trong
xã hội. Vì họ có thu nhập thấp và không ổn định, đời sống kinh tế khó khăn,
nông dân còn quá nghèo, việc giảm nghèo vẫn chưa đạt kết quả như mong
đợi. Nông dân là đối tượng ít được hưởng phúc lợi xã hội hơn cả. Những vấn
đề xã hội ở nông thôn chưa được giải quyết một cách triệt để. Nông dân thiếu
9


việc làm và phải di cư ra thành thị để tìm việc với giá lao động thấp. Bên cạnh
đó là khả năng cạnh tranh của lao động này còn thấp vì chưa qua đào tạo nên
khó đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. Như vậy có thể nói nông
dân là đối tượng dễ gặp rủi ro nhất trong xã hội, hậu quả là vẫn còn rất nhiều
người đang trong tình trạng nghèo đói.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước từ trước tới nay, Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách quan tâm nhằm giải quyết vấn đề của
nông dân. Trong đó phải kể tới hệ thống chính sách về ASXH đối với nông dân,
tuy nhiên vẫn chưa giải quyết được vấn đề một cách triệt để.
Trước tình hình đó, một nhu cầu cấp thiết được đặt ra là bên cạnh việc
xây dựng, phải phát triển và hoàn thiện hệ thống ASXH hiện tại đối với nông
dân để những nông dân Việt Nam hoàn toàn thoát khỏi cảnh nghèo đói, nâng
cao đời sống kinh tế và các điều kiện sống khác.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên đã hướng cho người viết một ý
tưởng về nghiên cứu đề tài: “Chính sách an sinh xã hội đối với nông dân
trong quá trình đô thị hóa” (nghiên cứu trường hợp huyện Ba Vì, thành
phố Hà Nội ) với mong muốn sẽ góp phần lý giải nhiều vấn đề cả về lý luận
và thực tiễn trong việc phát triển và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã
hội đối với nông dân.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
ASXH là nhu cầu tất yếu của nền kinh tế thị trường, trên thế giới đã có
nhiều quốc gia và nhiều nhà nghiên cứu quan tâm về vấn đề này. Có nhiều
cuốn sách, công trình nghiên cứu, tạp chí nghiên cứu về ASXH như ở Liên
Xô, Đức, Mỹ, Nhật Bản....
Ở nước ta, ngay từ những năm đầu thực hiện sự nghiệp đổi mới đã có
một số nghiên cứu về vấn đề ASXH như “Luận cứ khoa học cho việc đổi mới
và hoàn thiện các chính sách bảo đảm xã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” do Viện
Khoa học lao động và các vấn đề xã hội thuộc Bộ Lao động thương binh và
xã hội chủ trì. Đề tài đã làm rõ các vấn đề về bảo đảm xã hội, mối quan hệ
10


giữa bảo đảm xã hội với các chính sách xã hội, vị trí và vai trò cũng như sự
cần thiết của bảo đảm xã hội. Ngoài ra nó còn chỉ ra được những thành tựu,
hạn chế, thực trạng và đưa ra các phương hướng, giải pháp để phát triển và
hoàn thiện hệ thống bảo đảm xã hội ở nước ta.
Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều công trình, nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm tới vấn đề ASXH. Có một số nghiên cứu như: PGS.TS
Mai Ngọc Cường, “Chính sách xã hội nông thôn: kinh nghiệm của Cộng hòa
Liên bang Đức và thực tiễn ở Việt nam”; Nguyễn Hữu Hải, “Phát triển hệ
thống ASXH phù hợp với bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa”; Nguyễn Tiệp, “Các giải pháp nhằm thực hiện xã hội hóa công
tác trợ giúp xã hội”; Đặng Cảnh Khanh, “Vấn đề trợ giúp xã hội trong chính
sách bảo đảm xã hội ở Việt Nam” và còn rất nhiều các công trình khác nghiên
cứu về vấn đề bảo đảm xã hội, an sinh xã hội khác nữa. Có thể nói, các công
trình nghiên cứu đó chính là cơ sở để chúng ta xây dựng và thực hiện chính
sách an sinh xã hội tại Việt Nam từ trước tới nay. Tuy nhiên, thực tế cho tới
nay, hệ thống chính sách ASXH của Nhà nước ta vẫn chưa đạt hiệu quả như
mong muốn, có đôi chỗ còn thể hiện sự bất cập và trong quá trình thực hiện
còn nhiều vấn đề chưa lường trước được, bên cạnh đó việc nghiên cứu hệ
thống chính sách ASXH đối với nông dân vẫn chưa đuợc giải quyết một cách
triệt để.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã
hội đối với nông dân nhằm nâng cao đời sống cho người dân trong thời kỳ đô
thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ tại khắp các vùng, miền trên cả nước.
Mục tiêu cụ thể:
o Nghiên cứu làm rõ những nội dung mang tính lý luận về hệ thống
chính sách an sinh xã hội đối với nông dân.
o Phân tích, đánh giá thực trạng và tìm ra những nguyên nhân hạn chế
của hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân hiện nay.

11


o Thực tiễn về hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân
tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
o Đề xuất định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an
sinh xã hội đối với nông dân trong thời gian tới.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đã chỉ ra được tình hình thực hiện các chính sách an sinh xã
hội đối với nông dân hiện nay, các thành tựu đạt được cũng như những
hạn chế, yếu kém còn tồn tại, các chương trình an sinh xã hội đối với
nông dân và tác động của nó đối với đời sống của người dân trên địa bàn
nghiên cứu.
Qua đó, cũng chỉ ra vai trò của các chính sách an sinh xã hội và đội ngũ
những người làm công tác an sinh xã hội trong việc triển khai thực hiện các
chính sách, những khó khăn, vướng mắc khi đưa chính sách vào đời sống.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị để những chính sách an
sinh xã hội đối với nông dân đạt hiệu quả cao và bền vững, đồng thời phát
huy được tối đa các nguồn lực của nhà nước và nhân dân trong quá trình thực
hiện mục tiêu an sinh đối với nông dân nói riêng và đối với nhân dân cả nước
nói chung.
Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành
chính sách xã hội và những nghiên cứu liên quan đến các chính sách an sinh
xã hội đối với nông dân.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hệ thống chính sách an sinh xã hội
đối với nông dân. Tuy nhiên đây là một lĩnh vực khá rộng, trong phạm vi của
luận văn này, tác giả chủ yếu muốn đề cập tới các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng
tới việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông
dân trong thời kỳ đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ tại khắp các vùng, miền trên
cả nước.
5. Mẫu khảo sát

12


Luận văn nghiên cứu thực trạng việc thực hiện chính sách ASXH đối
với nông dân qua số liệu thống kê trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà
Nội.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Làm thế nào để hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội nâng cao
đời sống đối với nông dân trong những năm tới?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Để hệ thống chính sách an sinh xã hội có hiệu quả hơn thì cần quan tâm
tới việc đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác an sinh xã hội một cách có hệ
thống từ trung ương đến cơ sở, đặc biệt là tại khu vực nông thôn, hiện đại hóa
trong quá trình thực hiện các dịch vụ về an sinh xã hội.
Thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế trong xã hội, thực hiện
xã hội hóa, hiện đại hóa trong quá trình thực hiện các dịch vụ về ASXH.
Tiếp tục có sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước, thu hút đóng góp
từ các nguồn khác và phát triển công tác tuyên truyền về lợi ích mang lại cho
người dân khi tham gia vào các chính sách do nhà nước ban hành. Nhằm thiết
lập nguồn tài chính ổn định và vững chắc là cơ sở bảo đảm thực hiện các
chương trình ASXH của Nhà nước.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn này có sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu khoa hoc như: phương pháp phân tích và tổng hợp để làm rõ đối
tượng nghiên cứu.
Ngoài ra có thu thập số liệu điều tra, khảo sát, thống kê của một số
công trình nghiên cứu về lĩnh vực ASXH để từ đó đề xuất một số giải pháp
phát triển và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân trong thời gian tới.
9. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo luận văn
dự kiến được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với
nông dân trong quá trình đô thị hóa.
13


Chương 2: Nghiên cứu thực trạng tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông
dân trong thời gian tới.

14


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI
VÀ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
1.1. Khái quát chung về an sinh xã hội
1.1.1. Tính tất yếu của hệ thống chính sách an sinh xã hội
Thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ biến đổi khí hậu. Môi trường
sống ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng hơn. Những trận thiên tai với sức tàn
phá khủng khiếp. Dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp và khó lường,
không chỉ dừng lại ở một địa phương, một khu vực mà nó lan tràn khắp thế
giới giống như đại dịch SARS, dịch cúm... Nguy cơ xảy ra chiến tranh, những
rủi ro về kinh tế toàn cầu...
Cuộc sống của con người đang và ngày phải đối mặt với những thách
thức, bất an. Mỗi con người trên hành tinh này, không ai dám chắc chắn rằng
mình sẽ không gặp rủi ro gì trong cuộc sống. Bất cứ ai, dù ở đâu và bất cứ khi
nào đều có thể gặp rủi ro khiến cho cuộc sống bị xáo trộn. Chúng ta chỉ có thể
dự đoán và phòng ngừa mà đôi khi không thể ngăn chặn nó, thành ra con
người phải sống chung với những rủi ro, những nguy cơ rủi ro. Chính vì thế
mà chúng ta cần có một nền tảng để bảo đảm khi những rủi ro ấy xảy ra.
Để đề phòng, hạn chế các rủi ro đó, trước đây đã có những biện pháp
tương trợ truyền thống, nhưng giờ không còn phù hợp nữa, thực tế cuộc sống
đòi hỏi phải có sự quản lý thống nhất của Nhà nước nhằm hỗ trợ những
trường hợp không may gặp rủi ro trong cuộc sống.
ASXH là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được an bình,
bảo đảm an ninh, an toàn trong xã hội. Cụ thể hơn thì, ASXH là sự bảo đảm
thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng
đồng trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập vì lý do bị giảm hoặc mất
khả năng lao động hay mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ
côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai địch
họa... Bản chất của ASXH là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp
cho tất cả các thành viên xã hội trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay
gặp phải những rủi ro khác.
15


Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước nhằm
thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an
toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội.
Hệ thống chính sách ASXH là hệ thống các chính sách can thiệp của
Nhà nước và sự hỗ trợ của tổ chức hay cá nhân nhằm giảm mức độ nghèo đói
và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và cộng đồng trước
những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định, phát
triển và công bằng xã hội.
 Trên thế giới
Lần đầu tiên hình thức BHXH ra đời ở Đức năm 1850 với mục đích
bảo vệ người lao động trong khi mất thu nhập vì ốm đau, bệnh tật, sau đó mở
rộng dần việc bảo hiểm với các trường hợp khác. Với lợi ích hiện hữu của mô
hình này, nó đã được lan tỏa một cách nhanh chóng tới nhiều quốc gia như ở
Pháp ra đời hình thức BHTN năm 1905, bảo hiểm tuổi già và ốm đau năm
1928; ở Anh bảo hiểm ốm đau, BHTN, bảo hiểm tuổi già năm 1911… Cho tới
nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng các hình thức này, tùy vào
điều kiện kinh tế, đặc điểm riêng của mỗi quốc gia mà các mô hình về ASXH
được xây dựng và thực hiện khác nhau.
 Ở Việt Nam
Sự đùm bọc, che chở lẫn nhau trong hoạn nạn, rủi ro, trong tai biến bất
thường, hoặc các biến cố chính trị xã hội… đã trở thành một nền tảng truyền
thống của cộng đồng dân tộc Việt, được chứng minh trong thực tiễn lịch sử dựng
nước và giữ nước của dân tộc ta. Với tinh thần “đại đoàn kết dân tộc”, “lá lành
đùm lá rách” nhân dân Việt Nam đã cùng nhau vượt qua muôn vàn khó khăn, để
tới hôm nay, chúng ta đang cùng nhau chung tay xây dựng một đất nước Việt
Nam phát triển với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ
và văn minh”. Để làm được điều đó thì cần hơn nữa sự gắn kết giúp đỡ lẫn nhau,
sự chia sẻ cùng nhau vượt qua rủi ro giữa mỗi cá nhân trong xã hội.
Trước tình hình đó, hệ thống ASXH của Việt Nam ra đời nhằm đáp ứng
những nhu cầu trên. Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả các thành viên của
16


xã hội đều tiếp cận được với cơ chế của hệ thống ASXH, mà chỉ một bộ phận
người dân trong xã hội có điều kiện được hưởng những chế độ đó. Những người
nghèo khổ, không có thu nhập ổn định, không tham gia vào các quan hệ lao động
và không có đủ khả năng tiếp cận với cơ chế cùng đóng góp cùng chia sẻ rủi ro
của hệ thống ASXH. Họ mới là những người cần thiết hơn sự hỗ trợ, sự chia sẻ để
vượt qua khó khăn, tuy nhiên nếu chỉ trông chờ vào tương trợ theo cách truyền
thống thì hiệu quả đạt được sẽ không như mong muốn. Do đó cần hơn hết là sự
điều chỉnh, sự quản lý thống nhất của Nhà nước.
Nhà nước đứng ra quản lý hệ thống chính sách ASXH nhằm các mục
tiêu sau:
o Thứ nhất là bảo vệ các thành viên trong xã hội.
o Thứ hai là duy trì trật tự xã hội.
o Thứ ba là củng cố địa vị của giai cấp thống trị.
Do đó, Nhà nước thiết lập nên hệ thống các chế độ bảo vệ với tất cả
nhân dân, không có sự phân biệt nào và trước hết là những người “yếu thế”
trong xã hội. Dần dần hình thành một mạng lưới bảo vệ an toàn cho cuộc sống
của các thành viên trong xã hội được gọi là ASXH. Đó chính là sự tất yếu ra
đời của hệ thống ASXH, nó xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của con người luôn
tìm kiếm một điều kiện sống an toàn để tồn tại và phát triển.
Theo báo cáo thống kê của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) hiện nay
ASXH được thực hiện ở trên 170 quốc gia trên thế giới, được các nước thừa
nhận như một trong những quyền con người và có ý nghĩa đặc biệt trong việc
bình ổn và phát triển đất nước.
ASXH đang đặt ra và được hầu hết các quốc gia quan tâm hoàn thiện
không ngừng, nhất là trong một xã hội phát triển với xu thế toàn cầu hóa
mạnh mẽ như hiện nay. Vì vậy, ASXH không chỉ là vấn đề riêng của một
quốc gia mà là vấn đề chung của cộng đồng quốc tế. Đất nước càng phát triển,
nhà nước càng phải chú trọng đến nền ASXH cho mỗi nhóm nói riêng và toàn
dân nói chung, làm cho an dân bảo đảm sự trường tồn của đất nước.

17


1.1.2. Quá trình hình thành và một số quan niệm về chính sách an
sinh xã hội


Quá trình hình thành

Từ xa xưa, trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, con người đã
tự khắc phục, như câu phương ngôn “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”;
đồng thời, còn được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng. Sự tương
trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau.
Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và
công việc xã hội của các nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau. Trong
quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ
thống ASXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển. Quá trình công
nghiệp hoá làm cho đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của
họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động đem lại. Sự hẫng hụt về tiền
lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc
khi về già…, đã trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống bình thường của
những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương. Sự bắt
buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những
người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương
thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…); đồng thời, đòi hỏi giới
chủ và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ.
Hệ thống ASXH được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều
hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó
BHXH là trụ cột chính. Đạo luật đầu tiên về ASXH (Social Security) trên thế
giới là Đạo luật năm 1935 ở Mỹ.
Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất,
tàn tật và trợ cấp thất nghiệp. Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng. Đến
năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó là ILO đã chính thức
dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc tế. ASXH đã được tất cả các
nước thừa nhận là một trong những quyền con người. Nội dung của ASXH đã
được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc
18


thông qua ngày 10/12/1948. Trong bản Tuyên ngôn có viết: “Ai cũng có
quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an
lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch
vụ cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp
thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh
nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn” [ 79, điều 25 ]. Ngày 25/6/1952, Hội
nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước
về ASXH (tiêu chuẩn tối thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có
trên toàn thế giới thành 9 bộ phận.
Ở Việt Nam, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, quyền dân tộc, quyền
dân sinh và dân chủ của người Việt Nam không được công nhận. Khi đó chỉ có
một số nhà tế bần, trại trẻ mồ côi được thành lập nhưng còn rất hạn chế.
Từ năm 1945 đến 1960, ngay khi Nhà nước Dân Chủ Cộng hòa ra đời,
Chính phủ đã quan tâm đến vấn đề ASXH. Để khắc phục nạn đói Chính phủ
đã ban hành sắc lệnh số 67 thành lập Ủy ban tối cao tiếp tế và cứu tế vào ngày
28/11/1945. Tiếp theo đến năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam
Dân chủ Công hòa được ra đời, trong điều 14 có nêu: “những người công dân
già cả hay tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ”.[51, tr. 3]
Tiếp theo đó là một loạt các chính sách ưu tiên đối với một số đối tượng
như cấp ruộng đất, miễn giảm thuế nông nghiệp, miễn nghĩa vụ công dân…
Ngoài ra còn một số sắc lệnh, nghị định do Chính phủ hoặc các bộ ban
hành, các quy phạm về ASXH cũng đã được đề cập. Bên cạnh đó, do hoàn
cảnh đất nước còn chiến tranh nên việc thực hiện các chế độ về ASXH còn rất
hạn chế.
Từ năm 1960 đến 1985: Điều 32 Hiến pháp 1959 ghi nhận: “người lao
động có quyền được giúp đỡ vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao
động. Nhà nước mở rộng dần các tổ chức BHXH, cứu tế và y tế để bảo đảm
cho người lao động được hưởng quyền đó” [52 , tr. 6].
Hiến pháp quy định được giúp đỡ vật chất khi gặp rủi ro, tuy nhiên đối
tượng ở đây là người lao động nên cũng chỉ mới giới hạn ở các chế độ về BHXH.
19


Trong kháng chiến chống Mỹ, chính sách với người có công được mở
rộng đối với mọi đối tượng trực tiếp tham gia chiến đấu hoặc phục vụ chiến
đấu mà hy sinh hay bị thương tật.
Nghị định số 161/CP ngày 30/10/1964 ban hành kèm theo điều lệ tạm
thời chế độ đãi ngộ đối với quân nhân, thanh niên xung phong, du kích, tự vệ.
Thông tư số 157/CP tháng 8/1965 về cứu trợ đột xuất, thông tư số
202/CP ngày 26/11/1966 về cứu trợ xã hội.
Sau ngày giải phóng đất nước, có nhiều văn bản về xác nhận thương
binh, liệt sỹ, tìm và cất bốc, quy tập mồ mả, xây dựng nghĩa trang liệt sỹ,
chính sách đối với người có công và gia đình có công với cách mạng được
ban hành như: Quyết định số 60/CP ngày 05/04/1976 của Chính phủ về việc
bổ sung một số điều về chính sách đối với liệt sỹ và gia đình liệt sỹ.
Điều 59 trong Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
năm 1980 cũng khẳng định quyền được hưởng BHXH của công nhân, viên
chức, bên cạnh đó Nhà nước mở rộng dần sự nghiệp BHXH theo trình độ phát
triển của nền kinh tế quốc dân để người lao động nói chung được hưởng
quyền lợi đó, kể cả xã viên các hợp tác xã.
Ngày 18/9/1985 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) có ban hành
Nghị định số 236/HĐBT về bổ sung và sửa đổi một số chế độ, chính sách về
BHXH, trong đó có bổ sung và sửa đổi về chế độ ưu đãi đối với người có
công, quy định lại chế độ cứu trợ thường xuyên và chế độ nuôi dưỡng các đối
tượng xã hội ở cơ sở tập trung.
Từ năm 1986 tới nay: ngày 30/6/1989 Quốc Hội thông qua luật Bảo vệ
sức khỏe của nhân dân. Hiến pháp 1992 được Quốc hội thông qua ngày
15/4/1992 đã quy định một cách cụ thể hơn về những quyền thuộc ASXH của
nhân dân như về chế độ bảo hộ lao động, BHXH ở điều 56, chế độ bảo vệ sức
khỏe ở điều 61, chế độ ưu đãi xã hội, cứu tế xã hội ở điều 67…
Ngoài ra, Nghị định số 299/ HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ
trưởng ban hành điều lệ về BHYT.

20


Nghị định số 43/CP ngày 22/6/1993 của Chính Phủ quy định tạm thời
về chế độ BHXH.
Về cơ bản, hệ thống pháp luật ASXH đã được hình thành. Hiến pháp
ngày càng mở rộng hơn cả về chế độ hưởng và đối tượng được hưởng ASXH.
ASXH cơ bản có 3 hợp phần chính đó là: BHXH, ƯĐXH, và CTXH. Ngày
23/6/1994 Quốc hội thông qua Bộ Luật Lao động, trong đó có chương về
BHXH, thể hiện các quy định về BHXH đã được luật hóa. Bên cạnh
BHXHBB đã có quy định về loại hình, BHXHTN được áp dụng với một số
đối tượng. Ngoài ra, ngày 26/01/1995 Chính Phủ đã ra Nghị định số 12/CP
ban hành điều lệ BHXH đối với công nhân viên chức và người lao động, có
quy định năm chế độ trợ cấp mà người lao động được hưởng.
Ngày 13/8/1998, Chính Phủ ban hành Nghị định số 58/1998/NĐ – CP
về sửa đổi điều lệ BHYT.
Ngày 09/03/2000 Nghị định số 07/2000/ NĐ – CP về chính sách CTXH
được Chính Phủ chính thức ban hành, đánh dấu sự phát triển trong pháp luật
về CTXH và ƯĐXH.
Đặc biệt ngày 29/6/2006, Quốc Hội đã thông qua Luật BHXH đầu tiên
của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong đó có quy định cụ thể
về các chế độ BHTN, đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế thị trường.
Việc thể chế hóa ASXH trong giai đoạn này đã có sự thay đổi vượt bậc,
hầu như các lĩnh vực thuộc hệ thống ASXH đã được nâng lên ở cấp độ luật,
pháp lệnh, có hiệu lực pháp lý cao. Đó là một dấu hiệu cho thấy hệ thống
pháp luật ASXH của nước ta đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện để
dần trở thành một hệ thống riêng nằm trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Theo đó, các chế độ về BHXH được quy định rộng hơn cả về đối tượng
và đầy đủ hơn về loại hình. Các chế độ về CTXH, ƯĐXH cũng ngày càng đa
dạng hơn, các hoạt động trợ giúp và nguồn trợ giúp ngày càng phong phú
hơn. Hoạt động thuộc lĩnh vực BHXH đã dần được cân đối giữa thu và chi,
giảm dần sự bao cấp của ngân sách nhà nước, các chế độ trợ cấp khác cũng

21


từng bước được xã hội hóa và mức trợ cấp đang được tăng dần theo sự phát
triển của kinh tế xã hội đất nước.
Tuy nhiên, cho đến nay, do tính chất phức tạp và đa dạng của ASXH
nên vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này. Khái niệm về ASXH
cũng còn khá khác biệt giữa các quốc gia. Nhưng tất cả đều có sự thống nhất
về mặt bản chất rằng ASXH là góp phần bảo đảm thu nhập và đời sống cho
các công dân trong xã hội. Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp
công cộng. Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội nó
vừa mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc.


Một số quan niệm về chính sách ASXH

Hiện tại trên thế giới có hai cách hiểu về ASXH khác nhau, một bên
theo quan điểm mang tính chất kinh tế còn bên kia mang tính chất xã hội.
Quan điểm với tính chất kinh tế: ASXH được hiểu là cơ chế phân phối
lại thu nhập xã hội nhằm điều hòa lợi ích, thu hẹp chênh lệch mức sống giữa
các tầng lớp dân cư, giảm bớt sự nghèo đói, cải thiện điều kiện sống của mọi
thành viên trong xã hội đặc biệt là các đối tượng gặp biến cố, rủi ro trong
cuộc sống gây mất thu nhập hoặc dẫn tới nghèo đói, được thực hiện bằng các
biện pháp kinh tế nhằm bảo vệ cuộc sống của những người gặp rủi ro.
Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) định nghĩa ASXH “là tập
hợp các chính sách và chương trình nhằm giảm nghèo đói, lệ thuộc bằng việc
thúc đẩy thị trường lao động tích cực, giảm thiểu rủi ro và tăng cường năng
lực tự bảo vệ của người lao động chống lại sự giảm hoặc mất thu nhập”.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), ASXH: “là những biện pháp công
cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và
kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn
thương và những bấp bênh về thu nhập”.
Có thể nói, mỗi người, mỗi gia đình hay mỗi cộng đồng đều chịu những
rủi ro nhất định do nhiều nguyên nhân gây ra. Do đó cần có sự thiết lập một
cơ chế phòng chống nhằm hạn chế và khắc phục các rủi ro có thể xảy ra.
ASXH chính là hệ thống các biện pháp quản lý rủi ro được thực hiện bởi vai
22


trò quan trọng của Nhà nước, gia đình, cộng đồng, các tổ chức quốc tế, tổ
chức phi chính phủ và cả những thiết chế của thị trường như các ngân hàng,
công ty bảo hiểm... Với mục đích làm giảm sự dễ bị tổn thương của con người
và những biến động xấu về thu nhập.
Quan điểm mang tính chất xã hội lại hiểu ASXH là sự tương trợ cộng
đồng giữa các thành viên trong xã hội nhằm bảo vệ cuộc sống của họ trước
những rủi ro, biến cố trong cuộc sống. ASXH xuất phát từ sự chia sẻ, tương
trợ lẫn nhau mà không nhằm mục đích kinh doanh hay lợi nhuận, nó hướng
tới một mục tiêu xã hội cao cả là tinh thần xã hội, sự đoàn kết, tương thân
tương ái giữa con người với nhau.
Theo ILO có nêu: “ASXH là sự bảo vệ phổ cập và đồng nhất giữa mọi
thành viên trong xã hội vì vấn đề công bằng xã hội và dựa trên nguyên tắc
liên kết.” [77].
ASXH là sự bảo đảm thực hiện quyền con người được sống trong hòa
bình, tự do làm ăn, cư trú và được bảo vệ trước pháp luật, được làm việc và
nghỉ ngơi, được chăm sóc y tế và bảo đảm về thu nhập.
Chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản hơn ASXH là sự bảo vệ của xã
hội đối với các thành viên của mình thông qua hàng loạt các biện pháp công
cộng nhằm chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình
trạng bị ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, thương
tật trong lao động, thất nghiệp, tàn tật... sự cung cấp về chăm sóc y tế và cả
các khoản tiền trợ giúp cho các gia đình đông con...
Như vậy, chúng ta có thể thấy được nội dung của ASXH không chỉ bao
hàm mặt kinh tế hay mặt xã hội, mà nó đồng thời mang cả hai yếu tố đó và
không thể thiếu một trong hai. ASXH vừa mang tính chất kinh tế lại vừa
mang tính xã hội, tùy vào từng quốc gia cụ thể, điều kiện kinh tế xã hội cũng
như những truyền thống văn hóa đặc trưng mà mỗi quốc gia xây dựng cho
mình một hệ thống ASXH với những đặc trưng khác nhau. Tuy nhiên, chúng
đều thống nhất ở một điểm rằng đó là sự bảo vệ của xã hội đối với toàn bộ các
thành viên trong xã hội đó. Nó được thực hiện thông qua các biện pháp công
23


cộng khác nhau và được tiến hành bởi các Nhà nước, các tổ chức và các cá
nhân với mục đích chống lại sự rủi ro về kinh tế, xã hội mà các thành viên xã
hội gặp phải nhằm góp phần bảo đảm cuộc sống ổn định cho mỗi cá nhân
trong xã hội và hơn thế nữa là sự bảo đảm an toàn chung cho toàn xã hội.
Quan niệm về ASXH ở Việt Nam: Với đặc thù là một quốc gia có nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đi lên từ nền kinh tế
hàng hóa tập trung còn khá nhiều yếu kém và hạn chế, đời sống của người
dân còn thấp và gặp nhiều khó khăn. Từ đó chúng ta có quan điểm về ASXH
chủ yếu tiếp cận với vai trò của Nhà nước với truyền thống tương thân tương
ái, tinh thần đoàn kết dân tộc, “lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách
nhiều” đó chính là nền tảng để chúng ta xây dựng và hoàn thiện cho mình một
hệ thống ASXH thực sự hiệu quả.
ASXH là sự tập hợp có tổ chức của các thành viên xã hội nhằm chống
lại những rủi ro, bất hạnh của mỗi cá nhân. Nhờ đó mà những rủi ro, biến cố,
khó khăn của mỗi người được chia sẻ và khắc phục một cách nhanh chóng.
ASXH không nhằm mục tiêu kinh doanh lợi nhuận mà đơn giản nó là sự bảo
đảm an toàn về đời sống của cộng đồng xã hội theo cơ chế chia sẻ rủi ro mang
tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
1.1.3. Pháp luật an sinh xã hội


Khái niệm về pháp luật ASXH

Mỗi chính sách xã hội của một quốc gia muốn được thực hiện trong
thực tiễn cuộc sống đòi hỏi các Nhà nước phải ban hành pháp luật. Vì thông
qua pháp luật thì các chính sách xã hội nói chung và chính sách ASXH nói
riêng mới được thể chế hóa thành các quy định bắt buộc. Pháp luật chính là
phương thức quan trọng nhất để thực hiện chính sách ASXH ở mỗi quốc gia.
Hiểu theo nghĩa rộng: Pháp luật ASXH là hệ thống các quy tắc xử sự
chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong việc bảo vệ cuộc sống của các thành viên xã hội thông qua
các biện pháp công cộng nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế, xã hội gây
ra bởi những biến cố, rủi ro, bất hạnh nhằm bảo đảm thu nhập, sức khỏe và các
24


điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho các thành viên xã hội nâng cao chất lượng
cuộc sống, góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển bền vững.
Còn theo nghĩa hẹp: Pháp luật ASXH là tổng hợp các quy phạm pháp
luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc
bảo vệ các thành viên của xã hội nhằm bảo đảm thu nhập, sức khỏe và các
điều kiện sinh sống thiết yếu khác thông qua các biện pháp như: BHYT,
BHXH, TGXH, ƯĐXH…


Vai trò của pháp luật ASXH

Luật ASXH là một trong những biện pháp thuộc chính sách xã hội của
Nhà nước, một mặt chịu sự tác động tổng thể của các nhân tố kinh tế, chính
trị, xã hội, văn hóa, truyền thống… mặt khác bằng cách thức đặc trưng của
mình mà các chính sách ASXH cũng có tác động tích cực trở lại đối với các
nhân tố trên.
Pháp luật ASXH có 5 vai trò cơ bản sau:
o Thứ nhất: Pháp luật ASXH là sự cụ thể hóa rõ nét quyền con người
trong xã hội, được quy định trong các văn bản pháp lý như: Hiến pháp, Luật,
Nghị định… quy định các nguyên tắc, chế độ trợ cấp, nguồn tài chính thực
hiện, nguyên tắc giải quyết các tranh chấp, khiếu nại liên quan …
o Thứ hai: Pháp luật ASXH là sự thể chế hóa các chính sách ASXH
quốc gia. Thông qua pháp luật ASXH các chính sách ASXH được xác lập cả
về mặt pháp lý để được bảo đảm thực hiện.
o Thứ ba: Pháp luật ASXH là công cụ góp phần thực hiện công bằng
xã hội, ổn định xã hội. Trước thực tế sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia
tăng, pháp luật ASXH thực hiện chức năng điều tiết của cải và phân phối lại
thu nhập xã hội giảm khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng giữa các bộ phận
dân cư thông qua chế độ trợ cấp từ thu nhập chung quốc gia hoặc từ sự đóng
góp trên cơ sở tương trợ cộng đồng.
o Thứ tư: Pháp luật ASXH với vai trò bảo đảm sự phát triển bền vững
của xã hội, sự bền vững của quốc gia xây dựng trên cơ sở bền vững của từng
cá nhân, gia đình trong xã hội.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×