Tải bản đầy đủ

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN TẠI CỘNG ĐỒNG TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TÁN VĂN THANH

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI
TÂM THẦN TẠI CỘNG ĐỒNG TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TÁN VĂN THANH

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI
TÂM THẦN TẠI CỘNG ĐỒNG TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngành : Công tác xã hội
Mã số : 876 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN TRUNG HẢI

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả những số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài
luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội về "Dịch vụ Công tác xã hội đối với người tâm
thần tại cộng đồng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng" là hoàn toàn trung thực và
không trùng lắp với bất kỳ đề tài nào khác trong cùng lĩnh vực nghiên cứu.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn

Tán Văn Thanh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
VỚI NGƯỜI TÂM THẦN TẠI CỘNG ĐỒNG ..................................................... 8
1.1. Những vấn đề lý luận về tâm thần ....................................................................... 8
1.2. Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người
tâm thần tại cộng đồng .............................................................................................. 13
1.3. Một số lý thuyết ứng dụng trong công tác xã hội đối với người
tâm thần tại cộng đồng .............................................................................................. 17
1.4. Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội đối với người tâm thần tại cộng đồng
và các mô hình hỗ trợ người tâm thần tại cộng đồng ................................................ 25
1.5. Các yếu tố tác động tới hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với
người tâm thần tại cộng đồng .................................................................................... 27
Chương 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI
TÂM THẦN TẠI CỘNG ĐỒNG TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG35
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu và tình hình người tâm thần tại Đà Nẵng ...... 35
2.2. Mô tả về đặc điểm khách thể nghiên cứu ........................................................... 38


2.3. Thực trạng các vấn đề tâm thần của người tâm thần ......................................... 42
2.4. Thực trạng cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người tâm thần tại cộng
đồng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng ....................................................................... 45
2.5. Các yếu tố tác động tới hoạt động dịch vụ công tác xã hội với người tâm thần
tại cộng đồng ............................................................................................................. 55
Chương 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CUNG CẤP
DỊCH VỤ CHO NGƯỜI TÂM THẦN TẠI CỘNG ĐỒNG TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ....................................................................................... 62
3.1. Bối cảnh kinh tế - văn hóa và xã hội ảnh hưởng đến việc đề xuất giải pháp nâng
cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội đối với người tâm thần tại cộng đồng ............ 62
3.2. Giải pháp, đề xuất nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội cho người tâm
thần tại cộng đồng ..................................................................................................... 67
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 75


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BTT

: Bệnh tâm thần

NTT

: Người tâm thần

CTXH

: Công tác xã hội

DVXH

: Dịch vụ xã hội

NKT

: Người khuyết tật


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Số liệu thống kê NTT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ........................... 34
Bảng 2.2. Trình độ học vấn của khách thể nghiên cứu ............................................. 37
Bảng 2.3. Khả năng thực hiện hoạt động tự phục vụ sinh hoạt và lao động của NTT40
Bảng 2.4. Nhu cầu cần hỗ trợ của NTT .................................................................... 42
Bảng 2.5. Hỗ trợ về tiếp cận dịch vụ y tế cộng đồng ................................................ 45
Bảng 2.6. Tham gia vào các giai đoạn mở hồ sơ quản lý trường hợp ...................... 48
Bảng 2.7. Quyền lợi của gia đình NTT ..................................................................... 49
Bảng 2.8. Mức độ hài lòng của gia đình NTT về dịch vụ quản lý trường hợp ......... 52
Bảng 2.9. Đánh giá chất lượng các nguồn lực được trợ giúp ................................... 54
Bảng 2.10. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới hiệu quả dịch vụ CTXH ............. 54
Bảng 2.11. Cơ chế chính sách ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ CTXH .......... 55
Bảng 2.12. Năng lực cán bộ ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ CTXH ............. 56
Bảng 2.13. Đặc điểm NTT ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ CTXH ............... 57
Bảng 2.14. Cơ sở cung cấp dịch vụ ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ CTXH .. 58


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Lượt khám bệnh phân theo độ tuổi năm 2017 ...................................... 35
Biểu đồ 2.2. Nghề nghiệp của khách thể nghiên cứu ................................................ 37
Biểu đồ 2.3. Tình trạng nhà ở của gia đình NTT ...................................................... 39
Biểu đồ 2.4. Hiện trạng thể chất và tinh thần, tình cảm của NTT ............................ 41
Biểu đồ 2.5. Đánh giá kết quả hỗ trợ kết nối y tế cộng đồng.................................... 47
Biểu đồ 2.6. Gia đình NTT tiếp nhận nguồn lực hỗ trợ ............................................ 50


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, đồng hành cùng sự phát triển về mọi mặt của đời
sống xã hội trong cả nước thì Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến chất lượng đời
sống an sinh của hầu hết các đối tượng yếu thế. Trong đó, có thể kể đến nhóm đối
tượng NTT đang sinh sống tại cộng đồng. Với chủ trương nâng cao chất lượng cuộc
sống cho nhóm đối tượng này thì đã có nhiều chính sách đã ban hành và đạt được
thành quả nhất định. Trong đó, có thể kể đến quyết định số 1215/QĐ-TTg ngày 22
tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc “ Phê duyệt đề án trợ giúp xã
hội và phục hồi chức năng cho NTT, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai
đoạn 2011–2020”.
Tại thành phố Đà Nẵng, công tác hỗ trợ cho NTT đã và đang có nhiều thuận lợi
đáng kể. NTT được tiếp cận nhiều những DVXH theo hướng CTXH chuyên nghiệp.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được thì vẫn còn những khó khăn thách
thức trong việc trợ giúp NTT theo định hướng của nghề CTXH. Đồng thời, Bản
thân nhà nghiên cứu đang làm việc tại Trung tâm Cung cấp dịch vụ CTXH. Công
việc chuyên môn chính là cung cấp dịch vụ CTXH cho các đối tượng yếu thế trong
đó có NTT tại cộng đồng. Thường xuyên tiếp xúc làm việc với NTT, gia đình của
họ và phối hợp làm việc với nhiều cá nhân, tổ chức cung cấp DVXH tại 56
xã/phường trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nên cá nhân nhà nghiên cứu đã xét thấy
sự cần thiết phải có những nghiên cứu về các DVXH cho NTT trên địa bàn. Từ đó
góp phần xây dựng giải pháp khắc phục những hạn chế thiếu sót, phát huy tính
chuyên nghiệp trong cung cấp dịch vụ CTXH cho NTT.
CTXH được vận dụng vào cung cấp dịch vụ cho NTT được xem là quan trọng.
Một nghề mang tính trợ giúp xã hội theo hướng chuyên nghiệp, tạo nên những khác
biệt trong cách thức trợ giúp cho NKT nói chung và cá nhân NTT nói riêng. Những
thách thức, trở ngại của NTT trong việc nhận diện nhu cầu, đề xuất những phương
hướng trợ giúp và khả năng tham gia vào quá trình tiếp cận các nhu cầu phù hợp đã
nhấn mạnh đến tầm quan trọng của dịch vụ CTXH đối với NTT. Đặc biệt đối với
NTT, việc vận dụng các dịch vụ trợ giúp xã hội khác chưa đem lại hiệu quả bằng
1


việc vận dụng tiến trình CTXH trong việc cung cấp các dịch vụ cho NTT và gia
đình NTT tại thành phố Đà Nẵng.
Xuất phát từ những lý do trên, bản thân hiện đang công tác trong lĩnh vực
nghiên cứu, tôi chọn đề tài “ Dịch vụ công tác xã hội đối với người tâm thần tại
cộng đồng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Nội dung nghiên cứu về người khuyết tật và người tâm thần
Các vấn đề liên quan đến NKT, NTT đã và đang nhận được sự quan tâm
nghiên cứu của các nhà khoa học. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả
lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến NKT,
NTT, cụ thể sau:
Các nghiên cứu lý luận phục vụ đào tạo CTXH đối với NKT, NTT
Công trình nghiên cứu của tác giả Hà Thị Thư đã trình bày tổng quát nhất về
CTXH với NKT, các mô hình hỗ trợ, các phương pháp tiếp cận, các chương trình
chính sách của nhà nước đối với NKT, vai trò, các kỹ năng làm việc với NKT [25].
Tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên) đã nghiên cứu và xây dựng giáo
trình đào tạo CTXH với NKT ở bậc Đại học và sau đại học với nội dung: Tổng quan
về NKT, trải nghiệm khuyết tật và các kỹ năng thực hành CTXH [9].
Các nghiên cứu về dịch vụ CTXH đối với NKT
Tác giả Lê Thanh Thủy với đề tài luận văn thạc sỹ “CTXH đối với người
khiếm thị từ thực tiễn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội” nghiên cứu về thực trạng
CTXH đối với NKT tại cộng đồng. Từ đó, vận dụng các phương pháp CTXH
chuyên nghiệp trong các hoạt động trợ giúp [26].
Tác giả Mai Đức Vũ thực hiện đề tài “Dịch vụ CTXH đối với bộ đội xuất
ngũ bị bệnh tâm thần từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” với việc nghiên cứu về thực
trạng bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần tại thành phố Đà Nẵng, các dịch vụ CTXH
đã được triển khai bao gồm: hỗ trợ tiếp cận y tế, quản lý trường hợp, tham vấn tâm
lý, hỗ trợ sinh kế. Từ đó đưa ra những biện pháp thúc đẩy phát triển dịch vụ công
tác xã hội đối với bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
[27].
2


Tác giả Nguyễn Thị Diễm Hương và Tạ Thị Thanh Thủy (trường Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh) có bài viết “Thực hành
CTXH trong lĩnh vực khuyết tật” với việc thực hành các phương pháp nhằm tăng
cường năng lực cho người khuyết tật, phá vỡ những rào cản do phân biệt đối xử và
thành kiến gây nên từ đó giúp cho họ tham gia hòa nhập xã hội [8].
Tác giả TS. Nguyễn Trung Hải (chủ biên) nghiên cứu về dịch vụ xã hội cho
trẻ em mắc BTT với cuốn sách có tiêu đề “Phát triển dịch vụ chăm sóc xã hội đối
với trẻ em mắc bệnh tâm thần” để cung cấp cho những nhà nghiên cứu và bạn đọc
về những nội dung về thực trạng các dịch vụ với trẻ tâm thần hiện nay, cũng như đề
xuất các giải pháp nhằm phát triển các dịch vụ cho trẻ tâm thần [16].
Các hội thảo, dự án liên quan đến việc hỗ trợ cho NKT, NTT
“Hội thảo Quốc tế về Công ước quyền người khuyết tật và vai trò của các hội
người khuyết tật” do Bộ Ngoại giao chủ trì. Đây là hoạt động là trong khuôn khổ
Dự án về “Tăng cường năng lực đảm bảo các quyền con người của Việt Nam” do
Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tài trợ. Công ước nhìn nhận NKT
trở thành “chủ thể” có vị thế, quyền lợi hợp pháp và là thành viên tích cực trong xã
hội. Công ước thúc đẩy việc bảo đảm người khuyết tật được thụ hưởng các quyền
và tự do cơ bản như tất cả mọi người.
Hội thảo “Thúc đẩy cộng đồng: Tăng quyền cho người khuyết tật” được diễn
ra vào ngày 26/3/2015 tại Hà Nội. Hội thảo nhằm giới thiệu dự án Rights Now ,
đánh giá thực trạng thực thi quyền của người khuyết tật sau khi Công ước quốc tế
về quyền của người khuyết tật được phê chuẩn tại Việt Nam, đồng thời cũng là cơ
hội để chia sẻ kỹ năng, công cụ, kinh nghiệm và tài liệu hỗ trợ nâng cao năng lực
cho Hội/nhóm/tổ chức của hoặc vì người khuyết tật Việt Nam trong tương lai.
Hội thảo khoa học với chủ đề: “Quản lý trường hợp với người khuyết tật tại
Việt Nam” do Khoa Công tác xã hội của Học viện khoa học xã hội Việt Nam tổ
chức vào ngày 22/10/2015. Hội thảo hướng đến vấn đề “Quản lý trường hợp với
người khuyết tật” Hội thảo đã mở ra một diễn đàn khoa học bổ ích cho các nhà khoa
học trong nghiên cứu và đào tạo, các học viên có cơ hội tiếp cận và tìm hiểu sâu về
vấn đề nghiên cứu [14].
3


Thông qua những công trình nghiên cứu, bài viết, chương trình hội thảo có
liên quan đến đề tại. Có thể nhận thấy NKT nói chung và NTT nói riêng luôn có
tầm quan trọng trong mối quan tâm của Đảng và Nhà nước ta qua các giai đoạn.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu và vận dụng các dịch vụ CTXH trong trợ giúp cho NTT
còn nhiều hạn chế. Tại thành phố Đà Nẵng hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu
chuyên sâu về dịch vụ CTXH đối với NTT tại cộng đồng. Đây là một trong những
lý do nhà nghiên cứu thực hiện đề tài này.
2.2. Các nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội đối với người tâm thần
Dịch vụ CTXH đối với NTT đã được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh và góc
độ tiếp cận khác nhau. Tùy vào từng thời điểm và không gian nghiên cứu thông qua
các bài viết, đề tài nghiên cứu và công trình khoa học đã góp phần làm rõ hơn về
các dịch vụ cung cấp công tác xã hội cho NTT. Tuy nhiên, trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng hiện chỉ có đề tài nghiên cứu về “Dịch vụ công tác xã hội đối với bộ đội
xuất ngũ bị bệnh tâm thần từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”, vẫn chưa có đề tài
nghiên cứu chuyên sâu về việc cung ứng dịch vụ CTXH cho NTT tại cộng đồng
theo hướng chuyên nghiệp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng dịch vụ CTXH đối với NTT.
Trên cơ sở phân tích các yếu tố tác động tới hiệu quả của dịch vụ để từ đó đưa ra
giải pháp, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của dịch vụ CTXH với NTT tại cộng
đồng ở thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nắm rõ cơ sở lý luận liên quan đến đề tài, thông qua việc nghiên cứu đầy
đủ, chính xác các văn bản, tài liệu liên quan đến NTT và CTXH đối với NTT;
- Đánh giá được thực trạng dịch vụ CTXH đối với NTT tại cộng đồng từ
thực tiễn thành phố Đà Nẵng;
- Bổ sung và đề xuất các dịch vụ CTXH theo hướng chuyên nghiệp cho gia
đình NTT tại cộng đồng đang sinh sống.

4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Dịch vụ CTXH đối với người tâm thần tại cộng đồng tại thành phố Đà Nẵng.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Người chăm sóc/gia đình NTT;
- Cán bộ chăm sóc NTT;
- Cán bộ/Cộng tác viên CTXH;
- Các cá nhân, tổ chức, cơ quan đoàn thể có liên quan.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
-

Phạm vi nghiên cứu về không gian: Khảo sát tại 3 quận/huyện: Hòa

Vang, Liên Chiểu, Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng;
-

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Năm 2018;

-

Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Các dịch vụ công tác xã hội đối với
người tâm thần, cụ thể:
 Dịch vụ hỗ trợ y tế cộng đồng
 Dịch vụ quản lý trường hợp
 Dịch vụ kết nối nguồn lực

-

Khách thể nghiên cứu: Người tâm thần có mức độ giám định tâm thần

nặng trở lên thuộc các dạng tâm thần:
 Tâm thần phân liệt
 Động Kinh
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Phương pháp luận duy vật lịch sử: Đối tượng nghiên cứu được đặt trong
bối cảnh lịch sử, trên địa bàn, vùng lãnh thổ cụ thể. Tại đây, xem xét mối tương
quan lịch sử giữa các mối quan hệ để có cái nhìn tổng thể về các yếu tố tác động
ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu;
- Phương pháp luận duy vật biện chứng: Các yếu tố về môi trường, mối
quan hệ xung quanh của đối tượng được xem xét phân tích cụ thể, đồng thời xem
xét hoạt động trợ giúp đối với NTT và mối tương quan giữa chúng.
5


5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu văn bản: Tổng hợp và phân tích thông tin sơ cấp
và thứ cấp về người tâm thần, các hình thức đã được hỗ trợ cho đối tượng và gia
đình đối tượng trong thời gian qua. Lập mẫu phiếu thống kê về các thông tin xoay
quanh thực trạng tại địa bàn nghiên cứu;
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Phiếu hỏi được xây dựng với 120 mẫu phiếu
điều tra trên tổng số 3 quận/huyện nhằm xác định được các thông tin về đối tượng
nghiên cứu, những đặc điểm tồn tại, hạn chế của từng cá thể và các dịch vụ đã được trợ
giúp nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu. Từ đó có những động thái tổng hợp đánh
giá xác với tình hình thực tế và có tính chính xác cao trong nghiên cứu;
- Phương pháp quan sát: Thông qua quá trình vãng gia tại gia đình NTT,
phương pháp quan sát được thực hiện nhằm đánh giá được các đặc điểm về môi
trường sống, điều kiện vật chất đáp ứng nhu cầu của NTT; Mối quan hệ giữa các
thành viên gia đình đối với NTT; Kỹ năng, thái độ, sức khỏe thể chất được bộc lộ
qua trạng thái bên ngoài của NTT;
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp thực hiện với 8 cuộc phỏng vấn
dành cho các khách thể nghiên cứu là cán bộ, nhân viên CTXH tại các đơn vị cung
cấp dịch vụ, người giám hộ/người chăm sóc NTT nhằm xác định được chi tiết
những yêu cầu trong quá trình nghiên cứu và nhằm mục tiêu củng cố những thông
tin được thu thập qua nhiều phương pháp khác nhau;
- Phương pháp xử lý số liệu:
Tổng hợp, phân tích số liệu được thu thập thông qua nghiên cứu định tính,
định lượng nhằm đưa ra kết luận chính xác, mang tính khoa học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Góp phần làm rõ thêm những lý luận về CTXH đối với những vấn đề cụ
thể. Trong đó tập trung nhấn mạnh đến các kiến thức chuyên ngành CTXH như các
lý thuyết, phương pháp tiếp cận, kỹ năng nghiên cứu đối tượng được vận dụng hiệu
quả vào thực tiễn;

6


- Làm rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của CTXH trong các lĩnh vực đời
sống xã hội, khẳng định tính khoa học của CTXH.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Thúc đẩy sự phát triển dịch vụ CTXH đối với nhóm đối tượng cụ thể.
Nhấn mạnh đến việc nâng cao chất lượng và bổ sung hoàn thiện dịch vụ CTXH đối
với người bệnh tâm thần tại cộng đồng phù hợp với tình tình thực tiễn tại địa
phương;
- Là tài liệu tham khảo đối với các cơ sở nghiên cứu và vận dụng vào nhóm
đối tượng trong CTXH tại cộng đồng;
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm tài liệu thực tiễn cho hoạt
động trợ giúp cá nhân, gia đình NTT tại cộng đồng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội với người tâm
thần tại cộng đồng.
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội với người tâm thần tại cộng
đồng tại thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả cung cấp các dịch vụ cho
người tâm thần tại cộng đồng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI
NGƯỜI TÂM THẦN TẠI CỘNG ĐỒNG
1.1. Những vấn đề lý luận về tâm thần
1.1.1. Khái niệm bệnh tâm thần và các khái niệm liên quan
- Sức khỏe tâm thần
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2002) đưa ra quan điểm sức khỏe tâm
thần được hiểu là “trạng thái thoải mái, trong đó cá nhân có thể thể hiện được những
năng lực của mình, có thể ứng phó được với những stress thông thường trong cuộc
sống, làm việc một cách hiệu quả và có khả năng đóng góp cho cộng đồng”.
- Bệnh tâm thần
Tiếp cận từ góc độ y học, bệnh là những vấn đề bất thường của sức khỏe.
Do vậy bệnh tâm thần chính là những bất thường của sức khỏe tâm thần. Những bất
thường về sức khỏe tâm thần rất đa dạng và phong phú. Đó có thể chỉ là những
giảm sút về trí nhớ, chú ý; cũng có thể là những thay đổi về tính tình hoặc là có
những hành vi kích động không có nguyên nhân rõ ràng [19,Tr.12].
Có những BTT nặng (các bệnh loạn thần), quá trình phản ánh thực tại sai
lệch trầm trọng, hành vi, tác phong bị sai lệch nhiều. Có những bệnh BTT nhẹ (các
bệnh tâm căn, nhân cách bệnh), quá trình phản ánh thực tại cũng như hành vi tác
phong rối loạn ít, bệnh nhân vẫn còn có thể sinh hoạt, lao động, học tập được, tuy
có giảm sút.
BTT ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của từng cá nhân trong gia đình.
Không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân người bệnh, mà còn ảnh hưởng đến đời
sống vật chất, tình thần của mọi thành viên. BTT không được can thiệp hỗ trợ điều
trị kịp thời, phù hợp sẽ có thể dẫn đến tình trạng bệnh tiến triển nặng và gây ảnh
hưởng đến khả năng phục hồi hòa nhập của người bệnh.
1.1.2. Một số dạng bệnh tâm thần phổ biến
 Bệnh tâm thần phân liệt
Các rối loạn phân liệt có đặc điểm chung là rối loạn cơ bản và đặc trưng về tư
duy, tri giác và cảm xúc không thích hợp hay cùn mòn, ý thức còn rõ ràng và
8


năng lực trí tuệ thường được tư duy.
Bệnh nhân thường cảm thấy những suy nghĩ của bản thân bị người khác hiểu
rõ, hay ý nghĩ của mình vang thành tiếng hay xuất hiện những âm thanh vang
vọng bên tai, thôi thúc bản thân thực hiện những hành vi không rõ ràng. Cảm thấy
có sức mạnh tự nhiên hay siêu nhiên đang hoạt động làm ảnh hưởng đến ý nghĩ,
cảm xúc hay hành vi của mình. Tri giác thường bị rối loạn theo những cách khác
nhau, thường có những ảo thanh bình luận về bệnh nhân. Nét đặc trưng của cảm
xúc là nông cạn, thất thường hay không thích hợp. Trong một số trường hợp tư
duy trở nên gián đoạn hay thêm từ khi nói hoặc lời nói không phù hợp. Tác phong
có thể trở nên rối loạn trầm trọng, kích động hay sững sờ giữ nguyên tư thế, tập
tính cá nhân có thể biến đổi, trở nên mất thích thú, thiếu mục đích, lười nhác và
cách ly xã hội. Bệnh thường gặp ở lứa tuổi từ 18 - 30 và tỷ lệ mắc bệnh từ 0,5% 1% dân số. Điều trị chủ yếu bằng các thuốc an thần kinh phối hợp với liệu pháp
lao động thích ứng xã hội.
 Bệnh động kinh
Bệnh động kinh được xếp vào bảng phân loại chuyên khoa thần kinh, nhưng
ở nước ta do ngành tâm thần quản lý và điều trị ngoại trú.
Đây là bệnh mãn tính, có nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc trưng là sự lặp đi
lặp lại các cơn co giật do sự phóng điện quá mức của các tế bào thần kinh não bộ.
Bệnh cảnh lâm sàng đa dạng và có 2 đặc điểm sau:
- Tính chất phát sinh đột ngột, cơn.
- Các triệu chứng bệnh lý mãn tính và nặng dần.
Có nhiều thể lâm sàng của bệnh động kinh. Đặc điểm lâm sàng chủ yếu của
động kinh thái dương (động kinh tâm thần) là rối loạn tâm thần xuất hiện đột
ngột, trong cơn thường có rối loạn ý thức, thường có những hành vi nguy hiểm
như giết người trong cơn chạy thẳng. Rối loạn tồn tại trong thời gian ngắn và sau
đó mất đi đột ngột, sau cơn quên tất cả sự việc xảy ra trong cơn.
Tỷ lệ mắc bệnh động kinh từ 0,4 - 0,5% dân số, thường bắt đầu ở lứa tuổi
< 20. Phương pháp cận lâm sàng phát hiện động kinh là ghi điện não có sóng
động kinh. Điều trị chủ yếu bằng các thuốc kháng động kinh. Đối với động kinh
9


tâm thần cần phối hợp thuốc kháng động kinh với các thuốc an thần kinh.
1.1.3. Nguyên nhân của bệnh tâm thần
Nguyên nhân gây nên BTT là một vấn đề phức tạp. Hiện nay, một số bệnh đã
được xác định rõ nguyên nhân những vẫn còn bệnh chưa nhận định rõ. Xung
quanh vấn đề bệnh nguyên và bệnh sinh các BTT còn tồn tại nhiều quan điểm và
giả thuyết khác nhau.
 Nguyên nhân thực thể
Là những bệnh mà nguyên nhân do tổn thương trực tiếp tổ chức não hay
ngoài não gây trở ngại hoạt động của não.
- Do tổn thương trực tiếp đến tổ chức não:
+ Chấn thương sọ não.
+ Nhiễm trùng thần kinh (viêm não, giang mai, thần kinh…)
+ Nhiễm độc thần kinh (nghiện rượu, ma túy, nhiễm độc thực phẩm, nhiễm độc
hóa chất công nghiệp, nông nghiệp…)
+ Các bệnh mạch máu não, các tổn thương não khác (u não, teo não, xơ rải rác,
tai biến mạch máu não…)
- Do các bệnh cơ thể ảnh hưởng đến hoạt động não:
+ Các bệnh nội khoa, nội tiết.
+ Các bệnh về chuyển hóa và thiếu sinh tố…
 Nguyên nhân tâm lý
- Bệnh loạn thần phản ứng bao gồm: loạn thần phản ứng cấp, rối loạn sang chấn
sau stress, rối loạn sự thích ứng;
- Căng thẳng tâm lý dẫn đến bệnh tâm căn, rối loạn dạng cơ thể, rối loạn phân ly;
- Rối loạn hành vi ở thiếu niên do giáo dục không đúng, môi trường xã hội không
thuận lợi;
- Rối loạn ám ảnh, lo âu…


Nguyên nhân do cấu tạo thể chất bất thường và phát triển tâm lý gây ra

- Các di tật bẩm sinh;
- Thiếu sót về hình thành nhân cách.
 Các nguyên nhân chưa rõ ràng
10


- Do có sự kết hợp phức tạp của nhiều nguyên nhân khác nhau như di truyền,
chuyển hóa, miễn dịch, cấu tạo thể chất… nên khó xác định nguyên nhân chủ yếu.
Các rối loạn tâm thần nội sinh thường gặp là:
+ Bệnh tâm thần phân liệt.
+ Rối loạn cảm xúc lưỡng cực.
+ Động kinh nguyên phát.
 Các nhân tố thuận lợi cho bệnh tâm thần phát sinh
- Nhân tố di truyền
Vấn đề di truyền tất nhiên có ảnh hưởng xấu đến một số BTT nhưng không
phải là tuyệt đối. Có khi BTT xuất hiện ở một thành viên bất kỳ trong gia đình mà
không có ở các thành viên còn lại, có trường hợp cha mẹ đều có bệnh mà con
cháu vẫn khỏe mạnh bình thường. Cũng có trường hợp nhân tố di truyền không
tác động vào thế hệ tiếp theo mà vào thế hệ sau nữa.
- Yếu tố nhân cách
+ Nhân cách bao gồm: thích thú, n ă n g l ự c , t í n h c á c h , khí chất,…
+ Nhân cách mạnh, bền vững là một nhân tố chống lại sự phát sinh các BTT, nhất
là các bệnh do căn nguyên tâm lý. Khi bị BTT thì người có nhân cách vững bị nhẹ
hơn và hồi phục nhanh hơn.
+ Nhân cách yếu, không bền vững là một yếu tố thuận lợi cho BTT phát sinh, khi
mắc BTT sẽ hồi phục khó khăn và chậm.
- Tuổi tác
Từng giai đoạn lứa tuổi khác nhau có những đặc điểm riêng biệt, vì thế
những loại BTT sẽ xuất hiện ở từng giai đoạn lứa tuổi khác nhau, xảy ra ở lứa tuổi
này mà ít xảy ra ở lứa tuổi khác.
- Giới tính
Nam giới thường hay mắc BTT nhiều hơn nữ giới. Các BTT do chấn thương
sọ não, nghiện rượu, bệnh động kinh… thường gặp ở nam giới. Các bệnh rối loạn
phân ly (histeria), rối loạn cảm xúc lưỡng cực, trầm cảm, lo âu… hay gặp ở nữ giới.
Đặc biệt phụ nữ còn có những rối loạn tâm thần do những sự biến động của nội tiết
vào các thời kỳ: dậy thì, kỳ kình nguyệt, sinh nở, tiền mãn kinh mà và mãn kinh.
11


- Tình trạng sức khỏe tâm thần
Trên thực tế lâm sàng thường gặp những BTT phát sinh khi sức khỏe bị
giảm sút, mất ngủ kéo dài, thiếu dinh dưỡng lâu ngày, làm việc quá sức… Khi
người BTT quá suy kiệt thì cần phải nâng cao thể trạng để giúp người bệnh nhanh
chóng hồi phục.
1.1.4. Nhu cầu của người tâm thần và gia đình họ đang gặp phải tại cộng đồng
Nhu cầu của NTT và gia đình phụ thuộc vào nhiều yếu tố tác động khác
nhau. Đối với NTT thuộc dạng khuyết tật tâm thần phân liệt và động kinh thì dựa
vào đặc điểm khuyết tật sẽ phát sinh các nhu cầu phù hợp. Đồng thời, NTT thuộc
dạng khuyết tật nặng và đặc biệt nặng thì các nhu cầu đa phần thiên về việc hỗ trợ
chăm sóc y tế, chăm sóc nuôi dưỡng, và các hỗ trợ khác liên quan đến việc giải
quyết khó khăn đột xuất. Cụ thể với những nhu cầu cơ bản sau:
- Nhu cầu hỗ trợ y tế là nhu cầu thiết yếu của NTT, tất cả các trường hợp
BTT ở mức độ nặng trở lên đều phụ thuộc vào y tế với những hoạt động chăm sóc,
điều trị và sử dụng thuốc đặc trị thường xuyên. Ngoài việc thăm khám điều trị thì
công tác chăm sóc sức khỏe với những hình thức can thiệp y tế khác nhau đều được
gia đình mong muốn hỗ trợ thường xuyên;
- Với NTT không có khả năng hoặc hạn chế khả năng lao động, tự phục vụ
sinh hoạt thì nhu cầu có người chăm sóc, hỗ trợ chăm sóc nuôi dưỡng là cần thiết.
Để giải quyết những khó khăn gặp phải trong quá trình sinh hoạt thì NTT luôn cần
người chăm sóc hỗ trợ;
- Nhu cầu được kết nối chuyển gởi dịch vụ, trong đó gia đình NTT mong
muốn nhận được sự ghi nhận về điều kiện sống của gia đình, những thông tin của
NTT liên qua đến tình hình sức khỏe tâm thần, những nhu cầu thiết thực được trợ
giúp. Từ đó gia đình mong muốn được giới thiệu những nguồn lực phù hợp với
hoàn cảnh sống của cá nhân và gia đình NTT;
- Điều kiện sống khó khăn, thường xuyên xuất hiện những vấn đề cần giải
quyết liên quan đến tài chính gia đình. Chính những tồn tại đó đã xuất hiện những
nhu cầu cần hỗ trợ khó khăn đột xuất như tiền hoặc hiện vật từ các cá nhân, tổ chức.
Ngoài ra, những trường hợp gia đình có khả năng lao động nhưng điều kiện kinh tế
12


hạn chế thì thường có nhu cầu hỗ trợ sinh kế, học nghề, giới thiệu việc làm hoặc hỗ
trợ cải thiện điều kiện cơ sở vật chất;
- Trong tâm trí của NTT thường xuyên xuất hiện những suy nghĩ, những ức
chế về mặt tâm lý nhưng không nhận được sự quan tâm từ phía gia đình. Chính vì
vậy, nhu cầu được quan tâm thăm hỏi, chia sẻ những tâm tư, suy nghĩ của cá nhân
NTT. Đối với gia đình NTT thì việc thường xuyên chịu những áp lực về những khó
khăn trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng NTT nên nhu cầu cần chia sẻ, thấu hiểu
tâm tư tình cảm của họ được xem trọng và mong muốn đáp ứng;
- Các nhu cầu khác như hỗ trợ chế độ chính sách, tham vấn tâm lý, tập huấn
nâng cao kỹ năng chăm sóc cho NTT đều được gia đình NTT mong muốn hỗ trợ
với từng hoàn cảnh, điều kiện sống phù hợp.
1.2. Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người tâm thần
tại cộng đồng
1.2.1. Khái niệm dịch vụ công tác xã hội và các khái niệm liên quan
 Khái niệm dịch vụ xã hội
Tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Huấn (2012) cho rằng: Dịch vụ xã hội là dịch
vụ đáp ứng nhu cầu của cộng đồng cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm
bảo phúc lợi xã hội, đề cao giá trị đạo lý, nhân văn, vì con người; là hoạt động mang
bản chất kinh tế - xã hội, do nhà nước, thị trường hoặc xã hội dân sự cung ứng, tùy
theo tính chất thuần công, không thuần công hay tư của từng loại hình dịch vụ, bao
gồm các lĩnh vực: giáo dục – đào tạo, y tế, khoa học – công nghệ, văn hóa – thông
tin, thể dục – thể thao và các trợ giúp xã hội khác [23].
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Dịch vụ xã hội là các hoạt động
cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm
đảm bảo các giá trị và chuẩn mực.
Khái niệm này đã phản ánh các hoạt động can thiệp nhằm vào các nhu cầu và
vấn đề của các nhóm đối tượng trong đó có đối tượng dễ tổn thương/nhóm yếu thế.
Như vậy, có thể nhận thấy DVXH cho nhóm đối tượng yếu thế chính là việc cung
cấp các hoạt động nhằm phòng ngừa, khắc phục hậu quả và giúp hòa nhập cộng
đồng nhằm đảm bảo cân bằng các gia trị và chuẩn mực xã hội.
13


 Khái niệm Công tác xã hội
Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp
các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng
cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn
lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa
các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội (Bùi Thị Xuân Mai, 2010) [17].
 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội
Dịch vụ CTXH chính là việc cung cấp các hoạt động trợ giúp chuyên nghiệp
cho các trường hợp là cá nhân, gia đình và cộng đồng nhằm phòng ngừa, khắc phục
và hướng đến hòa nhập cộng đồng trên cơ sở đáp ứng những nhu cầu thiết yếu, vấn
đề tồn tại hướng đến đảm bảo an sinh xã hội.
 Khái niệm cộng đồng
Một cộng đồng là một nhóm xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng
một môi trường thường là có cùng các mối quan tâm chung. Trong cộng đồng
người đó là kế hoạch, niềm tin, các mối ưu tiên, nhu cầu, nguy cơ và một số điều
kiện khác có thể có và cùng ảnh hưởng đến đặc trưng và sự thống nhất của các
thành viên trong cộng đồng (theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).
Như vậy, khái niệm Dịch vụ CTXH đối với NTT tại cộng đồng chính là một
hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựa trên việc cung cấp một hoặc nhiều các
hoạt động trợ giúp tại cộng đồng cho nhóm đối tượng là cá nhân và gia đình người
tâm thần. Trên cơ sở vận dụng tiến trình CTXH chuyên nghiệp nhằm giúp phòng
ngừa, can thiệp, phục hồi và phát triển hướng đến việc hòa nhập cộng đồng xã hội
cho NTT.
1.2.2. Dịch vụ công tác xã hội với người tâm thần tại cộng đồng
 Dịch vụ hỗ trợ y tế cộng đồng
Dịch vụ hỗ trợ y tế cộng đồng cho NTT là loại hình dịch vụ có sự liên kết chặt
chẽ giữa các đơn vị trong việc giải quyết những vấn đề về sức khỏe tâm thần tại
cộng đồng. Với nhiều hoạt động hỗ trợ có tính chuyên môn cao như hỗ trợ tiếp cận
bảo hiểm y tế, tiếp cận dịch vụ khám và sử dụng thuốc định kỳ tại các trạm y tế
xã/phường, CTXH đối với NTT tại khu điều dưỡng luân phiên tại Trung tâm Điều
14


dưỡng người tâm thần, kết nối thăm khám và điều trị nội trú cho NTT tại Bệnh
viện tâm thần,... Mỗi một đơn vị đều có nhân viên CTXH với vai trò là người kết
nối, liên kết các đơn vị hỗ trợ, tạo thành mạng lưới khép kín giúp đảm bảo chăm
sóc sức khỏe tốt nhất cho NTT.
Nhiều hoạt động cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho NTT thực hiện xuyên suốt một
quá trình khép kín giúp tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần ban đầu
cho đến các hoạt động can thiệp điều trị chuyên sâu. Dựa trên tình hình thực tế của
từng gia đình NTT sẽ có những dịch vụ cung ứng hỗ trợ y tế khác nhau nhằm đáp
ứng giải quyết kịp thời tình hình sức khỏe tâm thần của người bệnh. Đồng thời
giảm thiểu tối đa thời gian, công sức của người chăm sóc, gia đình NTT.
Nhân viên CTXH tại các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế tại công đồng
phải có kiến thức chuyên môn về cơ chế chính sách liên quan đến công tác khám,
điều trị BTT; nắm rõ chức năng, nhiệm vụ, các dịch vụ chăm sóc y tế cho NTT tại
các đơn vị cung cấp dịch vụ trên địa bàn từ trung ương đến địa phương và các cơ
quan đơn vị ngang cấp.
 Dịch vụ quản lý trường hợp
Quản lý trường hợp hay theo một số tài liệu còn được gọi là quản lý ca (tiếng
Anh là case management) là một công cụ tiếp cận hỗ trợ đối tượng trong chuyên
môn CTXH. Đây là một quá trình tổ chức các dịch vụ giúp đỡ đối tượng giải quyết
khó khăn một cách hiệu quả. Trong quá trình này nhân viên xã hội có nhiệm vụ tìm
kiếm, kết nối và điều phối các dịch vụ hỗ trợ, giúp đỡ đối tượng có thể kết nối với
các nguồn lực bên trong (bản thân đối tượng, gia đình đối tượng) và bên ngoài
(cộng đồng, các tổ chức xã hội, đoàn thể…), để đáp ứng tốt nhất cho đối tượng các
nhu cầu về thể chất, tâm thần, tâm lý xã hội từ đó giúp họ phục hồi và có khả năng
đối phó với các trở ngại có thể xảy ra [13].
Dịch vụ quản lý trường hợp hướng đến ba mục đích:
- Cá nhân hóa giúp đỡ và điều phối hoạt động của các nguồn tài nguyên để có
kế hoạch giúp đỡ được thực hiện hữu hiệu. Các mục tiêu và chiến lực được xây
dựng cho các trường hợp quản lý là khác nhau để cải thiện vấn đề của thân chủ. Và

15


nhân viên CTXH cần xác định mỗi trường hợp NTT là hoàn toàn riêng biệt. Không
có việc sử dụng hay thực hiện chung một kế hoạch can thiệp trợ giúp;
- Đảm bảo các dịch vụ được cung cấp với hiệu quả cao nhất và ít tốn kém nhất:
có sự tham gia của cá nhân và gia đình NTT, cán bộ địa phương, các tổ chức liên
quan và có sự điều phối của nhân viên CTXH làm công tác quản lý trường hợp;
- Đảm bảo nhiệm vụ, trách nhiệm được thể hiện rõ ràng ở các bên tham gia.
Tính quy trách/giải trình buộc tất cả các bên tham gia phải làm việc nghiêm túc và
đúng theo sự phân công công việc.
Dịch vụ này được nhân viên CTXH thực hiện dựa trên các kỹ thuật vãng gia,
quan sát, thu thập thông tin, ... nhằm đánh giá, rà soát các vấn đề của đối tượng và
gia đình thông qua đó ghi nhận những nhu cầu theo hướng toàn diện với các mức
độ ưu tiên. Đồng thời, cùng với gia đình xây dựng kế hoạch thực hiện nhằm giải
quyết tốt nhất các vấn đề đã được đánh giá, kết nối các nguồn lực sẵn có từ gia đình
và cộng đồng nhằm hỗ trợ tốt nhất cho gia đình.
 Dịch vụ kết nối nguồn lực
Kết nối nguồn lực được hiểu là quá trình thu hút sự đóng góp từ bên trong và
bên ngoài cộng đồng giúp cho hoạt động của các dự án hoặc chương trình của cộng
đồng đã được dự kiến triển khai theo kế hoạch. Chúng bao gồm một loạt các đóng
góp tài chính và phi tài chính từ các thành viên cộng đồng như các cá nhân, nhóm,
các tổ chức, hội, đoàn thể, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ hoặc phi chính
phủ.
Kết nối nguồn lực trong trợ giúp cho NTT mang nhiều ý nghĩa nhân văn sâu
sắc:
-

Giúp gia đình NTT nhận thức được các nguồn lực của cộng đồng đặc biệt là

các nguồn lực phi vật chất;
-

Gia đình NTT được tham gia vào các hoạt động huy động nguồn lực một

cách tích cực, giúp họ nhận thức được các giá trị của tinh thần cộng đồng, ý thức
cộng đồng từ đó giúp người dân nâng cao ý thức, niềm tin với cộng đồng, đảm bảo
sự tự nguyện tham gia các hoạt động khác trong tiến trình phát triển cộng đồng.

16


-

Kết nối được tiềm năng của mọi cá nhân, nhóm, cơ quan tổ chức, người dân,

tài nguyên trong cộng đồng, góp phần cải thiện nâng cao đời sống mọi mặt cho
NTT tại chính cộng đồng đang sinh sống;
-

Thông qua sự tham gia của gia đình NTT trong thực hiện trợ giúp giải quyết

những vấn đề tồn tại giúp tăng tính thuyết phục cho các tổ chức, cá nhân nhận thấy
sự nổ lực của chính bản thân gia đình NTT trong việc thực hiện giải quyết những
khó khăn đang gặp phải.
Dịch vụ kết nối nguồn lực được thực hiện thông qua việc huy động nguồn
lực vật chất và tinh thần trong giải quyết những khó khăn tồn tại gia đình NTT.
Nguồn lực được kết nối từ nhiều chương trình, dự án, các nguồn lực hỗ trợ từ các
nhà tài trợ, các mạnh thường quân... Nhiều chương trình kết nối được thực hiện
với hiệu quả mang lại là giải quyết những nhu cầu về đời sống vật chất cho NTT.
Trong đó có thể kể đến những dịch vụ kết nối sửa chữa, xây mới nhà ở, hỗ trợ
phương tiện sinh kế, tổ chức học nghề, giới thiệu việc làm, ... và nhiều dịch vụ
khác nhằm hướng đến giải quyết những khó khăn về tinh thần, tình cảm cho cá
nhân và gia đình NTT.
Đảm bảo cho gia đình sử dụng hiệu quả các nguồn lực được kết nối thì
nhân viên CTXH phải thực hiện dựa trên những tiến trình can thiệp cụ thể.
Những vấn đề của gia đình được xem xét đánh giá, rà soát, nhận diện nguồn
nhân lực của gia đình và nhu cầu thiết thực mong muốn trợ giúp. Từ đó, đưa ra
những kế hoạch thực hiện dựa trên việc huy động nguồn lực có sự tham gia của
chính gia đình, cộng đồng và toàn xã hội.
1.3. Một số lý thuyết ứng dụng trong công tác xã hội đối với người tâm thần
tại cộng đồng
1.3.1. Thuyết Nhu cầu
1.3.1.1. Giới thiệu về lý thuyết nhu cầu
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm
chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)
(Maslow,1943). Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như

17


mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ... Những nhu cầu cơ bản này
đều là những nhu cầu cần thiết giúp con người có thể duy trì sự sống và tồn tại trong
giới tự nhiên. Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao.
Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an
tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân...Theo Maslow
nhu cầu con người thành 5 thang bậc từ thấp đến cao:
Nhu cầu cơ bản/sinh lý (basic needs):
Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu
sinh lý (physiological needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn,
uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,…
đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người. Trong hình kim tự
tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản
nhất. Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi
những nhu cầu cơ bản này được đáp ứng.
Nhu cầu về an toàn (safety, security needs):
Nhu cầu về an toàn sẽ được chú trọng khi con người được đáp ứng phù hợp
nhu cầu cơ bản. Khi đó các nhu cầu về an toàn sẽ bắt đầu được kích hoạt. Nhu cầu
an toàn này thể hiện trong cả thể chất và tinh thần.
Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các
nguy hiểm. Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn
cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, khủng hoảng,…
Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự
ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có
pháp luật, có nhà cửa để ở,… Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn
giáo, triết học cũng là do nhu cầu an toàn này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn
về mặt tinh thần. Các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch
để dành tiết kiệm,… cũng chính là thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này.
Nhu cầu về xã hội (social needs):
Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một
nhóm hay tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương
18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×