Tải bản đầy đủ (.pdf) (183 trang)

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.33 MB, 183 trang )

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

MAI VĂN HẢI

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

MAI VĂN HẢI

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

Mã số: 62 34 04 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN QUỐC THÁI

HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ĐOAN


Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực
trong học thuật. Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên
cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự
trung thực trong học thuật.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Mai Văn Hải


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ................................................ 8

1.1. Những công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài.......................... 9
1.2. Những công trình nghiên cứu của tác giả trong nước ........................ 17
1.3. Đánh giá chung về kết quả nghiên cứu của các công trình được
tổng quan........................................................................................ 26
1.4. Những vấn đề được lựa chọn nghiên cứu trong luận án ............................ 27
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ .............................................. 28

2.1. Khái quát về làng nghề và quản lý nhà nước đối với làng nghề ......... 28
2.2. Nội dung, tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý
nhà nước đối với làng nghề ............................................................. 42
2.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với làng nghề của một số địa
phương trong nước, ngoài nước và bài học rút ra cho tỉnh Thanh Hóa ..... 61

Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG
NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA ........................... 71

3.1. Khái quát về làng nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa......................... 71
3.2. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với làng nghề trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2012 - 2017....................................... 86
3.3. Đánh giá chung về quản lý nhà nước đối với làng nghề trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa....................................................................... 101
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH THANH HÓA............................................................ 115

4.1. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với làng nghề
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025 và định hướng đến
năm 2030...................................................................................... 115


4.2. Các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với làng nghề
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025 và định hướng đến
năm 2030...................................................................................... 126
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................... 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN................................................................ 150
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 151
PHỤ LỤC ............................................................................................. 167


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN


Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CNH, HĐH
ĐBSH
ĐTB
ĐTM
FTA
GRDP
HĐND
HTX

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đồng bằng sông hồng
Điểm trung bình
Đánh giá tác động môi trường
Hiệp định thương mại tự do
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh
Hội đồng nhân dân
Hợp tác xã

KCDF

Korea Craft and Design Foundation Quỹ nghề thủ công và thiết kế Hàn Quốc
Khoa học công nghệ
Làng nghề truyền thống
Ngành nghề nông thôn

KHCN
LNTT

NNNT
OCOP

One commune, One Product - Chương
trình mỗi xã, phường một sản phẩm.

ODA
OTOP

Vốn vay nước ngoài
One tambom one product
Mỗi địa phương một sản phẩm
Quản lý nhà nước
Tiểu thủ công nghiệp
Ủy ban nhân dân
Tổ chức thương mại thế giới
Xã hội chủ nghĩa

QLNN
TTCN
UBND
WTO
XHCN


DANH MỤC BẢNG
Trang

Bảng 1. Thang đánh giá Likert ................................................................. 6
Bảng 3.1. Một số đóng góp của làng nghề đối với phát triển kinh tế

xã hội của tỉnh giai đoạn 2012-2017....................................... 76
Bảng 3.2. Tình hình phát triển làng nghề hiện nay (Đối tượng khảo
sát: cán bộ quản lý) ............................................................... 79
Bảng 3.3. Nguồn lực sản xuất giai đoạn 2012 - 2016 (Đối tượng khảo
sát: người dân/doanh nghiệp) ................................................. 80
Bảng 3.4. Tình hình tiêu thụ sản phẩm giai đoạn 2012 - 2016.................. 83
Bảng 3.5. Kết quả sản xuất giai đoạn 2012-2016 (Đối tượng khảo sát:
các cơ sở sản xuất) ................................................................ 86
Bảng 3.6. Thực trạng xây dựng quy hoạch phát triển làng nghề trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa (Đối tượng hỏi: cán bộ quản lý ở địa phương)......... 88
Bảng 3.7. Thực trạng triển khai thực hiện quy hoạch (Đối tượng được
hỏi: Cán bộ quản lý ở địa phương) ......................................... 90
Bảng 3.8. Thực trạng tác động của luật pháp và các chính sách phát
triển làng nghề ở tỉnh Thanh Hóa (Đối tượng hỏi: Cán bộ
quản lý các cấp; Doanh nghiệp và người dân)......................... 96
Bảng 3.9. Việc thực hiện kiểm tra giám sát trong QLNN đối với làng
nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa (Đối tượng được hỏi:
Cán bộ quản lý ở địa phương) .............................................. 100
Bảng 3.10. Mức độ đáp ứng của công tác kiểm tra, giám sát trong quá trình phát
triển làng nghề (Đối tượng được hỏi: Cán bộ quản lý ở địa phương)... 101
Bảng 3.11: Đánh giá về đảm bảo về các nguyên tắc quản lý (Đối
tượng được hỏi : Cán bộ quản lý ở địa phương).................... 110
Bảng 3.12: Đánh giá mức độ đạt được của quản lý nhà nước đối với
làng nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện nay ................... 111


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Làng nghề và các làng nghề truyền thống là nơi lưu giữ và phát triển

tinh hoa văn hóa của dân tộc, cũng là một bộ phận không thể tách rời của
kinh tế nông thôn Việt Nam, và trong Văn kiện Đại hội của Đảng luôn khẳng
định và chỉ rõ: “Mở mang các làng nghề, phát triển các điểm công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ…" [25, tr.279].
Với trên 150 làng nghề, phân bổ rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh, làng
nghề ở Thanh Hóa hoạt động khá đa dạng ở nhiều lĩnh vực ngành nghề, chiếm
tỷ trọng cao nhất là các làng nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN), gồm: nghề chế
biến cói 37 làng, sản xuất muối 10 làng, nghề đá ốp lát, đá mỹ nghệ, đá trang
sức 9 làng, nghề mộc 7 làng, nghề rèn cơ khí công cụ 3 làng, nghề đan lát 12
làng… Các làng nghề truyền thống đã và đang có đóng góp tích cực vào
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo tiền đề thực hiện thành công đề án
phát triển mỗi xã, phường một sản phẩm (OCOP) và xây dựng nông thôn mới.
Để hỗ trợ sự phát triển của các làng nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa,
công tác quản lý nhà nước (QLNN) đối với làng nghề là rất quan trọng nhằm
"… đẩy mạnh hoạt động khuyến công, hỗ trợ TTCN, thương hiệu và thị
trường tiêu thụ; du nhập, nhân cấy một số nghề mới có tiềm năng phát triển
ngành nghề nông thôn, nhất là các nghề truyền thống đã có" [22]. Trong thời
gian qua, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều cơ chế chính
sách để phát triển làng nghề, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) như
Quyết định 2409/2006/QĐ-UBND [89]; Quyết định số 2513/QĐ-UBND [91];
Quyết định số 604/QĐ-UBND [103]; Quyết định số 3632/QĐ-UBND [108];
Kế hoạch số 144/KH-UBND; Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn
(NNNT) tỉnh Thanh Hóa đến 2020 [118]… Điều đó đã tạo đà cho hoạt động
sản xuất, kinh doanh nghề trên địa bàn phát triển mạnh, du nhập thêm nhiều
nghề mới, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn...


2
Tuy vậy, có nhiều vấn đề nảy sinh và tồn tại trong QLNN đối với làng
nghề ở Thanh Hóa, như: quy hoạch làng nghề, đổi mới công nghệ, tiếp cận đất

đai, tín dụng, khuyến công, phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu, đăng ký
nhãn hiệu, thanh tra, kiểm tra… Việc tổ chức thực hiện các công cụ này cũng
còn bất cập, chồng chéo giữa các ngành chức năng (Sở NNPTNT với Sở Công
Thương). Cũng giống như đại đa số các làng nghề trên toàn quốc, phần lớn sản
phẩm làng nghề của tỉnh Thanh Hóa có chất lượng thấp, khả năng cạnh tranh
chưa cao, mẫu mã sản phẩm đơn điệu; hoạt động sản xuất, kinh doanh của một
số làng nghề gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, môi sinh đô thị; ý
thức chấp hành luật pháp về làng nghề chưa cao…
Xét về mặt lý luận, trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên
cứu về làng nghề dưới nhiều góc độ khác nhau, song chưa có công trình
nào nghiên cứu đầy đủ về QLNN đối với làng nghề trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa một cách hệ thống, bài bản, khoa học.
Với những lí do nêu trên, đề tài "Quản lý nhà nước đối với làng nghề
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa" có ý nghĩa lí luận và thực tiễn thiết thực.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối
với làng nghề trên địa bàn tỉnh, đề tài luận án đề xuất phương hướng và các giải
pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với làng nghề trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Tổng quan các công trình nghiên cứu đã được công bố ở trong và
ngoài nước liên quan đến đề tài luận án.
+ Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của QLNN đối với làng nghề trên
địa bàn tỉnh trong điều kiện hiện nay.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN đối với làng nghề trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa trong thời gian qua.


3

+ Đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện QLNN
đối với làng nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025 và định hướng
đến năm 2030.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là QLNN của chính quyền cấp
tỉnh đối với làng nghề trên địa bàn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về chủ thể và nội dung quản lý: Đề tài luận án nghiên cứu QLNN
của chính quyền cấp tỉnh Thanh Hóa đối với làng nghề trên địa bàn, tập trung
ở các lĩnh vực chính, bao gồm: Quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch
phát triển làng nghề; chính sách và tổ chức thực thi chính sách phát triển làng
nghề; kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm liên quan tới phát triển làng nghề.
+ Về các làng nghề: Các làng nghề được đề cập đến trong luận án
thuộc 10 nhóm sau: Làng nghề dệt chiếu cói; làng nghề thủ công mỹ nghệ;
làng nghề mây tre đan; làng nghề mộc; làng nghề rèn, đúc đồng; làng nghề đá
và sản xuất vật liệu xây dựng; làng nghề chế biến thủy hải sản; làng nghề chế
biến nông sản; làng nghề dệt và thêu ren; làng nghề gây trồng và kinh doanh
sinh vật cảnh
+ Về địa bàn khảo sát: Địa bàn khảo sát được giới hạn ở các làng nghề
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa (gồm 9 huyện: Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa,
Hà Trung, Vĩnh Lộc, Thiệu Hóa, Như Thanh, Thọ Xuân, Tĩnh Gia).
+ Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng được thực hiện cho giai đoạn
2012 - 2017, các giải pháp được đề xuất cho giai đoạn 2018 - 2025 và định
hướng tới năm 2030.
4. Cơ sở lý luận, khung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Việc nghiên cứu đề tài luận án dựa trên thế giới quan và phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm,



4
chính sách của Đảng và Nhà nước về các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước và địa phương.
4.2. Khung nghiên cứu của luận án

Nhân tố ảnh
hưởng đến quản
lý nhà nước đối
với làng nghề

Mục tiêu quản lý

1 Nhân tố khách quan

Nguyên tắc quản lý

2. Nhân tố chủ quan

Nội dung quản lý
- Xây dựng quy hoạch và tổ chức thực
hiện quy hoạch làng nghề
- Xây dựng và tổ chức thực thi chính sách
hỗ trợ phát triển làng nghề
- Kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm
liên quan đến làng nghề

Phương hướng và giải pháp hoàn thiện
- Phương hướng hoàn thi
- Giải pháp hoàn thiện


4.3. Phương pháp nghiên cứu
Thứ nhất, phương pháp tổng hợp, so sánh và thống kê: Các phương
pháp này được sử dụng để tổng hợp, so sánh và thống kê các dữ liệu sơ cấp,
thứ cấp do tác giả thu thập hoặc nguồn từ các cơ quan QLNN tỉnh Thanh Hóa
trong phát triển làng nghề trên địa bàn, từ đó làm nổi bật các đặc điểm của
làng nghề Thanh Hóa cũng như các kết quả QLNN đối với làng nghề trên địa
bàn tỉnh trong phạm vi nghiên cứu.


5
Thứ hai, phương pháp phân tích: Được sử dụng để phân tích các nguồn
số liệu thứ cấp có liên quan đến nội dung nghiên cứu được tác giả trực tiếp
thu thập từ các đề tài và luận án, Thư viện Quốc Gia, Thư viện của Học viện
chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Uỷ ban nhân dân (UBND)
tỉnh Thanh hóa, Sở Công thương tỉnh Thanh Hóa, Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa, UBND các huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hà
Trung, Hoằng Hóa, Tĩnh Gia, Thọ Xuân, Vĩnh Lộc, Thiệu Hóa,… nhằm đưa
ra các nhận xét, kết luận, khuyến nghị liên quan tới vấn đề nghiên cứu.
Thứ ba, phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn được sử dụng nhằm thu
thập dữ liệu sơ cấp, phục vụ công tác đánh giá kết quả thực hiện quản lý nhà
nước đối với làng nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong phạm vi nghiên cứu.
Thứ tư, phương pháp phân tích SWOT: SWOT (Điểm mạnh - Strengths,
Điểm yếu - Weaknesses, Cơ hội - Opportunities và Thách thức - Threats) là
phương pháp mà tác giả sử dụng để xem xét tính hiệu quả của các cơ chế chính
sách đã được ban hành của Trung ương và tỉnh Thanh Hóa trong quản lý nhà
nước đối với làng nghề, xác định vị thế của làng nghề ở tỉnh Thanh Hóa, phân
tích những hạn chế và nguyên nhân của những mặt hạn chế, từ đó đề xuất các
giải pháp về QLNN đối với làng nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.

- Thiết kế phiếu điều tra: Dựa trên cơ sở tổng quan các công trình
nghiên cứu đã công bố trong ngoài nước về mục tiêu, nguyên tắc, nội dung,
nhân tố ảnh hưởng đến QLNN đối với nghề, tác giả xây dựng hệ thống câu
hỏi phỏng vấn phù hợp với hai đối tượng là doanh nghiệp, hộ gia đình làng
nghề và cán bộ QLNN các cấp để thu thập ý kiến, làm cơ sở cho việc đánh
giá về QLNN đối với làng nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện nay
+ Đối với các cơ sở sản xuất và người dân trong các làng nghề. Thông
tin thu thập đối với nhóm đối tượng này là tình hình sản xuất, vốn, đất đai,
công nghệ, thị trường tiêu thụ sản phẩm, các ý kiến cảm nhận của các cơ sở


6
sản xuất và hộ sản xuất trong làng nghề về tác động của quản lý nhà nước trên
địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Khảo sát được tiến hành tại 9 huyện có làng nghề trên
địa bàn tỉnh, bao gồm các huyện thuộc cả miền biển, đồng bằng và trung du
miền núi của tỉnh Thanh Hóa.
Đối với cán bộ QLNN các cấp trên địa bàn tỉnh, từ tỉnh đến huyện, xã.
Thông tin thu thập từ đối tượng này bao gồm: Trình độ chuyên môn, sự phù
hợp của cơ chế chính sách, đánh giá công tác QLNN đối với làng nghề hiện
nay, những thành tựu hạn chế, những thuận lợi khó khăn và đề xuất phương
hướng đổi mới QLNN đối với làng nghề trên địa bàn tỉnh.
- Thang đo: Để thực hiện đánh giá mức độ cảm nhận, trong các bảng
hỏi, luận án sử dụng thang đo Likert 5 mức độ. Đây là thang đo được sử dụng
1 cách phổ biến trong nghiên cứu định lượng, được phát triển và giới thiệu
bởi Rennis Likert vào năm 1932. Việc nhận xét khi sử dụng giá trị trung bình
(Mean) đánh giá đối với từng yếu tố quy ước như sau:
Bảng 1. Thang đánh giá Likert
Mức

Khoảng điểm


Ý nghĩa

5

4.2 - 5.00

Tốt

4

3.40 - 4.19

Khá

3

2.60 - 3.39

Trung bình

2

1.80 - 2.59

Yếu

1

1.00 - 1.79


Kém

- Cách điều tra: NCS gửi phiếu điều tra khảo sát đến các cán bộ quản lý
có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu ở cấp tỉnh và cấp huyện, thông qua các
cán bộ quản lý cấp huyện để gửi phiếu điều tra khảo sát đến các đối tượng cần
thu thập thông tin còn lại.
Tổng số phiếu phát ra là 485 phiếu và tổng số phiếu thu về là 483
phiếu, trong đó đối tượng doanh nghiệp/cơ sở sản xuất và người dân là 293


7
phiếu trong đó có 03 phiếu không hợp lệ, đối tượng QLNN (gồm cán bộ cấp
tỉnh, huyện, xã, thôn xóm) là 190 phiếu.
- Cách thức xử lý số liệu: Mã hóa và nhập dữ liệu bằng phần mềm Excel;
Phân tích dữ liệu, tính toán các tham số thống kê, phân tích thống kê và diễn
giải kết quả bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20.0
5. Những đóng góp về mặt khoa học của luận án
Thứ nhất, đã phân tích làm rõ được sự cần thiết và tầm quan trọng của
công tác QLNN đối với làng nghề, đặc biệt là vai trò quan trọng của nhà nước
trong việc tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các làng nghề.
Thứ hai, làm rõ hơn về cơ sở lý luận, nhất là về khái niệm, nội dung,

tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng tới QLNN đối với làng nghề.
Rút ra được một số bài học cho tỉnh Thanh Hóa từ kinh nghiệm QLNN
đối với làng nghề ở các tỉnh Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình về công tác quy
hoạch, công tác đào tạo nghề, các chính sách hỗ trợ làng nghề…
Thứ ba, phân tích, làm rõ được thực trạng QLNN của chính quyền cấp
tỉnh Thanh Hóa đối với làng nghề trên các lĩnh vực quy hoạch, tổ chức thực
hiện quy hoạch; chính sách và tổ chức thực thi chính sách hỗ trợ phát triển

làng nghề; đào tạo nghề; thanh tra, kiểm tra…, chỉ rõ được những ưu điểm,
hạn chế và nguyên nhân trong công tác QLNN đối với làng nghề.
Thứ tư, đã đề xuất được phương hướng và các giải pháp hoàn thiện
QLNN đối với làng nghề trên địa bản tỉnh Thanh Hóa đến 2025 và định
hướng đến năm 2030.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu đạt được trong luận án góp
phần hệ thống và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về QLNN của chính quyền
cấp tỉnh đối với làng nghề trên địa bàn.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo, phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu những chuyên đề có
liên quan đến đề tài luận án.


8
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đạt được trong luận án góp phần
hoàn thiện QLNN đối với làng nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn
2018 - 2025 và định hướng đến năm 2030. Điểm nhấn của luận án là làm rõ
những hạn chế trong QLNN đối với làng nghề dẫn đến những mục tiêu, nguyên
tắc và các chỉ tiêu đã đạt trong phát triển làng nghề còn chưa được như mong
muốn, nhất là làng nghề phát triển còn phân tán, nhỏ lẻ, xen kẽ khu dân cư vừa
gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, vừa thiếu sự phối hợp ngành nghề
dẫn đến hiệu quả chưa cao; các làng nghề truyền thống (LNTT) còn bị mai
một, hoạt động khó khăn, chưa du nhập phát triển ngành nghề mới trên cơ sở
ứng dụng công nghệ mới, gắn bó giữa truyền thống và hiện đại; sự phát triển
làng nghề chưa khai thác được tiềm năng lợi thế của địa phương, nhất là du lịch
và hoạt động lễ hội. Từ đó luận án đề ra các giải pháp nhằm khắc phục những
yếu kém trong QLNN để phát triển làng nghề theo hướng tập trung, quy mô
lớn, khôi phục được làng nghề, ngành nghề truyền thống và du nhập các ngành
nghề mới, phát triển du lịch - làng nghề, lễ hội - làng nghề nhằm tạo thị trường

ổn định và bền vững cho làng nghề.
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham
khảo trong việc thực tiễn QLNN đối với làng nghề trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
và các địa phương có điều kiện tương đồng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung chính của luận án được kết cấu thành 4 chương, 12 tiết.


9
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ NƯỚC NGOÀI

1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến khái niệm, vai trò
và các nhân tố tác động đến sự phát triển làng nghề
- Trong tác phẩm "To Establish a Protection System for China’s
Famous Villages of Historic and Cultural Interest" (Để thiết lập một hệ
thống bảo vệ Làng lịch sử và văn hóa của Trung Quốc) của tác giả Liu
Peilin [142], tác giả đã khẳng định ở Trung Quốc, các làng nghề được quan
niệm như “ngọc trai của văn hóa truyền thống" và “bảo vật quốc gia của bộ
sưu tập dân gian”, đóng vai trò đặc biệt và có tác động to lớn tới nền kinh
tế - xã hội địa phương, do vậy cần được bảo vệ cho mục đích “tham quan
lịch sử văn hóa”. Tuy nhiên, tác giả cũng chưa đề cập cụ thể tới sự tác động
của nhà nước đến sự phát triển của làng nghề như: quy hoạch, chính sách,
vốn đầu tư; việc giải quyết ô nhiễm môi trường; việc áp dụng KHCN trong
sản xuất…
- Trong các tác phẩm được phát hành những năm đầu thế kỷ XX như

“Nhà máy làng xã" của Bành Tử [82]; “Mô hình sản xuất làng xã" của
N.H.Noace [43], các quan niệm về làng nghề bắt đầu được hình thành, tuy
nhiên chưa có sự thống nhất chung, mà chỉ đồng ý trên quan điểm rằng, sự
phát triển của các làng nghề (nhất là ở các nước châu Á) đã góp phần thúc đẩy
kinh tế - xã hội nông thôn, đã có rất nhiều quốc gia trong khu vực đầu tư phát
triển các LNTT, thủ công và đã thành công như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Ấn Độ, Thái Lan. Đó là những thành công tốt đẹp với mục đích bảo tồn
những sản phẩm nghệ thuật và nghề thủ công truyền thống, nhằm nâng cao
chất lượng của sản phẩm, đồng thời vẫn chú ý bảo tồn sự phát triển ở nông


10
thôn. Quan niệm này đưa ra mới chủ yếu xem xét ở góc độ đóng góp cho sự
phát triển kinh tế, mà chưa xem xét tới các yếu tố địa lý, lịch sử, văn hóa…
hình thành của các làng nghề, và cũng chưa đánh giá được sự tác động của
các chính sách đối với sự phát triển của làng nghề.
- Nhìn nhận về vai trò của các LNTT, hai tác giả LU Song và LU Lin
trong “Temporal Characteristics of Tourist Flows to Ancient Villages - A
Case Study of Two World Cultural Heritages, Xidi Village and Hongcun
Village" [143] chú trọng tới khía cạnh văn hóa truyền thống của làng nghề,
nghiên cứu đã chỉ ra rằng cần phải lưu giữ bản sắc văn hóa truyền thống, phát
triển các làng cổ theo hướng phục vụ cho sự phát triển du lịch hiện đại. Khái
niệm văn hóa làng nghề được làm rõ bởi sự cấu thành của các nhân tố của văn
hóa dân gian làng nghề. Đối tượng nghiên cứu đã được các tác giả lựa chọn là
các làng văn hóa di sản thế giới Xidi và làng Hongcun. Trong nghiên cứu chỉ
rõ vai trò to lớn của các làng cổ đối với phát triển du lịch của các địa phương,
giúp tăng số lượng khách du lịch, tour du lịch một cách nhanh chóng. Bên
cạnh đó, các tác giả cũng chỉ rõ về các yếu tố ảnh hưởng, đến văn hóa làng
nghề như các yếu tố xã hội, yếu tố môi trường tự nhiên và các chính sách của
nhà nước. Từ đó chỉ ra sự so sánh sơ bộ giữa các làng cổ xưa và các làng nghề

mới hình thành. Cuối cùng, các tác giả trình bày chi tiết những tác động của
các chính sách đến làng nghề. Nghiên cứu này góp phần thúc đẩy các nghiên
cứu về chính sách và tổ chức thực thi chính sách, như là một yếu tố tác động
đối với làng nghề, cung cấp cơ sở khoa học cho sự phát triển bền vững của
làng nghề.
1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển làng
nghề trong bối cảnh hội nhập và những vấn đề đặt ra hiện nay
- Trong nghiên cứu “Conversion of traditional village gardens and new
economic strategies of rural households in the area of Bogor, Indonesia" [137],
G.Michon và F.Mary nghiên cứu nội dung chuyển đổi khu vườn làng nghề


11
truyền thống (LNTT) và chiến lược kinh tế mới của các hộ gia đình nông thôn
trong khu vực Bogor, Indonesia. Kết quả nghiên cứu này tạo bước đệm để góp
phần cải thiện thu nhập và tình hình kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn ở
Indonesia bằng việc phát triển các làng nghề gắn liền với hình thức du lịch sinh
thái kết hợp với khu vườn LNTT. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ rõ những
sản phẩm nghệ thuật và đồ thủ công truyền thống, nếu được nhà nước quan tâm
và thúc đẩy thì sẽ có khả năng thực sự hội nhập được với thị trường thế giới,
đồng thời các làng nghề cũng phải tự mình cải thiện, đổi mới hình thức sản
xuất, kinh doanh để làng nghề được bảo tồn và lưu giữ mãi mãi.
- Theo K.Niedderer và K.Townsend trong “Designing Craft Research:
Joining emotion and knowledge" [141], nghề thủ công truyền thống là nghề
liên quan đến sáng tạo để tạo ra các đồ vật bắt nguồn từ kinh nghiệm và cảm
xúc, trong khi nghiên cứu là dành cho hoạt động tri thức. Làng nghề thủ công
bao gồm những nghề cần sự rèn luyện và hoạt động, nó liên quan chặt chẽ đến
sự nhạy cảm đối với sự hiểu biết về nguyên vật liệu để từ đó tạo ra sản phẩm
có các giá trị cảm xúc. Các tác giả cũng đã giới thiệu sự cần thiết về nghiên
cứu sáng tạo cho các mặt hàng thủ công. Nghiên cứu này đã phân tích khái

niệm làng nghề và các đặc tính nội tại của nó liên quan đến nghiên cứu. Nó đã
xem xét các giá trị tiềm năng của nghiên cứu để hiểu và thúc đẩy làng nghề
thủ công, cũng như các căng thẳng giữa các nhu cầu và yêu cầu của việc tiến
hành nghiên cứu trong làng nghề. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: Nghề thủ
công với sản phẩm của nó thực sự đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân
tộc, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Đây
chính là nền tảng và động lực cho sự phát triển, cũng là mục tiêu của sự phát
triển, bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển bền vững, lâu dài của các dân tộc.
Ngày nay, với thành tựu văn hóa - khoa học - kỹ thuật với những sản phẩm,
công cụ, kinh nghiệm sản xuất, sáng chế của con người qua nhiều thế hệ, cho
đến nay vẫn giữ nguyên giá trị.


12
- Các tác giả D.Chudasri, S.Walker và M.Evans đã công bố một nghiên
cứu tại miền Bắc của Thái Lan “Tổng quan các vấn đề phải đối mặt của
ngành công nghiệp thủ công mỹ nghệ và tiềm năng cho sáng tạo" [135].
Nghiên cứu này đã khảo sát các cơ hội cho việc sáng tạo nhằm đóng góp vào
tương lai bền vững cho sự phát triển của làng nghề. Từ đó đã chỉ ra những
thách thức trong việc xây dựng kế hoạch phát triển các làng nghề sản xuất đồ
thủ công ở Thái Lan, đồng thời đã đưa ra giải pháp đó là cần có sự hợp nhất
những đóng góp của nhà thiết kế và nhà sản xuất trong sản xuất đồ thủ công.
- N.VU trong “Applicability of the OVOP movement in rural tourism
development: Case of craft tourism in Vietnam" [146] đã nghiên cứu những
kinh nghiệm của ngành du lịch thủ công của Thái Lan. Kết quả nghiên cứu
của tác giả cho thấy các làng nghề thủ công của Thái Lan đã được phát triển
từ năm 2001 do sự thành công của phong trào "Một Tambon một Sản phẩm"
(OTOP) (Tambon là đơn vị hành chính địa phương cấp 3, dưới tỉnh (cấp 1) và
huyện (amphoe, cấp 2). Từ thành công của OTOP, chính phủ Thái Lan đã chỉ
định Bộ Thể thao và Du lịch (MTS) phát triển du lịch làng nghề thủ công ở

Thái Lan dựa trên phong trào OTOP. Do đó, tác giả đã rút ra được sự phát
triển du lịch OTOP là một hướng đi đúng, cần được nhân rộng và được coi là
một thước đo về sự duy trì và nâng cao chất lượng du lịch Thái Lan và các sản
phẩm truyền thống của các địa phương. Đồng thời nghiên cứu đã cho thấy việc
xây dựng các chính sách, lập kế hoạch và mục tiêu hành động cũng như phối
hợp triển khai thực hiện tốt giữa cơ quan quản lý các cấp với các doanh nghiệp
và cộng đồng địa phương sẽ đảm bảo cho việc phát triển du lịch làng nghề.
- J.Beamer trong “Prospects and Strategies for Asian Regional
Integration" [140] đã nghiên cứu thử nghiệm phương pháp tiếp cận lý thuyết
văn hóa đối với toàn cầu hóa và chủ nghĩa khu vực, nơi mà nhiều học giả lập
luận rằng các quá trình của chủ nghĩa khu vực liên quan đến kinh tế. Tiếp
đến là bản sắc và giá trị của làng nghề thủ công, trong phát triển du lịch làng


13
nghề, đây là một lợi thế để phát triển du lịch, nó được sử dụng là điểm khởi
đầu hoặc công cụ cho hội nhập. Cuối cùng là hiện trạng làng nghề thủ công
truyền thống của Nhật Bản và đưa ra các chiến lược hội nhập dựa trên cơ sở
điều tra sơ bộ trường hợp liên doanh Sơn mài Kiso Nhật Bản với Myanmar.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Thách thức khó khăn đối với Nhật Bản và Đông
Á trong thế kỷ XXI là vượt qua những khía cạnh "kinh tế" của hội nhập khu
vực và cố gắng hiểu được các bản sắc, giá trị và văn hóa của các nước láng
giềng. Nghiên cứu đã lập luận rằng sự nhấn mạnh về hội nhập khu vực ở châu
Á chủ yếu tập trung vào các vấn đề kinh tế và chính trị, và từ góc độ đó, đánh
giá khả năng hợp tác khu vực dưới hình thức các làng nghề. Nghiên cứu đã đề
xuất rằng các mối quan hệ kinh tế có thể không chỉ làm cho bản sắc châu Á
mạnh hơn, mà còn có thể mở đường cho một cộng đồng châu Á đầy hứa hẹn,
trong đó các giá trị chung và nền móng văn hóa là cơ sở cho sự tương đồng
trong sản xuất các mặt hàng thủ công truyền thống. LNTT gắn liền với các
bản sắc, giá trị và văn hóa có tiềm năng để tăng cường phát triển du lịch theo

hướng xây dựng du lịch cộng đồng, đặc biệt là khi hội nhập kinh tế diễn ra.
Nó có thể là lợi ích cao nhất của các quốc gia có liên quan để tập trung vào
việc chia sẻ các nền tảng chung, bắt đầu với hàng hóa truyền thống đại diện
cho ý nghĩa và giá trị.
1.1.3. Nhóm công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với
làng nghề
- Kinh nghiệm của Chính phủ Ethiopia trong việc chú trọng đến nâng
cấp, hiện đại hóa tân trang kết cấu hạ tầng giúp các làng nghề phát triển đã
được báo cáo trong công trình nghiên cứu “Ứng dụng khoa học và công nghệ
vào phát triển các làng nghề" của Trung tâm Khoa học Công nghệ của các
Quốc gia không liên kết và đang phát triển [78], theo đó có 83% người dân
Ethiopia sống ở các vùng nông thôn và kế sinh nhai xuất phát từ nông nghiệp.
Chính phủ Ethiopia đã thông qua chiến lược công nghiệp hóa phát triển nông


14
nghiệp, đóng vai trò làm khung cho quy hoạch đầu tư nông thôn trong các
lĩnh vực: cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội, nghiên cứu và mở rộng. Kết quả cho
thấy việc tạo môi trường thuận lợi để cho các làng nghề áp dụng khoa học
công nghệ nâng cao năng suất lao động, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng
và khả năng cạnh tranh của sản phẩm là việc làm rất cần thiết. Tuy nhiên,
nghiên cứu chưa đưa ra được các chính sách cụ thể để tháo gỡ khó khăn trong
việc thúc đẩy phát triển làng nghề ở nông thôn.
- Nghiên cứu của tác giả Awgichew về các chính sách và các giải pháp
nhằm xúc tiến các làng nghề nông thôn ở Ethiopia [133] tại Hội thảo quốc tế
về “Ứng dụng khoa học và công nghệ vào phát triển các làng nghề”. Tác giả
đã nêu lên nhiều kinh nghiệm trong quản lý nhà nước đối với làng nghề như
quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, thị trường… để giúp cho sự
phát triển của làng nghề. Đồng thời tác giả cũng đã đưa ra nhiều giải pháp để
thúc đẩy sự phát triển làng nghề như về quy hoạch, đất đai, vốn, lao động, thị

trường, khoa học công nghệ... Để đảm bảo các doanh nghiệp, hộ sản xuất vẫn
tồn tại, bên cạnh việc làm bằng tay, hầu hết công nghệ mới phải được đưa vào
sản xuất tại các công đoạn không cần thiết phải làm bằng tay.
- Với mục đích là cải thiện thu nhập của phụ nữ ở huyện miền núi
Malutang bằng cách thương mại hóa sản phẩm thêu truyền thống, dưới sự tài
trợ của quỹ Rockefeller, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Cộng đồng (Trung
Quốc) đã thực hiện dự án Nghiên cứu về việc thương mại hóa nghề thủ công
ở tỉnh Vân Nam. Qua việc triển khai thu thập toàn bộ mẫu thêu truyền thống
và sự thay đổi các mẫu thêu này sao cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu
dùng hiện nay. Dự án đã tiến hành tập huấn cho những người phụ nữ tham gia
dự án các kỹ thuật gia công, tạo mẫu để có thể sản xuất ra những sản phẩm
chất lượng cao và tiêu thụ tốt trên thị trường. Đồng thời dự án đã đưa ra
khung chi phí hợp lý cho sản phẩm bao gồm: nguyên vật liệu, thời gian và giá
bán để có thể có thu nhập cao. Dự án thành công và được chuyển giao đến


15
những huyện vùng núi khác ở tỉnh Vân Nam, làng Malutang trở thành một địa
phương nổi tiếng về mặt hàng thêu truyền thống.
- Giulia Barra trong “Chinese Craft Project a Product service system
for traditional craftsmanshiprecognition inside shanghai" [138] đã tiến hành
nghiên cứu dự án nhằm mục đích xác định các cơ hội để thúc đẩy và bảo tồn
di sản văn hóa phi vật thể của Trung Quốc, để tạo ra một cầu nối giữa các
biểu hiện của LNTT và hệ thống văn hóa hiện đại, hoạt động trong khu vực
Thượng Hải. Trong khi chính sách của UNESCO và Chính phủ tập trung vào
quy hoạch các LNTT quy mô lớn, thì tác giả lại thực hiện dự án ở cấp độ địa
phương để đem lại sự công nhận đặc biệt cho các làng nghề nhỏ lẻ hoặc ít nổi
tiếng. Nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra những lỗ hổng và các bước đi không
chắc chắn của sự phát triển làng nghề và đưa ra các giải pháp cần thiết để cải
tiến, đổi mới toàn bộ hoạt động của làng nghề: Một trong những vấn đề chính

là thiếu quy hoạch và chính sách để bảo tồn các làng nghề; nghiên cứu đã
không cho thấy bất kỳ kênh chính thức hoặc mạng lưới chính thống nào dành
cho các hoạt động của làng nghề. Không có các phường hội, hiệp hội làng
nghề thủ công nào để hỗ trợ cho tất cả các loại hình ngành nghề thủ công, để
có thể được tư vấn khi tìm kiếm việc làm hoặc trong trường hợp cần thiết.
- Các tác giả M.Redzuan và F.Aref trong “Constraints and potentials of
handicraft industry in underdeveloped region of Malaysia" [145] đã nghiên cứu
để xác định những hạn chế và tiềm năng mà làng nghề thủ công phải đối mặt ở
vùng ngoại ô kém phát triển của Malaysia. Nghiên cứu được thực hiện tại các
huyện Kota Bharu và Tumpat thuộc bang Kelantan, Malaysia. Nghiên cứu của
các tác giả nhận ra rằng Nhà nước chưa có một chương trình công nghiệp hóa
nông thôn một cách có tổ chức, để có sự liên kết chặt chẽ với các ngành công
nghiệp đô thị và làng nghề ở các vùng nông thôn. Do đó, để thúc đẩy các làng
nghề và công nghiệp hóa nông thôn, cần phải có một cách tiếp cận đa ngành,


16
trong đó làng nghề ở nông thôn nên được xem xét trong bối cảnh chung của nền
kinh tế quốc gia và không nên chia nhỏ. Nói cách khác, việc mở rộng làng nghề
ở nông thôn chỉ có thể được đưa ra khi có sự kết hợp giữa các chính sách và cách
tiếp cận về chính sách công nghiệp, chính sách nông nghiệp, quy hoạch khu vực
về cơ sở hạ tầng và tổ chức thể chế ở nông thôn. Điều này hàm ý rằng những nỗ
lực phối hợp tốt hơn nữa giữa các cơ quan chính phủ các ngành và các cấp khác
nhau cần được thực hiện trong giai đoạn lập quy hoạch, kế hoạch cũng như trong
quá trình thực hiện. Liên quan đến phát triển nông thôn, làng nghề ở nông thôn
nên đi đôi với nhau và tạo thành một bộ phận quan trọng của chiến lược phát
triển nông thôn. Mặc dù sự trợ giúp của chính phủ là rất quan trọng đối với sự
phát triển của làng nghề, nhưng cho tới nay vẫn chưa có hiệu quả. Những hạn
chế của làng nghề đã cản trở sự phát triển và tăng trưởng của ngành. Do đó, để
phát triển làng nghề cần có một quy hoạch, kế hoạch phát triển cụ thể, cần có

hành động cụ thể và có chính sách phối hợp giữa các cơ quan hỗ trợ phát triển
ngành, đặc biệt trong việc loại bỏ các hạn chế nêu trên.
- Theo Crafts Council trong “Korea Craft and Design Foundation"
[134], Hàn Quốc đã thành lập Quỹ nghề thủ công và thiết kế Hàn Quốc
(Korea Craft and Design Foundation-KCDF) là một tổ chức xã hội dưới sự
bảo trợ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc. Được thành lập để
quảng bá và hỗ trợ làng nghề và thiết kế đồ thủ công của Hàn Quốc, KCDF
đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển nhận thức và hiểu biết toàn
cầu về di sản sáng tạo và sản xuất hàng thủ công phong phú của Hàn Quốc.
Tổ chức KCDF cung cấp cho những người thợ thủ công, các nhà thiết kế,
các chuyên gia văn hóa và các chuyên gia trong lĩnh vực học thuật và công
nghiệp những cơ hội để trải nghiệm văn hóa Hàn Quốc thông qua các mẫu
thiết kế, nhiều trong số đó vẫn duy trì được cái hồn của cuộc sống hàng ngày
của Hàn Quốc.


17
1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ TRONG NƯỚC

1.2.1. Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến khái niệm, vai trò
và các nhân tố tác động đến sự phát triển của làng nghề
- "Ly nông, bất ly hương, làm thủ công tại làng" của các tác giả Đặng
Nguyên Anh, Hoàng Xuân Thành [2] thông qua kết quả của một dự án nghiên
cứu với sự hỗ trợ tài chính của Tổ chức Hỗ trợ phát triển quốc tế Đan Mạch
(DANIDA), cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) và Bộ Hợp
tác phát triển Thụy Sĩ (SDC), chỉ ra rằng việc nhà nước tạo điều kiện cho phát
triển các ngành nghề nói chung, làng nghề nói riêng sẽ giúp hạn chế tình trạng
di dân tự do từ khu vực nông thôn ra thành thị. Thông qua việc thâm canh sản
xuất, đa dạng hóa nông nghiệp cùng với việc thúc đẩy thương mại trong nước
và tiếp cận thị trường quốc tế vẫn là những mục tiêu hàng đầu trong chính sách

“Ly nông bất ly hương”. Theo đó, do quỹ đất có hạn, việc thu hút thêm lao
động trong lĩnh vực nông nghiệp là khó khăn, do vậy việc nhà nước tạo điều
kiện phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp - nghề thủ công ở khu vực
nông thôn là giải pháp chính giúp khai thác hết tiềm năng của liên kết nông
thôn - thành thị; góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương, thúc đẩy xóa
đói giảm nghèo, tránh hiện tượng di cư ra thành phố. Nhưng bên cạnh đó, các
tác giả cũng chưa đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với làng
nghề như thế nào.
- Các nghề và làng nghề tiêu biểu của Việt Nam trong quá khứ cũng
như hiện tại đã được đề cập một cách tổng quát trong công trình nghiên cứu
“Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam" của Bùi Văn Vượng [131].
Nghề thủ công và làng nghề vẫn gần như nằm ngoài lề của các chương trình
khoa học. Nhiều nghề thủ công đã thất truyền, nghệ nhân tài hoa còn rất ít.
Các làng nghề phát triển gần như tự phát trong điều kiện hết sức khó khăn.
Ngày nay với công nghệ sản xuất hiện đại, các sản phẩm thủ công truyền
thống, do tính độc đáo và độ tinh xảo đến kỳ lạ của nó, vẫn rất cần đến con


18
người, nếu không nói là ngày càng cần hơn. Các làng nghề với những “bàn
tay vàng" của người thợ thủ công cần được coi trọng, bảo tồn và phát triển.
Những công nghệ truyền thống quan trọng và quý giá của dân tộc cần được
bảo lưu, sử dụng và phát triển theo hướng hiện đại hóa.
- Công trình: “Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát triển làng
nghề truyền thống" [20] của Nguyễn Văn Đại và Trần Văn Luận. Cuốn sách
đã làm rõ được khái niệm làng nghề và LNTT, phân loại được làng nghề, phố
nghề và xã nghề. Theo đó, làng nghề được hiểu là một thể chế xã hội có từ rất
lâu trong lịch sử nước ta, thường cấu thành hai yếu tố làng và nghề, trong đó
hình thành và phát triển các nghề thủ công phục vụ nhu cầu của người dân địa
phương. Hay nói một cách khác, làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong

một thôn (làng), cùng làm một nghề TTCN (40-50% số hộ làm cùng một
nghề) mà các hộ có thể sinh sống bằng nghề đó, thu nhập từ nghề đó chiếm
trên 50% tổng sản lượng của địa phương (thôn, làng).
- Công trình “Phát triển LNTT trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa (CNH, HĐH)" (2003), sách tham khảo do Mai Thế Hởn (chủ biên) và
các cộng sự. Cuốn sách đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về
phạm trù LNTT, đặc điểm hình thành và vị trí, vai trò của LNTT với sự phát
triển của kinh tế - xã hội qua các thời kỳ. Kinh nghiệm phát triển LNTT tiểu
thủ công nghiệp của một số nước trên thế giới đã được khảo cứu và bài học
quý báu mà Việt Nam cần quan tâm đã được rút ra. Đánh giá một cách có căn
cứ khoa học thực trạng phát triển LNTT ở Việt Nam trong những năm qua,
chỉ ra những hạn chế, thiếu sót cần khắc phục. Từ đó đưa ra phương hướng và
giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển LNTT trong quá trình CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn.
- Công trình “Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số
tỉnh đồng bằng sông Hồng (ĐBSH)” (2005), đề tài khoa học cấp Bộ do
Nguyễn Trí Dĩnh làm chủ nhiệm. Đề tài đã tập trung làm rõ những vấn đề lý


Xem Thêm

×