Tải bản đầy đủ

ĐẢNG LÃNH ĐẠO TRANH THỦ THỰC HIỆN CÁC KHẢ NĂNG HỊA BÌNH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

VŨ THỊ HỒNG DUNG

ĐẢNG LÃNH ĐẠO
TRANH THỦ THỰC HIỆN CÁC KHẢ NĂNG HÒA BÌNH
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945-1954)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

VŨ THỊ HỒNG DUNG

ĐẢNG LÃNH ĐẠO
TRANH THỦ THỰC HIỆN CÁC KHẢ NĂNG HÒA BÌNH

TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945-1954)
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 62.22.03.15

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà
2. PGS, TS Hoàng Thị Kim Thanh

HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu
của riêng tôi, không trùng lắp, sao chép của bất cứ ai. Các số
liệu, kết luận trong luận án đảm bảo tính khách quan, trung
thực, có nguồn rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy
định. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Vũ Thị Hồng Dung


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI ............................................................................................7
1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ..............................................7
1.2. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã giới thiệu và
những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết ............................................................31
Chương 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO TRANH THỦ THỰC HIỆN KHẢ NĂNG
HOÀ BÌNH TỪ THÁNG 9 - 1945 ĐẾN HẾT NĂM 1949 .................34
2.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo tranh thủ thực hiện khả năng hoà
bình của Đảng .....................................................................................................34
2.2. Chủ trương tranh thủ thực hiện các khả năng hoà bình của Đảng từ tháng 9
- 1945 đến hết năm 1949 ....................................................................................42
2.3. Đảng chỉ đạo tranh thủ thực hiện các khả năng hoà bình từ tháng 9 - 1945


đến hết năm 1949 ................................................................................................59
Chương 3: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG TRANH THỦ
THỰC HIỆN CÁC KHẢ NĂNG HOÀ BÌNH TỪ NĂM 1950
ĐẾN NĂM 1954 .....................................................................................80
3.1. Chủ trương tranh thủ thực hiện các khả năng hoà bình của Đảng từ năm
1950 đến năm 1954.............................................................................................80
3.2. Đảng chỉ đạo tranh thủ tạo khả năng hoà bình từ năm 1950 đến năm 1954 ......94
Chương 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ................................................... 119
4.1. Nhận xét .......................................................................................................... 119
4.2. Một số kinh nghiệm ........................................................................................ 145
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 159
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA
TÁC GIẢ ............................................................................................................... 163
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 166
PHỤ LỤC .............................................................................................................. 179


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Lẽ tự nhiên, con người sinh ra luôn mong muốn được sống hoà bình, tự do,
tránh xa chiến tranh. Bởi dù bất kể lý do gì, chiến tranh luôn phản ánh mối quan hệ,
mâu thuẫn không thể điều hoà được giữa các bên, là giải pháp cuối cùng, hình thức
cao nhất, tàn khốc nhất để giải quyết mâu thuẫn và hy vọng xác lập nên trật tự quan
hệ mới mà mỗi bên có thể chấp nhận được. Trong mỗi cuộc chiến tranh, đều tiềm ẩn
các khả năng kết thúc cuộc chiến và việc kết thúc nhanh hay chậm, bằng giải pháp
chính trị hay quân sự, tùy thuộc vào ý chí, khả năng đánh giá, nhận định tình hình của
các bên tham chiến. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
của nhân dân Việt Nam là một ví dụ.
Xuyên suốt cuộc kháng chiến là nỗ lực của Việt Nam tranh thủ thực hiện các
khả năng hòa bình nhằm đẩy lùi nguy cơ chiến tranh và nhanh chóng kết thúc chiến
tranh. Chủ trương tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình của Đảng, đứng đầu là
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược chính là cố
gắng tận dụng, thực hiện một cách hiệu quả các khả năng có lợi đối với cuộc kháng
chiến, được xét trên hai bình diện: một là tranh thủ thực hiện các khả năng do khách
quan đem lại; hai là chủ động làm xuất hiện các khả năng để nhanh chóng đi đến kết
thúc chiến tranh. Bởi khả năng là cái có thể xuất hiện, có thể xảy ra trong điều kiện
nhất định, nó khác với cơ hội là cái nhìn thấy rõ ràng, là dịp thuận lợi xảy ra đúng lúc
để có thể thực hiện mục đích thành công. Còn tranh thủ nghĩa là cố gắng tận dụng
một cách tích cực cái bình thường có thể không sử dụng đến và thực hiện chính là
làm cho thành sự thật bằng việc làm, hành động cụ thể. Vì thế, nhận định được các
khả năng sẽ xảy ra để có chủ trương, sách lược cụ thể, phù hợp là một trong những
yếu tố có vai trò quyết định đưa đến thắng lợi cuối cùng. Có nhiều nguyên nhân làm
nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trong đó chủ
trương tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình là một trong những nguyên nhân có
vai trò quyết định quan trọng.
Dù dưới hình thức đấu tranh nào thì tìm kiếm hòa bình luôn là đích hướng
tới của nhân loại, cũng là mục đích của mỗi quốc gia - dân tộc trên con đường đấu


2
tranh chống lại chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc và hòa bình cho nhân dân.
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước. Trên thế giới, hiếm có
quốc gia nào trong mấy nghìn năm lịch sử lại phải thường xuyên, liên tục chống lại
nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, đô hộ của ngoại bang có sức mạnh hơn gấp nhiều
lần như Việt Nam. Bởi thế, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam hiểu rõ sự khốc liệt, tàn
phá của chiến tranh và giá trị của hòa bình, độc lập. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nói: nước được độc lập mà dân không được tự do, đồng bào không có cơm ăn,
áo mặc thì độc lập không có ý nghĩa gì. Thế nên, xét đến cùng, mục tiêu của độc lập
chính là hòa bình. Hòa bình vừa là mục tiêu cần đạt tới, vừa là chủ trương, sách
lược mềm dẻo, linh hoạt để giành độc lập dân tộc. Độc lập là tiền đề, điều kiện tiên
quyết để có hòa bình. Hòa bình, độc lập trở thành mục tiêu hướng tới, khát vọng
cháy bỏng của nhân dân Việt Nam.
Trong quá trình lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược (1945-1954), Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chủ
trương tranh thủ mọi khả năng hòa bình dù là nhỏ nhất, cũng như tìm mọi cách, làm
hết sức mình, để làm xuất hiện khả năng hòa bình có thể tranh thủ nhằm đẩy lùi nguy
cơ chiến tranh, đem lại độc lập, hòa bình và thực tế điều đó đã được thực hiện trong
suốt cuộc kháng chiến. Đây là một hoạt động quan trọng của Đảng, của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, diễn ra trong bối cảnh thực dân Pháp quyết tâm dùng mọi thủ đoạn áp đặt
trở lại sự thống trị lên Việt Nam. Xuyên suốt cuộc kháng chiến, Đảng, Chủ tịch Hồ
Chí Minh không ngừng nhận thức, phát hiện, lãnh đạo thực hiện các khả năng hòa
bình với phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, đề cao chủ quyền dân tộc, nhân
nhượng có nguyên tắc và đã đạt được những kết quả cụ thể, có ý nghĩa to lớn.
Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình trong kháng chiến
chống thực dân Pháp (1945-1954) là một nội dung quan trọng trong sự lãnh đạo của
Đảng, nhưng còn ít được nghiên cứu và chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập
một cách hệ thống, chuyên sâu. Nghiên cứu vấn đề Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện
các khả năng hòa bình trong kháng chiến chống thực dân Pháp sẽ góp phần làm rõ sự
lãnh đạo toàn diện của Đảng trên tất cả các lĩnh vực, trong đó tập trung vào đấu tranh
quân sự kết hợp với đấu tranh ngoại giao, đó là tranh thủ những khả năng hòa bình do


3
thực tế khách quan đem lại và cả quá trình chủ động tìm cách thúc đẩy, tác động để
tạo ra các khả năng hòa bình có thể tranh thủ nhằm đưa thắng lợi đến sớm nhất; bối
cảnh quan hệ quốc tế liên quan đến vấn đề đó; rút ra những nhận xét, kinh nghiệm về
sự lãnh đạo đó của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; làm cơ sở tham khảo,
gợi mở cho hoạt động đối ngoại hiện nay; góp phần đấu tranh chống lại các quan
điểm xuyên tạc, bóp méo lịch sử, cho rằng Việt Nam hiếu chiến, chỉ muốn chiến
tranh; khẳng định rõ chủ trương, mong muốn, khát vọng hòa bình của Việt Nam.
Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề: “Đảng lãnh đạo
tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình
h

-

ng h ng h n h ng hự

n

)”, làm đề tài Luận án tiến sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành ịch

sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mụ đí h ngh ên ứu
àm rõ quá trình Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), từ đó, rút ra
những kinh nghiệm để vận dụng vào hiện tại.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án tập trung thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
- Hệ thống hóa, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về tranh thủ thực
hiện khả năng hòa bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(1945-1954).
- Nhận xét và đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng lãnh
đạo tranh thủ thực hiện khả năng hòa bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược (1945 -1954).
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3. . Đ

ượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu chủ trương, quá trình Đảng chỉ đạo tranh thủ thực hiện
các khả năng hòa bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(1945 - 1954).


4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu làm rõ các nội dung chủ yếu về
chủ trương, quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo tranh thủ thực hiện các khả năng hoà
bình ở một số thời điểm 1945-1946, 1950, 1954 trên hai phương diện: tranh thủ
thực hiện khả năng hòa bình do điều kiện khách quan thuận lợi đem đến và tìm cách
tác động, thúc đẩy nhằm tạo ra các khả năng hòa bình để tranh thủ; những nhận xét,
kinh nghiệm về sự lãnh đạo đó của Đảng.
- Về không gian: Chủ yếu ở Việt Nam và một số nước có liên quan
- ề th i gian: từ khi thực dân Pháp quay trở lại nổ súng đánh chiếm Nam
Bộ ngày 23-9-1945 đến khi Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào,
Campuchia được ký kết tại Hội nghị Giơnevơ ngày 21-7-1954, kết thúc cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
4. Cơ
. .

ận ng ồn tư iệ và hương h
l l

nghi n cứ

n

uận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế, về chiến tranh cách mạng, về độc lập dân
tộc và hòa bình.
. . hư ng h

ngh ên ứ

Phương pháp chủ yếu được sử dụng là phương pháp lịch sử và lôgíc.
Phương pháp lịch sử nhằm trình bày quá trình Đảng, đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh lãnh đạo tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình trong cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp, tập trung vào các mốc lịch sử chủ yếu: 1945-1946;
1950 và 1954.
Phương pháp lôgíc: Từ thực tiễn quá trình Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện
các khả năng hòa bình, khái quát lại những kết quả chủ yếu, rút ra một số nhận xét
và kinh nghiệm về quá trình lãnh đạo đó của Đảng.
Ngoài việc sử dụng độc lập và kết hợp khoa học hai phương pháp lịch sử và
lôgíc, nghiên cứu sinh còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác như:
thống kê, so sánh; khảo sát tư liệu; phân tích và tổng hợp; các phương pháp phê
phán sử liệu và phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học lịch sử Đảng là căn


5
cứ vào các văn bản nghị quyết, chỉ thị của Đảng, soi chiếu vào thực tiễn diễn ra của
những sự kiện, nhân vật lịch sử hoặc ngược lại... để phân tích, đánh giá, tổng hợp và
rút ra những nhận xét, kinh nghiệm.
4.3. Nguồn ư l ệu, tài liệu tham khảo
- Các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo của Trung ương Đảng, đã được công bố
trong ăn kiện Đảng Toàn tập.
- Các bài viết, phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố trong Hồ Chí
Minh Toàn tập.
- Các tư liệu, tài liệu của các bộ, ngành liên quan được lưu giữ tại Cục ưu
trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại
giao, Thư viện Quốc gia, Thư viện Trung ương Quân đội, Phòng Tư liệu - Phương
pháp Viện Lịch sử Đảng...
- Các công trình nghiên cứu, tổng kết, các sách, bài viết đăng trên các tạp chí
khoa học; các luận án, luận văn có nội dung liên quan đến đề tài luận án của các cơ
quan, nhà khoa học của Việt Nam và quốc tế.
- Hồi ký của các nhà lãnh đạo, tướng lĩnh, chính khách, nhân chứng lịch sử ở
trong nước và quốc tế trực tiếp, gián tiếp tham gia vào sự kiện lịch sử trong giai
đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954.
5. Đ ng g

ới về khoa học và thực tiễn của

ận n

5.1. Đóng góp về khoa học
- Góp phần hệ thống hóa tư liệu, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng,
đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh về tranh thủ thực hiện khả năng hòa bình trong
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954).
- Bước đầu nêu lên các nhận xét và đúc rút một số kinh nghiệm từ quá trình
Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện khả năng hòa bình trong cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp. Qua đó, làm rõ một trong những vấn đề quan trọng quyết định đến
thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến là biết tranh thủ thực hiện khả năng hòa
bình và thúc đẩy làm xuất hiện các khả năng hòa bình để sớm kết thúc chiến tranh.
Khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, sự độc lập, kiên định, mềm dẻo của Đảng, Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp


6
xâm lược (1945-1954). Nêu lên ý nghĩa lý luận, thực tiễn của những kinh nghiệm đó
đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt am xã hội chủ nghĩa ngày nay.
- Cung cấp những cứ liệu khoa học góp phần làm sáng tỏ hơn vị trí, vai trò
và những đóng góp to lớn của chủ trương đối ngoại hòa bình, mặt trận ngoại giao
do Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với thắng lợi của cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954).
. . Đóng gó về thực tiễn
Luận án là tài liệu tham khảo để các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách
phát triển đất nước nói chung, chính sách đối ngoại nói riêng nhằm tranh thủ mọi
khả năng, thời gian hòa bình tạo nên sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi sự
nghiệp đổi mới đất nước.
- à tài liệu tham khảo đối với việc nghiên cứu, giảng dạy về cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954, Đường lối cách mạng của Đảng
Cộng sản Việt am và một số môn học lý luận chính trị khác.
6.

ết cấ của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án được kết cấu gồm 4 chương, 9 tiết:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Chương 2: Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện khả năng hoà bình từ tháng 91945 đến hết năm 1949
Chương 3: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng tranh thủ thực hiện các khả
năng hoà bình từ năm 1950 đến năm 1954
Chương 4: hận xét và kinh nghiệm


7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu chung về cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của cơ quan, tổ chức, các cá
nhân, ở cả trong nước và ngoài nước về các nội dung liên quan đến cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp (1945-1954).
Cuốn sách Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và
bài học [4], có kết cấu gồm: Phần mở đầu, trình bày bối cảnh lịch sử, nguồn gốc
chiến tranh và tính chất, đặc điểm của cuộc chiến tranh; Phần thứ nhất, viết về quá
trình phát triển của cuộc kháng chiến qua từng giai đoạn và sự lãnh đạo, chỉ đạo
chiến tranh của Đảng; Phần thứ hai, đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm của
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Công trình đã kế thừa những kết quả của
các công trình tổng kết trước, đồng thời thể hiện quá trình hoàn thiện nhận thức,
bước phát triển về tư duy chính trị, quân sự của Đảng đối với cuộc kháng chiến.
Công trình tổng kết, phân tích, đánh giá về những nguyên nhân thắng lợi và nêu lên
6 bài học kinh nghiệm trong quá trình Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến. Trong đó,
dành nhiều trang đề cập tới chủ trương, đường lối đối ngoại hòa bình của Đảng và
những hoạt động ngoại giao cụ thể tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế, nỗ lực tìm
các giải pháp đàm phán, thương lượng với Pháp, nhằm đẩy lùi nguy cơ chiến tranh
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là những năm 1945-1946.
Cuốn sách Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975, thắng lợi và bài học
[5] là công trình tổng kết cơ bản nhất về sự lãnh đạo của Đảng đối với hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược trong suốt 30
năm.

goài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, công trình gồm hai phần chính. Phần

thứ nhất: Cuộc đụng đầu lịch sử mang tính th i đại; Phần thứ hai: Những bài học
chủ yếu về lãnh đạo chiến tranh cách mạng của Đảng, bằng phương pháp trình bày
khoa học, logic, không tách biệt mà lồng ghép hai cuộc kháng chiến chống Pháp và


8
chống Mỹ trong khoảng thời gian liên tục từ năm 1945 đến năm 1975 với những sự
kiện lịch sử sinh động, tập thể tác giả đã trình bày khái quát bối cảnh tình hình thế
giới, nguyên nhân cơ bản, những diễn biến chính và sự lãnh đạo của Đảng trong
suốt 30 năm chiến tranh cách mạng và rút ra sáu bài học kinh nghiệm Đảng lãnh
đạo cuộc chiến tranh cách mạng từ 1945 đến 1975. Trong đó, bài học kinh nghiệm
đầu tiên là: Nắm vững đường lối cách mạng, đường lối chiến tranh cách mạng đúng
đắn và sáng tạo theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. “... giương
cao ngọn cờ hòa bình, tranh thủ các khả năng hòa bình trên cơ sở kiên định con
đường cách mạng và các mục tiêu cơ bản của cách mạng” [5, tr.204]. Đây là một
công trình tổng kết cơ bản, đã đúc rút ra một bài học quan trọng đề cập tới vấn đề
hòa bình và tranh thủ các khả năng hòa bình mà luận án cần nghiên cứu, làm rõ. Là
tài liệu hữu ích cho nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình triển khai luận án.
Bộ sách: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), do
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Bộ Quốc phòng biên soạn, xuất bản gồm 7 tập,
trong đó: Tập I [165], Chuẩn bị toàn quốc kháng chiến, tập trung trình bày những
nội dung chủ yếu của cuộc kháng chiến từ sau Cách mạng Tháng Tám đến ngày
Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) trong bối cảnh đất nước khó khăn mọi bề và
miền Bắc tạm thời có hòa bình, miền Nam phải tiến hành kháng chiến chống thực
dân Pháp quay trở lại xâm lược. Phân tích âm mưu, thủ đoạn, quyết tâm xâm lược
Việt Nam của thực dân Pháp, quá trình dẫn đến sự kiện ngày 19-12-1946. Đồng
thời phân tích, làm rõ chủ trương, quá trình thực hiện sách lược ngoại giao hòa
hoãn, tránh chiến tranh của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, và nguyện vọng hòa bình,
độc lập của Việt Nam; Tập II [167] viết về cuộc kháng chiến từ 19-12-1946 đến hết
năm 1947, trình bày quá trình chuyển cả đất nước vào thời chiến, những cố gắng
ngoại giao với phía Pháp nhằm chấm dứt xung đột nhưng không mang lại kết quả;
Tập III [168] với tựa đề Triển khai kháng chiến toàn diện, trong đó, chương 10 viết
về quá trình đoàn kết chiến đấu với cách mạng Lào, Campuchia, Trung Quốc và
tăng cường các hoạt động đối ngoại với phương châm thêm bạn, bớt thù, từng bước
cô lập kẻ thù, phá vây, tạo chuyển biến có lợi cho cuộc kháng chiến; Tập IV [170]
Bước ngoặt của cuộc kháng chiến, tập trung làm rõ những nỗ lực ngoại giao nhằm


9
tìm kiếm, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ quốc tế của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh,
làm cho bạn bè quốc tế biết, hiểu rõ và ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của Việt
Nam; Tập VI [174], Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 kháng chiến
kết thúc thắng lợi, viết từ sự kiện mở đầu là Kế hoạch Na-va đến sự kiện kết thúc là
Hiệp định Giơnevơ được ký kết (21-7-1954). Trong đó, chương 23, trình bày quá
trình kết hợp giữa đấu tranh quân sự và ngoại giao với thắng lợi cuối cùng là việc ký
kết Hiệp định Giơnevơ. Qua đó thể hiện rõ xu thế hòa hoãn, toan tính của các nước
lớn, thái độ của Pháp... và thiện chí, nỗ lực kết thúc chiến tranh bằng giải pháp hòa
bình của Việt Nam trong suốt quá trình đàm phán. Kết quả Hội nghị Giơnevơ thể
hiện chủ trương nhất quán, xuyên suốt giải quyết chiến tranh bằng giải pháp thương
lượng hoà bình của Việt Nam.
Tuy bộ sách không đưa ra những phân tích, đánh giá cụ thể hay chỉ rõ về các
khả năng hòa bình, quá trình Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện các khả năng đó,
song, ở tập I và VI đã trình bày về chính sách đối ngoại thêm bạn bớt thù, những nỗ
lực không ngừng mong tìm kiếm giải pháp hòa bình, tránh chiến tranh của Đảng,
đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bộ sách có giá trị tham khảo quan trọng về
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cung cấp các cứ liệu khoa học để nghiên
cứu sinh làm rõ hơn các vấn đề liên quan tới luận án.
Cuốn sách Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 10 [172] do Viện Lịch sử quân sự
Việt Nam, Bộ Quốc phòng biên soạn, xuất bản, tựa đề Cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp (1945 - 1954), nêu lên những nét khái quát nhất về bối cảnh lịch sử
và những chặng đường phát triển của cuộc kháng chiến. Phần chủ yếu của tập sách
thể hiện các nội dung của lịch sử quân sự như nghệ thuật quân sự, tổ chức quân sự,
tư tưởng quân sự, hậu cần, kỹ thuật quân sự... Tuy là một công trình nghiên cứu
chuyên sâu về lịch sử quân sự, nhưng cũng đã phân tích về nguồn gốc của cuộc
chiến tranh mà thực dân Pháp cố tình gây ra, đồng thời nêu lên những minh chứng
xác thực khẳng định một “Sự thật lịch sử là Chính phủ và nhân dân Việt

am đã

làm hết mọi việc có thể để tránh chiến tranh” [172, tr.104].
Hai tập sách Lịch sử Việt Nam, tập 10 [162] và tập 11 [163], do Viện Sử học
thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam biên soạn, xuất bản nằm trong bộ


10
sách Lịch sử Việt Nam 15 tập, trình bày toàn bộ nội dung lịch sử cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp từ năm 1945 đến năm 1954 trên tất cả các mặt trận chính trị,
quân sự, kinh tế, văn hoá-xã hội… Cả hai tập 10 và 11 đều đề cập tới các chủ
trương, hoạt động ngoại giao của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt cuộc
kháng chiến, nhất là giai đoạn 1945-1946, vừa kiên quyết đấu tranh không khoan
nhượng bảo vệ chính quyền cách mạng, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh
thổ, vừa vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt “hòa để tiến” nhằm tranh thủ mọi
thời gian, cơ hội hòa hoãn để chuẩn bị thực lực cho cuộc kháng chiến.
Sách Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu [157] của tác giả Trần Trọng
Trung, với những tư liệu sưu tầm được từ cả hai phía, trong đó có nhiều tư liệu nước
ngoài, đặc biệt là từ phía Pháp, tác giả công trình dựng lại quá trình thực dân Pháp
tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt

am từ 1945 đến 1954. Trong đó, tập

trung làm rõ các nội dung: lý do Pháp vội vã đem quân quay trở lại xâm lược Đông
Dương; tại sao giới cầm quyền Pháp lại khước từ thiện chí hòa bình, hợp tác của nhân
dân Việt am và tại sao Pháp lại thua Việt am? tại sao chỉ khi thất bại ở Điện Biên
Phủ, thực dân Pháp mới chịu từ bỏ ý chí xâm lược Việt am, ký Hiệp định Giơnevơ,
rút quân về nước?… Qua đó, thể hiện sự lãnh đạo tài tình của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí
Minh, tính chính nghĩa, sự chiến đấu kiên cường, nguyên nhân thắng lợi của nhân dân
Việt

am và thất bại tất yếu của Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa ở

Việt

am mà không ít chính khách và tướng lĩnh Pháp đã phải cay đắng thú nhận

rằng nước Pháp đã chọn lầm đối tượng, thực thi một đường lối chính trị lỗi thời, cố
tình theo đuổi một “cuộc chiến tranh bẩn thỉu”. Cuốn sách là nguồn tài liệu tham
khảo bổ ích cho nghiên cứu sinh trong quá trình thực hiện luận án.
Cuốn sách Chính sách chính trị, quân sự của Pháp ở Việt Nam giai đoạn
1945-1954 và nguyên nhân thất bại [67] của tác giả Nguyễn Mạnh Hà, đã đi sâu
phân tích chính sách chính trị, quân sự của thực dân Pháp nhằm nhanh chóng áp đặt
trở lại chế độ thống trị thực dân đối với Việt Nam, chỉ ra những nguyên nhân thất
bại của chính sách chính trị, quân sự của thực dân Pháp trong chiến tranh xâm lược
Việt Nam. Với phương pháp trình bày khoa học, lồng ghép các sự kiện chính trị,
quân sự theo tiến trình thời gian của cả hai phía Pháp và Việt Nam, cuốn sách đưa


11
ra bức tranh tổng thể, khái quát và liên tục về toàn bộ cuộc chiến tranh. Trong đó, từ
trang 24 đến trang 58, tác giả phân tích quá trình thực dân Pháp từng bước mở rộng
chiến tranh xâm lược ra toàn Việt Nam và mục tiêu, kết quả các cuộc đàm phán
giữa Pháp với các lực lượng liên quan đến Việt Nam, Chính phủ Hồ Chí Minh. Từ
đó, lý giải nguyên nhân bùng nổ cuộc chiến tranh là “… bộ ba D’Argenlieu, Valluy
và Pignon đã thực hiện được âm mưu đề ra, đặt chính phủ Blum trước việc đã rồi ở
Đông Dương. Họ đã thành công trong việc lái chính sách của Chính phủ từ chủ
trương đàm phán sang sử dụng sức mạnh, bằng cách đổ lỗi cho phía Việt

am đã

gây ra chiến tranh” [67, tr.57]. Tác giả chỉ rõ chủ nghĩa đế quốc, thực dân, vì lợi ích
của mình, không bao giờ tự nguyện trao trả độc lập cho các nước thuộc địa. Vì thế,
để giành được hòa bình, độc lập là điều vô cùng khó khăn, phải mềm dẻo, linh hoạt
trong sách lược và kiên định mục tiêu đã lựa chọn. Đây là tài liệu tham khảo có giá
trị khi nghiên cứu về chủ trương, chính sách của Pháp đối với cuộc chiến tranh ở
Việt Nam (1945 - 1954).
Là một người nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tác giả
Nguyễn Mạnh Hà có nhiều bài viết xoay quanh các vấn đề của cuộc kháng chiến
đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành. Một số bài tiêu biểu là: Pháp trở lại Đông
Dương như thế nào [52], tác giả phân tích lý do khiến Pháp quyết tâm quay trở lại
xâm lược Việt Nam, chỉ rõ chính sách của De Gaulle về Đông Dương và mối quan
hệ Pháp - Nhật, quan điểm của Mỹ, Anh về việc Pháp trở lại Đông Dương, Việt
Nam và những chuẩn bị về mặt quân sự, chính trị của Pháp cho việc trở lại đó trong
khoảng thời gian từ năm 1943 đến tháng 8-1945; Về sự bất đồng giữa Cao uỷ với
Tổng chỉ huy quân Pháp trong chiến tranh Đông Dương (1945-1954) [55], tác giả
điểm lại các cặp Cao ủy, Tổng chỉ huy qua các thời kỳ và chỉ ra điểm mâu thuẫn cơ
bản giữa các cặp đó là việc chỉ đạo, điều hành hoạt động quân sự và theo đuổi giải
pháp chính trị ở Việt Nam. Qua đó, bài viết cho thấy Chính phủ Pháp không có một
đường lối cụ thể, nhất quán và xuyên suốt, không có sự phối hợp giữa đường lối
chính trị và chiến lược quân sự đối với vấn đề Việt Nam, đó cũng là điều Việt Nam
có thể lợi dụng, tranh thủ để tạo ra những khả năng thuận lợi cho cuộc kháng chiến.
Ngoài ra, còn có các bài: Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân của Đảng đánh


12
thắng chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp [61]; Những nhân
tố tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ
[64]... đã đề cập tới chủ trương, sách lược cụ thể của Đảng để lãnh đạo kháng chiến
giành thắng lợi cuối cùng.
Bên cạnh đó, các bài viết: Hà Nội tháng 12-1946, những toan tính từ phía bên
kia [128] của tác giả Vũ Dương

inh; Quá trình dẫn đến cuộc chiến tranh Pháp -

Việt (1945-1954) [100] của tác giả Vũ

hư Khôi; Vai trò của Anh trong quá trình

Pháp tái chiếm Đông Dương (9-1945 đến 3-1946) [122] của tác giả Nguyễn Thị Trà
My… đã khái quát quá trình, những toan tính chính trị, quân sự của Pháp để trở lại
Việt

am, đồng thời phân tích các nguyên nhân cơ bản dẫn tới thất bại của Pháp và

thắng lợi của Việt Nam ở những mức độ và cách tiếp cận khác nhau. Đây là nguồn tài
liệu tham khảo có giá trị khoa học, hữu ích đối với việc nghiên cứu cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp nói chung và đề cập đến các khả năng, cơ hội hòa bình.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam (các học giả nước ngoài
gọi là chiến tranh Đông Dương hay cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất) cũng
là đối tượng nghiên cứu hấp dẫn của nhiều nhà khoa học, phóng viên chiến trường,
tướng lĩnh Pháp, Mỹ theo các thế giới quan, phương pháp luận khác nhau.
Cuốn sách Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương [50] dày hơn 1000 trang của
tác giả Yves Gra, trong đó: Phần thứ nhất, Cuộc chiến tranh đang hình thành (tháng
9-1945 đến tháng 12-1946), tác giả tập trung trình bày chủ trương của Việt Nam từ
sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến trước ngày 19-12-1946; tình hình nước Pháp,
thái độ của các nước Đồng minh, Liên Xô, Trung Quốc... xung quanh vấn đề Pháp
quay trở lại Đông Dương, diễn tiến các cuộc đàm phán thương lượng giữa Pháp với
các lực lượng ở Việt

am, đặc biệt với Chính phủ Hồ Chí Minh. Bằng các sự kiện

lịch sử cụ thể, tác giả đề cập trách nhiệm của cả Pháp và Việt Nam trong sự kiện ngày
19-12-1946; Phần thứ hai: Cuộc chiến tranh thuộc địa (tháng 1-1947 đến 6-1950);
Phần thứ ba: Cuộc chiến tranh nhằm chống chủ nghĩa cộng sản, tác giả khẳng định
Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh giành độc lập với “lòng kiên nhẫn vô biên và
một quyết tâm thầm lặng, họ theo đuổi việc thực hiện một kế hoạch chiến tranh, trong
đó mọi phương tiện, mọi năng lực của một chính quyền chuyên chính, với một sự cố


13
gắng mãnh liệt, đều hướng về mục tiêu giành thắng lợi mà họ tin tưởng là chắc chắn”
[50, tr.555-556]; Phần thứ tư: Cuộc đụng đầu cuối cùng, tác giả đề cập đến các vấn
đề liên quan đến chiến dịch Điện Biên Phủ, Hội nghị Giơnevơ (1954), phân tích rõ
quan điểm, thái độ của các bên trực tiếp tham chiến và liên quan đến cuộc chiến
(Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc...), và khái quát toàn bộ tiến trình, diễn biến, kết quả
ở Điện Biên Phủ, Giơnevơ, thiện chí đàm phán của Việt Nam. Lịch sử cuộc chiến
tranh Đông Dương là một công trình khoa học đồ sộ. Bằng những sự kiện lịch sử cụ
thể theo tiến trình thời gian, toàn bộ cuộc chiến được tái hiện lại tương đối khách
quan, trong đó có những nhìn nhận, đánh giá độc lập của tác giả, có những phân tích
cụ thể về bối cảnh tình hình, nguồn gốc thực chất của cuộc chiến, nguyên nhân thất
bại của Pháp và thắng lợi của Việt am. Đây là nguồn tư liệu có giá trị để nghiên cứu
về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954).
Cuốn sách Sự mù quáng của tướng Đ Gôn đối với cuộc chiến ở Đông
Dương [144] của tác giả Pierre Quatrepoint, luận giải vì sao sau Chiến tranh thế
giới thứ hai, nước Pháp ở trong tình trạng suy sụp, kiệt quệ, nhưng lại tiến hành
cuộc chiến suốt chín năm ròng với Việt Nam - một dân tộc có truyền thống yêu độc
lập, yêu tự do, hòa bình, hữu nghị, có sức sống mãnh liệt, có tinh thần đấu tranh liên
tục giành quyền sống của mình. Với nguồn tư liệu phong phú từ kho tư liệu của
nước Pháp, từ lời kể lại của những người trong cuộc, cách trình bày khoa học, trích
dẫn có chọn lọc, lô gích các sự kiện lịch sử của cả hai phía, tập trung ở thời điểm
những năm 1945-1946, tác giả đã chỉ ra, phê phán những quyết định sai lầm của De
Gaulle - người từng một thời là cứu tinh, một thần tượng của cả nước Pháp. Tác giả
cho rằng: “ hững sai lầm ngoài sức tưởng tượng của ông là nguồn gốc của những
chết chóc vô nghĩa đối với hàng ngàn đồng bào ta (người Pháp), cũng như những
đau thương vô bờ bến của các dân tộc Đông Dương...” [144, tr.188).
Với những luận chứng phong phú, sát thực, tác giả đã không ngần ngại buộc
tội, quy kết De Gaulle đã để xảy ra chiến tranh cùng những hậu quả nặng nề của nó,
trách nhiệm làm bùng nổ cuộc chiến thuộc về những người Pháp. Cuốn sách đã góp
phần luận giải khách quan nguồn gốc cuộc chiến tranh, bác bỏ luận điệu cho rằng
cuộc chiến là do phía Việt Nam gây ra và có thể tránh được cuộc chiến tranh này.


14
Cuốn Việt Nam 1946, chiến tranh bắt đầu như thế nào? [148] của tác giả
Stein Tonnesson người Na Uy, đi sâu phân tích, làm rõ các vấn đề dẫn đến sự kiện
ngày 19-12-1946, dựng lại bức tranh khởi đầu cuộc chiến tranh đầy phức tạp và
kịch tính. Trong đó:
Chương 1: Sự va chạm giữa các nền Cộng hòa, tác giả Tonnesson lý giải
nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt
Nam; giới thiệu về nước Pháp mới, thái độ, quan điểm của giới thực dân về Việt
Nam, mà De Gaulle là người đóng vai trò chi phối quyết định kiến tạo nên cơ chế,
chính sách của Pháp tại Việt Nam sau Chiến tranh thế giới hai. Tác gỉả đặt ra câu
hỏi liệu Pháp có đủ mạnh để áp đặt trở lại sự thống trị lên Việt Nam khi mà phong
trào cách mạng ở đây đang phát triển mạnh mẽ, Pháp vừa phải tìm cách đàm phán
với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với Trung Hoa Dân quốc vừa phải chuẩn bị và
tiến hành các hoạt động quân sự;
Chương 2, 3 và 5, tác giả tập trung phân tích xoay quanh các cuộc đàm phán,
thương lượng giữa Việt Nam với Trung Hoa Dân quốc, Việt Nam với Pháp, Pháp
với Trung Hoa Dân quốc và đi đến khẳng định chính Trung Hoa Dân quốc là nhân
tố tác động mạnh mẽ đến mối quan hệ Việt - Pháp, còn thái độ của Pháp là “Pháp
luôn không chịu sử dụng từ “độc lập” hay trao cho Chính phủ Việt Nam chủ quyền
dưới bất kỳ hình thức nào ở Nam Kỳ [148, tr.117], trong đó, thái độ của Việt Nam
cho đến trước ngày 19-12-1946 vẫn là “rõ ràng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tìm mọi
lý do để trì hoãn cuộc tiến công đã được chuẩn bị, để gười có thời gian xác định ý
đồ của Blum như thế nào” [148, tr.375].
Chương 6: Ai đưa ra chân lý, từ những nguồn tư liệu, trong đó dẫn ra bức thư
Hồ Chí Minh gửi Sainteny, Uỷ viên Cộng hoà Pháp ở miền Bắc Đông Dương,
Tonnesson đặt vấn đề liệu đây có phải là “cách mà Hồ Chí Minh trì hoãn tấn công để
chờ câu trả lời của Blum liên quan đến những yêu cầu của gười [148, tr.389]. Tiếp
đó, xoay quanh sự kiện ngày 19-12, tác giả đi đến nhận định “ hững người đánh bẫy
ở Sài Gòn (Pignon và d’Argenlieu) không chỉ chống lại Việt Nam, họ còn tìm cách
đánh bẫy chính phủ của họ tại Pari. Đây là một cuộc đua chống lại thời gian để ngăn
chặn Thủ tướng mới của Pháp cản trở tiến trình dẫn tới chiến tranh” [148, tr.424];


15
Chương 7, với tựa đề Giá như..., tác giả đặt ra các giả thiết và câu hỏi từ các
sự kiện đã diễn ra: liệu có tránh được cuộc chiến tranh này hay không và những con
người nào có thể thay đổi được lịch sử? Phần kết của chương, tác giả kể lại lần cuối
cùng được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp (10-2005), trong đó, Đại tướng cho rằng:
“đã có những người trong Chính phủ Pháp nhìn thấy trước viễn cảnh một cuộc chiến
tranh tăm tối chống Việt

am, nhưng lời của họ chỉ như nước đổ lá khoai: “Chủ

nghĩa đế quốc đinh ninh rằng họ dễ dàng đánh bại các quốc gia nhỏ yếu bằng vũ lực”
[148, tr.474] và “sau ngày 19 tháng Mười hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không từ bỏ
hy vọng vãn hồi hòa bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ bỏ lỡ bất kỳ cơ hội
nào có thể giúp lập lại hòa bình, vì lợi ích của hai dân tộc” [148, tr.475].
Đây là công trình khảo cứu công phu của một học giả nước ngoài về cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt am, đã góp phần lý giải tại sao
chiến tranh toàn quốc bùng nổ tháng 12-1946, làm rõ trách nhiệm của Pháp, lột tả bản
chất, thái độ, quyết tâm của quan chức Pháp tại Đông Dương và cung cấp nhiều tư
liệu quý khi nghiên cứu về sự bùng nổ chiến tranh Đông Dương 1945-1954.
Ngoài ra, các công trình: “Tại sao Việt Nam” (Why Vietnam?) [136]; Ghi
chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp
[32]; Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung
[152]; Th i điểm của những sự thật [124]; Đông Dương hấp hối [125]..., đã tái hiện
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt am dưới nhiều chiều cạnh, góc độ
tiếp cận khác nhau. Đó là những nguồn tư liệu tham khảo quan trọng để tác giả luận
án có được sự nhận thức, luận giải đa chiều về cuộc chiến tranh Đông Dương nói
chung, những khả năng hoà bình của cuộc chiến mà Đảng có thể tranh thủ để tránh
chiến tranh nói riêng.
1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến nội dung
luận án
Cuốn Tổng kết 50 năm đấu tranh trên mặt trận ngoại giao của Đảng và Nhà
nước Việt Nam 1945-1995, tập I (1945-1975) [81] của Học viện Quan hệ quốc tế, là
công trình mang tính chất tổng kết, đánh giá và rút ra những bài học của đấu tranh
ngoại giao. Công trình gồm hai phần: Phần I, Ngoại giao trong th i kỳ giữ vững và


16
củng cố chính quyền cách mạng và kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954,
trực tiếp liên quan đến luận án. Phần I, có hai chương: Chương 1, Ngoại giao trong
th i kỳ giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng: tháng 8-1945 - tháng 12-1946,
trình bày khái quát bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tình thế “ngàn
cân treo sợi tóc” của Việt am, Đảng chủ trương chỉ đạo và thực hiện đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, theo phương châm
“thêm bạn bớt thù”, tranh thủ thời cơ thuận lợi để tăng cường quan hệ với bên
ngoài, lợi dụng mâu thuẫn giữa các lực lượng đế quốc, phe phái để tăng cường sức
mạnh cho cách mạng. Cơ sở, mục tiêu của chính sách đối ngoại, hoạt động ngoại
giao là vì độc lập dân tộc, tự do của nhân dân; Chương 2, Ngoại giao trong th i kỳ
toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, phân tích khái quát đặc
điểm tình hình quốc tế, tính chất cách mạng Việt Nam, từ đó Đảng chủ trương phát
huy tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến, đẩy mạnh vận động quốc tế, tranh thủ
sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân và bạn bè quốc tế, triệt để lợi dụng mâu thuẫn
trong hàng ngũ kẻ thù để phân hóa, ngăn chặn âm mưu tăng cường, mở rộng chiến
tranh, thực hiện phương châm “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây
thù oán với một ai”. Cuốn sách không đi sâu phân tích từng sự kiện cụ thể hay quá
trình thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, mà chủ yếu tổng hợp các sự kiện, rút
ra nhận xét, đánh giá. Đây là công trình tổng kết, đánh giá chuyên biệt về hoạt động
ngoại giao, là cơ sở tốt cho nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình viết luận án.
Cuốn Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
(1945-1954) [83] của Học viện Quan hệ quốc tế, gồm hai phần, trong đó, từ trang
137 đến trang 296, trình bày chi tiết quan điểm, chủ trương, hoạt động đấu tranh
ngoại giao của Đảng nhằm tìm kiếm cơ hội hoà bình, tránh chiến tranh xảy ra. Liên
quan đến luận án, công trình phân tích quá trình đấu tranh duy trì và kéo dài khả
năng hòa hoãn với Pháp, nhằm giành thời gian tích cực chuẩn bị cuộc kháng chiến
toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược, thể hiện rõ sự nỗ lực, thiện chí đàm phán,
nhân nhượng của Việt Nam nhằm đẩy lùi nguy cơ chiến tranh; Phần thứ hai, khái
quát giai đoạn 1947-1954, trong đó, có nội dung đề cập tới các vấn đề tranh thủ khả
năng hòa bình như: chương 1, phân tích rõ chủ trương, đường lối ngoại giao của


17
Đảng, khẳng định: “Tiến công ngoại giao tỏ rõ thiện chí đàm phán hòa bình giải
quyết xung đột Việt - Pháp, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến bộ Pháp”
[83, tr.373-387], chương 2, trình bày quan điểm, lập trường của Việt Nam, các nội
dung liên quan đến Hội nghị Giơnevơ… và phần đánh giá về vấn đề chuyển hướng
chiến lược cách mạng từ chiến tranh sang hòa bình.

hư vậy, công trình đã phân

tích khá khách quan, tỉ mỉ và hệ thống các sự kiện lịch sử liên quan đến hoạt động
ngoại giao, nhất là các cuộc đàm phán, thái độ, quan điểm của các bên liên quan và
rút ra những đánh giá, kết luận về chủ trương, đường lối của Đảng trong từng giai
đoạn cách mạng cụ thể. Công trình đã chỉ ra nỗ lực vãn hồi hoà bình của Việt Nam,
âm mưu, bản chất của thực dân Pháp… Đó là một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích
cho việc luận giải các vấn đề mà luận án cần giải quyết.
Cuốn Hồ Chí Minh chiến sĩ cách mạng quốc tế [106] của tác giả Phan Ngọc
Liên, Trịnh Vương Hồng trình bày bao quát về cuộc đời, tư tưởng, hoạt động cách
mạng của Hồ Chí Minh, trong đó, làm bật lên khát vọng và nỗ lực không mệt mỏi vì
hòa bình của Hồ Chí Minh không chỉ đối với Việt Nam mà còn với thế giới. Đặc
biệt, ở mục V, các tiểu tiết: 3, Kiên trì đư ng lối hoà bình trong giải quyết nguy cơ
bùng nổ chiến tranh với Pháp; 4, Đấu tranh ngoại giao nhằm tìm kiếm hoà bình
trong chiến tranh; 5, Mở rộng quan hệ quốc tế trong th i kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp (từ trang 300 đến 335), trình bày, đánh giá những hoạt động của Hồ
Chí Minh nhằm tranh thủ mọi khả năng có thể để đẩy lùi nguy cơ chiến tranh. Đây
là những nội dung trực tiếp đề cập tới vấn đề tranh thủ, tận dụng các khả năng hoà
bình mà luận án đặt ra. Tuy nhiên, vì là công trình nghiên cứu về cuộc đời, hoạt
động của Hồ Chí Minh nên vấn đề tranh thủ các khả năng hoà bình chỉ được đề cập
một cách khái quát, không chuyên sâu.
Cuốn Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh [127] của Nguyễn Dy Niên trình
bày một cách hệ thống nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện tư
tưởng về ngoại giao của Hồ Chí Minh, các nguyên lý, luận điểm, quan niệm của
gười về các vấn đề thế giới, thời đại, quan hệ quốc tế, đường lối, chính sách đối
ngoại Việt

am. Qua đó, nêu bật những nét đặc sắc trong hoạt động quốc tế và

phong cách ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Công trình không đi sâu phân


18
tích quá trình tranh thủ và thực hiện các khả năng hoà bình trong giai đoạn 19451954, song trong tiểu mục “Hoà bình và chống chiến tranh xâm lược”, từ trang 129
đến 138, tác giả đã đề cập và khẳng định nỗ lực phấn đấu cho hoà bình ở Việt Nam,
ngăn chặn chiến tranh xảy ra là tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh. Xuyên suốt
quá trình trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nêu cao ngọn cờ hoà
bình, kiên quyết đấu tranh vì độc lập, tự do, tận dụng mọi thời cơ để có hoà bình và
giành lấy hoà bình thật sự cho dân tộc.
Cuốn Ngoại giao Việt Nam từ Việt Bắc đến Hiệp định Giơnevơ [110] của tác
giả Nguyễn Phúc Luân, đã góp phần làm rõ hơn các hoạt động ngoại giao giai đoạn
1945-1954 nhằm phá vây quốc tế, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi, xoay
chuyển cục diện cuộc chiến, tạo lợi thế cho cách mạng, thêm bạn bớt thù, tranh thủ
sự đồng tình giúp đỡ, chi viện cho cuộc kháng chiến. Từ những sự kiện lịch sử cụ
thể, với cách trình bày hệ thống, khoa học, tác giả thể hiện rõ thiện chí ngoại giao
của Việt Nam ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, đã mong
muốn thực lòng hợp tác thân thiện với Pháp, chủ trương không để bỏ lỡ cơ hội nào
có thể hoà giải với nước Pháp, nếu Pháp công nhận Việt

am độc lập và thống

nhất. Trong suốt cuộc kháng chiến, hoạt động ngoại giao đã tạo những tiền đề làm
cơ sở “… buộc đối phương phải đi vào xu hướng kết thúc chiến tranh trên thế yếu
bằng biện pháp thương lượng hòa bình chấp nhận thua trận, rút quân về nước và
công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn của dân tộc ta” [110, tr.187].
Ngoại giao Việt Nam phương sách và nghệ thuật đàm phán [95] của tác giả
Nguyễn Khắc Huỳnh đi sâu phân tích những sự kiện, thành tựu, nét đặc sắc, bản
lĩnh, trí tuệ và từng chặng đường của ngoại giao Việt Nam với yếu tố cơ sở cốt lõi
là tính chính nghĩa, thiện chí hòa bình. Trong đó dành nhiều trang viết phân tích
quan điểm ngoại giao Hồ Chí Minh: “ uôn nắm vững mục tiêu hòa bình, lấy thiện
chí hòa bình làm vũ khí mạnh mẽ chống lại hành động và tội ác chiến tranh của kẻ
thù xâm lược. gười không bỏ lỡ cơ hội nào để mưu tìm hòa bình…” [95, tr.27]. Đặc
biệt các trang từ 61 đến 174, đã trình bày các nội dung cơ bản, điển hình liên quan
đến hoạt động ngoại giao trong kháng chiến chống Pháp như quá trình đàm phán Việt
- Pháp 1945-1946: Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946; Hội nghị trù bị Đà ạt (17-4 - 12-5-


19
1946); chuyến thăm Pháp năm 1946 của Hồ Chí Minh và Tạm ước 14-9; ngoại giao
phá vây giai đoạn 1947-1949; Hiệp định Giơnevơ… qua đó thể hiện những nỗ lực
của Đảng, Hồ Chí Minh trong tận dụng, tranh thủ tìm kiếm giải pháp hòa bình, tránh
chiến tranh. Đó là những gợi mở quan trọng của công trình mà luận án có thể tiếp thu,
kế thừa.
Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (1940-2010) [131] của tác giả Vũ
Dương

inh là một trong những công trình nghiên cứu công phu, có giá trị, trình

bày có hệ thống, sinh động bức tranh toàn cảnh về lịch sử đối ngoại Việt Nam giai
đoạn 1940-2010. Cuốn sách tập trung làm rõ các nội dung về đường lối, chính sách
đối ngoại của Đảng,

hà nước ở từng thời điểm, bối cảnh quốc tế, trong nước dẫn

đến các sự kiện, diễn biến trong quan hệ đối ngoại, qua đó rút ra những nhận định,
đánh giá và bài học kinh nghiệm. Trong đó có nhiều vấn đề liên quan đến nội dung
luận án. Chương II: Quan hệ đối ngoại trong năm đầu của nền Cộng hòa dân chủ
(tháng 9-1945 - 12-1946) và Chương III: Quan hệ đối ngoại trong th i kỳ toàn quốc
kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) đề cập đến cuộc đấu tranh ngoại
giao với đặc điểm nổi bật là luôn “cố gắng vãn hồi hòa bình” [131, tr.108] bằng mọi
hoạt động ngoại giao có thể, kể cả khi chiến tranh đã nổ ra, đều nhằm mục đích
ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, nêu cao ngọn cờ chính nghĩa của cách mạng Việt
Nam, khẳng định lập trường của Việt

am là “đòi độc lập và thống nhất quốc gia

trong Liên hiệp Pháp, mong muốn hòa bình thực sự để xây dựng đất nước, sẵn sàng
cộng tác và tôn trọng quyền lợi kinh tế, văn hóa của người Pháp tại Việt

am”

[128, tr.109], làm cho nhân dân Pháp, nhân dân thế giới hiểu rõ mong muốn, khát
vọng chính đáng của Việt Nam và Việt Nam quyết tâm thực hiện khát vọng đó.
Cách mạng Việt Nam trên bàn c quốc tế - lịch sử và vấn đề [134] của tác
giả Vũ Dương inh tập trung trình bày một số vấn đề về quan hệ đối ngoại của Việt
Nam xuyên suốt thời gian từ năm 1945 đến 2015, mối liên hệ giữa Việt Nam và thế
giới, giữa cách mạng Việt Nam với các lực lượng liên quan. Phần thứ nhất, tác giả
đề cập đến các vấn đề đối ngoại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chỉ
rõ mưu đồ, thủ đoạn nhằm tái chiếm Đông Dương của thực dân Pháp từ năm 19401946, quan điểm của Việt am. Đặc biệt, tác giả đã trình bày khá cụ thể, chi tiết về


20
quan hệ Việt - Pháp và với tiêu đề “Quan hệ Việt - Pháp: hành trình tìm kiếm hoà
bình đi qua chiến tranh (1945-1954)” (từ trang 39-91), miêu tả toàn bộ hành trình tìm
kiếm hoà bình trong suốt cuộc kháng chiến của Hồ Chí Minh, của Chính phủ Việt
am, quan điểm, thái độ của các lực lượng tham gia Hội nghị Giơnevơ bàn về vấn đề
Đông Dương. Cuốn sách đã đề cập đến những nỗ lực của lãnh đạo Việt Nam, của Hồ
Chí Minh để vãn hồi hoà bình, tránh chiến tranh. Đồng thời gợi mở một hướng tiếp
cận, tư duy trong chiến tranh có hoà bình, tìm kiếm hoà bình ngay trong chiến tranh
và mục tiêu của chiến tranh là để có hoà bình. Công trình là một nguồn tài liệu tham
khảo quan trọng của luận án, cũng là sự gợi mở, một sự tương đồng về tư duy và cơ
sở thực tiễn đối với cách tiếp cận, giải quyết vấn đề của luận án.
Ngoài ra, còn nhiều các bài viết phân tích các khía cạnh cụ thể, khác nhau của
hoạt động đối ngoại, nỗ lực mở ra và tranh thủ các khả năng hoà bình trong kháng
chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 được đăng tải trên các tạp chí:
Với những cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau, loạt bài viết của tác giả
Nguyễn Mạnh Hà: Pháp với giải pháp Bảo Đại [53]; Từ Hiệp định Sơ bộ, Hội nghị
trù bị, Tạm ước… đến chiến tranh [51]; Bàn thêm về kết quả Hội nghị Giơne vơ
[60]; Bàn thêm về ứng xử của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với
Trung Hoa Dân quốc những năm 1945-1946 [65]… tập trung phân tích, làm rõ chủ
trương, quá trình thực hiện đường lối đối ngoại tránh chiến tranh của Việt Nam, thái
độ của thực dân Pháp trước mọi nỗ lực, thiện chí hòa bình của Việt Nam. Đặc biệt,
các bài:
Về nguyên nhân nổ ra chiến tranh Đông Dương [54], bằng cách phân tích
tổng hợp, lôgíc và khoa học, tác giả bài viết thông qua việc dẫn ra những sự kiện
lịch sử thực tiễn, các văn bản gốc của Pháp, những lý giải nguyên nhân sự kiện
ngày 19-12-1946 của Tonnesson, P.Đevillers, J.Sainteny, dần đưa độc giả tới những
luận giải rõ ràng về nguyên nhân, trách nhiệm để xảy ra cuộc chiến tranh thuộc về
phía Pháp, bởi Pháp đã khước từ mọi nỗ lực đàm phán, tránh chiến tranh của Việt
Nam, đặc biệt là bộ ba D’Argenlieu, Valluy và Pignon ở thời điểm 1945-1946. “Với
chủ trương tái lập chủ quyền ở Đông Dương, Pháp đã thi hành chính sách lấn dần
từng bước, kết hợp hành động chính trị, ngoại giao với tiến công quân sự để đạt


21
mục đích” [54, tr.135], sau hàng loạt các hành động phá hoại các cuộc đàm phán, đi
ngược lại các điều đã thỏa thuận, tướng lĩnh thực dân ở Đông Dương đã đặt chính
phủ mới ở Paris trước “một việc đã rồi ở Đông Dương bằng việc cố tình khiêu
khích quân sự, tàn sát dân thường, hạ tối hậu thư… buộc quân và dân ta phải đứng
lên tiến hành kháng chiến, tạo cớ cho cuộc tiến công rộng khắp của Pháp ở miền
Bắc” [54, tr.135-136].
Điện Biên Phủ - động lực của mối quan hệ Việt - Pháp [58] - cách đặt vấn đề có
vẻ khác lạ của tác giả Nguyễn Mạnh Hà đã gây nên sự lôi cuốn người đọc. Những nội
dung tác giả thể hiện ở trong bài viết cho thấy một hướng tiếp cận mới và có cơ sở.
Bằng những minh chứng khá tiêu biểu, luận giải cho quá trình dẫn đến chiến tranh
Pháp - Việt, thực tế cuộc chiến ấy đã đưa đến tình trạng ngày càng khốn khó, bế tắc của
Pháp cả về kinh tế lẫn tinh thần, một sự tranh cãi triền miên, bất đồng của nội các
Pháp..., những thiện chí đàm phán, giải pháp hòa bình của Việt Nam, và các chuyến
thăm lẫn nhau, cử chỉ, hành động, những lời tuyên bố của nguyên thủ hai nước sau
chiến tranh, tác giả chỉ ra những cơ sở giải thích cho sự kiện Điện Biên Phủ, ở một góc
độ nào đó, nó thực sự trở thành “cầu nối giữa quá khứ với hiện tại và tương lai, là một
trong những xuất phát điểm của mối quan hệ giữa Việt Nam và Pháp thời kỳ hiện đại”,
[58, tr.505]. Bài viết gợi mở hướng tiếp cận mới cho luận án, cung cấp các cứ liệu khoa
học góp phần giúp nghiên cứu sinh có những minh chứng lịch sử để luận giải thuyết
phục hơn trong việc khẳng định cơ sở của Đảng khi đề ra và thực hiện chủ trương tranh
thủ các khả năng hòa bình trong kháng chiến chống thực dân Pháp.
Chiến tranh Việt Nam- những cơ hội hoà bình bị bỏ lỡ [56] tại Hội thảo
khoa học quốc tế (9-2000) về chủ đề Việt Nam trong thế kỷ XX, tác giả Nguyễn
Mạnh Hà đưa ra những phân tích, chỉ rõ các cơ hội hoà bình cụ thể đã bị bỏ lỡ trong
hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Với cuộc kháng chiến
chống Pháp, đó là những cơ hội ở thời điểm 1945-1946; 1954 với hàng loạt các nỗ
lực, thiện chí đàm phán và những nhân nhượng của Việt Nam qua việc ký kết Hiệp
định Sơ bộ 6-3-1946; Hồ Chí Minh đi thăm Pháp hơn 4 tháng năm 1946; ký Tạm
ước Pháp - Việt ngày 14-9-1946, thực tâm đàm phán ký kết Hiệp định Giơnevơ của
Việt am… trước những mưu toan phá hoại từ các nước lớn… Cùng với việc phân


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×