Tải bản đầy đủ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ Ở VIỆT NAM

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐINH THỊ HƯƠNG GIANG

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐINH THỊ HƯƠNG GIANG

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ Ở VIỆT NAM


LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Mã số: 62 38 01 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS. VŨ CÔNG GIAO

HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả luận án

Đinh Thị Hương Giang


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP
TỤC NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.3. Đánh giá tổng quát kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài và
những vấn đề sẽ được luận án tiếp tục nghiên cứu
1.4. Giả thuyết khoa học, câu hỏi nghiên cứu và định hướng nghiên cứu
của luận án
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM
SOÁT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ

2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích
trong hoạt động công vụ
2.2. Nội dung và vai trò của pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích
trong hoạt động công vụ
2.3. Khái niệm, tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng mức độ hoàn


thiện của pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động
công vụ
2.4. Pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về
kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ và những giá trị
tham khảo cho Việt Nam hiện nay
Chương 3: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG
CÔNG VỤ Ở VIỆT NAM

3.1. Quá trình phát triển của pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích
trong hoạt động công vụ ở Việt Nam
3.2. Thực trạng pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động
công vụ ở Việt Nam
Chương 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

Trang
1
9
9
25
30
32
37
37
50
56
65
80
80
87

KIỂM SOÁT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG
128
CÔNG VỤ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong
hoạt động công vụ ở Việt Nam
4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong
hoạt động công vụ
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

128
132
150
153
154
170


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB

: Asian Development Bank (Ngân hàng phát triển châu Á)

CB, CC

: Cán bộ, công chức

CB, CC, VC: : Cán bộ, công chức, viên chức
ICAC

:

Independent Commission Against Corruption (Uỷ ban
độc lập chống tham nhũng)

OECD

: The Organisation for Economic Co-operation and
Development (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế )

PCTN

: Phòng, chống tham nhũng

UNCAC

: The United Nations Convention against Corruption
(Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng )

VC

: Viên chức

XĐLI

: Xung đột lợi ích

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1:

Ý nghĩa của cụm từ "xung đột lợi ích" theo cách
hiểu của cán bộ, công chức, viên chức, doanh
nghiệp và người dân

124


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), xung đột lợi ích
(XĐLI) trong hoạt động công vụ là "sự mâu thuẫn giữa nghĩa vụ công và lợi
ích cá nhân của một công chức mà trong đó lợi ích cá nhân của công chức có
khả năng ảnh hưởng không thỏa đáng tới việc hoàn thành các nhiệm vụ và
trách nhiệm công của họ" [142, tr.6]. Các tình huống XĐLI là một thực tế
đang tồn tại trong nền công vụ của mọi quốc gia.
Trên thế giới, XĐLI trong hoạt động công vụ là vấn đề được nhiều
quốc gia đặc biệt quan tâm, vì nó tiềm ẩn nguy cơ lớn dẫn đến tham nhũng.
Thậm chí có quan điểm còn cho rằng, XĐLI trong hoạt động công vụ thực
chất chính là một trong 3 dạng tham nhũng, bao gồm: (i) Tham nhũng trắng
(white corruption) là dạng tham nhũng có thể nhận biết nhưng được xã hội
chấp nhận; (ii) Tham nhũng xám (grey corruption), là dạng tham nhũng xảy
ra trong thực tế nhưng rất khó nhận biết (iii). Tham nhũng đen (black
corruption) là dạng tham nhũng được nhận biết rõ ràng và bị trừng phạt [132].
Trong ba dạng này, XĐLI trong hoạt động công vụ được xem là dạng tham
nhũng xám [126].
Cho dù theo quan điểm nào ở trên thì việc kiểm soát XĐLI trong hoạt
động công vụ cũng sẽ giúp ngăn ngừa tham nhũng một cách có hiệu quả, vì
vậy hiện tại trên thế giới, việc kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ được
xem là một trong những biện pháp cốt lõi trong cuộc chiến chống tham
nhũng. Đây là lý do khiến vấn đề kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ đã
được nhấn mạnh trong Công ước Liên Hợp quốc về chống tham nhũng
(UNCAC) và trong pháp luật của nhiều quốc gia. Cụ thể, Khoản 4 Điều 7
UNCAC nêu rõ: "4. Mỗi quốc gia thành viên, trên cơ sở phù hợp với các
nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước mình, nỗ lực ban hành, duy trì và củng
cố các cơ chế tăng cường minh bạch và phòng ngừa xung đột lợi ích". Ngoài
quy định này, UNCAC còn có nhiều quy định khác đề cập gián tiếp đến việc


2
phòng ngừa XĐLI trong hoạt động công vụ, ví dụ như những quy định về
Quy tắc ứng xử cho công chức (Điều 8), về Mua sắm công và quản lý tài
chính công (Điều 9)…
Mặc dù, có vai trò quan trọng trong phòng, chống tham nhũng (PCTN),
tuy nhiên, khuôn khổ pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ
của nước ta còn chưa hoàn thiện. Xét trên phương diện pháp lý, mặc dù đã có
một số quy định liên quan đến XĐLI trong một số đạo luật như Luật PCTN
năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) Luật PCTN 2018 (hiệu lực
01/07/2019), Luật Cán bộ, Công chức (CB, CC) năm 2008, Luật Viên chức
(VC) năm 2010,… song những quy định về vấn đề này trong pháp luật Việt
Nam hiện còn rời rạc, tản mát, nhiều quy định còn thiếu cụ thể, rõ ràng và khả
thi. Trong khi đó, theo một nghiên cứu khảo sát do Thanh tra Chính phủ phối
hợp với Ngân hàng Thế giới thực hiện vào năm 2015, các tình huống XĐLI
xảy ra khá phổ biến, đa dạng và có nguy cơ trở thành "thông lệ" trong hoạt
động công vụ ở nước ta [70, tr.69].
Bối cảnh trên cho thấy việc nghiên cứu hoàn thiện khuôn khổ pháp luật
về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam là rất cấp thiết. Về
yêu cầu này, Kết luận của Bộ Chính trị về thực hiện Nghị quyết Trung ương 3
khóa X đã chỉ rõ, cần sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật PCTN để khắc phục
những hạn chế, khó khăn, vướng mắc và tính hình thức của một số quy định
về PCTN, trong đó bao gồm các quy định về chế độ liêm chính của CB, CC,
VC và về kiểm soát XĐLI đối với những người được giao thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn [6].
Nguyên nhân chính dẫn tới những bất cập, hạn chế của pháp luật về
kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở nước ta là do vấn đề này còn
tương đối mới, hiện còn thiếu những nghiên cứu chuyên sâu. Mặc dù vấn đề
kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ đã được đề cập trong một số công
trình nghiên cứu và văn bản pháp luật của nước ta, song vẫn còn nhiều khía
cạnh lý luận, pháp lý, thực tiễn chưa được giải quyết thấu đáo.


3
Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện
pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ, từ đó nâng cao hiệu
quả hoạt động PCTN, xây dựng nền hành chính liêm chính và Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta là cần thiết và có ý nghĩa. Đây
chính là lý do nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài "Hoàn thiện pháp luật về kiểm
soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ ở Việt Nam" để thực hiện
luận án tiến sĩ luật học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của Luận án là phân tích làm sáng tỏ các vấn đề
lý luận, thực tiễn, đánh giá thực trạng pháp luật, trên cơ sở đó đề xuất những
quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động
công vụ ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận án cần thực hiện các nhiệm vụ
sau đây:
Một là, đánh giá tổng quan các công trình khoa học tiêu biểu trong và
ngoài nước liên quan đến pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công
vụ ở Việt Nam, từ đó xác định những nội dung luận án có thể kế thừa và
những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
Hai là, hệ thống hoá và phân tích làm sáng tỏ các vấn đề lý luận của
pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam, xác định
phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu, giả thuyết khoa học và các câu
hỏi nghiên cứu cần giải quyết trong luận án.
Ba là, phân tích, đánh giá quá trình phát triển và thực trạng pháp luật
Việt Nam về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ, chỉ ra những ưu điểm,
hạn chế và xác định nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế để làm cơ sở cho
việc đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát XĐLI
trong hoạt động công vụ ở Việt Nam.


4
Bốn là, đề xuất những quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về
kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ có tính toàn diện, khoa học và khả
thi trong điều kiện, hoàn cảnh của nước ta hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là khuôn khổ pháp luật về kiểm soát
XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung, luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận,
pháp lý và thực tiễn về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ, tức là trong
hoạt động của bộ máy nhà nước. Việc đề cập đến các hình thức kiểm soát
XĐLI trong các môi trường khác chỉ mang tính khái quát, qua đó làm rõ
những đặc thù trong hoạt động kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ.
- Về mặt không gian, luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận,
pháp lý và thực tiễn về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam.
Những phân tích về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ trong các văn
bản pháp luật quốc tế và pháp luật của các nước khác chỉ mang tính khái quát,
nhằm mục đích đối chiếu, so sánh.
- Về mặt thời gian, luận án tập trung khảo sát, đánh giá khuôn khổ pháp
luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam kể từ khi ban
hành Luật PCTN (2005) đến nay - thời điểm mà vấn đề XĐLI trong hoạt động
công vụ bắt đầu được quy định một cách chính thức, có tính hệ thống trong
pháp luật, đặc biệt là trong các văn bản pháp luật về PCTN.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận của luận án
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản
Việt Nam về Nhà nước và pháp luật và về PCTN.
4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Về phương pháp luận, luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện


5
chứng của triết học Mác Lênin làm cơ sở định hướng để xem xét một cách
tổng thể sự phát sinh, phát triển và thực trạng hệ thống pháp luật về kiểm soát
XĐLI ở Việt Nam hiện nay, đồng thời để xác định các quan điểm hoàn thiện
hệ thống pháp luật trong vấn đề này của nước ta.
Bên cạnh đó, tác giả vận dụng một số lý thuyết và cách tiếp cận sau đây
để phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn
chế của hệ thống pháp luật về kiểm soát XĐLI ở Việt Nam:
- Lý thuyết về mô hình quản lý XĐLI của Tổ chức Hợp tác và Phát
triển Kinh tế (The Organisation for Economic Co-operation and Development
- OECD) mà được khái quát hoá thành 6 chữ R (6Rs), bao gồm [141, tr.16]:
REGISTER (Tuyên bố, ghi nhận XĐLI); RESTRICT (Hạn chế, giới hạn các
tình huống gây ra XĐLI); RECRUIT (Tuyển dụng, sử dụng một bên thứ ba
độc lập để giám sát tình huống XĐLI); REMOVE (Loại bỏ sự tham gia của
công chức có XĐLI vào quá trình ra quyết định); RELINQUISH (Từ bỏ
những lợi ích cá nhân để đảm bảo không xảy ra XĐLI); RESIGN (Từ chức để
giải quyết XĐLI). Mô hình 6Rs của OECD chủ yếu được sử dụng để đánh giá
tính toàn diện của hệ thống pháp luật về kiểm soát XĐLI của Việt Nam.
- Các phương pháp (hướng) tiếp cận được sử dụng phổ biến trên thế
giới trong xây dựng chính sách, pháp luật về kiểm soát XĐLI [140, tr.53] đó
là: Tiếp cận dựa trên các nguyên tắc (principles-based approach), trong đó
chú trọng đặt ra các nguyên tắc chung về hành vi ứng xử của công chức trong
công vụ, và Tiếp cận dựa trên các quy định (rules-based approach), trong đó
chú trọng đặt ra các chuẩn mực ứng xử cụ thể của công chức trong các tình
huống XĐLI. Hai phương pháp tiếp cận này chủ yếu được sử dụng để đánh
giá tính hợp lý của hệ thống pháp luật về kiểm soát XĐLI của Việt Nam.
Về các phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp sử dụng các phương
pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học xã hội để giải quyết các câu hỏi
nghiên cứu đặt ra, bao gồm: Phương pháp hệ thống, phương pháp lôgic,
phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh và
phương pháp tổng hợp. Cụ thể:


6
Phương pháp hệ thống được sử dụng trong chương 1 để phân loại và
nghiên cứu nội dung các tài liệu nghiên cứu về kiểm soát XĐLI; pháp luật về
kiểm soát XĐLI ở Việt Nam.
Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu được sử dụng xuyên
suốt trong quá trình thực hiện chương 2, chương 3 và chương 4 của luận án.
Theo đó, những lý giải về mặt lý luận ở chương 2 là cơ sở đánh giá thực trạng
pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở chương 3 và từ đó
đưa ra các quan điểm và giải pháp trong chương 4.
Phương pháp lịch sử được sử dụng trong đánh giá thực trạng pháp luật
về kiểm soát XĐLI ở Việt Nam. Điều kiện cụ thể của đất nước là xuất phát
điểm để đánh giá đúng thực trạng pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt
động công vụ trong thời kỳ đổi mới.
Phương pháp phân tích được sử dụng trong cả chương 2, chương 3 và
chương 4 của luận án để phân tích cả tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp. Tài
liệu sơ cấp bao gồm các văn bản pháp luật của Nhà nước và văn kiện của
Đảng Cộng sản Việt Nam có liên quan, các vụ việc, các số liệu thống kê chính
thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tài liệu thứ cấp bao gồm các công
trình khoa học đã được công bố trong đề tài, bài báo, tạp chí, sách chuyên
khảo, tham khảo.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng để phân loại, xếp loại các tri thức,
số liệu từ hoạt động phân tích các tài liệu. Việc tổng hợp nhằm mục đích đưa
ra các nhận xét, đánh giá của tác giả ở mỗi chương và trong phần Kết luận của
luận án.
Phương pháp so sánh cũng được sử dụng trong toàn bộ luận án, đặc
biệt là ở các chương 2 và 3. Việc so sánh để rút ra sự khác biệt về quan điểm
giữa các tác giả, cũng như để đánh giá sự tương thích giữa pháp luật Việt
Nam với pháp luật quốc tế và pháp luật của các nước khác trong vấn đề kiểm
soát XĐLI. So sánh cũng nhằm làm rõ sự phát triển của pháp luật về kiểm
soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam từ trước tới nay.


7
5. Đóng góp mới của luận án, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của
luận án
5.1. Những đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu một cách toàn diện, hệ
thống khuôn khổ pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở
Việt Nam, cho nên luận án có những đóng góp mới sau đây:
Thứ nhất, củng cố và bổ sung những vấn đề lý luận về kiểm soát XĐLI
trong hoạt động công vụ ở Việt Nam. Luận án đã đưa ra khái niệm, xác định
các đặc điểm, đồng thời phân tích và chỉ ra vai trò, nội dung và những yêu cầu
đặt ra với việc hoàn thiện pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công
vụ. Ngoài ra, một số vấn đề lý luận được bổ sung bao gồm: các lý thuyết,
quan điểm khoa học phổ biến trên thế giới có liên quan đến kiểm soát XĐLI
trong hoạt động công vụ; các quan điểm khoa học về việc hoàn thiện pháp
luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam. Những vấn đề
này có ý nghĩa quan trọng, là nền tảng lý luận cho việc hoàn thiện pháp luật
về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam. Đây cũng chính là
những đóng góp về mặt lý luận của Luận án.
Thứ hai, thông qua nghiên cứu quá trình phát triển của pháp luật về
kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam, luận án đã phân tích,
đánh giá có tính khoa học và toàn diện khuôn khổ pháp luật hiện hành về
kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam. Luận án đã hệ thống
hóa những nội dung cơ bản của pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động
công vụ qua các giai đoạn phát triển, chỉ ra những ưu điểm cũng như những
hạn chế của pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ với thực tế
trong nước và quốc tế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó.
Thứ ba, luận án đã xây dựng các quan điểm và đề xuất một hệ thống
giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật
hiện hành về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam.


8
5.2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về phương diện lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần củng
cố, hoàn thiện cơ sở lý luận khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về kiểm soát
XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam, cụ thể là khẳng định sự cần thiết và
khả năng giải quyết vấn đề từ góc độ lý luận, đặc biệt là lý luận pháp lý.
Về phương diện thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được
sử dụng làm tài liệu tham khảo cho nhiều chủ thể khác nhau ở Việt Nam, bao
gồm các cơ quan của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là ở cấp Trung ương, trong
việc hoạch định chính sách, sửa đổi, bổ sung và tổ chức thực hiện các chính
sách, văn bản pháp luật có liên quan đến kiểm soát XĐLI.
Bên cạnh đó, luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho các cơ sở học thuật trong việc giảng dạy, nghiên cứu về vấn đề kiểm soát
XĐLI trong hoạt động công vụ.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình khoa học có
liên quan đến đề tài luận án mà tác giả đã công bố, Phụ lục, Danh mục tài liệu
tham khảo, luận án gồm 4 chương, 12 tiết.


9
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Kết quả khảo sát của tác giả luận án cho thấy, những công trình khoa
học của các tác giả trong nước nghiên cứu pháp luật về kiểm soát XĐLI được
công bố thời gian qua gồm một (01) sách chuyên khảo; một (01) đề tài nghiên
cứu khoa học cấp bộ; một (01) đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở và một
số bài viết khoa học đăng trên các tạp chí khoa học. Ngoài ra, còn có một số
sách chuyên khảo, luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu về
PCTN, hoạt động công vụ nói chung. Trong thực tế chưa có luận văn, luận án
nào nghiên cứu trực tiếp về đề tài hoàn thiện pháp luật kiểm soát XĐLI trong
hoạt động công vụ ở Việt Nam.
Có thể phân chia các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận
án theo các nhóm nội dung như sau:
1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận về pháp luật
kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ
- Về khái niệm hoạt động công vụ: Hiện tại khái niệm này đã được đề
cập trong một số giáo trình và sách chuyên khảo ở Việt Nam, tiêu biểu như sau:
Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam định nghĩa: "Công vụ được hiểu
là hoạt động của mọi người "làm việc công" nghĩa là hoạt động của mọi CB,
CC, VC làm việc trong mọi tổ chức cấu thành của hệ thống chính trị nước ta,
phục vụ các công việc chung của xã hội" [124, tr.256].
Trong cuốn sách Một số thuật ngữ hành chính [122] thì công vụ là một
dạng của lao động xã hội chủ yếu do các CC, VC nhà nước thực hiện. Hoạt
động công vụ được điều chỉnh bởi ý chí nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm
vụ, chức năng của Nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước và gắn bới quyền lực
nhà nước, nhân danh nhà nước.


10
Trong cuốn sách Phòng, chống tham nhũng trong hoạt động công vụ ở
Việt Nam - Lý luận và thực tiễn [96], tác giả Nguyễn Quốc Sửu cho rằng hoạt
động công vụ nhà nước là những hoạt động hay một mặt hoạt động có tính tổ
chức, quyền lực pháp lý của Nhà nước, được phân biệt với các hoạt động khác
trong xã hội như sản xuất vật chất, sáng tạo giá trị tinh thần và hoạt động phục
vụ trong các tổ chức chính trị - xã hội bởi sự gắn bó chặt chẽ của công vụ nhà
nước với quyền lực nhà nước.
Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu nêu trên chưa thể hiện
sự thống nhất trong quan niệm về tất cả các khía cạnh của công vụ, hoạt động
công vụ, mặc dù đã có sự đồng thuận trong các vấn đề như: chủ thể thực hiện
hoạt động công vụ (là công chức nhà nước, hoặc rộng hơn bao gồm cả viên
chức nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ... khi được
nhà nước ủy quyền); mục đích, tính chất của hoạt động công vụ (nhằm thực
hiện các chính sách của nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt
của đời sống xã hội; mang tính quyền lực nhà nước).
- Về khái niệm XĐLI: Khái niệm này cũng đã được đề cập trong một
số công trình nghiên cứu ở Việt Nam, tiêu biểu như sau:
Trong bài viết ''Quản trị XĐLI - Các lý thuyết và vấn đề đặt ra ở Việt Nam
hiện nay'' của tác giả Hoàng Văn Luân [58] thì XĐLI được hiểu là sự vi phạm, xâm
phạm hoặc làm tổn hại lẫn nhau giữa các lợi ích trong một quan hệ nhất định.
Trong bài viết ''Một số vấn đề về XĐLI trong thực thi công vụ'', tác giả
Hà Thanh [98] cho rằng: Xung đột lợi ích là những tình huống cụ thể phát
sinh khi công chức có thể đưa ra quyết định hoặc thực hiện hành vi có lợi cho
mình trong hoạt động công vụ, qua đó làm phát sinh tham nhũng.
Trong bài viết ''Kiểm soát XĐLI trong hoạt động của cơ quan, tổ chức,
đơn vị góp phần phòng, ngừa tham nhũng'', tác giả Ngô Mạnh Hùng [49,
tr.82-86] nhận định, với việc pháp luật về PCTN của Việt Nam mới chỉ quy
định hành vi tham nhũng trong khu vực công, liên quan đến người có chức vụ
quyền hạn thì XĐLI có ý nghĩa "là tình huống trong đó CB, CC, VC có thể
hưởng lợi cá nhân từ một quyết định đưa ra trong khi thi hành nhiệm vụ, công
vụ của mình".


11
Trong bài viết ''Xung đột lợi ích và tham nhũng'', tác giả Trần Văn
Long [60, tr.34-37] cho rằng, xung đột lợi ích được hiểu là bất kỳ một tình
huống nào trong đó cá nhân hay tổ chức được ủy thác trách nhiệm (được
trao quyền) có những lợi ích riêng hay chung đủ lớn đề ảnh hưởng (hay có thể
ảnh hưởng) đến việc thi hành các trách nhiệm được ủy thác một cách khách
quan, đúng đắn.
Theo các tác giả Vũ Công Giao và Đỗ Thu Huyền trong bài viết ''Kinh
nghiệm quốc tế về phòng ngừa, quản lý XĐLI của thế giới'' [37, tr.27] thì
"Xung đột lợi ích là khả năng một cá nhân hoặc tổ chức được giao quyền lực
công sử dụng vị trí công tác một cách không thích đáng để tư lợi".
Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu nêu trên chưa có sự
thống nhất hoàn toàn về cách hiểu XĐLI, đặc biệt là về chủ thể và khách thể
của XĐLI. Phần lớn các tác giả nêu trên cho rằng XĐLI là "tình huống" chứ
không phải là "hành vi". Bên cạnh đó, có tác giả cho rằng chủ thể của tình
huống XĐLI là cá nhân (CB, CC, VC) được giao quyền lực (thẩm quyền)
trong khi thực hiện công vụ [49, tr.82-86], nhưng có tác giả lại cho rằng ngoài
cá nhân, chủ thể của XĐLI còn là tổ chức được giao quyền [37, tr.27].
Dù vậy, các công trình nghiên cứu có sự thống nhất khá cao trong quan
niệm về khách thể, theo đó lợi ích có thể là lợi ích vật chất (tiền, tài sản...)
hoặc phi vật chất (trao đổi mối quan hệ, sự hàm ơn, khả năng thăng tiến trong
công việc...) [37; 60, tr.34-37]. Lợi ích này là lợi ích riêng đối với cá nhân
[49; 50; 60; 70] hoặc lợi ích chung (đối với tổ chức) [60, tr.34-37].
- Về các yếu tố cấu thành XĐLI: Vấn đề này mới chỉ được đề cập trong
hai (02) công trình nghiên cứu ở Việt Nam, cụ thể như sau:
Bài viết ''Kinh nghiệm quốc tế về phòng ngừa, quản lý XĐLI của thế
giới'' của các tác giả Vũ Công Giao và Đỗ Thu Huyền [37, tr.27] cho rằng có
hai yếu tố tạo nên tình huống XĐLI, trong đó về chủ thể là tổ chức hoặc cá
nhân được giao thẩm quyền nhất định, còn về khách thể, lợi ích bao gồm cả
vật chất và phi vật chất.
Bài viết ''Xung đột lợi ích và tham nhũng'' của tác giả Trần Văn Long
[60, tr.34-37] khẳng định có ba yếu tố cấu thành XĐLI, mà ngoài hai yếu tố


12
đã nêu trên còn có yếu tố nữa là việc thi hành trách nhiệm được giao. Trong
ba yếu tố đó quan trọng nhất là yếu tố về tính lợi ích của chủ thể.
- Về phân loại XĐLI: Vấn đề này đã được đề cập trong ba (03) công
trình nghiên cứu ở Việt Nam, cụ thể như sau:
Đề tài khoa học cấp bộ Kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ tại
Việt Nam. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn do Phạm Thị Huệ làm chủ nhiệm
[45] cho rằng có 2 loại XĐLI chủ yếu đó là XĐLI thực tế và XĐLI tiềm
tàng/tiềm ẩn.
Trong cuốn sách Kiểm soát XĐLI trong khu vực công. Quy định và thực
tiễn ở Việt Nam, do Ngân hàng Thế giới và Thanh tra Chính phủ ban hành
[70], nhóm tác giả cho rằng XĐLI có thể chia thành hai loại (hai cấp độ) là
XĐLI tiềm tàng và XĐLI hiện hữu, trong đó XĐLI tiềm tàng là CB, CC, VC
ở tình huống có thể bị tác động bởi lợi ích riêng tư của mình khi thực thi công
vụ, còn XĐLI hiện hữu khi CB, CC, VC ở tình huống bị tác động bởi lợi ích
riêng tư của họ khi thực thi công vụ.
Trong bài viết ''Kinh nghiệm quốc tế về phòng ngừa, quản lý XĐLI của
thế giới'' [37, tr.28], các tác giả Vũ Công Giao và Đỗ Thu Huyền trích dẫn
quan điểm của Ủy ban độc lập chống tham nhũng của Hồng Công (ICAC) cho
rằng có thể phân chia XĐLI thành 3 loại: (i) Xung đột thực tế (actual/real
conflict): (ii) Xung đột hiển nhiên (rõ ràng) (apparent conflict) (iii) Xung đột
tiềm ẩn (potential conflict).
- Về mối quan hệ giữa XĐLI và tham nhũng: Hiện đã có một số công
trình nghiên cứu ở Việt Nam đề cập đến mối quan hệ giữa XĐLI và tham
nhũng và nhìn chung quan điểm của các tác giả có sự thống nhất cao khi cho
rằng XĐLI và tham nhũng là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên quan mật
thiết với nhau, cụ thể như sau:
Trong đề tài Kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ tại Việt Nam Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [45], nhóm tác giả đã chỉ ra những điểm
chung và khác biệt giữa XĐLI và tham nhũng. Cụ thể, cả hai khái niệm XĐLI và
tham nhũng đều đề cập đến lợi ích riêng tư của CB, CC, VC, nhưng tham nhũng
có mục tiêu rõ ràng là vụ lợi còn XĐLI chưa nói đến mục tiêu vụ lợi mà mới nói


13
tới sự xung đột giữa lợi ích công và lợi ích tư trong quá trình ra quyết định của
CB, CC, VC.
Trong cuốn sách Kiểm soát XĐLI trong khu vực công. Quy định và thực
tiễn ở Việt Nam [70] các tác giả cũng phân biệt giữa XĐLI và tham nhũng
thông qua một số yếu tố như: Về đối tượng điều chỉnh, tham nhũng nói tới các
"hành vi", trong khi XĐLI nói tới các "tình huống"; Các tình huống XĐLI có
thể dẫn đến hành vi tham nhũng trong trường hợp CB, CC, VC ra quyết định vì
lợi ích riêng và làm tổn hại tới lợi ích chung, trong trường hợp ngược lại, CB,
CC, VC ra quyết định vì lợi ích chung thì XĐLI không dẫn tới tham nhũng; Về
mặt lý thuyết, tham nhũng có thể bị loại bỏ hoặc giảm cơ bản, song các tình
huống XĐLI thì luôn tồn tại và cần kiểm soát để tránh dẫn tới tham nhũng.
Trong bài viết ''Kinh nghiệm quốc tế về phòng ngừa, quản lý XĐLI của
thế giới'' [37, tr.28], các tác giả Vũ Công Giao và Đỗ Thu Huyền cho rằng: Xung
đột lợi ích là một trong những nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, tuy không phải
tất cả các tình huống XĐLI đều dẫn đến tham nhũng và ngược lại Tuy nhiên,
trong đa số trường hợp, tham nhũng xuất hiện khi một công chức đã vì lợi ích cá
nhân của mình để tác động không thỏa đáng tới quá trình thực hiện công vụ, vì
vậy, cần coi phòng ngừa XĐLI là một công cụ quan trọng để PCTN.
Trong bài viết ''Xung đột lợi ích và tham nhũng'', tác giả Trần Văn
Long cũng cho rằng XĐLI có thể dẫn đến tham nhũng [60]. Còn trong bài viết
Kiểm soát "xung đột lợi ích" trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị
góp phần phòng, ngừa tham nhũng, tác giả Ngô Mạnh Hùng khẳng định:
Xung đột lợi ích có thể tiềm ẩn hành vi tham nhũng bởi trong một tình huống
cụ thể nếu người có chức vụ, quyền hạn đã quyết định hành động hoặc không
hành động trái với chức trách, nhiệm vụ của mình để qua đó cá nhân mình
hoặc người thân của mình được hưởng lợi ích thì đó chính là hành vi tham
nhũng [49].
- Về kinh nghiệm kiểm soát XĐLI trong pháp luật quốc tế và pháp
luật của một số quốc gia trên thế giới: Đây là một vấn đề có nội dung rộng,
vì vậy đã có một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam đề cập đến, tiêu biểu
như sau:


14
Đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước năm 2007 Luận cứ khoa học cho
việc xây dựng chiến lược phòng ngừa và nâng cao hiệu quả đấu tranh PCTN
ở Việt Nam cho đến năm 2020 do tác giả Mai Quốc Bình làm chủ nhiệm [8]
đã tổng hợp một số kinh nghiệm về PCTN trên thế giới, trong đó bao gồm
kinh nghiệm về phòng chống XĐLI như là một biện pháp phòng ngừa tham
nhũng hiệu quả.
Cuốn sách Kiểm soát XĐLI trong khu vực công. Quy định và thực tiễn
ở Việt Nam [70], nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trong khối
OECD và những nước đang trong giai đoạn chuyển đổi trong việc kiểm soát
XĐLI trong khu vực công. Sách nêu một số ví dụ về cách thức một số quốc gia
OECD đã xử lý những khía cạnh XĐLI nhất định như quy định về hạn chế với
việc thực hiện hợp đồng của Chính phủ ở Cộng hòa Séc, Hoa Kỳ, Vương quốc
Anh, Croatia; hạn chế đối với việc hỗ trợ các thành viên gia đình và những người
khác để được tuyển dụng trong cơ quan nhà nước ở Trung Quốc, Ba Lan,
Croatia, Bulgaria;… Dù vậy, nội dung nghiên cứu mới dừng ở việc dẫn chiếu
các quy định về kiểm soát XĐLI trong lĩnh vực cụ thể; chưa nêu ra được một
cách rõ ràng những điểm tích cực mà Việt Nam có thể tham khảo, học tập.
Cuốn sách Việt Nam với Công ước Liên Hợp quốc về chống tham nhũng
(UNCAC) [105] của tập thể tác giả do Nguyễn Văn Thanh chủ biên đã phân tích
những nguyên tắc, quy định chính của Công ước và nêu ra những thuận lợi và
thách thức đối với Việt Nam trong việc phê chuẩn và thực thi công ước. Trong
số các vấn đề được đề cập và phân tích có việc kiểm soát XĐLI.
Cuốn sách Một số kinh nghiệm quốc tế về phòng chống tham nhũng của
Thanh tra Chính phủ đề cập đến chính sách, pháp luật về phòng ngừa tham
nhũng và thực tiễn thực hiện UNCAC của một số quốc gia trên thế giới, trong
đó có kinh nghiệm liên quan đến kiểm soát XĐLI, cụ thể trong các lĩnh vực
như mua sắm công và quản lý tài chính công; sự hợp tác giữa khu vực công
và khu vực tư... [100].
Luận án Tiến sĩ Luật học của Lê Đinh Mùi Pháp luật về đạo đức công
chức ở Việt Nam hiện nay [67], nghiên cứu pháp luật về đạo đức của một số
nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, OECD trong đó có các nội dung liên


15
quan đến nguyên tắc ứng xử của CB, CC, VC khi thi hành công vụ, hạn chế
đối với CB, CC, VC khi tham gia các hoạt động tư nhân... Đây là những nội
dung có liên quan và hữu ích trong việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về
kiểm soát XĐLI.
Luận văn thạc sĩ Luật học của Lã Văn Huy, Pháp luật về phòng chống
tham nhũng của Singapore và bài học cho Việt Nam [53], đề cập đến quy định
pháp luật của Singapore về PCTN trong đó có vấn đề kiểm soát XĐLI.
Bài viết ''Một số kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của Hàn
Quốc'' của tác giả Trần Anh Tuấn phân tích các quy định của Hàn Quốc về
ngăn ngừa XĐLI trong hoạt động công vụ [111].
Bài viết ''Luật đạo đức trong chính quyền Mỹ: chi tiết đến từng hạng
mục'' do Hoàng Kim Phượng lược dịch từ tài liệu của Open Secrets giới thiệu
đạo luật của Hoa Kỳ có tên là "Đạo đức trong chính quyền", trong đó bao
gồm các quy định liên quan đến chức vụ, các hợp đồng, đi lại, quà biếu thu
nhập, thù lao, tài sản các giao dịch... [74].
Bài viết ''Một số vấn đề về XĐLI trong thực thi công vụ'' của tác giả Hà
Thanh phân tích nội dung Nghị quyết số 51/59 ngày 12/12/1996 về hành động
chống tham nhũng và Bộ quy tắc ứng xử mẫu của Liên hợp quốc, đồng thời
dẫn chiếu sáu (06) quy tắc ứng xử chống tham nhũng của Bộ Nội vụ Cộng
hòa Liên bang Đức để phòng chống XĐLI [97].
Bài viết ''Kinh nghiệm quốc tế về phòng ngừa, quản lý XĐLI của thế
giới'' của tác giả Vũ Công Giao và Đỗ Thu Huyền [37, tr.27-29], chỉ ra rằng
vấn đề XĐLI được đề cập lần đầu tiên vào năm 1996 trong Bộ quy tắc quốc tế
về ứng xử của công chức của Liên hợp quốc, sau đó được đề cập trong một
loạt công ước quốc tế và khu vực khác, bao gồm: Công ước Liên Mỹ về
chống tham nhũng (Điều 3); Nghị định thư của Cộng đồng Kinh tế các nước
Tây Phi về chống tham nhũng (Điều 5); Công ước của Liên minh Châu Phi về
PCTN (Điều 7). Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (Điều 7, 12).
Những chính sách phòng ngừa, quản lý XĐLI của các quốc gia trên thế giới
hiện nay đi theo hai hướng tiếp cận chính đó là: Hướng tiếp cận dựa trên các
nguyên tắc (principles-based approach) và Hướng tiếp cận dựa trên các quy


16
định (rules-based approach). Bài viết cũng chỉ ra một số giải pháp phòng
ngừa XĐLI đang được áp dụng trên thế giới như: Đảm bảo tính minh bạch và
trách nhiệm giải trình của nhà nước thông qua cơ chế công khai thu nhập, tài
sản và các lợi ích cá nhân khác; Giới hạn hoặc cấm công chức không được
đồng thời có một công việc khác (toàn thời gian hoặc bán thời gian) nằm
ngoài hệ thống các cơ quan hành chính, song song với việc trả lương thoả
đáng cho công chức; Những giới hạn đối với vấn đề việc làm của công chức
sau khi rời khỏi vị trí công tác; Huy động sự tham gia tích cực của khu vực tư
nhân, truyền thông và các tổ chức xã hội dân sự để có một kênh giám sát độc
lập với chính phủ trong việc tuân thủ các quy định về XĐLI; Tăng cường
tuyên truyền, nâng nhận thức của đội ngũ CB, CC, VC về các hệ lụy của
XĐLI và nhận diện các lĩnh vực hoạt động có nhiều nguy cơ xảy ra XĐLI.
Đặc biệt, bài viết đã chỉ ra mô hình quản lý XĐLI gồm 6 chữ R (6Rs) của
OECD mà đang được nhiều quốc gia tham khảo, vận dụng, xem đó là giải
pháp tốt để quản lý XĐLI. Đây là nghiên cứu có tính tổng quát có giá trị tham
khảo rất tốt cho đề tài luận án.
Bài viết "Kiểm soát XĐLI, góp phần tăng cường hiệu quả công tác
PCTN ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Vũ Thu Hạnh [40, tr.34] đã dẫn
chứng quy định của Cộng hòa Séc, Cộng hòa Slovak, Cộng hòa Coroatia,
Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc về chế định XĐLI với các nội dung về
mục đích của kiểm soát XĐLI là tăng cường liêm chính, khách quan và minh
bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, khái niệm XĐLI, phân loại
XĐLI, quy định về tặng quà, quy định tránh XĐLI…
- Về khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về kiểm soát XĐLI
trong hoạt động công vụ:
Đề tài khoa học cấp bộ Kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ tại
Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [45] do Phạm Thị Huệ làm chủ
nhiệm cho rằng: Pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ quy
định những nguyên tắc chung nhất để thiết lập nền công vụ liêm chính, với
một đội ngũ CB,CC,VC liêm khiết, chuyên nghiệp và một cơ chế để đảm bảo
tính liêm chính, liêm khiết đó được thực hiện nhằm phục vụ người dân, xã


17
hội. Pháp luật là căn cứ để xác định lợi ích hợp pháp của các chủ thể và các
hành vi cần thực hiện để bảo vệ lợi ích hợp pháp đó. Mặt khác, pháp luật cũng
quy định cơ chế để đảm bảo hiệu quả thực hiện các biện bảo bảo vệ. Pháp luật
về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ có vai trò loại bỏ nguy cơ nảy
sinh tham nhũng thiết lập cơ chế phòng ngừa tham nhũng hiệu quả xây dựng
nền quản trị tốt.
Đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2016 của Thanh tra Chính phủ về Kiểm
soát XĐLI trong hoạt động thanh tra do Lê Thị Thúy là chủ nhiệm [108] pháp
luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ bao gồm các quy định để cán
bộ, công chức chủ động phòng ngừa xung đột lợi ích, nguyên tắc nhằm bảo
đảm tính khách quan trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ,
công chức trách nhiệm của cơ quan nhà nước và xã hội trong phát hiện xung
đột lợi ích.
Bài viết ''Lý thuyết về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ nhằm
phòng ngừa tham nhũng'' của Lê Thị Thúy [2, tr.506] cho rằng pháp luật vể
kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ có vai trò chuẩn hóa nhận thức, đưa
ra những giả định, quy định và chế tài rõ ràng, cụ thể, tạo thuận lợi cho quá
trình thực hiện trên thực tế.
Bài viết ''Kiểm soát XĐLI góp phần tăng cường hiệu quả công tác
PCTN ở Việt Nam hiện nay'' của Vũ Thu Hạnh [40, tr.34]: Pháp luật về kiểm
soát XĐLI quy định các tình huống XĐLI, về chủ thể, đối tượng, nội dung,
quy trình, phương án xử lý khi xảy ra XĐLI, về giám sát việc kiểm soát XĐLI
cũng như các biện pháp xử lý vi phạm.
1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực
thi pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ ở
Việt Nam
- Về thực trạng pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ
ở Việt Nam
Hiện đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến thực trạng các quy
định của pháp luật kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam. Một
số công trình tiêu biểu có thể kể như sau:


18
Đề tài khoa học cấp bộ Kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ tại
Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [45] do Phạm Thị Huệ làm chủ
nhiệm đã phân tích đánh giá thực trạng quy định về phòng ngừa, nhận diện,
giám sát, theo dõi và xử lý XĐLI trong hoạt động công vụ. Các tác giả đã chỉ
ra một số ưu điểm cũng như những hạn chế của pháp luật về kiểm soát XĐLI
trong hoạt động công vụ ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham
khảo hữu ích cho nghiên cứu đề tài luận án.
Cuốn sách Việt Nam với Công ước Liên Hợp quốc về chống tham
nhũng của tập thể tác giả do Nguyễn Văn Thanh chủ biên [105] đã đề cập đến
những quy định pháp luật điều chỉnh hành vi xử sự của CB, CC, VC. Các tác
giả cho rằng cần tiếp tục hệ thống hóa và hoàn thiện các quy định có liên
quan, trong đó bao gồm việc yêu cầu CB, CC, VC phải báo cáo về những hoạt
động ngoài công việc mà công chức đó đảm nhiệm như các khoản đầu tư bên
ngoài hay tài sản, quà tặng, những thứ có thể gây XĐLI khi họ thực hiện
nhiệm vụ công.
Cuốn sách Một số vấn đề về tham nhũng và những nội dung chủ yếu
của Luật Phòng chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành [65]
do tác giả Đinh Văn Minh và cộng sự biên soạn tập trung phân tích những
quy định về quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, việc tặng quà, nhận
quà của CB, CC, VC trong Luật PCTN 2005, trong đó có so sánh với Pháp
lệnh PCTN năm 1998. Các tác giả khẳng định, phòng ngừa XĐLI là một
trong những biện pháp quan trọng để phòng ngừa tham nhũng và những yêu
cầu mang tính nguyên tắc của UNCAC liên quan đến phòng ngừa XĐLI đã
được pháp luật Việt Nam quy định khá đầy đủ, chi tiết.
Cuốn sách Kiểm soát XĐLI trong khu vực công: Quy định và thực tiễn
ở Việt Nam [70] do nhóm Ngân hàng Thế giới và Thanh tra Chính phủ ấn
hành đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến XĐLI trong khu vực công ở Việt
Nam, trong đó phần Phụ lục 4 của sách trình bày kết quả rà soát quy định
pháp luật Việt Nam về kiểm soát XĐLI trong khu vực công. Đây là công trình
chuyên khảo đầu tiên rà soát một cách tổng thể hệ thống pháp luật Việt Nam
về vấn đề XĐLI, vì vậy luận án có thể kế thừa rất nhiều kết quả nghiên cứu
trong cuốn sách này.


19
Chuyên đề Báo cáo tổng quan đánh giá thuận lợi và khó khăn của Việt
Nam trong việc thực hiện Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng
[120] (Thông tin chuyên đề của Viện Khoa học Thanh tra, Thanh tra Chính
phủ). Báo cáo đánh giá thực trạng và những thuận lợi, khó khăn của Việt Nam
trong việc thực hiện yêu cầu về Quy tắc ứng xử cho công chức được quy định
tại Điều 8 của UNCAC. Theo Báo cáo này, Luật PCTN của Việt Nam đã có
nhiều quy định về quy tắc ứng xử của CB, CC, VC, trong đó bao gồm những
việc CB, CC, VC không được làm, việc tặng quà, nhận quà của CB, CC,
VC... Nhìn chung Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc đáp ứng yêu cầu
này của UNCAC.
Luận án Tiến sĩ Luật học Pháp luật về đạo đức công chức ở Việt Nam
hiện nay của Lê Đinh Mùi [67] tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về pháp
luật về đạo đức công chức. Luận án phân tích những quy định pháp luật Việt
Nam về những việc CB, CC không được làm, quy tắc ứng xử của CB, CC
một số ngành... Đây là tài liệu tham khảo hữu ích khi nghiên cứu về nội dung
những quy định hạn chế đối với CB, CC nhằm phòng ngừa XĐLI.
Luận án Tiến sĩ Luật học Hoàn thiện pháp luật về phòng chống tham
nhũng ở Việt Nam hiện nay của Trần Đăng Vinh [119] phân tích các quy định
về các biện pháp phòng ngừa tham nhũng như các quy định về quy tắc ứng
xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; việc tặng quà, nhập quà và nộp lại quà tặng;
quy định về công khai, kê khai tài sản, thu nhập... Luận án nhận định các biện
pháp phòng ngừa tham nhũng hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa đầy đủ, còn
thiếu hiệu lực, hiệu quả chưa cao, chưa tạo ra được sự chuyển biến trong
phòng ngừa tham nhũng.
Luận văn thạc sĩ Luật học Pháp luật về kiểm soát thu nhập của người
có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện nay [38] của Hoàng Nam Hải đánh
giá các quy định trong pháp luật hiện hành và đối chiếu, phân tích với tình
hình thực tế về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn,
từ đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của chính sách, pháp luật trong lĩnh vực
này và đề xuất một số quan điểm, giải pháp bảo đảm kiểm soát thu nhập của
người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện nay.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×