Tải bản đầy đủ

ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ HÀ GIANG

ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG
THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CỦA CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2020


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ HÀ GIANG

ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG
THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN

CỦA CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
Mã số: 9 22 90 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS,TS Trần Đăng Sinh
2. PGS,TS Lê Văn Lợi

HÀ NỘI - 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo
quy định.
Tác giả

Trần Thị Hà Giang


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN

1.1. Những công trình nghiên cứu lý luận về ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành
hoàng làng đến đời sống tinh thần cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay
1.2. Những công trình nghiên cứu về thực trạng ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành
hoàng làng đến đời sống tinh thần cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay
1.3. Những công trình nghiên cứu về quan điểm và giải pháp nhằm phát huy
những ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng
thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần cư dân ngoại thành Hà Nội
hiện nay
1.4. Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những
vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Chương 2: TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG VÀ ĐỜI SỐNG TINH


THẦN CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

2.1. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng và tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng ở
ngoại thành Hà Nội hiện nay
2.2. Đời sống tinh thần và những nhân tố ảnh hưởng tới đời sống tinh thần của cư
dân ngoại thành Hà Nội hiện nay
Chương 3: ẢNH HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG
ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

1
6
6
14

17
23
28
28
52

74

3.1. Phương thức ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống
tinh thần cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay
3.2. Nội dung ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh
thần cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay
3.3. Nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra từ thực trạng ảnh hưởng của tín ngưỡng
thờ Thành hoàng làng đến thần cư dân ngoại thành hiện nay

113

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT
HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TÍN
NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CƯ
DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY

124

4.1. Quan điểm nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu
cực của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần cư dân
ngoại thành Hà Nội hiện nay
4.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh
hưởng tiêu cực của tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần
cư dân ngoại thành Hà Nội hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

74
79

124

135
147
149
150
162


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

ĐSTT

Đời sống tinh thần

NTHN

Ngoại thành Hà Nội

Nxb

Nhà xuất bản

TNTTH

Tín ngưỡng thờ Thành hoàng

UBND

Ủy ban nhân dân


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam vốn được biết đến là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng.
Hầu hết cư dân từ nông thôn đến thành thị, từ trí thức đến người nông dân
nói chung đều tín và hướng đến một tín ngưỡng nhất định. Hầu hết các tín
ngưỡng đều có đặc điểm chung là thể hiện sự biết ơn, kính trọng đối với tổ
tiên, dòng họ trong phạm vi huyết thống (tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên); biết
ơn các vị anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm hoặc những người có công
với dân làng như dạy dân biết chữ, biết sản xuất nông nghiệp… trong phạm
vi làng xã (tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng) và cao hơn là biết ơn người
“đã có công dựng nước” trong phạm vi quốc gia, dân tộc (tín ngưỡng thờ
cúng Hùng Vương). Từ đó có thể thấy, tín ngưỡng thờ Thành hoàng
(TNTTH) làng chính là sự phóng to của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sự thu
nhỏ của thờ cúng Hùng Vương và cũng chính nó trở thành dấu gạch nối giữa
hai thờ cúng này khi đều thể hiện lòng biết ơn của các thế hệ sau với các thế
hệ trước. Chính vì vậy, các tín ngưỡng nói chung, TNTTH làng nói riêng đã
trở thành một giá trị truyền thống văn hoá tâm linh ăn sâu bám rễ trong tiềm
thức, nó luôn thường trực trong đời sống tinh thần (ĐSTT) của nhân dân ta
từ ngàn đời nay mà chúng ta cần phải tiếp tục bảo tồn, gìn giữ, phát huy góp
phần xây dựng ĐSTT lành mạnh, phong phú cho cư dân ở những vùng mà
tín ngưỡng này còn thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia
thực hành thờ cúng.
Dù cho lịch sử thăng trầm, nhưng Hà Nội vẫn là nơi mang đậm dấu ấn
TNTTH làng, tín ngưỡng này sau đó được lan truyền đến các vùng nông thôn
- nơi cư dân sống chủ yếu dựa vào nghề trồng lúa nước và nó đã trở thành một
trong những nét đặc trưng về văn hóa của cư dân nông nghiệp ở nhiều làng
quê ngoại thành Hà Nội (NTHN).


2
Hiện nay, TNTTH làng vẫn ảnh hưởng khá sâu sắc, phong phú đến
ĐSTT của cư dân NTHN ở cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Về mặt
tích cực, TNTTH làng đã góp phần đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu về tinh thần
của người dân trên địa bàn và là nhân tố quan trọng để gắn kết cộng đồng;
góp phần duy trì, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, cũng như tiếp
biến những giá trị văn hóa mới và cũng đã góp phần giáo dục lòng tự tôn, tự
hào dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, nhân văn cho người dân. Tuy nhiên,
việc thực hành TNTTH làng cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế khi có không
ít địa phương tiến hành trùng tu, xây dựng lại đình, nghè, miếu thờ Thành
hoàng không chỉ gây tốn kém, mà còn làm mất đi nét kiến trúc cổ xưa. Bên
cạnh đó, nội dung văn hóa truyền thống của TNTTH làng cũng đang bị mai
một, biến tướng. Các hiện tượng mê tín dị đoan, và các vấn đề xã hội phức tạp
khác,… đã gây ra nhiều khó khăn trong việc quản lý an ninh trật tự, an toàn
xã hội, gây tâm lý bất an trong cộng đồng cư dân trên địa bàn.
Trước thực trạng trên, việc phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn
chế những ảnh hưởng tiêu cực của TNTTH làng để giáo dục, giúp đỡ cư
dân NTHN, nhất là thanh thiếu niên hiểu và sống đoàn kết, hướng thiện, có
niềm tin, qua đó góp phần gìn giữ những nét đặc sắc trong văn hóa tâm linh
nói riêng và đời sống tinh thần của cư dân NTHN là một việc làm cần thiết.
Nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ
Thành hoàng làng đến đời sống tinh thần của cư dân ngoại thành Hà Nội
hiện nay” cho luận án tiến sĩ triết học của mình, với hy vọng góp phần
nghiên cứu, làm sáng tỏ thực trạng ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT
của cư dân NTHN hiện nay, qua đó đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu
nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của TNTTH
làng đến ĐSTT của người dân nơi đây.


3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng ảnh hưởng của TNTTH làng đến
ĐSTT của cư dân NTHN hiện nay, luận án đề xuất quan điểm và giải pháp
chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của
TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân nơi đây.
2.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về TNTTH làng và ĐSTT cư dân
NTHN hiện nay.
- Phân tích phương thức, nội dung và thực trạng ảnh hưởng của
TNTTH làng đến ĐSTT cư dân NTHN hiện nay và những vấn đề đặt ra.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng
tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của TNTTH làng đến ĐSTT cư dân
NTHN hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng của cư dân NTHN hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu ảnh hưởng của TNTTH làng đến một số
lĩnh vực của ĐSTT, cụ thể là: quan điểm, tư tưởng; đạo đức, lối sống; văn
hóa nghệ thuật, tín ngưỡng tôn giáo của cư dân 1 thị xã và 17 huyện NTHN
hiện nay.
- Về thời gian: đề tài giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2008 khi Hà
Nội có quyết định mở rộng địa giới hành chính cho đến năm 2019.
- Về đối tượng khảo sát: cư dân đang sinh sống, học tập, làm việc trên
địa bàn thị xã Sơn Tây và 17 huyện NTHN hiện nay (cụ thể là cán bộ làm
công tác văn hoá, công chức Nhà nước; nông dân, những người làm nghề tự


4
do; học sinh, sinh viên; người già và hưu trí; các chủ từ, chủ đình, chủ đền,
người trông coi hương khói tại các đình, đền ở NTHN hiện nay).
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về ĐSTT, về tôn giáo,
tín ngưỡng. Đồng thời luận án còn dựa vào các điển tích, sự tích các
Thành hoàng, phong tục thờ tự các Thành hoàng qua khảo cứu lịch sử và
thực tế. Bên cạnh đó, luận án còn kế thừa có chọn lọc, học hỏi, tiếp thu
những công trình khoa học đi trước như các sách, báo chí, tư liệu trong và
ngoài nước có nội dung hữu ích cho luận án.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các
phương pháp cơ bản khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch, quy
nạp, logic - lịch sử. Bên cạnh đó luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu ngành và liên ngành như: sử học, văn hóa học, tôn giáo học, Hà Nội học,
điều tra xã hội học, thống kê,… nhằm thực hiện nhiệm vụ, mục đích đề ra.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần làm rõ TNTTH làng ở NTHN, dưới góc độ ảnh
hưởng của nó đến một số lĩnh vực của ĐSTT cư dân Hà Nội từ 2008 (từ khi
Hà Nội mở rộng địa giới hành chính) đến năm 2019.
- Luận án đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát
huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của TNTTH làng đến
ĐSTT của cư dân NTHN hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu, giảng dạy các môn học như: triết học, Tôn giáo học, Văn hóa học,


5
Cơ sở văn hóa Việt Nam, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Lịch sử tư tưởng Triết
học Việt Nam,… ở các cơ sở nghiên cứu, đào tạo thuộc khối ngành khoa học
xã hội và nhân văn.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác
giả liên quan đến luận án, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án
gồm 4 chương, 11 tiết.


6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG
CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY

Phan Kế Bính, với công trình Việt Nam phong tục [14], qua 47 mục
thuộc 3 thiên trong cuốn sách, đã dày công tìm hiểu những lề thói, tập quán xa
xưa của cha ông mang tính làng xã ở các vùng nông thôn Việt Nam. Tác giả
cho rằng đất lề quê thói hay những lễ nghi, phong tục luôn thường trực trong
tâm hồn cư dân Việt, nó không chỉ có ảnh hưởng đến việc hướng con sống
thiện, sống hoà thuận yêu thương gắn kết mà còn giúp cho dòng tộc, quê
hương, làng xã mang bản sắc, cốt cách riêng. Đồng thời ông cũng nhấn mạnh
những hủ tục còn đâu đó vô hình kìm hãm sự phát triển của xã hội. Thực chất
những yếu tố mà tác giả chỉ ra trong đó phải kể đến những lễ nghi thờ cúng
Thành hoàng còn in đậm trong ĐSTT của cư dân làng quê mà Bắc bộ là điển
hình. Công trình này được tác giả tìm hiểu, khai thác rất công phu, mang tinh
thần khoa học sâu sắc, rất hữu ích cho tác giả luận án nghiên cứu sự ảnh
hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT của người dân NTHN hiện nay.
Leopold Cadiere, với Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo ở
người Việt do Đỗ Trinh Huệ dịch [16]. Cuốn sách dày hơn 630 trang, với
nhiều nội dung phong phú. Bàn đến nội dung tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng,
Leopold Cadiere đã thể hiện sự am hiểu của ông về văn hoá, tín ngưỡng cũng
như đức tính, lối sống cư dân Việt một cách tường tận, trân quý nhất. Qua đây
tác giả cũng lan toả những giá trị mang âm hưởng tinh thần, hồn cốt đặc sắc
chỉ có ở Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng TNTTH làng ở các miền quê có từ rất
sớm và rất được coi trọng luôn được người dân gìn giữ, bảo tồn và phát huy


7
từ nhiều thế hệ. Từ đó, tác giả mong muốn một hướng phát triển bền vững
cho bản sắc văn hoá có từ bao đời của dân tộc. Đây là cuốn sách có ý nghĩa về
mặt khoa học to lớn để nghiên cứu sinh tiếp tục làm rõ, sâu sắc hơn cơ sở lý
luận cho việc tìm hiểu, nghiên cứu một cách công phu nghiêm túc cơ sở lý
luận cho sự ảnh hưởng của TNTTH đến ĐSTT cư dân vùng NTHN.
Hoàng Hồng Cẩm, với Bà Chúa Kho Thành hoàng làng Giảng Võ
[15]. Cuốn sách là sự giới thiệu khá chi tiết về Bà Chúa Kho ở Đình Giảng
Võ (Hà Nội). Để tri ân người con gái mang dòng máu anh hùng, người dân
đã tôn thờ Bà làm Thành hoàng làng, và lập đền thờ. Đền thờ Bà được nhân
dân quen gọi là Đình thờ Bà Chúa Kho. Hiện nay, ngoài nơi thờ chính là
Giảng Võ, nhiều địa phương khác cũng lập đền thờ Bà. Thông qua nghiên
cứu này thì vị trí, vai trò của TNTTH làng trong đời sống đương đại đã được
làm sáng tỏ; đồng thời mang đến cho tác giả luận án những chứng cứ lịch sử
quan trọng để lý giải nguồn gốc hình thành TNTTH làng của cư dân vùng
NTHN hiện nay.
Lại Văn Toàn, Trần Thị Băng Thanh và Nguyễn Như Diệm, trong
cuốn Thần tích thần sắc Hà Nam [137] đã ghi lại dấu ấn các Thành hoàng
làng gồm các vị thần có công bảo hộ dân làng, các anh hùng đánh giặc bảo
vệ Tổ quốc hoặc người có công dạy dân biết chữ, biết sản xuất nông nghiệp.
Cuốn sách bước đầu đã cung cấp những dẫn chứng khoa học tin cậy, đầy đủ
mang đến một góc nhìn đa chiều về gốc tích, tục thờ các vị Thành hoàng. Đó
chính là chỉ dẫn quý báu cho tác giả luận án đi sâu nghiên cứu vai trò của
các các vị Thành hoàng trong ĐSTT của cư dân vùng nông thôn nói chung
và đời sống gia đình nông thôn vùng NTHN nói riêng.
Trần Huy Đĩnh và các cộng sự, trong Sự tích Thành hoàng làng ở Phú
Xuyên [24], đã giới thiệu truyện kể về các vị Thành hoàng làng được lưu
truyền trong dân gian ở huyện Phú Xuyên, bảng tra tên địa danh kèm theo


8
một số bản chữ Hán ghi chép về gốc tích các vị Thành hoàng làng ở huyện
Phú Xuyên, Hà Nội. Cuốn sách là một nguồn tư liệu bổ ích giúp tác giả làm
rõ một số nội dung tín ngưỡng của người dân NTHN.
Nguyễn Duy Hinh, trong cuốn sách Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam
[39] đã chỉ rõ nguồn gốc, ý nghĩa, hình thức biểu hiện; sự tích và việc thờ
cúng các vị Thành hoàng ở Việt Nam. Xuyên suốt công trình, với cách diễn
đạt súc tích, dễ hiểu, tác giả đã cho người đọc tiếp cận với những kiến thức cơ
bản về TNTTH - một nhu cầu tinh thần phổ biến ở các vùng nông thôn ở nước
ta. Tuy nhiên, căn cứ vào việc xác định đối tượng nghiên cứu, nên cuốn sách
mới chỉ dừng lại phương diện lý thuyết, nhiều vấn đề thực tiễn như ảnh hưởng
của TNTTH làng đến ĐSTT của người dân Việt Nam, những biện pháp khắc
phục ảnh hưởng tiêu cực của loại hình tín ngưỡng này trong đời sống sinh
hoạt hàng ngày,... chưa được làm rõ. Kết luận lại công trình có nhiều đóng
góp để nghiên cứu sinh có thể học hỏi bổ sung cho luận án của mình được đầy
đủ hơn.
Nguyễn Duy Hinh, với bài viết Thần làng và Thành hoàng [40], đã
phân tích làm rõ khái niệm về thần làng, Thành hoàng, phân biệt và so sánh
sự giống, khác nhau giữa thần làng, Thành hoàng, nêu ra một vài vấn đề cần
nghiên cứu có đề cập đến việc thực hành thờ cúng các vị thần này. Với những
tư liệu thu lượm được qua bài viết, tác giả của luận án có thể vận dụng để
triển khai, làm rõ một số nội dung lý luận được trình bày trong luận án.
Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Duy Hinh, với cuốn Thần tích Hà Nội và
tín ngưỡng thị dân [104]. Cuốn sách gồm 7 chương, ra đời trước bối cảnh còn
nhiều hạn chế trong việc nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị tâm linh Hà Nội.
Cuốn sách với những nghiên cứu cụ thể, giúp người đọc đi sâu khám phá về
vùng đất kinh kỳ xưa cũ, qua đó, sẽ thêm hiểu, thêm trân trọng những giá trị
văn hóa của Hà Nội nói riêng và của cả dân tộc Việt Nam nói chung. Tuy


9
nhiên, những kết quả đã đạt được trong công trình nêu trên mới chỉ là những
khám phá bước đầu, cần được nghiên cứu bổ sung, phát triển.
Nguyễn Duy Hinh, với cuốn sách Bách khoa thư Hà Nội: Kỉ niệm
1000 năm Thăng Long - Hà Nội 1010 - 2010 [41]. Cuốn sách bao gồm
nhiều nội dung phong phú trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội in
đậm dấu ấn một Hà Nội văn hiến ngàn năm. Trong tập 16 (tổng 18 tập) đã
giới thiệu về một số loại hình tín ngưỡng lâu đời của Thăng Long - Hà Nội,
tiêu biểu như thờ cúng Vua Hùng, thờ Trời, các vị Thành hoàng có công
khai phá, lập làng, thờ Tổ của các nghề, thờ tổ tiên. Đây là những tư liệu
quý báu mà tác giả luận án tiếp tục vận dụng trong quá trình đi sâu tìm hiểu
lĩnh vực mà luận án đang nghiên cứu.
Đỗ Quang Hưng, với cuốn sách Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng
Long - Hà Nội [47], đã cung cấp cho chúng ta góc nhìn đầy đủ nhất về đời
sống, nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo phong phú của cư dân thủ đô. Cuốn sách
đặc biệt dày công nghiên cứu những công trình đi trước của các tác giả nước
ngoài, trên cơ sở đó tác giả cuốn sách đã đưa ra kết quả nghiên cứu mới có giá
trị rất to lớn về “không gian tín ngưỡng, tôn giáo” của Thăng Long - Hà Nội.
Có thể thấy cuốn sách này rất bổ ích cho tác giả luận án trong quá trình
nghiên cứu, triển khai nội dung của luận án ở chương 2 và chương 3.
Nguyễn Quang Khải, trong Một số nghi lễ, hội thi, trò diễn dân gian và
phong tục tập quán có liên quan đến tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng ở Bắc
Ninh [54], đã trình bày sơ lược về TNTTH tại các làng ở Bắc Ninh. Tác giả
cũng đã nêu lên một số nghi lễ phục vụ cho tín ngưỡng này; mô tả một số trò
diễn, trò chơi có liên quan đến tín ngưỡng,... Đây chính là tri thức hữu ích góp
phần hoàn thiện hơn công trình nghiên cứu TNTTH ở vùng NTHN hiện nay.
Vũ Ngọc Khánh, trong cuốn sách Tín ngưỡng dân gian [56] đã phân
tích khá chi tiết nguồn gốc, từng bước phát triển, sự thăng trầm của một số


10
loại hình tín ngưỡng dân gian Việt Nam như: Tín ngưỡng phồn thực; Tín
ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ; Tín ngưỡng thờ động, thực vật; Tín ngưỡng sùng
bái con người. Việc luận giải làm rõ nguồn gốc cũng như sự phát triển của
các tín ngưỡng bản địa này chính là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả luận
án tham khảo trong nghiên cứu TNTTH làng ở vùng NTHN.
Lê Tâm Đắc, Tạ Quốc Khánh, trong bài viết “Tính hỗn dung của người
Việt thể hiện qua đối tượng thờ trong các ngôi chùa ở Hà Nội” [23] đã phân
tích tương đối kỹ về sự giao thoa các tín ngưỡng ở Việt Nam, được trình bày
thông qua quan niệm, nghi lễ, tục thờ, hình thức thờ ở các chùa Hà Nội; từ đó
chỉ ra những nguyên nhân ảnh hưởng chủ yếu đến sự giao thoa đó và bản sắc
văn hóa tâm linh đa dạng, phong phú trong sự hỗn dung của người Việt Nam.
Mặc dù chỉ mới tiếp cận vấn đề dưới góc độ tôn giáo, nhưng tác giả cuốn sách
đã làm được nhiều hơn mục đích ban đầu đặt ra, thể hiện được tư duy triết học
về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. Đây chính là nguồn tri thức khoa học quý giá
để luận án nghiên cứu sâu hơn về TNTTH làng.
Nguyễn Đức Lữ, với cuốn sách Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian
ở Việt Nam [75] bước đầu đã đem đến cho độc giả những hiểu biết về tín
ngưỡng bản địa, dân gian như: lễ hội, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Thành
hoàng, thờ Mẫu, tín ngưỡng phồn thực và mê tín dị đoan. Từ đó Nguyễn Đức
Lữ đã nêu rõ thực trạng và biểu hiện đặc điểm của các tín ngưỡng bản địa,
dân gian trên ở Việt Nam hiện nay. Đây là một công trình đầy giá trị khoa học
thiên về khai thác tín ngưỡng dân gian, nên ảnh hưởng của các loại hình tín
ngưỡng này, đặc biệt TNTTH tới ĐSTT của người dân chưa được làm rõ.
Vấn đề này cần được triển khai tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện.
Lam Khê, Khánh Minh, trong cuốn 36 thần tích, huyền tích Thăng
Long - Hà Nội [59], đã đề cập đến những sự tích, những vị thần, tích của các
vị thần được nhân dân suy tôn, được sắc phong và thờ phụng trên đất Thăng


11
Long: thần Kim Quy, Thánh Gióng, Mẫu Liễu Hạnh, thánh Tản Viên, và các
vị thần giữ vị trí trấn tứ phía Hà Nội như Linh Lang Đại Vương (được thờ ở
đền Voi Phục), Cao Sơn Đại Vương (thờ ở đền Kim Liên), Thần Long Đỗ
(thờ ở đền Bạch Mã), Huyền Thiên Trấn Vũ (thờ ở đền Quán Thánh)… ngoài
ra còn thờ các vị Thành hoàng làng ở các địa phương, các vị Tổ nghề. Cuốn
sách giúp cho tác giả luận án có thêm nhiều tư liệu thực tiễn để tiếp tục khảo
sát, nghiên cứu về tục thờ cũng như sự ảnh hưởng của TNTTH làng đến
ĐSTT cư dân NTHN.
Nguyễn Hữu Minh, trong cuốn Đời sống văn hoá của cư dân Hà Nội
[86], đã phân tích, làm sâu sắc sự phong phú, đa dạng trong nhu cầu tâm linh
tinh thần không thể thiếu của cư dân Hà Nội; phân tích phong tục, nghi lễ và
các hoạt động thờ cúng, sinh hoạt hàng ngày có liên quan đến đời sống văn
hóa của người dân trên địa bàn. Cuốn sách đi sâu về lĩnh vực đời sống xã hội
dưới góc nhìn từ phương diện nhà nghiên cứu văn hóa, song nó vẫn được coi
là một tài liệu quan trọng để tác giả luận án khai thác, làm rõ hơn đầy đủ hơn
một số nội dung trong luận án của mình.
Minh Thảo, Xuân Mỹ, trong cuốn sách Truyền thuyết các vị thần Hà
Nội [120], đã giới thiệu cho người đọc những hiểu biết nhất định về một số vị
thần được thờ trong các đình, đền ở Hà Nội thông qua việc nghiên cứu các
câu chuyện lịch sử, sự thêu dệt của nhân dân để tái hiện lên hình ảnh về
những vị thần có gốc gác và sự tích từ những con người cụ thể, những gây
dựng, bảo vệ làng xóm, rộng hơn là quốc gia xã tắc và khi họ mất đi, để tri ân
công trạng, nhân dân đã phong thần và thực hành thờ cúng. Cuốn sách cũng
chỉ ra danh tính, công trạng, thời gian và địa điểm được phong thần của các vị
thần này. Mặc dù không đề cập nhiều đến hướng nghiên cứu của đề tài luận
án, nhưng đây là tài liệu khoa học có giá trị giúp tác giả nắm rõ hơn về nguồn
gốc hình thành của các vị thần, trong đó có Thành hoàng làng của người Việt
ở vùng NTHN.


12
Nguyễn Minh Ngọc, trong Bách thần Hà Nội [94], đã nhìn nhận, tiếp
cận nguồn gốc các vị thần, Thành hoàng được thờ cúng ở các ngôi đình, đền
Hà Nội chẳng hạn có công xây dựng làng, có công truyền nghề cho dân, có
công chống ngoại xâm,… Công trình của tác giả Nguyễn Minh Ngọc tuy
thiên về phân tích truyền thuyết lịch sử, song nó có giá trị về mặt thực tiễn
khoa học rất lớn cho tác giả luận án trong việc nghiên cứu vấn đề TNTTH
làng ở vùng NTHN.
Vũ Thanh Sơn, với cuốn sách Những vị thần được thờ ở Hà Nội [115].
Trong cuốn sách này, bằng những hiểu biết và khám phá của bản thân (thông
qua kết quả của phương pháp nghiên cứu điền dã), tác giả đã giới thiệu cho
người đọc những đặc trưng cơ bản nhất của các vị thần được nhân dân suy
tôn, thực hành việc cúng bái, thờ tự ở Hà Nội. Trong đó chúng ta sẽ thấy rõ
những công trạng, đóng góp của các vị thần ở các cấp độ khác nhau từ làng xã
đến quốc gia qua các thời kỳ lịch sử. Tuy bị giới hạn bởi đối tượng nghiên
cứu, song cuốn sách là một nguồn tư liệu tham khảo cần thiết cho tác giả luận
án khi tiếp tục tìm hiểu về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân Hà
Nội nói chung, cư dân ở vùng NTHN nói riêng.
Nguyễn Gia Thiều, trong bài Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng thờ Thành
hoàng làng Việt Nam [123], đã khái quát đôi nét về nguồn gốc, ý nghĩa và tục
thờ Thành hoàng ở Việt Nam. Ở nước ta từ xa xưa việc cúng bái, thờ tự các vị
Thành hoàng đã xuất hiện rất sớm có nguồn gốc ngoại lai và bản địa, nó có
mặt khắp nơi khắp vùng miền cả nước. Mỗi thời kỳ, việc thực hành thờ cúng
tín ngưỡng này lại có sự biến đổi theo những xu hướng khác nhau. Bằng dẫn
chứng khoa học đa dạng, tác giả cũng đã cho chúng ta thấy được rằng, sự tồn
tại của TNTTH trong đời sống cộng đồng người Việt là mang tính khách quan
và có nguồn gốc từ chính nhu cầu được thoả mãn về mặt tâm linh của quần
chúng. Những nội dung triển khai trong công trình khoa học này, mặc dù
không sát gần với đề tài luận án, nhưng nó đã cung cấp cho tác giả luận án cái


13
nhìn toàn diện hơn về TNTTH làng, từ đó tiếp tục đi sâu nghiên cứu luận án
một cách có hiệu quả.
Ngô Đức Thịnh, trong Tín ngưỡng & văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam
[125], đã khái quát những vấn đề cơ bản cả nguồn gốc lý luận và thực tại thờ
cúng trong hệ thống tín ngưỡng Việt Nam nói chung và TNTTH làng nói
riêng. Tác giả cũng nhấn mạnh việc duy trì các hoạt động, lễ nghi, phong tục
thờ cúng Thành hoàng có liên quan mật thiết và có ảnh hưởng sâu rộng đến
ĐSTT và các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của cư dân. Những
nội dung triển khai trong công trình khoa học này, mặc dù không sát gần với
đề tài luận án, nhưng nó đã cung cấp cho tác giả tri thức, góc tìm hiểu toàn
diện hơn về văn hóa, về tín ngưỡng bản địa, từ đó có thể áp dụng một cách
hiệu quả vào quá trình nghiên cứu của mình.
Doãn Đoan Trinh, trong bài viết “Một dạng Thành hoàng ở Hà Nội”
[140], đã vẽ nên một bức tranh sinh động về các tín ngưỡng bản địa, tín
ngưỡng dân gian ở Hà Nội, trong đó Doãn Đoan Trinh đề cập chủ yếu đến
loại hình TNTTH. Theo tác giả, TNTTH ở Hà Nội có nhiều điểm khác so với
TNTTH nơi làng xã. Có nhiều nguyên nhân mang đến sự khác nhau độc đáo
ấy, trong đó tác giả chú ý luận giải nhiều về các điều kiện kinh tế - xã hội và
tâm lý người dân. Bài viết là một nguồn tư liệu tham khảo bổ ích cho tác giả
luận án trong quá trình triển khai các quan niệm về TNTTH làng ở chương 2
của đề tài.
Nguyễn Tọa, trong Hội ba làng Kẻ [136], đã khái quát về làng Kẻ xưa
nay, Thành hoàng làng và các di tích ở đó có thờ vị Thành hoàng của người
làng Kẻ thuộc huyện Từ Liêm - Hà Nội. Tác giả giới thiệu về sự tích và diễn
tích trong các lễ hội của ba làng Kẻ là: làng Đống Đa, làng Thượng Cát và
làng Đại Cát. Công trình khoa học nêu trên là một gợi ý cho tác giả luận án
khi nghiên cứu về gốc tích, nội dung, thực hành và thực chất của việc thờ
cúng các vị thần, trong đó có TNTTH làng ở NTHN.


14
Như vậy, trên cơ sở tổng quan những công trình đi trước có nghiên cứu
lý luận về ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT cư dân NTHN hiện nay, là
cơ sở khoa học cho tác giả luận án khái lược về nguồn gốc, quá trình hình
thành, các hình thức thờ tự của TNTTH. Hầu hết, các nhà khoa học đều cho
rằng, TNTTH trở thành hệ thống và phát triển mở rộng từ khi có sự giao thoa
văn hóa với người Trung Quốc. Chính vì thế, các vị thần ở nước ta mang tên
gọi Thành hoàng theo nghĩa Việt hóa. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng,
TNTTH của người Việt có điểm khác biệt cơ bản, đó chính là yếu tố làm nên
bản sắc trong tư duy tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Nam. Các công trình
khoa học đó là tư liệu thực tiễn sinh động để tác giả luận án tiếp tục tìm hiểu,
tham khảo khi nghiên cứu, khái quát về TNTTH của cư dân vùng NTHN, với
tư cách là một trong những tín ngưỡng phổ biến và đặc trưng của địa bàn.
1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG ẢNH
HƯỞNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG ĐẾN ĐỜI SỐNG
TINH THẦN CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY

Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Duy Hinh, với Thần tích Hà Nội và tín
ngưỡng thị dân [104], đã giới thiệu cho người đọc về các giá trị phi vật thể
mang dấu ấn tâm linh gồm các thần tích và nghi lễ, tục thờ Thành hoàng ở
Hà Nội. Tác giả cũng cho thấy sự ảnh hưởng của TNTTH Hà Nội đến lối
sống, tính cố kết vùng, tâm lý coi các vị Thành hoàng làng là nơi nương náu
của tâm hồn, giúp cho tinh thần cư dân được bình an hơn. Những minh
chứng này giúp tác giả luận án tiếp tục mở rộng nghiên cứu sự ảnh hưởng
của TNTTH làng đến ĐSTT cư dân ở các vùng hành chính mới sát nhập Hà
Nội từ năm 2008 đến nay.
Đỗ Quang Hưng, với Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng Thăng Long - Hà
Nội [47]. Tác giả tập sách đã dày công nghiên cứu và đưa ra được một
phương án tốt nhất khi kết hợp phương pháp lịch sử tôn giáo trong việc dựng


15
lại lịch sử các tôn giáo chính như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao
Đài,... cũng như các loại hình tín ngưỡng ở Thăng Long - Hà Nội và đặt nó
trong tổng thể không gian tâm linh tín ngưỡng. Tuy nhiên, những hình ảnh
của tín đồ mỗi tôn giáo, những cộng đồng tín ngưỡng ở Thăng Long - Hà
Nội vẫn chưa được phục hiện đầy đủ trong cuốn sách. Nhưng đối với tác giả
luận án, đây được coi là nguồn tư liệu hữu ích cho tác giả khi phân tích, tìm
hiểu và làm rõ sự ảnh hưởng của TNTTH làng đến ĐSTT cư dân NTHN
hiện nay.
Vũ Ngọc Khánh, với Tín ngưỡng dân gian [56] đã cho thấy: Tín
ngưỡng này nó đã phản ánh sự hiểu biết ban đầu của con người về thế giới
con người sinh sống, về bản thân con người và các mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên, xã hội một cách lệch lạc, cảm tính, được lý giải bằng
những câu chuyện thần thoại, những sự tích, điển cố,… mang tính chất là
những dạng nhận thức ban đầu và đơn giản nhất của con người về thế giới.
Bên cạnh đó, ông cũng chỉ rõ rằng tín ngưỡng dân gian nói chung và
TNTTH nói riêng có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh - văn hóa tinh thần của cư dân ở các vùng miền. Nó đã ăn sâu, tồn tại lâu đời trong
cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân và trở thành bản sắc độc đáo,
văn hóa riêng của người Việt. Luận điểm này cung cấp tác giả luận án có
được cách nhìn sâu sắc trong lý giải nguồn gốc và sự ảnh hưởng của TNTTH
làng đến ĐSTT của cư dân ở vùng NTHN.
Nguyễn Đức Lữ, trong cuốn sách Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân
gian ở Việt Nam [75], có trình bày đến sự ảnh hưởng của tín ngưỡng bản địa,
dân gian, trong đó có TNTTH đến ĐSTT người Việt. Song do giới hạn bởi
đối tượng nghiên cứu, tác giả mới chủ yếu đề cập đến nội dung, hình thức và
nghi lễ thờ cúng của các tín ngưỡng. Đây chính là khoảng trống để tác giả
luận án tiếp tục khai thác, làm sâu vấn đề luận án cần nghiên cứu.


16
Nguyễn Hữu Hiếu, trong Tìm hiểu văn hoá tâm linh Nam Bộ [37], trên
cơ sở khái quát về văn hoá tinh thần, tâm linh, trong đó có TNTTH làng đã
chỉ ra sự tồn tại lâu bền của chúng trong tâm linh của người Việt ở Nam Bộ.
Những kết quả nghiên cứu đó đã giúp tác giả luận án có cái nhìn phong phú,
đa dạng và sâu sắc, súc tích hơn về nội dung đang nghiên cứu.
Đỗ Thị Minh Thuý, với bài viết “Biến động của tín ngưỡng dân gian
Thăng Long - Hà Nội và những ảnh hưởng của nó trong đời sống văn hóa
đô thị hiện nay” [134]. Bài viết đã làm rõ sự biến động trong tín ngưỡng dân
gian của Thăng Long - Hà Nội từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX,
trong đó nhấn mạnh đời sống tín ngưỡng của Hà Nội từ năm 1954 đến nay.
Tác giả còn chỉ ra thực trạng biến động của TNTTH làng qua khảo sát tại
cụm đình thuộc khu vực làng xã phía tây, tây nam kinh thành Thăng Long,
qua đó khẳng định: Vấn đề văn hóa các sinh hoạt tín ngưỡng với mục tiêu
xây dựng một đời sống tâm linh tích cực còn phù hợp và có giá trị cho đến
quá trình đô thị Hà Nội hiện nay. Những ý kiến đề cập trong bài viết có thể
coi là nguồn tư liệu tham khảo quý báu tác giả luận án tiếp tục đi sâu nghiên
cứu những vấn đề đặt ra trong luận án.
Trịnh Cao Tưởng, với cuốn sách Thành hoàng ở Việt Nam và Shinto
ở Nhật Bản: Một nghiên cứu so sánh [148]. Trong công trình này, tác giả
đã hệ thống, phân tích sự hình thành, các nghi lễ, tục thờ cúng của Thành
hoàng ở Việt Nam so sánh với tục thờ Shinto ở Nhật Bản. Tác giả cũng cho
thấy, dù có nguồn gốc hay hình thức khác nhau thì cả Thành hoàng ở Việt
Nam hay thờ Shinto ở Nhật Bản đều có sự ảnh hưởng sâu rộng đến ĐSTT
của cư dân mỗi quốc gia, đặc biệt là yếu tố tinh thần, văn hoá, tâm linh và
cách sống. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng này được thể hiện cụ thể như thế nào?
Ảnh hưởng của nó tới ĐSTT của người dân Nhật Bản và Việt Nam ra


17
sao?,… thì chưa được tác giả làm rõ. Mặc dù vậy, những nghiên cứu so
sánh đã đạt được của công trình đi trước này vẫn là căn cứ thực tiễn bổ ích
để tác giả luận án triển khai nội dung chương 3 của đề tài.
Đinh Khắc Thuân, với bài viết “Thờ cúng Thành hoàng ở Việt Nam
qua tài liệu Hán Nôm” [129]. Trong bài viết, tác giả đã khẳng định: Thờ
cúng Thành hoàng ở Việt Nam từ lâu có nguồn gốc cả ngoại lai (Trung
Quốc) và bản địa người Việt, nhằm tưởng nhớ người có công với làng và
mong muốn được thần che chở, phù trì. Xuyên suốt bài viết, là sự giới thiệu
khái quát những nghi lễ, phong tục thờ Thành Hoàng từ xa xưa của cư dân
Việt được ghi chép qua tài liệu Hán Nôm. Tác giả tiếp thu và so sánh đối
chiếu sự ảnh hưởng qua các tài liệu đi trước và tiếp tục khái quát đánh giá sự
ảnh hưởng của tín ngưỡng này đến ĐSTT của cư dân vùng NTHN hiện nay.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về thực trạng ảnh hưởng của
TNTTH làng đến ĐSTT của cư dân NTHN hiện nay còn nằm rải rác trong
các nghiên cứu. Hầu hết kết quả nghiên cứu của các tác giả đều chỉ ra
nguồn gốc, nghi lễ, tục thờ cúng các vị Thành hoàng ở Việt Nam. Những
nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu yếu tố triết học về tự
nhiên trong loại hình tín ngưỡng dân gian nói chung. Song, đó là cơ sở
khoa học để tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu theo hướng mới về TNTTH
làng của người Việt vùng NTHN.
1.3. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI
PHÁP NHẰM PHÁT HUY NHỮNG ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ ẢNH
HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG ĐẾN ĐỜI
SỐNG TINH THẦN CƯ DÂN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI HIỆN NAY

Mai Quang Hiện, Mai Diệu Anh, trong bài viết “Về vấn đề bảo tồn
những giá trị văn hóa và bảo đảm an ninh trật tự trong các lễ hội tôn giáo ở
Việt Nam hiện nay” [36], đã khẳng định: “Lễ hội là một loại hình sinh hoạt


18
văn hóa cộng đồng phổ biến và đậm đà bản sắc dân tộc, là tài sản vô giá
trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể, làm giàu và phát huy giá trị nền
văn hóa dân tộc. Qua sinh hoạt lễ hội, nhân dân được hưởng thụ và sáng tạo
văn hóa. Bài viết cũng đã chỉ ra thực trạng bảo tồn những giá trị văn hóa và
bảo đảm an ninh trật tự trong các lễ hội tôn giáo ở Việt Nam hiện nay và nêu
ra một số biện pháp tổ chức có hiệu quả các hoạt động lễ hội này: Cần chú ý
bảo tồn có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc trong lễ hội, loại
bỏ dần các yếu tố lạc hậu, xây dựng thêm các tiêu chí văn hóa mới phù hợp;
khôi phục, giữ lại nét riêng của mỗi lễ hội, gắn với truyền thống của vùng,
miền. Chính quyền địa phương các cấp cần quản lý chặt chẽ việc quy hoạch
sắp xếp các hàng quán, dịch vụ vui chơi giải trí hợp lý, tạo điều kiện để nhân
dân địa phương có thêm thu nhập, nhưng vẫn bảo đảm tính văn hóa trong
các hoạt động dịch vụ, không tạo kẽ hở nảy sinh các hiện tượng tiêu cực,
làm mất đi bản sắc văn hóa, ý nghĩa tốt đẹp của lễ hội,…” [36]. Những giải
pháp này chính là căn cứ thực tiễn cho tác giả luận án suy nghĩ, đưa ra các
giải pháp góp phần phát huy ảnh hưởng tích cực, bên cạnh đó hạn chế ảnh
hưởng tiêu cực của TNTTH làng đến ĐSTT vùng NTHN hiện nay.
Micrcea Eliade, với công trình khoa học Bàn về nguồn gốc các tôn
giáo [28]. Cuốn sách gồm 13 chương, với 515 trang. Từ sự hỗn tạp của
những biểu tượng, thần thoại, nghi lễ và những tư tưởng tôn giáo khác nhau
trên thế giới, Eliade đã tạo nên một bức tranh tầm vóc về mối quan hệ chặt
chẽ giữa con người và thế giới thần thánh, trải dài hàng nghìn năm. Đối với
Eliade, thay vì nghiên cứu lịch đại, tuân thủ nguyên tắc niên biểu cứng nhắc,
ông nghiên cứu đồng đại với sự so sánh (so sánh mô thức giữa các tôn giáo)
trên một phạm vi rộng lớn. Eliade nghiên cứu đa dạng từ các nền văn minh
cổ đại như Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Hoa, Hy - La, cho tới các vùng văn
hóa như châu Phi, châu Úc (Australia và New Zealand), Indonesia, Bắc cực,


19
các tộc người như người Iroquois, người Esquimo, Polynésian, Melanesian,
tộc Khond,… Những dẫn chứng mà Eliade đưa ra trong cuốn sách một cách
tự nhiên gợi cho người đọc những liên tưởng đến các tín ngưỡng bản địa trên
bản đồ văn hóa của Việt Nam. Ông đã đề cập đến nguồn gốc của “vua” hay
“thánh” ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có giải thích về Lạc Long Quân,
“vua rồng” - vị vua huyền thoại đầu tiên của Việt Nam. Đó chính là chỉ dẫn
quý báu cho tác giả luận án đi sâu tìm hiểu các vấn đề tín ngưỡng ở Việt
Nam, trong đó có TNTTH làng.
Jame George Frazer, với cuốn sách Cành vàng (Bách khoa thư về văn
hoá nguyên thuỷ) [29]. Cành Vàng với 1126 trang, J.Franzer đã trình bày sự
tiến hoá về mặt văn hoá của nhân loại dự trên mối quan hệ cả ma thuật, tôn
giáo và khoa học. Trong đó tác giả cũng đi sâu phân tích kỹ đời sống tôn
giáo, tín ngưỡng có sự ảnh hưởng nhất định đến đời sống tâm lý của con
người. Xét về phương diện tư liệu, Cành Vàng vẫn là một công trình khoa
học đây giá trị thực tiễn để tác giả luận án đi sâu tìm tòi luận cứ thực tiễn
cho luận án của mình.
Vũ Ngọc Khánh, trong Thờ cúng Thành hoàng làng ở đồng bằng Bắc
bộ [55], đã cho thấy, từ xưa đến nay, việc thờ cúng Thành hoàng ở vùng
nông thôn miền bắc Việt Nam rất phổ biến. Mỗi loại thờ cúng lại có những
hình thức, nghi thức thờ cúng không giống nhau. Trải qua bao thời gian, việc
thờ cúng Thành hoàng làng cũng bị mai một và thường ẩn dưới hình thức lễ
hội. Đề tài đi sâu phân tích, khái quát hiện trạng thờ cúng Thành hoàng ở
vùng nông thôn miền bắc Việt Nam, qua đó đề xuất các giải pháp để phát
huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của TNTTH làng ở
đồng bằng Bắc bộ, góp phần gìn giữ, tôn tạo, phát huy các giá trị văn hoá mà
cha ông để lại từ bao đời nay. Công trình khoa học này tuy chưa nêu ra được
các giải pháp mới cho vấn đề nghiên cứu, nhưng là tài liệu hữu ích tác giả


20
luận án định hướng, trình bày một cách khoa học và kỹ lưỡng đề tài của
mình, góp phần làm cơ sở cho việc phát huy những ảnh hưởng tích cực của
TNTTH làng ở vùng NTHN hiện nay.
Hoàng Thị Lan, trong Tín ngưỡng dân gian trong đời sống tinh thần
của người dân vùng Đồng bằng sông Hồng hiện nay [64] đã dày công
nghiên cứu những ảnh hưởng của các loại hình tín ngưỡng đến đời sống văn
hóa - tâm linh - tinh thần của cư dân đồng bằng sông Hồng trong đó có
TNTTH làng. Tác giả cũng chỉ rõ vai trò thủ lĩnh tinh thần của tín ngưỡng
bản địa mang đậm yếu tố dân gian trong đó có TNTTH làng với cư dân nói
chung, từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị cơ bản nhằm gìn giữ, bảo tồn,
phát huy giá trị, sức sống lâu bền của văn hoá, tín ngưỡng bản địa dân gian.
Các giải pháp tuy còn sơ lược, nhưng đã gợi mở cho tác giả luận án hướng
đánh giá về tín ngưỡng nói chung, TNTTH làng nói riêng (trên hai phương
diện chứa đựng cả yếu tố tích cực và tiêu cực) đến ĐSTT của cư dân vùng
NTHN hiện nay.
Nguyễn Nga Mỹ, với bài viết “Giáo dục và đời sống văn hoá, tinh
thần ở vùng ven đô Hà Nội” [91]. Bài viết đã cho thấy một bức tranh khá
hoàn chỉnh về một xã hội mang hơi thở của đô thị hiện đại xen kẽ với một xã
hội in đậm dấu ấn nông thôn nguyên vẹn giá trị truyền thống đang trong quá
trình đô thị hóa những năm qua ở các vùng NTHN. Sự đan xen này xảy ra ở
nhiều lĩnh vực khác nhau của ĐSTT và xã hội, đặc biệt là trong đời sống văn
hóa, sinh hoạt tinh thần hàng ngày (trong có có tín ngưỡng, tôn giáo), quan
hệ gia đình, xã hội, giáo dục cộng đồng,... Cư dân ở NTHN hiện không còn
đơn thuần là những người dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước,
những người công nhân làm nghề thủ công, hay các nghề truyền thống,
những thương nhân buôn bán quy mô nhỏ lẻ như trước đây, mà là một tập
hợp đa dạng bao gồm nhiều nhóm người, có nguồn gốc, công việc và thậm
chí cả vị trí, địa vị cũng rất khác nhau trong xã hội thời đó. Sự nhập cư ồ ạt


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×