Tải bản đầy đủ (.pdf) (170 trang)

CỘNG HÒA INDONESIA GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT SẮC TỘC, TÔN GIÁO NHẰM BẢO VỆ VÀ CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 1991-2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.44 MB, 170 trang )

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN VĂN AN

CỘNG HÒA INDONESIA GIẢI QUYẾT
XUNG ĐỘT SẮC TỘC, TÔN GIÁO NHẰM BẢO VỆ
VÀ CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
GIAI ĐOẠN 1991-2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LSPTCS, CNQT & GPDT

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN VĂN AN

CỘNG HÒA INDONESIA GIẢI QUYẾT
XUNG ĐỘT SẮC TỘC, TÔN GIÁO NHẰM BẢO VỆ
VÀ CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
GIAI ĐOẠN 1991-2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LSPTCS, CNQT & GPDT
Mã số: 62 22 03 12

Người hướng dẫn khoa học:

1. PGS,TS THÁI VĂN LONG


2. PGS,TS NGUYỄN HỮU CÁT

HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo
quy định.

Tác giả luận án

Trần Văn An


MỤC LỤC
Trang
1

MỞ ĐẦU

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Những công trình nghiên cứu trên thế giới về Indonesia
1.2. Một số nhận xét về kết quả khoa học mà luận án sẽ kế thừa từ
nghiên cứu của những người đi trước
1.3. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu hoặc làm sâu sắc hơn


8
8
26
27

Chương 2: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN XUNG ĐỘT SẮC
TỘC, TÔN GIÁO TRONG CÔNG CUỘC BẢO VỆ, CỦNG
CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA INDONESIA
GIAI ĐOẠN 1991-2015

2.1. Một số vấn đề lý luận về xung đột sắc tộc, tôn giáo và bảo vệ,
củng cố độc lập dân tộc thông qua giải quyết xung đột sắc tộc,
tôn giáo
2.2. Những nhân tố tác động đến xung đột sắc tộc, tôn giáo ở
Indonesia giai đoạn 1991-2015

29

29
47

Chương 3: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT SẮC TỘC, TÔN
GIÁO NHẰM BẢO VỆ VÀ CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
CỦA CỘNG HÒA INDONESIA GIAI ĐOẠN 1991-2015

3.1. Tình hình xung đột sắc tộc, tôn giáo ở Indonesia trong giai đoạn
1991-2015
3.2. Những nỗ lực của Chính phủ Indonesia nhằm bảo vệ và củng cố
độc lập dân tộc


74
74
87

Chương 4: NHẬN XÉT VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM RÚT RA
4.1. Một số nhận xét
4.2. Một số kinh nghiệm rút ra từ ứng phó với xung đột sắc tộc, tôn
giáo ở Indonesia

106
106

KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

143
147
148

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

125


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ARF

Diễn đàn khu vực ASEAN


ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

BI

Ngân hàng Inđônêxia

COHA

Hiệp định chấm dứt thů địch

DOM

Khu căn cứ quân sự

DPR

Cơ quan lập pháp của Indonesia

DPRD - NAD

Hội đồng dân biểu địa phương

ĐNA

Đông Nam Á

EU


Cộng đồng Châu Âu

FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GAM

Phong trào Aceh tự do

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

HDC

Tổ chức Trung gian hòa giải

HLKHXH

Hàn lâm Khoa học xã hội

IMF

Quỹ Tiền tệ Quốc tế

KPU

Ủy ban bầu cử quốc gia


MILF

Mặt trận giải phóng Hồi giáo Moorro

MPR

Đại hội Hội đồng Hiệp thương nhân dân

NAD

Aceh được công nhận là khu vực đặc biệt

NIC

Nước công nghiệp mớí

ODA

Nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức

OPM

Phong trào Papua tự do

PULO

Tổ chức giải phóng Thống nhất Pattani (Thái Lan)

RFD


Cục Lâm nghiệp Hoàng gia (Thái Lan)

UNDP

Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc


DANH MỤC CÁC BẢNG, BẢN ĐỒ

Trang
Bản đồ 2.1: Bản đồ tôn giáo Indonesia

63

Bản đồ 2.2: Bản đồ dân tộc Indonesia

65

Bản đồ 4.1: Bản đồ Indonesia

119

Bảng 2.1: Thành phần tôn giáo theo nhóm dân tộc ở Indonesia

64

Bảng 2.2: Dân số Indonesia theo nhóm dân tộc

66


Bảng 3.1: Chi tiêu xã hội (1995)

100


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xung đột sắc tộc, tôn giáo đang là chủ đề có tính thời sự ở nhiều khu
vực, quốc gia trên thế giới, nhất là khi đặt vấn đề này trong mối liên hệ với
vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia. Từ sau Chiến tranh
thế giới lần thứ Hai đến nay, các nước thuộc địa nói chung, Indonesia nói
riêng dù ít hay nhiều đều đang phải đối mặt với vấn đề ly khai và những bất
ổn an ninh, chính trị có nguồn gốc từ những bất đồng về sắc tộc và tôn giáo.
Việc giành được độc lập đã khó, song việc giữ được độc lập thực sự, nhất là
về chính trị, kinh tế còn khó hơn rất nhiều. Để phát triển bền vững, mỗi quốc
gia phải giải quyết tốt các mâu thuẫn xã hội, tạo lập môi trường hòa bình, ổn
định trong nước, phải giữ cho lòng dân yên, hạn chế đến mức tối đa sự bất
bình đẳng, sự chênh lệch về mức sống giữa các cộng đồng dân cư, ngăn ngừa
và giải quyết tốt các mâu thuẫn có liên quan đến sắc tộc, tôn giáo giữa các
cộng đồng dân cư.
Indonesia không chỉ là quốc gia nhiều đảo nhất mà còn là quốc gia có
số dân theo đạo Hồi đông nhất thế giới. Đất nước của hơn 18 nghìn hòn đảo
này là nơi sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau. Ngoài việc có đa số người
dân theo đạo Hồi, thì ở Indonesia còn có nhiều nhóm dân cư theo các tôn giáo
và tín ngưỡng khác nhau. Kể từ khi Indonesia trở thành quốc gia độc lập
(1945), cuộc đấu tranh bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia đã trải
qua rất nhiều thử thách, khó khăn liên quan đến việc giải quyết các mâu thuẫn
sắc tộc, tôn giáo của các chính phủ Indonesia, nhằm không chỉ duy trì sự toàn

vẹn lãnh thổ, thống nhất quốc gia mà còn hướng đến tạo lập một môi trường
hòa bình để phát triển bền vững.
Sau Chiến tranh Lạnh, nhất là từ khi bước sang thế kỷ XXI đến nay,
việc giải quyết xung đột sắc tộc và tôn giáo luôn là sự quan tâm hàng đầu của
các chính phủ Indonesia, do nước này vẫn tiếp tục phải đối diện với các vấn


2

đề xung đột sắc tộc, tôn giáo, cả cũ và mới. Nền độc lập dân tộc, toàn vẹn
lãnh thổ của Indonesia, một lần nữa, lại bị đe dọa trước phong trào li khai ở
nhiều địa phương của nước này, đặc biệt là ở Aceh.
Việt Nam cũng là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo như
Indonesia. Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước Việt
Nam luôn quan tâm đến việc đoàn kết dân tộc, đoàn kết giữa các cộng đồng
dân cư, cho dù họ thuộc dân tộc thiểu số hay đa số, theo tôn giáo hay tín
ngưỡng nào. Đoàn kết là nền tảng để tạo lập môi trường hòa bình, phát
triển bền vững. Trên cơ sở đó, việc tham khảo kinh nghiệm xử lý, giải
quyết các vấn đề có liên quan đến sắc tộc, tôn giáo, xung đột sắc tộc và tôn
giáo ở Indonesia sẽ cung cấp những bài học rất có giá trị cho các quốc gia
trong khu vực trong đó có Việt Nam.
Về phương diện khoa học, việc nghiên cứu xung đột sắc tộc, tôn giáo
và quá trình giải quyết các vấn đề trên sẽ giúp trả lời hàng loạt câu hỏi khoa
học như: liệu bản thân các tôn giáo, sắc tộc có phải là nguyên nhân tạo nên
xung đột sắc tộc, tôn giáo không hay những xung đột đó là do chúng bị chính
trị hóa? Tại sao một quốc gia Hồi giáo ôn hòa như Indonesia lại có đất cho sự
phát triển của chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo như đã thấy hiện nay? Đâu là
những giải pháp hiệu quả để khắc phục những xung đột sắc tộc, tôn giáo ở
Indonesia cũng như ở nhiều nơi khác trên thế giới?... Việc trả lời các câu hỏi
không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà có cả ý nghĩa thực tiễn cấp bách.

Với những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề: "Cộng hòa Indonesia giải
quyết xung đột sắc tộc, tôn giáo nhằm bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc giai
đoạn 1991- 2015" làm hướng nghiên cứu cho đề tài luận án Tiến sĩ lịch sử, chuyên
ngành Lịch sử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án đi sâu phân tích thực trạng giải quyết xung đột sắc tộc, tôn
giáo của Cộng hòa Indonesia nhằm bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc từ năm


3

1991 đến năm 2015, rút ra ý nghĩa và những kinh nghiệm cho việc giải quyết
các vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm củng cố độc lập dân tộc của Việt Nam
trong bối cảnh hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ
chủ yếu sau:
Thứ nhất, làm rõ một số khái niệm về xung đột sắc tộc, tôn giáo, về độc
lập dân tộc, bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc của các nước đang phát triển
sau Chiến tranh Lạnh.
Thứ hai, phân tích các nhân tố tác động đến tình trạng xung đột sắc tộc,
tôn giáo tại Cộng hòa Indonesia từ năm 1991 đến năm 2015.
Thứ ba, làm rõ thực trạng xung đột sắc tộc, tôn giáo, đồng thời, phân
tích ý nghĩa của việc giải quyết xung đột sắc tộc, tôn giáo đối với nhiệm vụ
bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc ở Indonesia từ năm 1991 đến năm 2015.
Thứ tư, đưa ra nhận xét và rút ra những kinh nghiệm cho việc giải
quyết các vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm củng cố độc lập dân tộc của các nước
Đông Nam Á và Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình xung đột sắc tộc tôn
giáo ở Indonesia, những thách thức từ các cuộc xung đột đó đối với độc lập
dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ của Indonesia và các nỗ lực giải quyết của chính
phủ nước này nhằm giải quyết các vấn đề trên.
Xung đột sắc tộc và tôn giáo tại Indonesia đã xuất hiện từ những thế kỷ
trước với phạm vi rộng lớn, phức tạp. Trong khuôn khổ luận án tiến sĩ, đề tài
chỉ tập trung nghiên cứu một số điểm xung đột sắc tộc-tôn giáo, ly khai dân
tộc điển hình ở Indonesia như: Đông Timor; Ache; Irian Jaya; Maluku; xung
đột giữa người Hoa và người bản địa từ năm 1991 đến năm 2015. Từ đó luận
án đi sâu phân tích thực trạng giải quyết xung đột sắc tộc, tôn giáo của Cộng
hòa Indonesia trong giai đoạn này nhằm bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc.


4

Về không gian: toàn bộ lãnh thổ Indonesia bao gồm khu vực trung tâm
và các đảo, quần đảo của nước này
Về thời gian: từ 1991 đến 2015
+ Đề tài lấy mốc năm 1991 vì đây là thời kỳ Trật tự thế giới 2 cực kết
thúc, Liên xô tan rã, tình hình chính trị, an ninh khu vực và thế giới có nhiều
biến động lớn ảnh hưởng đến công cuộc củng cố độc lập của các quốc gia
đang phát triển nói chung và ở Cộng hòa Indonesia nói riêng.
+ Mốc năm 2015 là mốc Indonesia có sự chuyển giao quyền lực từ
Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono sang Tổng thống Joko Widodo, là
thời điểm có những thay đổi về bối cảnh bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc
(trong Cộng đồng ASEAN), năm đó cũng là năm vấn đề xung đột tôn giáo sắc
tộc ở Indonesia được giải quyết một cách cơ bản.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở hệ thống các quan điểm và phương

pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Hình thái kinh tế-xã hội; về Nhà
nước và giai cấp; về thời đại, vấn đề dân tộc và quyền tự quyết dân tộc…
Đồng thời, vận dụng những quan điểm cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về độc lập dân tộc; các chủ trương chính sách được nêu trong cương
lĩnh, văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước Việt Nam để tiếp cận,
nghiên cứu thực hiện mục tiêu và những nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra cho
luận án.
Ngoài ra, tác giả luận án còn nghiên cứu và sử dụng một số quan điểm
lý luận của các học giả tư sản và các học giả mang tư tưởng dân tộc chủ nghĩa
để phân tích và nghiên cứu về một số vấn đề như: nền dân chủ tư sản, vai trò
của nhà nước pháp quyền tư sản trong việc ban hành các giải pháp nhằm giải
quyết các xung đột sắc tộc, tôn giáo, ly khai dân tộc trong nước, củng cố và
bảo vệ nền độc lập dân tộc của quốc gia.


5

4.2. Phương pháp nghiên cứu
Những nguyên lý, phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và logic, cùng với hệ
thống phương pháp luận sử học mác xít là những cơ sở chính để hình thành
phương pháp nghiên cứu luận án.
- Phương pháp lịch sử: đề tài nghiên cứu được đặt trong tiến trình lịch
sử cụ thể, không gian, thời gian đó là bối cảnh của Indonesia nói riêng; của
tình hình thế giới, khu vực từ năm 1991 đến năm 2015; theo giai đoạn phát
triển nhất định; phù hợp với logic lịch sử...
- Phương pháp phân tích địa - chính trị: luận án được xem xét các vấn
đề xung đột sắc tộc, tôn giáo cùng ảnh hưởng của nó trước hết dưới góc độ
địa - chính trị, trong không gian địa lý tự nhiên và địa lý nhân văn của khu
vực, từ đây thấy rõ lợi ích, mục tiêu chính trị, nguyên nhân, biểu hiện… của

xung đột sắc tộc, tôn giáo và những tác động của nó tới Indonesia.
- Phương pháp lôgic, nghiên cứu tình huống, so sánh hệ thống: Các
nghiên cứu sẽ phải từ những diễn biến, những xung đột sắc tộc, tôn giáo đã
và đang xảy ra để phân tích, làm rõ những giải pháp giải quyết xung đột
sắc tộc, tôn giáo tại Cộng hòa Indonesia nhằm bảo vệ và củng cố độc lập
dân tộc, từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc giải quyết các vấn đề dân
tộc, tôn giáo nhằm củng cố độc lập dân tộc của Việt Nam trong bối cảnh
hiện nay.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: được tác giả sử dụng trong thu
thập, xử lý và đánh giá các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài, các công trình
nghiên cứu trong và ngoài nước về các chủ đề liên quan đến đề tài.
Thêm vào đó, tác giả luận án cũng sử dụng các phương pháp như: sưu
tầm tư liệu, hệ thống, phân loại, thống kê, phương pháp phỏng vấn chuyên
gia, phương pháp liên ngành lịch sử, quan hệ quốc tế, chính trị quốc tế nhằm
hỗ trợ cho các phương pháp nghiên cứu chính.


6

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Một là, luận án đã nghiên cứu một cách hệ thống về nguyên nhân, thực
trạng và tác động của xung đột sắc tộc, tôn giáo đối với độc lập dân tộc và toàn
vẹn lãnh thổ của Indonesia trong giai đoạn từ 1991 đến 2015.
Hai là, luận án đã làm rõ những nỗ lực của Chính phủ Indonesia trong
quá trình giải quyết xung đột sắc tộc, tôn giáo ở nước họ, chỉ ra những thành
tựu và hạn chế của các nỗ lực đó.
Ba là , tìm ra được những đặc điểm chính của xung đột sắc tộc tôn giáo ở
Indonesia, trong so sánh với các cuộc xung đột tương tự ở một số nước Đông
Nam Á khác
Bốn là, góp thêm những cứ liệu từ thực tiễn giải quyết xung đột sắc tộc,

tôn giáo của Cộng hòa Indonesia nhằm bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc cho
Việt Nam trong hoạch định, triển khai thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo
nhằm củng cố độc lập dân tộc của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận: luận án khẳng định xung đột tôn giáo, sắc tộc ở Indonesia
không phải là sự va chạm giữa văn minh Hồi giáo và Thiên chúa giáo. Nguồn
cội của các cuộc xung đột đó là kết quả của sự chính trị hóa tôn giáo của một
số thế lực chính trị ở Indonesia nhằm phục vụ cho lợi ích riêng mà thôi.
- Về thực tiễn: Qua phân tích thực trạng giải quyết xung đột sắc tộc, tôn
giáo của Cộng hòa Indonesia nhằm bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc giai
đoạn 1991-2015, luận án góp phần gợi mở một số vấn đề thực tiễn trong việc
hoạch định và triển khai các chính sách dân tộc, tôn giáo cùng chính sách đối
ngoại của Việt Nam thông qua hợp tác giải quyết vấn đề xung đột sắc tộc, tôn
giáo trong bối cảnh những biến đổi của môi trường địa - chính trị khu vực
hiện nay.
- Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích trong công tác nghiên cứu,
giảng dạy môn Lịch sử Phong trào Cộng sản, Công nhân quốc tế và giải


7

phóng dân tộc; môn Quan hệ quốc tế; các môn: lịch sử thế giới hiện đại; lịch
sử Đông Nam Á; lịch sử Quan hệ quốc tế…
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục chữ viết tắt, tài liệu
tham khảo, nội dung đề tài dự định kết cấu thành 4 chương, 09 tiết.
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
luận án.
- Chương 2: Những nhân tố tác động đến xung đột sắc tộc, tôn giáo
trong công cuộc bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa Indonesia giai

đoạn 1991-2015.
- Chương 3: Thực trạng giải quyết xung đột sắc tộc, tôn giáo nhằm bảo
vệ và củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa Indonesia giai đoạn 1991-2015
- Chương 4: Nhận xét và những kinh nghiệm rút ra


8

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong nghiên cứu, tác giả luận án đã
tiếp cận với một khối lượng tài liệu tham khảo lớn của các nhà nghiên cứu
Indonesia, các học giả nước ngoài và các nhà khoa học Việt Nam liên quan
đến vấn đề xung đột sắc tộc, tôn giáo ở đất nước này. Nguồn tài liệu đó tập
trung nghiên cứu trên nhiều phương diện: địa lý, lịch sử, văn hoá, dân tộc, tôn
giáo, đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển kinh tế vĩ mô...
của Indonesia. Nguồn tài liệu đã tiếp cận được là cơ sở và cứ liệu quan trọng
giúp nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về những vấn đề mà luận án
cần tập trung giải quyết.
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VỀ INDONESIA

1.1.1. Những công trình nghiên cứu về Indonesia của các học giả
quốc tế
Đông Nam Á là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng của thế giới
nên luôn giành được sự chú ý nghiên cứu của nhiều học giả với những góc
độ tiếp cận đa dạng. Indonesia là một nước lớn trong khu vực, có những
nét đặc thù về điều kiện tự nhiên, dân cư, nhưng cũng có lịch sử đấu tranh
giải phóng dân tộc, củng cố độc lập dân tộc, phong cách ứng xử cũng như

trình độ phát triển xã hội khá tương đồng so với các quốc gia khác cùng
khu vực. Indonesia cũng là một trong những nước sáng lập ASEAN và
đóng vai trò lãnh đạo Hiệp hội này trong thực tế cho tới năm 1998, khi
Tổng thống nước này là Suharto bị lật đổ. Đối với thế giới, đặc biệt là các
nước lớn, vị trí địa-chiến lược của Indonesia có vai trò vô cùng quan trọng.
Không một nước lớn nào không mong muốn xác lập được ảnh hưởng ưu
thế ở quốc gia "vạn đảo" này.


9

Vì thế, Indonesia được giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Về tổng
quát có thể phân các công trình nghiên cứu về Indonesia ở ngoài nước thành
các nhóm sau:
- Thứ nhất, những nghiên cứu về lịch sử đấu tranh giành độc lập dân
tộc và củng cố độc lập dân tộc của Indonesia.
Cuốn sách "Histoire de l’Indonésie" (Lịch sử Indonesia) của Giáo sư
Jean Bruhat [16]. Cuốn sách gồm 5 chương, chương 1 và 2 trình bày khái
quát về đất nước Indonesia trong thời kỳ là thuộc địa của thực dân Hà Lan.
Chương 3;4;5 thông qua những mốc lịch sử chủ yếu trong sự vận động, phát
triển của Indonesia, tác giả đi sâu phân tích diễn biến của các phong trào dân
tộc trong tiến trình đấu tranh giành, giữ và củng cố độc lập dân tộc đến năm
1975. Cuốn sách là công trình nghiên cứu Indonesia về lịch sử, nên tác giả đã
lựa chọn, đề cập, phân tích những sự kiện tiêu biểu, đánh giá những đặc điểm
văn hóa, xã hội, dân cư, tộc người, tôn giáo…Đây là tài liệu tham khảo rất giá
trị cho tác giả khi thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu luận án của mình.
Cuốn "Lịch sử Đông Nam Á" của tác giả người Anh - D.G.E.Hall [42].
Tác giả là giáo sư danh dự thuộc trường Đại học Luân Đôn, ông được coi là
chuyên gia hàng đầu về Lịch sử Đông Nam Á. Cuốn sách đã phác hoạ nên
một bức tranh khá rõ nét và đầy sinh động về lịch sử ra đời, phát triển, quá

trình bị thực dân phương Tây xâm lược và sự thiết lập chế độ cai trị thuộc địa
của Hà Lan tại Indonesia. Tất cả các nội dung này được trình bày trong 3
phần đầu của cuốn sách. Ở phần thứ tư, tác giả tập trung nghiên cứu về cuộc
đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Indonesia năm 1945 cùng với
những diễn biến phức tạp của cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược (Hà
Lan), trong từng chương riêng (chương 43, 45, 48, 50, 51, 52). Để làm nên
thành công của cuốn sách, Giáo sư D.G.E. Hall đã khai thác nhiều nguồn tài
liệu phong phú từ kho lưu trữ, văn bia, tham khảo nhiều tác phẩm của các nhà
nghiên cứu đi trước với sự phê phán và chọn lọc. Vì vậy đây là một công trình


10

khoa học nghiêm túc và có giá trị. Tuy nhiên, cuốn sách dừng sự nghiên cứu
vào năm 1950, đây là thời điểm có nhiều sự kiện đang tiếp diễn với tính đa
dạng và chằng chéo, là sự chuẩn bị cho những thay đổi lớn trên chính trường
Indonesia. Nhưng giá trị của cuốn sách mà tác giả luận án quan tâm là, khi
nhìn nhận về quá trình đấu tranh giành độc lập của Indonesia, D.G.E. Hall đã
chỉ ra được vai trò của lực lượng tư sản cấp tiến với những nỗ lực tích hợp lợi
ích đa dạng của các sắc tộc, tôn giáo để đạt được sự đồng thuận về mục tiêu
xây dựng một nhà nước Cộng hòa độc lập.
Cuốn sách "Chủ nghĩa thực dân là một thứ cần phải loại trừ khỏi thế
giới" của Sukarno [111]. Ông Sukarno, một nhà lãnh đạo đầy uy tín của nhân
dân Indonesia trong giai đoạn mới thành lập nước Cộng hoà. Trong tác phẩm
này, Sukarno đứng trên quan điểm của đại bộ phận nhân dân Indonesia để
nhìn nhận về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân của đất nước mình.
Ông cho rằng thực dân là kẻ thù chung của nhân dân các dân tộc bị áp bức
trên toàn thế giới, đặc biệt là nhân dân các nước thuộc địa, phụ thuộc và cần
xác lập một mối liên hệ, hợp tác giữa các dân tộc thuộc địa để chống thực
dân. Tác phẩm đã giúp chúng ta hiểu quan điểm của những nhà lãnh đạo

Indonesia trong việc định hướng và lựa chọn các chính sách phát triển đất
nước, trong đó có chính sách đối ngoại.
Cuốn sách "Suharto. A political biography" (Suharto: Một tiểu sử chính
trị) của tác giả R.E.Elson [193]. Đây là công trình nghiên cứu về vị Tổng
thống thứ hai của nhân dân Indonesia, một người mà trong cách đánh giá của
các nhà nghiên cứu hiện nay trên thế giới luôn cho là đầy mâu thuẫn giữa
công và tội. Với cách tiếp cận nghiên cứu của mình, Elson đã tập trung phân
tích về đường lối chính trị mà Tổng thống Suharto đã thực hiện trong hơn 30
năm giữ cương vị là người đứng đầu đất nước. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra
một số nhận xét, đánh giá trên hai mặt thành công và hạn chế về những việc
mà vị Tổng thống này đã làm. Trong quá trình nghiên cứu, để đưa ra những


11

đánh giá xác thực nhất, tác giả đã căn cứ vào nguồn tài liệu gốc của
Indonesia, đó là những chính sách chính trị, ngoại giao; kinh tế, xã hội; an
ninh quốc phòng mà Tổng thống Suharto đã ban hành trong giai đoạn 1967 1998. Vì vậy, cuốn sách là nguồn tư liệu rất quan trọng để nghiên cứu sinh
tham khảo trong quá trình hoàn thành đề tài luận án.
- Thứ hai, những nghiên cứu về vấn đề xung đột sắc tộc, tôn giáo cùng
những ảnh hưởng của nó đến sự nghiệp bảo vệ và củng cố độc lập ở
Indonesia.
Công trình "The Indonesian killings 1965-1966: Studies from Java and
Bali" (Tàn sát người ở Indonesia 1965-1966: những nghiên cứu ở Java và
Bali) của Centre of Southeast Asia Studies [111]. Công trình đã phân tích
những mâu thuẫn xã hội ở Indonesia trước cuộc đảo chính quân sự năm 1965
của Suharto, làm rõ nguyên nhân của những cuộc thanh trừng, tàn sát đối với
các đảng viên cộng sản nói riêng và người dân vô tội ở Java và Bali nói
chung. Hướng tiếp cận nghiên cứu, lý giải của các tác giả trong công trình đã
cung cấp cho tác giả luận án thêm một "góc nhìn đa chiều" khi xem xét, đánh

giá các xung đột sắc tộc, tôn giáo cùng ảnh hưởng của nó đến xã hội
Indonesia trong giai đoạn được nghiên cứu khi thực hiện luận án.
Cuốn sách "Lịch sử Đông Nam Á hiện đại" của Clive J.Christie [19].
Tác giả Clive J.Christie là người Pháp, một chuyên gia nghiên cứu về các vấn
đề dân tộc, sắc tộc và tôn giáo nên công trình đã tập trung đi sâu nghiên cứu
các khía cạnh liên quan đến các vấn đề này. Cuốn sách được cấu trúc thành
hai phần, trong đó phần thứ hai tập trung nghiên cứu quá trình phi thực dân
hoá và chủ nghĩa ly khai trong khu vực Hồi giáo ở Đông Nam Á. Trong đó
Indonesia được đề cập tương đối rõ vì đây là nơi có nhiều cư dân theo đạo
Hồi sinh sống. Clive J.Christie đã dành nhiều thời gian để khắc hoạ về
Indonesia như là một "ngôi nhà đạo Hồi", với tất cả tính tích cực cùng những
tác động phức tạp của nó đối với Indonesia nói riêng, cả khu vực Đông Nam


12

Á nói chung. Đặc biệt, cuộc nổi dậy của người Aceh được tác giả đề cập khá
kỹ (từ trang 231 đến 248), từ đó lột tả được phần nào những khúc mắc trong
vấn đề Aceh - một vấn đề rất phức tạp của Indonesia trong quá khứ và hiện
tại. Khi công bố cuốn "Lịch sử Đông Nam Á hiện đại", tác giả Clive
J.Christie dự định thông qua nghiên cứu các phong trào ly khai và khởi nghĩa
khác, để làm rõ tiến trình chung về phi thực dân hoá ở Đông Nam Á, lịch sử
và hậu quả của nó. Nhưng đây là những vấn đề hết sức phức tạp, nhạy cảm và
hiện đang gây tranh cãi trong giới khoa học, vì vậy những đánh giá trong
cuốn sách được coi là quan điểm riêng của tác giả. Tuy nhiên, với quan điểm
nghiên cứu "thuần tuý mang tính lịch sử và lập luận cơ bản của nó là các
phong trào ly khai khác nhau" và dựa trên nguồn tư liệu đã qua kiểm định,
cuốn sách là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh khi tìm
hiểu về những vấn đề liên quan đến nội dung luận án.
Cuốn sách "Indonesia Today - Challenges of History" (Indonesia ngày

nay - Những thách thức của lịch sử) của Grayson Lloyd và Shannon Smith
[178], là một công trình nghiên cứu tổng hợp về lịch sử phát triển của
Indonesia từ 1945 đến đầu thế kỷ XXI. Gồm nhiều bài viết nhỏ với những chủ
đề riêng biệt, được kết cấu thành 5 chương nội dung, trong đó ba chương
chính đề cập đến 3 lĩnh vực chủ yếu là chính trị, kinh tế và văn hoá. Bằng
cách tiếp cận theo hướng kết hợp giữa trình bày sự kiện với những nhận định,
đánh giá, so sánh đan xen nhau…, các tác giả đã chỉ ra những mặt làm được
và chưa làm được của các Tổng thống Indonesia (từ năm 1945 đến 2000);
đồng thời vẽ lên một bức tranh khá đầy đủ về đất nước Indonesia trong một
giai đoạn tương đối dài với những thành công, hạn chế trong con đường phát
triển của mình. Giai đoạn 1967 - 1998 với sự lãnh đạo của Tổng thống
Suharto ở Indonesia được phân tích, đánh giá, so sánh với các giai đoạn trước
và sau; thông qua các cứ liệu lịch sử cụ thể để nhìn nhận về những thành
công, hạn chế của Suharto một cách khách quan. Cuốn sách đã đem lại những


13

thông tin và cách tiếp cận đa chiều về Indonesia trong một giai đoạn lịch sử
mà tác giả có thể tham khảo tốt trong quá trình thực hiện luận án.
Công trình "Ethnic Conflics in Southeast Asia" (Xung đột tộc người ở
Đông Nam Á) của Adrian Vicker [160]. Công trình đã đề cập một trong
những vấn đề nổi cộm của nền chính trị khu vực và thế giới hiện nay, đó là
vấn đề ly khai dân tộc. Công trình khẳng định ly khai tộc người ở Đông Nam
Á có liên quan chặt chẽ đến vấn đề dân tộc, một vấn đề phức tạp và nhạy cảm
ở các quốc gia đa dân tộc trong quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân tộc.
Nhóm nghiên cứu công trình còn nâng vấn đề ly khai dân tộc thành chủ nghĩa
ly khai, một biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc trong quá trình phát triển của các
quốc gia đa dân tộc. Theo các tác giả, bước sang thế kỷ XXI, hệ tư tưởng
không còn là nhân tố chính của những xung đột dân tộc trên thế giới. Hiện

nay, hầu hết các khu vực trên thế giới, từ các nước phát triển đến các nước
đang phát triển (trong đó có Đông Nam Á và Indonesia), nhiều quốc gia phải
đối phó với vấn đề ly khai dân tộc trong quá trình bảo vệ, củng cố độc lập dân
tộc. Nhóm tác giả cho rằng, vấn đề ly khai dân tộc là một trong những trở
ngại mà các nước Đông Nam Á, trong đó có Indonesia phải tìm ra những giải
pháp hữu hiệu để khắc phục, vượt qua đem lại sự ổn định và phát triển.
Công trình nghiên cứu "A History Modern Indonesia 1200 - 2004"
(Lịch sử Indonesia hiện đại 1200 - 2004) của tác giả M.C.Ricklefs [188], là
một kho tư liệu với nhiều sự kiện phản ánh trung thực về lịch sử Indonesia
hiện đại: Cuốn sách khái quát quá trình hình thành và phát triển của các
vương triều phong kiến; sự thâm nhập của các luồng văn hoá Đông - Tây
thông qua quá trình giao thương buôn bán ở Eo biển Malacca; sự xuất hiện
của những đoàn truyền giáo với mục tiêu chính trị, cuộc chiến để tranh giành
thuộc địa giữa các nước thực dân phương Tây (Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào
Nha và Hà Lan) và sự thắng thế của thực dân Hà Lan; sự cai trị hà khắc và
các cuộc đấu tranh của nhân dân Indonesia chống lại ách đô hộ của thực dân


14

Hà Lan...Thông tin quan trọng mà tác giả luận án tham khảo từ cuốn sách là,
những vấn đề sắc tộc, tôn giáo ở Indonesia được M.C.Ricklefs khắc họa một
cách sinh động thông qua việc phân tích hàng loạt các sự kiện, xung đột chỉ ra
nguyên nhân cùng những tác động đến diễn tiến lịch sử Indonesia.
Bài viết: "Behind Indonesia’s Red Scare" (Đằng sau nỗi sợ Đỏ của
Indonesia ) của tác giả Gatra Priyandita [175]. Gatra Priyandita là nghiên cứu
sinh tiến sĩ tại Trường Văn hóa, Lịch sử và Ngôn ngữ tại Đại Học Quốc gia
Australia. Nghiên cứu của ông tập trung vào ngoại giao công chúng của
Indonesia và chính trị Indonesia thời hậu Suharto. Bài viết đã khái quát cuộc
tàn sát năm 1965-1966 (hàng trăm ngàn người bị nghi ngờ là cộng sản hay có

tư tưởng ủng hộ cộng sản đã bị cầm tù và giết hại) và các vụ vi phạm nhân
quyền khác như cuộc thảm sát Talangsari vào năm 1989, cuộc bạo loạn ở
Jakarta vào năm 1998, và những vụ giết người ở Aceh và Papua. Đồng thời
nêu vấn đề đáng suy ngẫm: phần lớn các thủ phạm chính của những sự kiện
hay xung đột trên ngày nay vẫn còn sống, vẫn tiếp tục có ảnh hưởng chính trị
và sẽ không phải đối mặt với công lý trong tương lai gần, và người dân
Indonesia, những người mà quyền tự do dân sự của họ ngày càng bị hạn chế.
Cuốn sách: "Why Terrorists Quit: The Disengagement of Indonesian
Jihadists" (Vì sao bọn khủng bố bỏ cuộc: Gỡ bỏ cam kết với lực lượng Jihad
Indonesia) của Julie Chernov Hwang [184]. Trong tác phẩm Julie Hwang đã
tìm ra bốn yếu tố chung khiến các phần tử khủng bố rời bỏ tổ chức cực đoan.
Theo bà Hwang, đó là sự thất vọng khi những phần tử khủng bố nhận ra rằng
cái lợi thu được không đáng với cái giá mà họ phải trả. Từ nhận xét trên, tác
giả kết luận rằng để rời bỏ phong trào cực đoan hoàn toàn và tái hòa nhập xã
hội, sự hỗ trợ của bạn bè và gia đình là một nhân tố then chốt đối với các
phần tử này.
Cuốn sách: "BTI 2018: Indonesia Country Report" (BTI 2018 - Báo
cáo quốc gia Indonesia) [190]. Đây là tài liệu gốc của chính phủ Indonesia


15

vừa công bố. Báo cáo dài 45 trang dịch, đã tổng kết quá trình chuyển đổi dân
chủ của Indonesia bắt đầu vào tháng 5 năm 1998, khi nhà độc đoán lâu năm
Suharto từ chức tổng thống sau 32 năm tại vị, phân tích những điểm mạnh,
hạn chế của các đời tổng thống tiếp theo ở Indonesia. Báo cáo tổng kết hoạt
động của Indonesia qua 20 năm và đưa ra chiến lược phát triển đất nước trong
những năm tiếp theo. Cuối cùng Báo cáo đưa ra nhận định, Indonesia cần phát
triển hơn nữa hệ thống phúc lợi của mình để cung cấp các dịch vụ cơ bản, đặc
biệt là trong lĩnh vực y tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng. Vấn đề này phải được

thực hiện với quản trị tốt ở tất cả các cấp. Nó cũng đòi hỏi sự hợp lực của vai
trò của nhà nước, khu vực tư nhân và xã hội dân sự. Đây là tài liệu gốc, cập
nhật rất quí giúp tác giả thực hiện luận án.
Ngoài các công trình của các học giả Phương Tây được công bố bằng
tiếng Anh, nhiều học giả người Hoa cũng quan tâm nghiên cứu về xung đột
tôn giáo, sắc tộc ở Indonesia. Sau đây là một số công trình đáng chú ý.
+ Bài viết: "Bước đầu tìm hiểu thích ứng văn hóa cộng đồng dân tộc

Hoa ở Indonesia trong gần 30 năm qua" của tác giả Trần Tú Dung [28]. Bài
viết khái quát, nhìn lại những nguyên nhân lịch sử trên phương diện này, phân
tích những đóng góp của tộc người Hoa tại Indonesia đối với những tiến bộ,
phồn vinh trong các lĩnh vực sản xuất, y tế, thể thao, đoàn thể, tôn giáo... bằng
những tư duy dân tộc và chuẩn mực hành vi của tộc người Hoa. Đồng thời,
bài viết cũng chỉ ra, vai trò và chính sách của chính phủ Indonesia đóng vai
trò then chốt trong việc đảm bảo người Hoa ở Indonesia với tư cách là một
dân tộc thiểu số tại Indonesia có thể được hưởng những quyền lợi bình đẳng
dân tộc, được hưởng sự bảo vệ và tôn trọng từ chính phủ Indonesia.
+ Bài báo: "Religious beliefs of Chinese people in Indonesia" (Tín
ngưỡng tôn giáo của người Hoa ở Indonesia) của tác giả Andyni Khosasih
[160]. Bài viết xuất phát từ những góc nhìn khác nhau về lịch sử và hiện
thực, tiến hành khảo sát trên cơ sở tổng hợp về tôn giáo của người Hoa ở


16

Indonesia, tình hình căn bản, những tồn tại trong thực tế, phân tích các đặc
tính, kết quả phiếu khảo sát để đưa ra những phát hiện về xu hướng tương
lai của vấn đề này. Người Hoa ở Indonesia có dân số lên đến gần 7 triệu
người. Những thành tựu kinh tế của người Hoa ở đây gắn liền với văn hóa
người Hoa. Do vậy, muốn hiểu được văn hóa người Hoa và cộng đồng

người Hoa ở Indonesia cần phải gắn liền với việc phân tích tín ngưỡng của
người Hoa.
+ Bài viết: "Nghiên cứu vấn đề chia rẽ dân tộc Aceh ở Indonesia dưới

góc độ chỉnh hợp quốc gia" của Chu Tuấn Hoa [54]. Bài viết nội dung chính
đề cập đến vấn đề: Chỉnh hợp quốc gia là một nhiệm vụ lâu dài và gian khổ
mà một quốc gia đa dân tộc phải đối mặt. Phần lớn các quốc gia Đông Nam Á
hiện nay đều là các quốc gia đa sắc tộc. Về mặt địa lý, các nước đều tồn tại
đặc trưng bởi "phân mảnh hóa", quá trình chỉnh hợp quốc gia gặp nhiều khó
khăn. Sự chia tách của nhóm dân tộc Aceh ở Indonesia mang tính đại biểu và
là một cửa sổ để nghiên cứu các vấn đề dân tộc và chỉnh hợp quốc gia ở Đông
Nam Á. Từ góc độ chỉnh hợp quốc gia, tác giả bài viết xem xét vấn đề chia rẽ
sắc tộc ở Indonesia, "vành đai địa lý phân mảnh" mang tính đa sắc tộc, đa tôn
giáo, đa văn hóa, địa lý. Sự mất cân bằng trong phát triển kinh tế giữa các dân
tộc khác nhau, và những nguy cơ tiềm ẩn trong lịch sử của chế độ thực dân
khiến cho quá trình chỉnh hợp dân tộc tại đây rất khó thực hiện, tạo thành sự
chia rẽ sắc tộc. Mặt khác, sự phân chia quyền lực chính trị tại Indonesia sau
độc lập không đồng đều, phân bố cấu trúc mất cân bằng, tâm lý tôn giáo dân
tộc mạnh mẽ, trong khi ý thức quốc gia không có được sự quy chuẩn và
hướng dẫn chính xác. Thêm vào đó, những mâu thuẫn giữa chính quyền trung
ương và địa phương, những sai lầm của chính sách dân tộc ở một mức độ nhất
định, đã làm tan biến bản sắc dân tộc vốn đã khá suy yếu và cản trở quá trình
chỉnh hợp quốc gia của Indonesia và việc giải quyết sự chia rẽ của dân tộc
Aceh. Từ đó đưa ra nhận định, việc giải quyết vấn đề chia rẽ dân tộc, cần bắt


17

đầu từ củng cố sự chỉnh hợp quốc gia và phụ thuộc vào nhiều nhân tố thuộc
nhiều phương diện.

+ Bài viết: "Chỉnh hợp chính trị ở các nước đa dân tộc đang phát triển:
điểm chung, khó khăn và cách hóa giải - trên cơ sở so sánh giữa Indonesia và
Nigeria" của tác giả Dư Xuân Dương [30]. Đây là bài viết của một học giả
Trung quốc nghiên cứu vấn đề chỉnh hợp chính trị của các nước đa dân tộc
đang phát triển đòi hỏi phải xuất phát từ góc độ so sánh cấp quốc gia. Thông
qua so sánh tiến trình chỉnh hợp chính trị của Indonesia và Nigeria từ khi
thành lập nước đến nay, rút ra những điểm chung chủ yếu mà hai nước gặp
phải trong quá trình chỉnh hợp chính trị. Theo tác giả bài báo, cách thức hóa
giải những khó khăn trên chủ yếu bao gồm: 1/ Tìm kiếm điểm trùng hợp
trong nhận thức chung, tôn trọng những khác biệt văn hóa, xây dựng cộng
đồng dân tộc quốc gia; 2/ Tìm kiếm, xây dựng thể chế, cơ chế chính trị đảm
bảo gắn kết về lợi ích, chia sẻ thành quả; 3/ Xóa bỏ những ảnh hưởng của
quân nhân, quân đội trong đời sống chính trị, trừng trị nghiêm khắc hành vi
tham nhũng; 4/ Tìm kiếm và thúc đẩy nhưng chính sách hòa hợp dân tộc và
hòa hợp tôn giáo đa ngôn ngữ.
Đây là những tài liệu từ nguồn tiếng Trung đã được dịch sang tiếng
Việt, những tài liệu này gợi ý cho tác giả luận án nắm bắt về chính sách quản
lý, giải quyết những vấn đề có liên quan đến người Hoa ở quốc gia này, qua
đó liên hệ, so sánh sự giống và khác nhau trong giải quyết xung đột sắc tộc ở
các nước đang phát triển có đa dân tộc cùng sinh sống. Những tài liệu này
phục vụ tác giả thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra ở chương 3 và chương 4
của luận án.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu của các học giả Indonesia
Kể từ sau Chiến tranh Lạnh đến năm 2015 là quãng thời gian tương đối
dài trong quá trình phát triển của Cộng hòa Indonesia. Đây cũng là thời kỳ thế
giới và khu vực có nhiều biến động. Trong bối cảnh đó, Cộng hòa Indonesia là


18


quốc gia điển hình về tình trạng xung đột sắc tộc, tôn giáo, ly khai dân tộc trong
khu vực. Việc quốc gia này xử lý các xung đột sắc tộc, tôn giáo, ly khai dân tộc
cùng những ảnh hưởng của nó đến sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc trong thời
gian này đã được nhiều nhà nghiên cứu Indonesia thực hiện. Các công trình
nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án tiêu biểu mà tác giả có thể tiếp cận:
+ Tập hợp các bài phỏng vấn về kinh tế và chính trị về "Indonesia yang
Berubah" (Indonesia đang thay đổi) của các tác giả Gunawan Haryono, Daddi
Prianto, Agus Sukapti, Sri, Yulia Nuraini và Ratna [180].
+ Bài viết "Budaya Indonesia, Kajian Arkeologi, Seni, dan Sejarah"
(Văn hoá Indonesia, đánh giá khảo cổ, nghệ thuật và lịch sử) của tác giả
Sedyawati Edi [199]. Tác phẩm đã trình bày khá chi tiết về lịch sử phát triển
văn hóa Indonesia thông qua những đánh giá về khảo cổ và nghệ thuật kiến
trúc của nước này.
+ Cuốn sách "Politik Indonesia dalam Perspektif Sejarah" (Chính trị
Indonesia trong bối cảnh lịch sử) của tác giả Warday T.Baskara [204].
+ "Military Politics, Ethnicity and Conflict in Indonesia" (Chính trị
quân sự, sắc tộc và xung đột ở Indonesia) của tác giả Ikrar Nusa Bhakti, Sri
Yanuarti và Moamad Nurhasim [192]. Các tác giả Ikrar Nusa Bhakti, Sri
Yanuarti và Mochamad Nurhasim, là những nhà nghiên cứu tại Trung tâm
Nghiên cứu chính trị tại Viện Khoa học Indonesia (LIPI). Trong tập tài liệu
này, nhóm tác giả đã hệ thống, phân tích về vai trò của quân đội trong chính
trị Indonesia: 1945-2004. Đặc biệt, tài liệu đã làm rõ vai trò của quân đội
trong xử lý vấn đề ly khai ở Papua (1998-2004); các phản ứng của quân đội
đối với Phong trào Aceh tự do (1976-1998). Đây là những tài liệu rất quí mà
tác giả đã khai thác phục vụ đề tài luận án.
+ "Lessons learned from Indonesia's conflicts: Aceh, Poso and
Papua..." (Bài học rút ra từ các cuộc xung đột của Indonesia: Aceh, Poso và
Papua...) của tác giả Sidney Jones [201] là Viện trưởng Viện Phân tích Chính



19

sách Xung đột (IPAC). Tác giả đề cập trong bài nội dung về: ba cuộc xung
đột mà chính phủ Indonesia đã cố gắng giải quyết đưa ra một số bài học
nghiêm túc cho tổng thống tiếp theo của đất nước. Đó là: một thỏa thuận hòa
bình ở Aceh đã ngăn chặn một cuộc nổi dậy nhưng các cựu phiến quân tỏ ra
là những nhà lãnh đạo chính trị tồi tệ. Một thỏa thuận ở Poso đã ngăn chặn
cuộc chiến giữa Thiên chúa giáo - Hồi giáo nhưng để lại một mạng lưới cực
đoan tại chỗ vẫn tiếp tục hoạt động. Và một bộ máy chính quyền mới đã được
thành lập cho Papua đã thất bại khi chỉ tập trung vào phát triển kinh tế, trong
khi các bước ban đầu để đối thoại với Jakarta dường như bị đình trệ. Tác giả
Jones đã phân tích lý do của những kết quả trên và đưa ra nhận định về những
gì một chính quyền mới có thể cố gắng tiến lên. Đây là những thông tin rất
quan trọng mà tác giả luận án đã khai thác và đề cập trong chương 3.
+ "Religion Conflicts in Indonesia Problems and Solutions" (Xung đột
tôn giáo ở Indonesia các vấn đề và các giải pháp) của tác giả: Sintha
Wahjusaputri [202]. Bài viết phân tích những xung đột tôn giáo ở Indonesia
và đưa ra một số giải pháp cho vấn đề này.
+ Bài viết: "Harmony in Diversity: A Government Policy and Mutual
Effort of..." (Sự hài hòa trong đa dạng: Chính sách của chính phủ và nỗ lực
chung của những người tôn giáo ở Indonesia) của Dede Rosyada [173].
Thông qua tiếp cận và phân tích nhiều văn bản gốc của chính phủ Indonesia,
tác giả Dede Rosyada đã đưa ra nhận định: những người sáng lập của đất
nước đã đặt ra thỏa thuận ngay từ đầu, rằng họ khác nhau về sắc tộc, tôn giáo
và văn hóa, nhưng họ có một mục tiêu chung là trở thành một quốc gia độc
lập có thể thiết lập đất nước của mình để tạo ra chủ nghĩa lý tưởng lẫn nhau
để trở thành một xã hội phát triển, công bằng và thịnh vượng. Để trở thành
một quốc gia phát triển có thể đứng ngang hàng với các quốc gia khác trên thế
giới và quản lý toàn bộ tiềm năng của quốc gia, sự ổn định chính trị, sự tham
gia của công chúng và sức mạnh của nguồn nhân lực đáng tin cậy là cần thiết.



Xem Thêm

×