Tải bản đầy đủ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM HỒNG ĐỨC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẨM LỆ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM HỒNG ĐỨC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẨM LỆ,

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN XUÂN DŨNG

HÀ NỘI, năm 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả.
Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu trích dẫn trong quá trình
nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Phạm Hồng Đức


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn đến Viện Hàn lâm khoa học xã
hội Việt Nam, Học viện Khoa học xã hội đã tạo điều kiện tôt nhất để tôi hoàn
thành luận văn này.
Tôi xin được bày tỏ sự trân trọng và lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS
Nguyễn Xuân Dũng, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này.
Trong quá trình học tập, triển khai nghiên cứu đề tài và những gì đạt
được hôm nay, tôi không thể quên được công lao giảng dạy và hướng dẫn của
quý thầy, cô giáo Khoa Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội.
Tôi xin được gởi lời cảm ơn đến các cơ quan: Viện Nghiên cứu phát
triển Kinh tế - xã hội Đà Nẵng, Cục Thống kê thành phố Đà Nẵng, Chi cục
Thống kê quận Cẩm Lệ, Văn phòng Quận ủy Cẩm Lệ, Văn phòng Ủy ban
nhân dân quận, Phòng Kinh tế quận Cẩm Lệ, phòng Tài chính kế hoạch quận
Cẩm Lệ, Hội Nông dân quận Cẩm Lệ đã cung cấp tài liệu, cũng như tạo điều
kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát và nghiên cứu đề tài.
Tôi xin được nói lòng biết ơn sâu sắc đến các anh chị đã luôn bên cạnh,


động viên, giúp đỡ tôi và cùng tôi vượt qua mọi khó khăn. Và tôi xin cảm ơn
các anh chị, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn chia sẽ, giúp đỡ tôi học tập,
nghiên cứu, và hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn

Phạm Hồng Đức


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ...... 8
1.1. Một số khái niệm liên quan ........................................................................ 8
1.2. Nội dung của chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình ........................... 11
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế
hộ gia đình ....................................................................................................... 16
1.4. Kinh nghiệm về thực hiện chính sách phát triển kinh tế hộ và bài học rút
ra có thể áp dụng cho quận Cẩm lệ, Thành phố Đà Nẵng .............................. 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH QUA THỰC TIỄN QUẬN CẨM LỆ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................................................. 27
2.1. Khái quát về quận Cẩm lệ, thành phố Đà Nẵng....................................... 27
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa
bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ........................................................... 29
2.3. Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình
tại Quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ............................................................ 42
2.4. Đánh giá chung ........................................................................................ 45
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN
CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ........................................................... 52
3.1. Quan điểm, định hướng hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế hộ gia
đình trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ...................................... 52
3.2. Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình tại quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ........................................................................... 64
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt

Nghĩa Tiếng Anh
Consumer Price Index

Nghĩa Tiếng Việt

1

CPI

Chỉ số giá tiêu dùng

2

CNH –HĐH

3

FDI

4

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

5

GNP

Tổng sản lượng quốc gia

6

KT-XH

Kinh tế – Xã hội

7

NXB

Nhà xuất bản

8

NHNoPTNT

Ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn

9

ODA

Official Development
Assistance

10

PCI

Provincial Competitiveness Quy mô sản lượng quốc
Index
gia tính bình quân

11

UBND

Ủy ban nhân dân

12

UBMTTQVN

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam

13

VIETGAP

Vietnamese Good
Agricultural Practices

14

WTO

World Trade Organization

15

XHCN

Công nghiệp hóa, hiện
đại hóa
Foreign Direct Investment

Vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài

Hỗ trợ phát triển chính
thức

Tổ chức thương mại thế
giới
Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu
bảng
2.1

Tên bảng
Tổng số hộ sản xuất, kinh doanh trên địa bànquận Cẩm
lệ giai đoạn 2013-2017

Trang

31


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia
đình, trong đó các thành viên sở hữu chung, cùng đóng góp công sức để hoạt
động kinh tế chung trong quá trình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một
số lĩnh vực kinh doanh khác do pháp luật quy định. Kinh tế hộ gia đình là loại
hình kinh tế tương đối phổ biến và được phát triển ở nhiều nước trên thế giới.
Sự trường tồn của hình thức này đang tự chuyển mình để trở thành một thành
phần kinh tế của xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội của đất nước. Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình lại càng có ý nghĩa to
lớn, bởi nước ta bước vào nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động
theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với khoảng gần 80% dân
số đang sinh sống ở nông thôn. Nông thôn lại là điểm xuất phát tạo cơ sở vật
chất tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó kinh tế hộ gia
đình là mô hình kinh tế có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu
nền kinh tế vĩ mô.
Kinh tế hộ gia đình không phải là một thành phần kinh tế nhưng là một
loại hình để phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tế khác. Một trong các
thành viên của kinh tế hộ gia đình đồng thời là chủ hộ. Trong hoạt động kinh
tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản
xuất. Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu
trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình. Các cá nhân và nhóm kinh
doanh trong các lĩnh vực như vận tải, xây dựng, thương mại dịch vụ và các
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh… trên thực tế các hoạt động
kinh tế hộ gia đình và được điều chỉnh theo Nghị định số 78/2015/NĐ-CP
ngày 14/9/2015. Chủ hộ chịu trách nhiệm vô hạn về vốn và kết quả kinh
1


doanh của mình. Mặt khác, Nhà nước cũng có những chính sách tạo điều kiện
thuận lợi để hộ kinh doanh có số vốn phù hợp với qui mô để hộ gia đình có
thể chuyển thành doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và các hoạt động theo
Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 8 thông qua vào
ngày 26 tháng 11 năm 2014.
Mặc dù vậy, trong nhiều năm qua lĩnh vực kinh tế hộ trên địa bàn quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng - một quận vùng ven của thành phố Đà Nẵng
đang trong quá trình đô thị hóa cao, qua sự chuyển đổi từ một khu vực kinh tế
nông nghiệp là chủ yếu chuyển sang phát triển kinh tế công nghiệp, thương
mại, dịch vụ và nông nghiệp nên quy mô kinh doanh nhỏ, công nghệ còn lạc
hậu, chất lượng sản phẩm chưa có sức cạnh tranh cao, đồng thời đối mặt với
nhiều thách thức khó khăn về vốn, lao động, mặt bằng kinh doanh,… đặc biệt
trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế thế giới, khu vực và trong nước có
nhiều biến động, sức mua giảm làm cho một số hộ kinh doanh có nguy cơ phá
sản. Nhà nước chỉ mới có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa,
chưa có chính sách riêng để hỗ trợ cho kinh tế hộ.
Từ thực tế đó, để đưa ra các đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện
chính sách phát triển kinh tế nói chung và kinh tế hộ gia đình nói riêng phù
hợp với định hướng phát triển kinh tế của quận Cẩm Lệ trong giai đoạn đến
năm 2023, đề tài “Thực hiện chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình trên
địa bàn Quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng” được chọn để viết luận văn tốt
nghiệp chuyên ngành Chính sách Công là hết sức cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đến nay đã có nhiều tác giả trong nước có công trình nghiên cứu hay
bài viết về chính sách phát triển kinh tế ở khu vực nông nghiệp nông thôn
Việt Nam, tiêu biểu một số nghiên cứu dưới đây:
- Bài viết “Phát triển kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam” của nhóm tác giả

2


Mai Thị Thanh Xuân và Đặng Thị Thu Hiền đăng trên Tạp chí Khoa học Đại
học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 29, Số 3 (2013). Nghiên
cứu này căn cứ chủ yếu vào thu thập từ những số liệu thứ cấp ở phạm vi quốc
gia những năm 2001, năm 2006 và năm 2011 (của Tổng điều tra nông thôn,
nông nghiệp và thủy sản) để đánh giá các thành quả cơ bản và các hạn chế đặt
ra cùng nguyên nhân dẫn đến trong phát triển kinh tế hộ; qua đó đưa ra các
giải phápđối với việc thúc đẩy phát triển kinh tế hộ ở nông thôn theo hướng
bền vững.
- Luận án tiến sỹ năm 2017 chuyên ngành Kinh tế phát triển “Phát
triển kinh tế hộ nông dân gắn với giảm nghèo bền vững ở tình Bắc Kạn” của
tác giả Nguyễn Văn Công, Học viện KHXH - Viện Hàn lâm khoa học xã hội
Việt Nam, Hà Nội. Luận án này trình bày cơ sở lý luận về sự phát triển kinh
tế hộ nông dân làm chỗ dựa để đánh giá thực trạng phát triển kinh tế hộ nông
dân ở tỉnh Bắc Kạn. Từ đó, Luận án đề xuất các giải pháp chủ yếu để phát
triển kinh tế hộ nông dân gắn với giảm nghèo bền vững ở tỉnh Bắc Kạn trong
bối cảnh hiện nay.
- Luận án tiến sỹ năm 2017 chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp “Kinh
tế hộ nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp tại các khu công nghiệp tỉnh Thái
Nguyên” của tác giả Hồ Lương Xinh, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị
kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, Hà Nội. Luận án này trình bày mô hình
Hồi quy Binary Logistic để phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ
nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp tại các khu công nghiệp tỉnh Thái
Nguyên; qua đó làm cơ sở đánh giá thực trạng kinh tế hộ nông dân sau thu hồi
đất nông nghiệp tại các khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên. Đồng thời, Luận
án đề xuất quan điểm và các giải pháp giai đoạn hiện nay để phát triển kinh tế
hộ nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp tại các khu công nghiệp.
- Luận án tiến sỹ ngành Xã hội học năm 2018 “Vai trò của phụ nữ dân

3


tộc Sán Dìu trong phát triển kinh tế hộ gia đình vùng Đông Bắc Việt Nam
(Nghiên cứu trường hợp tỉnh Thái Nguyên)” của tác giả Nguyễn Đỗ Hương
Giang, Học viện KHXH - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội.
Ở Luận án này xuất phát từ việc hệ thống hóa khung lý thuyết và hướng tiếp
cận về vai trò phụ nữ Sán Dìu trong phát triển kinh tế hộ gia đình để phân tích
và đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ và nam giới Sán Dìu trong phát triển
kinh tế hộ gia đình ở Thái Nguyên, những nhân tố ảnh hưởng vai trò của phụ
nữ Sán Dìu trong quá trình tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình cũng như
chỉ ra những khó khăn thách thức trong công cuộc phát triển kinh tế hộ gia
đình của người Sán Dìu ở Thái Nguyên. Qua đó, Luận án này đề xuất các
quan điểm và những nhóm giải pháp để gia tăng vai trò, vị thế của phụ nữ
người Sán Dìu trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở địa phương tầm nhìn
2030.
Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu khác có liên quan, như: "Ảnh
hưởng của chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa" của PGS.TS Ngô Đức Cát, Trường Đại học Kinh tế
quốc dân; "Về một số chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta
trong thời kỳ mới" của PGS.TS Đặng Văn Thanh, Bộ Tài chính; "Hoàn thiện
các chính sách đầu tư cho phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa" của ThS. Vũ Thị Thảo, Trường Đại học Kinh tế
quốc dân; Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Tiến Dĩnh, năm 2003:
"Hoàn thiện các chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp, nông thôn ngoại
thành Hà Nội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa"...
Nhưng đến nay chưa có đề tài nghiên cứu nào về thực hiện chính sách
phát triển kinh tế hộ gia đình ở một đô thị mới phát triển như quận Cẩm Lệ,
thành phố Đà Nẵng, nhất là các nghiên cứu tiếp cận từ chuyên ngành Chính
sách công. Vì thế có thể nói đây là khoảng trống nghiên cứu cần được tiếp tục

4


nghiên cứu. Trên cơ sở các công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế hộ ở
nông thôn đã có, tác giả tập trung phân tích những khó khăn, thách thức trong
quá trình hoàn thiện chính sách kinh tế hộ gia đình ở thành thị nói chung và
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng nói riêng trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Hệ thống hoá cơ sở lý luận về chính sách
phát triển kinh tế hộ gia đình; phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất các
giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình
trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ
nghiên cứu của luận văn được xác định là:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển kinh
tế hộ gia đình;
- Đánh giá thực trạng chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình qua thực
tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đề xuất giải pháp chủ yếu hoàn thiện việc thực hiện chính sách phát
triển kinh tế hộ gia đình ở quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng trong thời gian
tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đó là thực hiện chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình
ở quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Trong đó, tập trung nghiên cứu 6 chính
sách kinh tế chủ yếu trong phát triển kinh tế hộ đó là: Chính sách phát triển cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội; Chính sách khoa học công nghệ; Chính sách thuế
và vốn tín dụng; Chính sách tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo; Chính sách

5


thị trường và hỗ trợ kinh tế hộ tiêu thụ sản phẩm; Chính sách đất và SDĐ.
- Về không gian: địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
- Về thời gian: từ năm 2013 đến năm 2023.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển
kinh tế, nhất là kinh tế hộ. Đồng thời, luận văn vận dụng các học thuyết kinh
tế hiện đại, gắn với đặc thù của địa phương theo quan điểm toàn diện, lịch sử
và cụ thể.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khác nhau, bao gồm các phương pháp kết hợp giữa lôgic và lịch
sử, toàn diện và cụ thể để hệ thống hóa quá trình và các quan điểm, lý thuyết
trong phát triển kinh tế; phân tích, so sánh…. cũng như kết hợp với thực tiễn,
kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở các địa phương trong nước. Từ đó tiến
hành phân tích, đánh giá, chọn lọc rút ra nhận xét, kết luận và đề xuất giải
pháp hoàn thiện chính sách kinh tế phát triển kinh tế hộ trên địa bàn quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về chính sách
kinh tế hộ, cung cấp thêm những luận cứ khoa học nhằm đánh giá khách quan
khoa học về thực trạng xây dựng và phát triển chính sách kinh tế hộ ở một địa
phương cụ thể
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp cơ sở thực tiễn về thực hiện chính sách kinh tế hộ và một số
giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình của quận Cẩm

6


Lệ thành phố Đà Nẵng trong những năm tới.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển kinh tế
hộ gia đình
Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình từ thực
tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng hiện nay
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển kinh
tế hộ gia đình trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

7


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1. Một số khái niệm liên quan
- Khái niệm chính sách
Thuật ngữ “chính sách” vốn hàm ý một sự đối xử ưu đãi của nhà nước
đối với một nhóm tổ chức, cá nhân nhất định. Chính sách được hiểu chung
nhất là chủ trương và các biện pháp của một Đảng phái, một Chính phủ trong
các lĩnh vực của đời sống chính trị - xã hội.
Có thể hệ thống hoá một số định nghĩa về “chính sách” (hay chính xác
hơn về mặt học thuật gọi là “chính sách công”) được một số học giả sử dụng
như sau:
- Theo James Anderson định nghĩa, chính sách là một quá trình hành
động có mục đích được theo đuổi do một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải
quyết những vấn đề mà họ quan tâm.[33;tr.5]
- Theo William Jenkin, chính sách công là một tập hợp những quyết
định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hoặc một nhóm các nhà
chính trị gắn liền trong việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp để đạt các
mục tiêu đó.[34]
- Với Thomas R. Dye xác định, chính sách công là cái mà Chính phủ
lựa chọn làm hay không làm.[35]
Tác giả Vũ Cao Đàm đưa ra định nghĩa: Chính sách là tập hợp biện
pháp được thể chế hóa mà một chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý
nhằm thúc đẩy đối tượng quản lý thực hiện mục tiêu mà chủ thể quản lý vạch
ra trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.[15]
Nhiều học giả ở các nước phát triển cho rằng một chính sách (của nhà

8


nước) có 5 đặc điểm cơ bản là: (1) tính có mục đích; (2) được ban hành bởi
chủ thể công quyền; (3) đó có thể là chuỗi hành động (hành động thực tiễn
được thi hành, chứ không dừng lại những văn bản tuyên bố); (4) được sinh ra
để giải quyết một hoặc một nhóm vấn đề nhất định; (5) được bảo đảm thực
hiện bởi sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.
Như vậy, chính sách công ở tầm khái quát nhất chính là công cụ để
Đảng cầm quyền và chính quyền thể hiện thái độ, hành vi ứng xử của mình về
việc giải quyết các vấn đề của đất nước, của thực tiễn đời sống cộng đồng
thông qua chương trình hành động với các giải pháp can thiệp nhằm đạt được
mục tiêu quản lý của mình.
Trên cơ sở các quan niệm trên, có thể nhận thấy, có 3 thành tố mà trong
định nghĩa về chính sách được các học giả, nhà nghiên cứu đề cập tới là: (1)
vấn đề cần giải quyết; (2) mức độ giải quyết vấn đề (hay còn gọi là mục tiêu
của chính sách hay mục tiêu chính sách); (3) các phương án hành động cụ thể
của nhà nước/chính quyền cần thực hiện (với nguồn lực về tổ chức bộ máy,
con người, nguồn kinh phí kèm theo) để giải quyết vấn đề. Như vậy, chính
sách, vì thế, là một trong những công cụ giao tiếp tương tác quan trọng giữa
Nhà nước và Đảng cầm quyền đối với xã hội. Hoạch định chính sách và thực
thi chính sách là một trong những phương thức tồn tại cơ bản của Nhà nước
và Đảng cầm quyền, thông qua đó, những “áp lực/đòi hỏi/vấn đề” của xã hội
được bộc lộ, ghi nhận, đáp ứng và giải quyết.
- Kinh tế hộ gia đình
Kể từ Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 05/4/1988 của Ban chấp hành
TW Đảng (khoá VI) về Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, với mục đích
giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn, chuyển giao đất đai và
các tư liệu sản xuất khác cho hộ nông dân quản lý và sử dụng lâu dài, hộ nông
dân (hộ gia đình) đã trở thành đơn vị tự chủ trong sản xuất nông nghiệp, có tư

9


cách là đơn vị kinh tế cơ sở (kinh tế hộ gia đình). Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội giai đoạn 2001-2010 của Việt Nam cũng đã xác định kinh tế hộ gia
đình là một đơn vị sản xuất cơ sở, cần thiết cho quyền chuyển dịch cơ cấu nền
kinh tế vĩ mô nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước.
Kinh tế hộ gia đình là một loại hình tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu
của hộ gia đình, mà ở đó các thành viên có tài sản chung và cùng đóng góp
các nguồn lực vốn, đất đai, công sức trong hoạt động sản xuất nông nghiệp
hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do luật định.
Các cá nhân và nhóm kinh doanh trong các lĩnh vực như vận tải, xây
dựng, thương mại dịch vụ và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, kinh
doanh… trên thực tế là các hoạt động kinh tế hộ gia đình và được điều chỉnh
theo Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ.
Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình là một loại hình để phân biệt với các
hình thức tổ chức kinh tế khác. Sự tồn tại của kinh tế hộ chủ yếu dựa vào lao
động gia đình để khai thác đất đai và tài nguyên khác để phát triển sản xuất và
làm giàu chính đáng. Kinh tế hộ gia đình phát triển chủ yếu ở nông thôn,
thường gọi là kinh tế hộ gia đình nông dân, ở thành thị gọi là các hộ tiểu thủ
công nghiệp. Hộ gia đình ở nông thôn phần lớn hộ sản xuất, kinh doanh đa
dạng, kết hợp giữa chăn nuôi với trồng trọt, giữa ngành tiểu thủ công nghiệp
và kinh doanh nghề phụ.
Từ các quan điểm về chính sách và kinh tế hộ gia đình, có thể xác định
khái niệm về chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình như sau: Chính sách
phát triển kinh tế hộ gia đình là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải
pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng nhằm khuyến khích, thúc đẩy sự phát
triển kinh tế hộ, góp phần phát huy và nâng cao hiệu quả cho kinh tế hộ,
nhằm phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.

10


Như vậy: Thực hiện chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình được hiểu
là toàn bộ hoạt động của quá trình mà các chủ thể tham gia vào việc tổ chức
triển khai chương trình hành động bằng những giải pháp lựa chọn đã được
xác định trong các quyết định về phát triển kinh tế hộ gia đình, nhằm hiện
thực hóa nội dung chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình theo các mục tiêu
đã đề ra một cách hiệu quả, nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng và hợp pháp
trong phát triển kinh tế hộ gia đình, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc
sống của hộ gia đình.
1.2. Nội dung của chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình
Nhà nước và chính quyền các cấp có nhiệm vụ ban hành chính sách
phát triển kinh tế hộ gia đình bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội:
Cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội bao gồm: cơ sở vật chất kỹ thuật, các
công trình, phương tiện tồn tại trên một không gian lãnh thổ nhất định, chúng
được sử dụng làm điều kiện sản xuất và sinh hoạt đời sống để đảm bảo sự vận
hành thông suốt các luồng của cải vật chất, thông tin và dịch vụ nhằm đáp
ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống. Cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội được chia
thành cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
gồm hệ thống giao thông, thuỷ lợi, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng,
chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát nước, xử lý các chất thải và các công
trình khác. Hạ tầng cơ sở xã hội gồm các cơ sở giáo dục đào tạo, các bệnh
viện, công trình vệ sinh môi trường...
Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được chính quyền
áp dụng phù hợp với vị trí địa lý, địa hình, thời tiết khí hậu… nhằm đảm bảo
cung cấp đầy đủ, có hiệu quả các yếu tố điều kiện phục vụ, các dịch vụ cơ sở
hạ tầng cho quá trình phát triển kinh tế ở địa phương. Nội dung của chính
sách này là hỗ trợ đầu tư các công trình thiết yếu: đường giao thông, thủy lợi,

11


cấp điện, cấp nước, viễn thông v.v... Mục tiêu của chính sách này sẽ tác động
xúc tiến đầu tư, tạo động lực thu hút đầu tư đối với các nhà đầu tư vào lĩnh
vực cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, tạo ra các điều kiện thuận lợi cho hoạt động
sản xuất, kinh doanh của các hộ dân hoạt động kinh tế hiện tại ở địa phương.
- Chính sách về khoa học công nghệ:
Do quá trình sản xuất kinh tế hộ gia đình chủ yếu dựa vào sức lao động
thủ công và công cụ truyền thống, nên phần lớn có năng suất lao động thấp.
Hơn nữa, trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ của chủ hộ rất hạn chế,
chủ yếu là phương thức truyền thống, theo kinh nghiệm từ đời trước truyền lại
cho đời sau. Vì vậy, nhận thức của chủ hộ về luật pháp, về kinh doanh, cũng
như về kinh tế thị trường rất hạn chế.
Nên nội dung của chính sách về khoa học công nghệ đối với kinh tế hộ
gia đình bao gồm: (i) Phổ biến, ứng dụng công nghệ mới cho sản xuất chế
biến; cung cấp dịch vụ vật tư; (ii) Chương trình đào tạo nghề, dạy nghề cho
nông dân về mặt kỹ thuật sản xuất và quản lý kinh tế, kiến thức về pháp luật,
thị trường và hội nhập quốc tế....
- Chính sách đất đai:
Vì tài nguyên đất đai là tư liệu sản xuất chính của hộ gia đình không
chỉ đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp, mà còn đối với cả sản xuất phi
nông nghiệp. Do đó, việc các hộ dân có dễ tiếp cận được yếu tố đất đai là rất
quan trọng quyết định đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ.
Chính sách đất đai đối với kinh tế hộ gia đình cần tính toán khả dụng là
cốt lõi trong quá trình tổ chức bố trí sản xuất, kinh doanh của hộ dân, gồm:
(i) Chính sách hạn điền để ưu đãi về sử dụng đất (điều chỉnh định mức
hạn điền, định mức giao đất cho các hộ dân, hỗ trợ ưu đãi các điều kiện trong
quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo quy hoạch; cho thuê đất, giá
thuê đất và thời gian thuê đất; hạn mức thời gian sử dụng đất,...); giao quyền

12


sử dụng đất cho hộ nông dân để tích tụ và tập trung đất đai;
(ii) Quy hoạch sử dụng đất đối với từng loại ruộng đất cụ thể, diện tích,
chất đất,… để cho các hộ gia đình hoạt động kinh tế có thể tiếp cận được đất
đai phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Chính sách thuế và vốn tín dụng:
Vốn là điều kiện cần rất quan trọng để tiến hành sản xuất và các hoạt
động kinh tế đổi với các hộ. Tuy vậy, đối với các chủ thể kinh tế thì sự chênh
lệch là phổ biến giữa khả năng và nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh đang là
thực trạng hiện hữu. Theo đó, dịch vụ của các tổ chức tín dụng có vai trò đảm
bảo tính liên tục và sự phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ
thể kinh tế. Đế phát triển sản xuất, nhất là sản xuất kinh doanh ở mức quy mô
đủ lớn đòi hỏi các hộ dân phải có vốn và hiện nay, các hộ gia đình phụ thuộc
chủ yếu vào hai nguồn vốn là vốn vay và vốn tích lũy.Vấn đề phải bàn, đó là
lãi vay cao/ thấp sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động quá trình sản xuất,
kinh doanh của họ. Đây là cơ sở cho chính sách hỗ trợ tín dụng trong hệ thống
chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình của địa phương. Cùng với chính sách
thuế, chính sách hỗ trợ tín dụng mà chính quyền áp dụng cần hướng vào đảm
bảo cung cấp nguồn tài chính giá rẻ cho phát triển kinh tế hộ gia đình của địa
phương nhằm giảm chi phí hoạt động sản xuất, kinh doanh, để góp phần gia
tăng khả năng cạnh tranh và đảm bảo lợi nhuận trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh.
Trên thực tế, do quy mô sản xuất của kinh tế hộ gia đình có đặc điểm
thường là nhỏ, vốn đầu tư ít, nên cần miễn giảm thuế ưu đãi trong sử dụng đất
và hỗ trợ về vốn vay tín dụng ưu đãi để huy động nguồn lực tài chính cho phát
triển sản xuất. Chính sách này cần tính toán khả năng hỗ trợ (hỗ trợ lãi suất tín
dụng ngân hàng; hỗ trợ lãi suất tín dụng của các tổ chức tín dụng khác) để
thực hiện mục tiêu trên cơ sở các nguồn lực (đất đai, vốn liếng, tài sản…)

13


trong nhân dân ở địa phương nhằm khuyến khích hỗ trợ đầu tư cho nông
nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để hộ kinh doanh có số vốn phù hợp với qui
mô hộ gia đình, hộ có trang trại có thế chuyển thành doanh nghiệp đăng ký
kinh doanh và các hoạt động theo Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội khóa
XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014.
- Chính sách thị trường và hỗ trợ kinh tế hộ gia đình tiêu thụ sản phẩm:
Trong bối cảnh cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế, cạnh tranh ngày
càng trở nên gay gắt. Do đó, vai trò của việc phát triển thị trường càng quan
trọng hơn bao giờ hết. Nếu phát triển sản xuất mà không gắn với phát triển thị
trường để giải quyết “đầu ra” tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ thì sẽ đối diện với
những hậu quả rủi ro khôn lường cho các chủ thể kinh tế.
Xuất phát điểm của sản xuất kinh tế hộ gia đình đại bộ phận là còn
mang nặng tính tự cung tự cấp, hướng tới mục đích đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng trực tiếp của hộ là chủ yếu. Trong khi thị trường là nhân tố quyết định
hướng khai thác các tiềm năng của hộ; việc hướng sản xuất kinh tế hộ gia
đình vào đáp ứng nhu cầu thị trường thì khả năng mang lại lợi ích cho hộ dân
từ các hoạt động sản xuất càng lớn.
Nên việc Nhà nước có chính sách hỗ trợ tìm kiếm và mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm cho kinh tế hộ gia đình và trang trại là cần thiết và
cấp bách khi quy mô sản suất đang trên đà gia tăng. Chính sách hỗ trợ phát
triển thị trường mà chính quyền địa phương sử dụng để hỗ trợ cho kinh tế hộ
gia đình về việc tìm kiếm đối tác, thị trường đầu ra cho sản phẩm, dịch vụ của
họ. Chính quyền địa phương tổ chức các hoạt động (triển lãm hội chợ, diễn
đàn,...) để tạo cơ hội quảng bá sản phẩm, dịch vụ của kinh tế hộ gia đình đến
với khách hàng tiềm năng trong và ngoài địa phương.
Nói cách khác, vai trò chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong việc cung
cấp thông tin đầy đủ và kịp thời cho hộ dân về những biến động của thị

14


trường sẽ giúp hộ nắm bắt được các cơ hội kinh doanh mới nhằm giảm thiểu
rủi ro “được mùa mất giá”; đồng thời giúp hộ dễ dàng tiêu thụ các sản phẩm
của mình sản xuất ra… Qua chính sách thị trường và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm
của Nhà nước tác động để giúp cho kinh tế hộ gia đình thích ứng với cơ chế
thị trường đóng góp vào nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải
quyết việc làm ở nông thôn; cũng như kích thích hộ gia đình sản xuất theo
phương thức trang trại gia đình, trong các lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp...
- Chính sách tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo:
Lao động và việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó
không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ các thành phần kinh tế, là vấn
đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế và xã hội. Một khi có
việc làm là đi đôi với có thu nhập để xóa đói giảm nghèo và giảm nghèo bền
vững. Vì vậy để đáp ứng được nhu cầu việc làm của toàn xã hội đòi hỏi nhà
nước phải có chính sách thích hợp về lao động việc làm.
Nên nội dung của chính sách tạo việc làm bao hàm: việc tái tổ chức
phân công lao động, chuyển dịch cơ cấu lao động và ngành nghề của các hộ
từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, hình thành những hộ vừa sản xuất hàng
hóa, vừa kinh doanh dịch vụ, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở
nông thôn nhằm tạo việc làm mới khắc phục tình trạng thất nghiệp… Cùng
với đó, nội dung chính sách xóa đói giảm nghèo cho các hộ dân gồm: ưu đãi
tín dụng cho người nghèo; hỗ trợ sản xuất, cung cấp dịch vụ khuyến nông,
khuyến lâm, khuyến ngư; hỗ trợ dạy nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu
lao động; hỗ trợ về nhà ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt cho hộ nghèo; trợ giúp
pháp lý cho người nghèo; trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; hỗ trợ giảm
nghèo đặc thù…
Ngoài các chính sách bảo hộ quyền và nghĩa vụ, Nhà nước còn có các
chính sách khác hướng tới: khuyến khích hỗ trợ phát triển dưới hình thức hợp

15


tác xã và các hình thức liên kết khác; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội
ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật… nhằm thực hiện phát triển một cách
hợp lý các hình thức sản xuất và kinh doanh đối với loại hình kinh tế phổ biến
này ở nước ta ở giai đoạn hiện nay; cũng như góp phần kinh tế hộ gia đình,
nhất là ở khu vực nông thôn được thực hiện quyền tự chủ và được quan tâm.
Các chính sách này đòi hỏi tiến hành đồng chiều, giải quyết đồng bộ để
kích thích và đảm bảo lợi ích cho chủ thể là các hộ dân tham gia phát triển
kinh tế hộ gia đình.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát
triển kinh tế hộ gia đình
Thực hiện chính sách nói chung và thực hiện chính sách phát triển
kinh tế hộ gia đình nói riêng luôn chịu sự tác động, chi phối của nhiều nhân tố
về:
1.3.1. Nhóm nhân tố khách quan
- Điều kiện tự nhiên:
Địa lý tự nhiên và khả năng hiện có của địa phương về thổ nhưỡng,
nguồn nước, khí hậu, đất đai (nhất là mức độ tích tụ ruộng đất)… Nó ảnh
hưởng khách quan đến quá trình triển khai chính sách phát triển kinh tế hộ gia
đình.
- Tình hình khách quan về kinh tế - xã hội của địa phương:
Ở khía cạnh kinh tế, một khi tăng trưởng kinh tế ở địa phương đủ lớn,
nguồn tài chính đủ mạnh để triển khai chính sách phát triển kinh tế hộ gia
đình, chính quyền cấp địa phương sẽ tập trung đưa ra các biện pháp mang tính
quy mô, tác động mạnh hơn nhằm giải quyết những vấn đề chính sách đặt ra
đối với phát triển kinh tế hộ gia đình.
Ở khía cạnh xã hội, nếu trong điều kiện dân trí thấp, không đồng đều
cùng với phong tục tập quán người dân ở các vùng miền khác nhau cũng ảnh

16


hưởng đến kìm hãm việc thay đổi cơ cấu sở hữu hay cơ cấu kinh doanh…
Một khi trình độ dân trí càng cao thì nhận thức và hiểu biết của người dân
càng tiến bộ; cùng với hình thành kỹ năng lao động sẽ càng thuận lợi cho việc
triển khai chính sách phát triển kinh tế kinh tế hộ gia đình.
Những thách thức bởi đe dọa về ô nhiễm môi trường sinh thái ảnh
hưởng do các tác động tiêu cực của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa
hiện nay đang là vấn đề cấp bách đang tác động đáng kể đến việc tổ chức thực
hiện chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình ở cấp địa phương, bởi các vấn
đề chính sách nảy sinh từ nó.
- Nhân tố cạnh tranh và hội nhập kinh tế, sự biến động thị trường:
Xu hướng cạnh tranh và hội nhập, toàn cầu hóa ngày càng có tác động
nhiều chiều làm ảnh hưởng đáng kể đến việc tổ chức thực hiện chính sách
phát triển kinh tế hộ gia đình ở địa phương. Ngoài ra, sự biến động thị trường
với giá đầu vào tăng do khan hiếm; hoặc các hợp đồng của các cơ quan với
các đối tác nước ngoài bị phá vỡ hoặc chèn ép sẽ ảnh hưởng tới sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm của người dân; hay có quá nhiều hộ sản xuất ra sản phẩm
cùng loại đương nhiên giá bán ra sẽ thấp dẫn đến ảnh hưởng thu nhập và sinh
kế của hộ gia đình...
Các tác động này cần được hạch toán kỹ lưỡng từ khâu chuẩn bị nhằm
giảm thiểu các bất lợi của nó gây ra trong quá trình vận hành chính sách để
đảm bảo khả năng cạnh tranh và hội nhập và phù hợp với xu thế phát triển
bền vững.
- Đối tượng thụ hưởng của chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình:
Đối tượng thụ hưởng của chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình ở địa
phương chủ yếu là hộ dân tham gia vào sản xuất, kinh doanh ở các ngành
kinh tế. Đây là yếu tố nội sinh của bản thân hộ gia đình. Sự hiểu biết của
nhóm đối tượng này (nhất là kiến thức về sự đa dạng hoá các hoạt động, vai

17


trò truyền thống của những lao động trong gia đình), thói quen tuân thủ của
họ đối với các quy định, quy tắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; cũng
như khả năng thực tế của các hộ dân tham gia thực hiện chính sách này và
năng lực của họ khi tận dụng các lợi ích mà chính sách phát triển kinh tế hộ
gia đình mang lại trong sự công bằng đối với mọi đối tượng thụ hưởng chính
sách. Cùng với nhu cầu và nguyện vọng của các hộ gia đình sở tại thường dẫn
đến nảy sinh các vấn đề chính sách này. Đây là các yếu tố khách quan không
kém phần quan trọng, nó ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả trong quá trình
thực hiện chính sách phát triển kinh tế kinh tế hộ gia đình ở địa phương.
Ở bối cảnh cạnh tranh thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày
nay, đối tượng hưởng lợi từ quá trình thực hiện chính sách phát triển kinh tế
hộ gia đình còn có sự tham gia của nhiều đối tác là: các hiệp hội, các tổ chức
đào tạo - nghiên cứu chuyển giao công nghệ kỹ thuật và cộng đồng doanh
nghiệp (cả trong và ngoài nước) đầu tư vào lĩnh vực này theo diện thu hút môi
trường ưu đãi của chính sách.
1.3.2. Nhóm nhân tố chủ quan
- Thể chế chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình. Hoàn thiện thể chế
chính sách này nhằm tháo gỡ mọi cản trở, tạo điều kiện cơ chế, môi trường
cạnh tranh bình đẳng, minh bạch để thuận lợi giải phóng lực lượng sản xuất,
giải phóng sức dân thông qua phát triển kinh tế hộ gia đình để huy động và sử
dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển.
- Bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức tổ chức vận hành chính sách:
Chất lượng và hiệu quả thực hiện chính sách cũng như mức độ thành
công của chính sách phát triển kinh tế hộ gia đình ở địa phương phụ thuộc rất
lớn vào các chủ thể tổ chức thực hiện chính sách này, nhất là phụ thuộc vào
khả năng vận hành hoạt động của các cơ quan Nhà nước (từ Trung ương tới
địa phương các cấp) và năng lực, đạo đức và trách nhiệm công vụ của đội

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×