Tải bản đầy đủ

VIỆC LÀM CỦA NỮ THANH NIÊN Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ KIM HUỆ

VIỆC LÀM CỦA NỮ THANH NIÊN
Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ KIM HUỆ

VIỆC LÀM CỦA NỮ THANH NIÊN
Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số: 62 31 01 02

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN QUANG THUẤN

HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu, số
liệu trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng. Những kết luận
khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào.
Tác giả luận án

Lê Thị Kim Huệ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC LÀM CỦA
NỮ THANH NIÊN Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH

1.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan tới đề tài
1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan tới đề tài
1.3. Tổng quan các kết quả nghiên cứu đã đạt được liên quan tới đề tài và
các vấn đề đặt ra
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM CỦA NỮ
THANH NIÊN Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH

2.1. Khái niệm và đặc điểm việc làm của nữ thanh niên
2.2. Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của nữ thanh niên ở
các huyện ngoại thành
2.3. Phương thức tạo việc làm và tiêu chí đánh giá việc làm của nữ thanh
niên ở các huyện ngoại thành
2.4. Kinh nghiệm của một số nước và địa phương về giải quyết việc làm
của nữ thanh niên ở các huyện ngoại thành trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội
Chương 3: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA NỮ THANH NIÊN Ở CÁC
HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010 - 2018


Trang
1
8
8
16
23
28
28
44
53

65
76

3.1. Những thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội các
huyện ngoại thành Hà Nội ảnh hưởng đến việc làm của nữ thanh niên 76
3.2. Thực trạng việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại thành
Hà Nội
87
3.3. Đánh giá chung về việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại
thành Hà Nội
111
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VIỆC LÀM
CỦA NỮ THANH NIÊN Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH HÀ
NỘI ĐẾN NĂM 2025-2030

4.1. Phương hướng phát triển việc làm của nữ thanh niên ở các huyện
ngoại thành Hà Nội
4.2. Những giải pháp chủ yếu để phát triển việc làm của nữ thanh niên ở
các huyện ngoại thành Hà Nội
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

118
118
129
143
145
146
154


DANH MỤC CÁC VIẾT TẮT
BLLĐ

:

Bộ luật Lao động

CNH, HĐH

:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNH, ĐTH

:

Công nghiệp hoá, đô thị hoá

DNNVV

:

Doanh nghiệp nhỏ và vừa

FAO

:

Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc

GDP

:

Tổng sản phẩm quốc nội

ILO

:

Tổ chức Lao động quốc tế

KCN

:

Khu công nghiệp

KT - XH

:

Kinh tế - xã hội

LĐTB&XH

:

Lao động, thương binh và xã hội

LLLĐ

:

Lực lượng lao động

NTN

:

Nữ thanh niên

NTM

:

Nông thôn mới

PTKT

:

Phát triển kinh tế

THCS

:

Trung học cơ sở

THPT

:

Trung học phổ thông

TNCS HCM

:

Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

TP.HCM

:

Thành phố Hồ Chí Minh

NTNNT

:

Nữ thanh niên nông thôn

TTDVVL

:

Trung tâm dịch vụ việc làm

UBND

:

Uỷ ban nhân dân

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1:
Bảng 2.2:
Bảng 2.3:
Bảng 3.1:
Bảng 3.2:
Bảng 3.3:

Bảng 3.4:

Bảng 3.5:
Bảng 3.6:
Bảng 3.7:
Bảng 3.8:
Bảng 3.9:
Bảng 3.10:
Bảng 3.11:
Bảng 3.12:
Bảng 3.13:

Số lượng và phân bố phần trăm thanh niên đang làm việc
Tỷ số việc làm trên dân số của thanh niên và tỷ số việc làm
trên dân số của dân số từ 15 tuổi trở lên
Cơ cấu tuổi của lao động có việc làm chia theo vị thế
việc làm
Cơ cấu đất sử dụng tính đến 31/12/2016
Một số chỉ tiêu kinh tế chính giai đoạn 2005 - 2016
Diện tích, dân số, mật độ dân số và đơn vị hành chính
tính đến 31/12/2016 của các huyện ngoại thành thành
phố Hà Nội
Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động chia
theo ngành nghề tại các huyện ngoại thành Hà Nội tính
đến 01/4/2016
Một số chỉ tiêu kinh tế chính giai đoạn 2005 - 2016
Dân số từ 15 tuổi trở lên và dân số trong độ tuổi thanh niên
có việc làm ở các huyện ngoại thành Hà Nội năm 2016
Tỉ lệ biết đọc biết viết của thanh niên các huyện ngoại
thành Hà Nội
Trình độ học vấn phổ thông của nữ lao động các huyện
ngoại thành Hà Nội
Thực trạng đi học của nữ thanh niên nông thôn các huyện
ngoại thành Hà Nội
Trình độ học vấn cao nhất của nữ thanh niên nông thôn các
huyện ngoại thành Hà Nội
Cơ cấu trình độ chuyên môn kĩ thuật của lao động nữ
thanh niên ngoại thành Hà Nội năm 2016
Số lao động trong các doanh nghiệp phân theo khu vực
kinh tế và đơn vị hành chính tại thời điểm 31/12/2017
Số lao động trong các cơ sở kinh doanh siêu nhỏ và hộ gia
đình phân theo đơn vị hành chính

Trang
39
40
40
78
80

81

82
85
88
89
91
91
93
94
98
100


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH
Trang
Biểu đồ 2.1:

Tỷ lệ phân bổ lực lượng lao động theo nhóm tuổi và
thành thị/nông thôn, năm 2017

Biểu đồ 3.1:

41

Mạng lưới các trường học trên địa bàn các huyện ngoại
thành Hà Nội

83

Biểu đồ 3.2:

Tỉ lệ đi học theo các vùng kinh tế xã hội

90

Biểu đồ 3.3:

Lý do chủ yếu các nữ thanh niên nông thôn các huyện
ngoại thành Hà Nội trong độ tuổi 16 tới 24 tuổi phải
dừng việc học lên cao

Biểu đồ 3.4:

Cơ cấu việc làm ngành nông nghiệp phân theo mức độ
tham gia của thành phố Hà Nội

Biểu đồ 3.5:

95

Phân bố lao động nông nghiệp ở các huyện ngoại thành
Hà Nội

Biểu đồ 3.6:

92

95

Phân bổ lao động nông nghiệp trẻ ở các huyện ngoại
thành Hà Nội

96

Biểu đồ 3.7:

Cơ cấu lao động nông nghiệp Hà Nội 2017

96

Biểu đồ 3.8:

So sánh cơ cấu lao động nông nghiệp ở huyện Ba Vì và
Hoài Đức

Hình 3.1:

97

Bản đồ địa giới hành chính các huyện ngoại thành thành
phố Hà Nội

77


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm là một trong những yêu cầu cơ bản nhất của đời sống con người.
Đối với quốc gia, việc làm có tác động đối với sự phát triển kinh tế và ổn định
đời sống xã hội... của mỗi nước, giúp thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã
hội (KT-XH) của quốc gia đó. Phát triển việc làm sẽ giải quyết vấn đề thu nhập
của người dân, từ đó giúp ổn định cuộc sống, mà bên cạnh đó việc làm là một
phần quan trọng của công cuộc phát triển bền vững, đảm bảo an sinh xã hội cũng
như ổn định xã hội trong sự phát triển của bất kỳ quốc gia nào. Vì vậy, trong hầu
hết các báo cáo tình hình phát triển KT-XH của các địa phương hay các nước,
chỉ tiêu về việc làm đều được đề cập, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá
tình hình phát triển về KT-XH của quốc gia đó.
Hà Nội là thành phố lớn nhất Việt Nam về diện tích, đồng thời cũng là địa
phương đứng thứ nhì về dân số với tổng lượng lao động làm việc trên địa bàn tăng
cao theo mỗi năm. Đến nay, thành phố có diện tích là 3.324,3 km2, dân số là
7.742.200 người là điều kiện, tiềm năng vật chất to lớn để thực hiện thắng lợi công
nghiệp hoá, đô thị hoá (CNH, ĐTH) để xây dựng thủ đô văn minh, hiện đại.
Hà Nội hiện nay có 17 huyện ngoại thành với diện tích tự nhiên 2.841,8
km2, chiếm 85,5% và dân số 4,07 triệu người chiếm 60,79%. Cùng với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ ĐTH nhanh đã làm nảy sinh nhiều vấn đề
về kinh tế- xã hội, trong đó có vấn đề việc làm và thu nhập của người lao động ở
các huyện ngoại thành: Tỷ lệ thiếu việc làm những năm gần đây luôn ở mức cao
từ 10,2% đến 12,1% [32, tr.6]. Trong khi đó, dân số phân theo giới tính ở các
huyện ngoại thành tỷ lệ nữ cao hơn nam. Điều đó dẫn đến vấn đề việc làm của
lao động nữ nói chung, của nữ thanh niên (NTN) ở các huyện ngoại thành là một
nội dung cần nghiên cứu tìm hiểu.
Từ khi thành phố Hà Nội mở rộng (2008) đến nay, ở các huyện đã có rất
nhiều chương trình phát triển KT-XH và các phong trào hướng đến vấn đề việc
làm của NTN và đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trước sức ép của


2

quá trình ĐTH nhanh và tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0... vấn đề
việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành thủ đô đang bộc lộ nhiều hạn chế,
bất cập về số lượng thấp, chất lượng không ổn định, cơ cấu mất cân đối, nghề
nghiệp chủ yếu là việc lam giản đơn, thu nhập thấp... Mặc dù có lợi thế là lực
lượng thanh niên của thủ đô, tuy nhiên NTN ở các huyện ngoại thành phân tán
trên địa bàn rộng, trình độ không đều, những vấn đề tập quán, văn hóa vùng
miền còn nhiều khác biệt... Mặt khác, xuất phát từ cơ chế phối hợp giữa các cơ
quan ban ngành trong việc thực thi vấn đề việc làm còn nhiều bất cập. Chất
lượng đội ngũ thực hiện công tác phát triển việc làm không đồng đều, vai trò
xung kích của tổ chức Đoàn các cấp với vấn đề việc làm của thanh niên còn mờ
nhạt và các nội dung, phương thức tạo việc làm của NTN ở các huyện ngoại
thành Hà Nội còn nhiều hạn chế...
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới, để có cơ sở lý luận và những đánh giá toàn
diện, tổng quát dựa trên những căn cứ khoa học khách quan vấn đề việc làm của
NTN trong trong bối cảnh mới. Từ đó, soi chiếu vào vấn đề việc làm của NTN ở
các huyện ngoại thành. Coi đó là căn cứ để đề xuất các phương hướng và giải
pháp phù hợp nhằm hoàn thiện và phát triển việc làm của làm của NTN ở các
huyện ngoại thành trong quá trình xây dựng và phát triển nông thôn của thủ đô
văn minh hiện đại. Đó là lý do vấn đề "Việc làm của nữ thanh niên ở các
huyện ngoại thành Hà Nội" được chọn làm đề tài nghiên cứu của luận án tiến
sỹ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu để xây dựng khung lý luận về việc làm của nữ thanh niên ở
các huyện ngoại thành thành phố trong quá trình CNH, ĐTH trước tác động của
quá trình hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Qua đó, làm căn
cứ để khảo sát thực tiễn thực trạng việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành
Hà Nội. Luận án phân tích, đánh giá dựa vào các phương thức, điều kiện, tiêu chí
và các nhân tố ảnh hưởng... để làm rõ thực trạng việc làm của NTN ở các huyện
ngoại thành Hà Nội trên các mặt kết quả đạt được, khó khăn tồn tại và nguyên


3

nhân. Từ đó đề ra mục tiêu, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện
và phát triển việc làm về số lượng, chất lượng, cơ cấu, giới tính... phù hợp với
đặc điểm và điều kiện của NTN ở các huyện ngoại thành Hà Nội trong quá trình
CNH, ĐTH.
2.2. Nhiệm vụ của luận án
Để thực hiện mục đích trên, luận án tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp, hệ thống hoá, bổ sung để xây dựng khung lý luận về việc làm
nói chung ở nước ta và NTN ở các huyện ngoại thành thủ đô nói riêng trong bối
cảnh mới của quá trình phát triển đất nước
- Nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn của một số nước và một số thành phố
lớn trong nước về phát triển việc làm của NTN ở các huyện/vùng ven đô.
- Phân tích và đánh giá thực trạng việc làm của NTN ở các huyện ngoại
thành Hà Nội giai đoạn 2010 - 2018.
- Đề xuất, phương hướng và một số giải pháp phù hợp nhằm phát triển
việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành Hà Nội cả trước mắt và lâu dài đến
năm 2025 - 2030.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động được rất nhiều
các ngành khoa học nghiên cứu như: Xã hội học; Tâm lý học; Khoa học giáo dục
hay khoa học nghiên cứu về quyền con người; kinh tế học... Riêng trong ngành
khoa học kinh tế cũng có nhiều chuyên ngành sâu như: Kinh tế lao động; Quản
trị kinh doanh; Quản lý kinh tế; Kinh tế học phát triển; Quản trị nhân lực... Và ở
mỗi chuyên ngành cũng có cách tiếp cận và xác định đối tượng nghiên cứu khác
nhau. Từ mục đích và nhiệm vụ của luận án đặt ra, trên bình diện và hướng tiếp
cận từ chuyên ngành kinh tế chính trị, luận án xác định:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là một tập hợp những nhân tố cấu thành
các nội dung liên quan tới việc làm và phát triển việc làm của nữ thanh niên ở các
huyện ngoại thành thành phố với xuất phát điểm tiếp cận từ góc độ quan hệ sản
xuất trong mối liên hệ với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng.


4

Trong đó, lực lượng sản xuất nhấn mạnh các nguồn lực để tạo việc làm và
giải quyết việc làm. Quan hệ sản xuất được đề cập đến với các phương thức,
hình thức tổ chức và quan hệ lợi ích trong phát triển việc làm của nữ thanh niên
trong điều kiện mới của quá trình phát triển. Kiến trúc thượng tầng nghiên cứu
hướng vào vai trò của nhà nước, các tổ chức của hệ thống chính trị, đặc biệt là
tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (TNCS HCM) về vấn đề việc
làm của NTN ở các huyện ngoại thành trong bối cảnh phát triển mới của đất
nước nói chung và của thủ đô Hà Nội.
Khi trình bày luận án xin phép được sử dụng cụm từ "việc làm của nữ
thanh niên ở các huyện ngoại thành" với hàm ý "việc làm của nữ thanh niên
nông thôn" và "việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại thành của thành
phố trực thuộc Trung ương- cấp tỉnh".
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu về việc làm của nữ thanh niên ở các
huyện ngoại thành. Khi khảo sát, căn cứ vào số liệu, tư liệu về các nội dung liên
quan đến việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành Hà Nội để chỉ ra những nét
riêng thể hiện tính đặc thù.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu việc làm của NTN ở các huyện
ngoại thành Hà Nội (gồm 17 huyện, có phân chia tương đối thành 03 vùng có
các điều kiện KT-XH và văn hóa khác nhau gồm: Các huyện phía Tây vùng Ba
Vì, Sơn Tây cũ; các huyện phía Đông Nam và các huyện phía Bắc... để có những
phân tích chuyên sâu gắn với thực tiễn các vùng).
- Về thời gian: Luận án phân tích, đánh giá thực trạng việc làm của nữ
thanh niên ở các huyện ngoại thành Hà Nội giai đoạn 2010 - 2017, một số tư liệu
cập nhật đến 2018 và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển việc
làm của NTN ở các huyện ngoại thành Hà Nội đến năm 2025 - 2030.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và


5

chính sách, pháp luật của Nhà nước về việc làm và giải quyết việc làm. Đồng
thời tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã công bố về việc làm và giải
quyết việc làm của các nhà khoa học và các tổ chức trong và ngoài nước.
4.2. Cơ sở thực tiễn
Luận án dựa trên cơ sở thực tiễn việc làm và phát triển việc làm cho người
lao động ở các huyện ngoại thành Hà Nội nói chung trong quá trình CNH, ĐTH.
Đặc biệt, luận án đi sâu nghiên cứu những chính sách của nhà nước liên quan
trực tiếp đến vấn đề việc làm của NTN như: kế hoạch đã triển khai thực hiện và
định hướng giải quyết việc làm đến năm 2025 - 2030; quy hoạch phát triển NTM
trong đó có chương trình giải quyết việc làm của các huyện ngoại thành thủ đô
đến năm 2025 - 2030; các đề án về giải pháp tạo việc làm và giải quyết việc làm
và những báo cáo có liên quan để phục vụ cho nghiên cứu đề tài luận án. Đồng
thời luận án cũng bám sát Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS
HCM lần thứ XI năm 2017 và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đoàn TNCS HCM
thành phố Hà Nội lần thứ XV nhiệm kỳ 2017-2022 về vấn đề việc làm của NTN
ở các huyện ngoại thành.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của Chủ nghĩa Mác - Lênin và các phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học
kinh tế chính trị như: Trừu tượng hoá khoa học, phân tích, tổng hợp, kết hợp
lôgíc với lịch sử, thống kê, khảo sát, tổng kết thực tiễn để giải quyết các nhiệm
vụ đặt ra trong nghiên cứu. Các phương pháp sẽ được sử dụng linh hoạt, phù hợp
trong các chương, các tiết của bản luận án, cụ thể:
- Chương 1: Chủ yếu sử dụng phương pháp hệ thống hoá, phân tích, luận
giải nhằm rút ra những kết luận mang tính tổng quát để đánh giá mức độ, phạm
vi, nội dung, kết quả... của các công trình nghiên cứu đã được công bố. Từ đó,
đặt trong bối cảnh mới về nội dung nghiên cứu nhằm tìm ra những khoảng trống
về lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu để định hướng thực hiện
hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu.
- Chương 2: Tập trung các phương pháp hướng vào hệ thống hoá những


6

vấn đề lý luận theo cách tiếp cận đặc thù của kinh tế chính trị là: Trừu tượng hoá
khoa học gắn với mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm hoàn thiện và kế thừa có
bổ sung để hình thành khung lý thuyết về việc làm của NTN ở các huyện ngoại
thành. Từ đó làm căn cứ khoa học để khảo sát vấn đề việc làm của NTN ở các
huyện ngoại thành Hà Nội.
- Chương 3: Kết hợp sử dụng linh hoạt phương pháp tổng hợp, thống kê,
phân tích so sánh theo các tiết và tiểu tiết của chương để kiểm chứng các số liệu,
tư liệu đã thu thập được từ thực tế việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành
thủ đô. Đồng thời, khi trình bày kết quả khảo sát có sử dụng các sơ đồ, biểu đồ,
đồ thị theo nhiều dạng để minh hoạ cho các phân tích, đánh giá.
- Chương 4: Từ việc chắt lọc kết quả nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn
của 3 chương. Luận án hướng vào sử dụng phương pháp khái quát hoá để vừa dự
báo và đề xuất những mục tiêu, phương hướng gắn với tình hình thực tế của thế
giới, trong nước và của thủ đô Hà Nội. Từ đó suy luận thực chứng để đề xuất các
giải pháp có tính khách quan, khoa học, khả thi cả trước mắt và lâu dài nhằm đạt
được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.
5. Những đóng góp mới của luận án
5.1. Về lý luận
- Hệ thống hoá các kết quả nghiên cứu kế thừa có chọn lọc và bổ sung để
xây dựng khung lý luận về việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành trong quá
trình CNH, ĐTH, đặt trong điều kiện mới của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
với nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế.
5.2. Về thực tiễn
- Từ khung lý luận được xây dựng và hoàn thiện đó là cánh cửa mở để đi
sâu tìm hiểu và phân tích vấn đề việc làm cho nhóm đối tượng đặc thù là NTN.
Nhóm đối tượng này ở địa bàn các huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội mới mở
rộng và đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, ĐTH hướng đến xây dựng nông
thôn của thủ đô văn minh hiện đại.
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước và thành phố trong nước trên
phương diện tiếp cận theo đối tượng của kinh tế chính trị theo nhóm nội dung về


7

quan hệ sản xuất; lực lượng sản xuất và vai trò của Nhà nước về vấn đề việc làm,
phát triển việc làm… cho lực lượng lao động (LLLĐ) nông thôn nói chung và
NTN nói riêng.
- Dựa vào kết quả khảo sát thực tế tại địa bàn, thời gian và không gian
nghiên cứu. Luận án đi sâu phân tích, đánh giá khoa học, khách quan theo khung
lý thuyết thực trạng vấn đề việc làm và phát triển việc làm của NTN ở các huyện
ngoại thành Hà Nội. Các kết quả phân tích đánh giá được trình bày theo cách
truyền thống bao gồm: Kết quả đạt được; những tồn tại, yếu kém và nguyên
nhân...
- Trên cơ sở dự báo về xu hướng biến động quốc tế và trong nước ảnh
hưởng đến vấn đề việc làm dưới tác động của nền kinh tế thị trường hiện đại và
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Luận án đề xuất những mục tiêu, phương
hướng và các giải pháp khả thi cả trước mắt và lâu dài nhằm hoàn thiện và phát
triển việc làm của NTN ở các huyện ngoại thành Hà Nội. Đây sẽ là tài liệu có ý
nghĩa thiết thực giúp các cấp chính quyền thành phố và các tổ chức của hệ thống
chính trị làm căn cứ hoàn thiện chính sách, biện pháp, thực hiện tốt những nội
dung về việc làm nói chung và giải quyết việc làm của NTN ở các huyện ngoại
thành nói riêng trong quá trình xây dựng thủ đô văn minh hiện đại.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận án được kết cấu gồm 4 chương 11 tiết.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về việc làm của nữ thanh niên
ở các huyện ngoại thành
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm của nữ thanh niên ở các
huyện ngoại thành
Chương 3: Thực trạng việc làm của nữ thanh niên ở các huyện ngoại
thành Hà Nội giai đoạn 2010 - 2018
Chương 4: Phương hướng và giải pháp phát triển việc làm của nữ thanh
niên ở các huyện ngoại thành Hà Nội đến năm 2025 - 2030


8

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC LÀM
CỦA NỮ THANH NIÊN Ở CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI CÓ LIÊN QUAN
TỚI ĐỀ TÀI

1.1.1. Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin
- Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về phụ nữ và vai trò của phụ nữ
trong lao động sản xuất và đời sống xã hội.
Chủ nghĩa Mác ra đời từ giữa thế kỷ XIX đã góp phần rất quan trọng đưa
sự phát triển lý thuyết nữ quyền, lý thuyết giới bước sang một giai đoạn phát
triển mới.Những quan điểm về địa vị, vai trò của người phụ nữ ở các chế độ xã
hội nói chung, đặc biệt quan tâm đến số phận của phụ nữ trong chế độ tư bản chủ
nghĩa nói riêng, phân tích những nguyên nhân của sự bất bình đẳng nam - nữ.
Điều quan trọng là đã vạch rõ xu hướng biến đổi địa vị, vai trò người phụ nữ
theo hướng tiến tới sự bình đẳng nam nữ trong xã hội và tính tất yếu của cách
mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Chỉ khi
xoá bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ công hữu chính là thủ
tiêu sự lệ thuộc kinh tế của phụ nữ đối với nam giới. Đưa phụ nữ vào nền sản
xuất xã hội, họ sẽ không còn bị trói chặt trong công việc gia đình, lao động gia
đình trở thành bộ phận của lao động xã hội. Đồng thời hôn nhân giữa nam và nữ
được xây dựng trên cơ sở tự nguyện chứ không vì lợi ích kinh tế chi phối hay
những yếu tố phi kinh tế. Khẳng định điều này, Ph. Ăngghen viết: "… Đặc tính
của sự thống trị của người chồng đối với người vợ trong gia đình hiện đại, và sự
tất yếu phải xác lập sự bình đẳng xã hội thật sự giữa hai bên, cũng như phương
thức xác lập sự bình đẳng ấy, chỉ bộc lộ ra hoàn toàn rõ ràng một khi mà cả vợ
chồng đều bình đẳng trước pháp luật" [19, tr.116]. Tiếp tục phát triển luận điểm
của Ph. Ăngghen, Lênin đặc biệt nhấn mạnh đến cảnh "hai tròng áp bức" mà giới
nữ phải chịu đựng. Thứ nhất, với tư cách là LLLĐ, phụ nữ chịu sự áp bức của
chủ nghĩa tư bản. Thứ hai, với tư cách là phụ nữ, họ chịu địa vị thứ yếu trong hệ


9

thống luật pháp hiện tồn và những nghĩa vụ gia đình đè nặng trên vai. Khi đồng
thời đảm nhiệm hai chế độ làm việc này, người phụ nữ phải hy sinh đời sống
riêng tư, đánh mất cơ hội phát triển học thức và cả cơ hội tham gia đời sống
chính trị. V.I. Lênin khẳng định: "Muốn để giải phóng phụ nữ, muốn làm cho
thật sự bình đẳng với nam giới, thì phải có nền kinh tế chung của xã hội, phải để
cho phụ nữ tham gia lao động sản xuất chung. Như thế phụ nữ mới có địa vị bình
đẳng với nam giới" [95, tr.230]. Chế độ dân chủ tư sản tự bản thân nó không xoá
bỏ áp bức giai cấp, nếu chỉ dừng lại ở những yêu sách dân chủ tư sản đấu tranh
đòi quyền cho phụ nữ thì chưa đủ mà phải hướng tới sự kết hợp những yêu sách
này với vũ khí căn bản của cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ, đó là lý luận của
chủ nghĩa cộng sản.
Ngay từ những năm 1844-1845 C.Mác và Ph. Ăngghen đã phát hiện ra
một xu hướng chung của giới chủ tư bản. Đó là tăng cường tuyển dụng lao động
nữ và trẻ em gái vào làm việc trong các nhà máy, công xưởng vì mục đích bản
chất của tư bản là lợi nhuận. Trong tác phẩm "Tình cảnh giai cấp lao động ở
Anh" Ph. Ăngghen đã lý giải điều này. Vì lao động của phụ nữ dưới chủ nghĩa tư
bản là thứ lao động rẻ mạt, việc sử dụng nguồn lao động này khiến nhà tư bản
thu được món lợi kếch sù. Vậy nên, giới chủ tư bản luôn tìm cách thải hồi nam
công nhân để thu hút lao động nữ và buộc họ phải làm việc đến kiệt sức trong
điều kiện không bảo đảm cho sức khoẻ, từ đó khiến cho vóc người phụ nữ bị
biến dạng, trở nên thấp bé, cằn cỗi và bị mắc nhiều căn bệnh nan y. Giới chủ tư
bản thích thuê những người phụ nữ có gia đình hơn bởi vì khi đó người phụ nữ
phải làm việc cật lực hơn để kiếm thêm thu nhập, tư liệu sinh hoạt ít ỏi nuôi sống
cho gia đình mình. Điều đó cho thấy sự bóc lột hết sức tinh vi, dã man và tàn bạo
của giới chủ tư bản. Khi trình bày về lý luận sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
biểu hiện trong đời sống hiện thực của xã hội tư bản chủ nghĩa C.Mác đã khái
quát vấn đề sử dụng lao động phụ nữ và trẻ em trong các ngành sản xuất độc hại.
Chế độ lao động trong công xưởng tư bản chủ nghĩa đã không tính đến những
đặc điểm của phụ nữ và nam giới, bắt phụ nữ phải làm việc lẫn lộn với nam giới
trong điều kiện khắc nghiệt, bị đối xử giống như thú vật hơn là giống người.


10

Trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau, các hình thức bất bình đẳng tuy có
thay đổi nhưng bản chất thì không thay đổi. Dưới chế độ tư hữu, phụ nữ phải
chịu một nghịch lý là vai trò lao động thì lớn nhưng bị đối xử một cách thấp hèn
cả trong gia đình lẫn ngoài xã hội, bị bóc lột, bị tha hoá. So với giai đoạn chủ
nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền,
địa vị, vai trò người phụ nữ vẫn không hề thay đổi. Họ vẫn là công cụ lao động
của giới tư bản mà thôi. Điều này cũng đã được V.I.Lênin làm rõ vào nửa đầu
thế kỷ XX. Theo ông, trong những quốc gia văn minh và được xem là tiến bộ
nhất, phụ nữ vẫn ở trong tình trạng đáng gọi là "nô lệ nội trợ" và không hề có
một nhà nước tư bản nào, cho dù được xem là thể chế cộng hoà tự do nhất, mà
tại đó phụ nữ có quyền đầy đủ và ngang bằng như nam giới. V.I. Lênin khẳng
định vai trò quan trọng phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, người cộng sản phải
ý thức được vấn đề quyền lợi, lợi ích và nhu cầu của giới nữ trong quá trình
tuyên truyền cách mạng. Con đường duy nhất để đi tới một sự giải phóng hoàn
toàn đối với phụ nữ là cách mạng vô sản và sự nghiệp cách mạng XHCN.
- Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về lao động và việc làm: Tác
phẩm nổi tiếng Tư bản [16]. Khi giải thích nguồn gốc của sự thay thế các
phương thức sản xuất từ thấp đến cao trong lịch sử, C.Mác và Ph.Ănghen đã
chứng minh và khẳng định rằng lao động sản xuất của cải vật chất là cơ sở của
đời sống xã hội loài người. Trong quá trình đó không những con người cải tạo
thế giới tự nhiên mà còn góp phần hoàn thiện chính bản thân con người. Vì vậy
vấn đề việc làm cho người lao động luôn được quan tâm. Đây không chỉ là vấn
đề có liên quan đến cuộc sống và sinh kế của bản thân người lao động mà nó còn
liên quan đến quá trình phát triển xã hội. Ở từng thời kỳ lịch sử, vấn đề việc làm
cho người người lao động cũng có những đặc điểm khác nhau. Để xã hội phát
triển ổn định, bền vững, việc nghiên cứu tìm kiếm các cách thức để tạo ra nhiều
công ăn, việc làm cho người lao động luôn được xem là một vấn đề cơ bản của
phát triển.
Trong học thuyết giá trị thặng dư, khi phân tích bản chất và những yếu tố
cơ bản để chứng minh sức lao động là một loại hàng hoá đặc biệt trong nền kinh


11

tế thị trường, C.Mác đã phát hiện ra rằng phần giá trị tăng thêm mà các nhà tư
bản có được sau khi bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh chính là do lao động
không công của người công nhân làm thuê sáng tạo ra. Nhưng để có giá trị thặng
dư ấy, các tư bản phải tạo ra một chỗ làm việc cụ thể trong dây chuyền sản xuất
kinh doanh của họ bằng cách đầu tư tư bản vào sản xuất, kinh doanh.
Vấn đề việc làm được C.Mác-Ăngghen nghiên cứu sâu hơn khi phân tích
quá trình chuyển hoá giá trị thặng dư thành tư bản trong quá trình tích luỹ tư bản.
Trong đó phân tích sự tăng thêm của tư bản đến vị trí việc làm của giai cấp công
nhân. Luận cứ quan trọng nhất là khi phân tích mối quan hệ giữa sự thay đổi cấu
tạo hữu cơ của tư bản với thị trường sức lao động ảnh hưởng trực tiếp đến việc
làm. Sự thay đổi của kết cấu kỹ thuật của tư bản, sự tăng lên của khối lượng tư
liệu sản xuất so với khối lượng sức lao động đang làm cho các tư liệu sản xuất
đó sống lại, lại phản ánh trở lại vào trong kết cấu giá trị của tư bản, vào trong
việc tăng thêm bộ phận bất biến của giá trị tư bản, bằng cách lấy vào bộ phận
khả biến của nó. Đồng thời, C.Mác cho rằng, cùng với những điều kiện khác
không thay đổi, kết cấu của tư bản cũng vẫn không thay đổi, nghĩa là để vận
dụng một khối lượng tư liệu sản xuất hay tư bản bất biến nhất định, bao giờ cũng
cần một khối lượng sức lao động như trước, thì rõ ràng là lượng cầu về sức lao
động và quỹ sinh hoạt của công nhân sẽ tăng lên một cách tỷ lệ với tư bản, và tư
bản tăng lên càng nhanh bao nhiêu thì lượng cầu đó cũng càng tăng lên nhanh
bấy nhiêu. Đầu tư tăng sẽ làm gia tăng cầu sức lao động, do đó khả năng có việc
làm của người lao động sẽ được gia tăng. Nhưng cái cách mà các nhà tư bản sử
dụng phổ biến là họ sẽ đầu tư cho kỹ thuật công nghệ tiên tiến vì đây là biện
pháp tốt nhất để tăng năng suất lao động. Do đó, sự gia tăng việc làm trong điều
kiện sản xuất tư bản chủ nghĩa không tăng cùng tỷ lệ với sự gia tăng đầu tư tư
bản, mà có xu hướng giảm tương đối.
Như vậy, xét trên tổng thể, tư bản khả biến và cầu sức lao động giảm
tương đối, số lượng việc làm tăng chậm hơn toàn bộ vốn của nền sản xuất xã hội.
Từ đó Mác đưa ra kết luận về xu hướng nhân khẩu thừa tương đối trong phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Và cùng với sự tích luỹ tư bản do bản thân nó đẻ


12

ra, công nhân cũng sản xuất ra với một quy mô ngày càng lớn những phương
tiện làm cho họ trở thành nhân khẩu thừa tương đối. Dân cư dôi dư này có ý
nghĩa rất quan trọng để phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa, đảm bảo lao động
thường xuyên cần thiết cho xã hội và cũng là đòn bẩy quan trọng cho việc đẩy
mạnh sản xuất giá trị thặng dư. Đồng thời C.Mác cũng chỉ ra những hình thức
của nhân khẩu thừa tương đối gồm: nhân khẩu thừa di động, nhân khẩu tiềm
năng và nhân khẩu đình trệ. Trong đó, nhân khẩu thừa tiềm năng bao gồm thất
nghiệp trong nông nghiệp do tính chất thời vụ của thời kỳ nông nhàn. Và khi nền
sản xuất tư bản chủ nghĩa chiếm lĩnh được nông nghiệp rồi, thì cùng với sự tích
luỹ của số tư bản hoạt động trong lĩnh vực này, lượng cầu về nhân khẩu công
nhân nông nghiệp cũng ngày càng giảm bớt một cách tuyệt đối; hơn nữa, sự sa
thải công nhân ở đây lại không kèm theo một sự thu hút nhiều công nhân hơn
như ở trong các ngành sản xuất phi nông nghiệp. Một bộ phận nhân khẩu nông
thôn vì vậy cứ thường xuyên ở trong tình trạng sẵn sàng chuyển sang hàng ngũ
giai cấp vô sản thành thị hay công trường thủ công và chờ những điều kiện thuận
lợi để chuyển hoá như thế.
Những lý luận của C.Mác về tích luỹ tư bản được trình bày trong tác
phẩm đã cung cấp những luận cứ khoa học cơ bản, trong đó có quan niệm về lao
động, việc làm cho các nhà kinh tế Mác-xít. Những nghiên cứu của Lê Nin về
nguyên nhân của xuất khẩu tư bản cũng đã chỉ rõ khi phân tích về vấn đề thừa tư
bản tương đối tại các nước chính quốc do cấu tạo hữu cơ tư bản tăng trong khi
các nước đang phát triển có nguồn nhân công và tài nguyên giá rẻ... Đây là vấn
đề lý luận căn cốt để Đảng và Nhà nước ta vận dụng xây dựng đường lối PTKT
thị trường định hướng XHCN và công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay.
1.1.2. Những nghiên cứu về việc làm và thất nghiệp của một số nhà
kinh tế học hiện đại
- Jonh Maynard Keynes (1936), Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và
tiền tệ [100]. J.M Keynes là một nhà kinh tế học người Anh có ảnh hưởng lớn tới
kinh tế học hiện đại và chính trị cũng như các chính sách tài chính của nhiều


13

chính phủ. Ông xem xét việc làm trong mối quan hệ giữa sản lượng - thu nhập tiêu dùng - đầu tư - tiết kiệm - việc làm. Theo ông, trong một nền kinh tế, khi sản
lượng tăng, thu nhập tăng, đầu tư tăng thì việc làm tăng và ngược lại. Tâm lý của
quần chúng là khi tổng thu nhập tăng thì cũng tăng tiêu dùng, nhưng tốc độ tăng
tiêu dùng chậm hơn so với tăng thu nhập và có khuynh hướng tiết kiệm một
phần thu nhập, làm cho cầu tiêu dùng có hiệu quả hay cầu tiêu dùng thực tế giảm
tương đối so với thu nhập dẫn đến một bộ phận hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng
không có khả năng bán được. Thừa hàng hoá là nguyên nhân gây ra khủng
hoảng, ảnh hưởng tới quy mô sản xuất ở chu kỳ tiếp theo, nên việc làm giảm,
thất nghiệp tăng. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, khi quy mô đầu tư tư
bản tăng thì hiệu quả giới hạn của tư bản đầu tư có xu hướng giảm sút tạo nên
giới hạn chật hẹp về thu nhập của doanh nhân trong đầu tư tương lai. Doanh
nhân chỉ tích cực mở rộng đầu tư khi hiệu quả giới hạn của tư bản lớn hơn lãi
suất. Còn khi hiệu quả giới hạn của tư bản nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất thì họ
không tích cực đầu tư nên quy mô sản xuất bị thu hẹp, dẫn đến việc làm giảm,
thất nghiệp tăng.
Theo Keynes, để tăng việc làm, giảm thất nghiệp, phải tăng tổng cầu của
nền kinh tế. Chính phủ có vai trò kích thích tiêu dùng (tiêu dùng sản xuất và phi
sản xuất) để tăng tổng cầu thông qua tăng trực tiếp các khoản chi tiêu của chính
phủ, hoặc thông qua các chính sách của Chính phủ nhằm khuyến khích đầu tư
của tư nhân, của các tổ chức KT-XH.
Lý thuyết về việc làm của J.M Keynes được xây dựng dựa trên các giả
định đúng với các nước phát triển, nhưng không hoàn toàn phù hợp với các nước
đang phát triển. Bởi vì hầu hết các nước nghèo, nguyên nhân khó khăn cơ bản để
gia tăng sản lượng, tạo việc làm không phải do tổng cầu không đủ cao. Ở các
nước đang phát triển, khi tổng cầu tăng sẽ kéo theo tăng giá cả, dẫn đến lạm phát.
Vì thế, biện pháp tăng tổng cầu để tăng quy mô sản xuất, tạo việc làm không đúng
với mọi quốc gia, trong mọi thời kỳ. Mặt khác, nếu tạo việc làm cho khu vực
thành thị và một số trung tâm công nghiệp bằng cách tăng tổng cầu sẽ tạo ra làn
sóng di dân từ nông thôn ra thành thị và tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị gia tăng.


14

- W. Arthur Lewis, Lý thuyết nhị nguyên (Hay còn gọi là lý thuyết tạo
việc làm bằng chuyển giao lao động giữa hai khu vực của nền kinh tế) [107].
Ông cho rằng muốn tạo việc làm cần chuyển số lao động dư thừa từ các ngành
sản xuất truyền thống sang các ngành hiện đại do đầu tư tư bản nước ngoài vào
các nước lạc hậu. Đây là xu hướng có tính quy luật, vì trong nền kinh tế truyền
thống kỹ thuật lạc hậu, lao động trình độ thấp dư thừa. Số lao động dôi dư này
không có công ăn việc làm, họ không có tiền lương và thu nhập. Vì vậy, khi có
một mức lương cao hơn trong khu vực này thì các nhà đầu tư sẽ có ngay nguồn
lao động dồi dào từ nông nghiệp chuyển sang. Do việc trả lương cho người lao
động chỉ dựa theo năng suất cận biên nên những phần còn lại thuộc về các nhà
đầu tư. Nhờ đó, các nhà đầu tư sẽ có lợi là thu được vốn nhanh, có lợi nhuận và
có thể dùng lợi nhuận đó để mở rộng sản xuất. Điều này là thực tế đang diễn ra
khá phổ biến trong nền kinh tế Việt Nam. Theo lý thuyết này, Việt Nam có thể
đạt sự tăng trưởng khi tập trung vào phát triển khu vực kinh tế hiện đại kết hợp
hài hoà với khu vực kinh tế truyền thống.
- Lý thuyết của Todaro, Về sự di chuyển lao động dựa trên điều tiết thu
nhập, tiền lương giữa các khu vực của nền kinh tế [105]. Nghiên cứu chỉ ra rằng,
những người lao động ở khu vực nông thôn có thu nhập trung bình thấp. Vì vậy,
họ có xu hướng muốn di chuyển đến những nơi đô thị có thu nhập cao hơn để tìm
kiếm việc làm và gia tăng thu nhập. Sự di chuyển lao động này không những phụ
thuộc vào chênh lệch thu nhập mà còn dựa vào dự báo của chính phủ để thực hiện
sự điều tiết và xác suất tìm được việc làm đối với lao động nông nghiệp. Điều này
cho thấy ở các nước kinh tế nông nghiệp là chủ yếu muốn đẩy mạnh tăng trưởng
cần phải tập trung vào việc phát triển, trước hết là ngành nông nghiệp và kinh tế
nông thôn, để tạo ra thị trường cho công nghiệp và dịch vụ phát triển. Vấn đề này
đang kiểm chứng sự đúng đắn trong đường lối ưu tiên công nghiệp hoá, hiện đại
hoá (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn của Đảng ta.
- Lý thuyết của Harry Toshima (Nhật Bản), Về tạo việc làm trong khu vực
sản xuất nông nghiệp [98]. Khi nghiên cứu các mô hình tăng trưởng kinh tế của
các nhà kinh tế châu Âu áp dụng vào khu vực các nước Châu Á, tác giả cho rằng


15

các mô hình này không có ý nghĩa thực tế với tình hình dư thừa lao động trong
nông nghiệp. Bởi vì, nền nông nghiệp vẫn thiếu lao động trong mùa vụ và thừa
lao động lúc nông nhàn. Từ đó tác giả đưa ra đề xuất: cần giữ lại lao động nông
nghiệp và chỉ tạo thêm việc làm trong những thời kỳ nhàn rỗi bằng cách tăng vụ,
đa dạng hoá cây trồng vật nuôi... Việc tạo thuận lợi hơn nữa để có việc làm đầy
đủ cho mọi thành viên gia đình nông dân trong những thời kỳ nông nhàn sẽ nâng
cao mức thu nhập hàng năm của họ và sẽ mở rộng được thị trường trong nước
cho các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển. Từ đó, lực lượng lao động
(LLLĐ) trong nông thôn sẽ được sử dụng hết. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất giải
pháp cho sự phát triển của các nước Châu Á là phải bắt đầu từ nông nghiệp và
phải tạo ra nhiều việc làm cho nông dân trong thời kỳ nông nhàn bằng cách phát
triển các ngành nghề trong kinh tế nông thôn.
1.1.3. Những nghiên cứu về việc làm, thu nhập của lao động nông
thôn và nữ lao động nông thôn
- Jonna Estudillo, ''Labor markets, occupational choice, and rural poverty
in four Asian countries'' (Thị trường lao động, lựa chọn nghề nghiệp và đói
nghèo ở nông thôn bốn nước châu Á) [101]. Theo tác giả, việc gia tăng thu nhập
phi nông nghiệp, trong đó tăng thu nhập từ việc làm chính thức, được xem là một
động lực quan trọng của tăng trưởng thu nhập và giảm nghèo.
- Ren Mu, Dominique van de Walle, Left Behind to Farm? - Women ’s
Labor Re-Allocation in Rural China (Còn lại gì sau những cánh đồng? - Thị
trường lao động nữ ở nông thôn Trung Quốc), báo cáo của Ngân hàng thế giới
World Bank [104]. Báo cáo nghiên cứu phương thức làm việc và sự phân chia
thời gian lao động của những người phụ nữ không di cư nhưng chịu ảnh hưởng
bởi sự di cư của những người thân trong gia đình.
- Nomaan Majid, The great employment transformation in China (Tạm
dịch: Chuyển đổi việc làm ở Trung Quốc) [103]. Là một nước đang phát triển lớn
nhất thế giới với dân số quá đông và mức tăng trưởng kinh tế chưa cao thì việc
sử dụng tốt lao động là một nhiệm vụ rất nặng nề của Trung Quốc. Chính phủ


16

Trung Quốc đã đưa ra những chính sách phù hợp với tình hình thực tế của đất
nước, đảm bảo quyền lợi cho mọi công dân theo Hiến pháp và Luật lao động,
đồng thời sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực của đất nước. Hiện nay, sau nhiều
năm củng cố và thử nghiệm, Trung Quốc đã có một cách tổ chức lao động phù
hợp với nền kinh tế thị trường XHCN. Theo đó, các biện pháp cụ thể được đưa
ra là: Đưa mục tiêu giải quyết việc làm vào trong kế hoạch và chiến lược PTKT
của đất nước, cải cách kinh tế theo hướng phát triển nhanh khu vực dịch vụ,
khuyến khích phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, PTKT phi nhà nước, thực
hiện chính sách tài chính tích cực để tăng độ co giãn của cơ cấu lao động, cải
tiến công tác quản lý nhà nước của Chính phủ đối với thị trường lao động…
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN
TỚI ĐỀ TÀI

1.2.1. Các công trình nghiên cứu liên quan tới quan điểm, các nhân tố
ảnh hưởng và chính sách giải quyết việc làm cho nữ thanh niên nông thôn
- Đề tài Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách giải quyết việc
làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của tác
giả Nguyễn Hữu Dũng [39]. Đây là một trong những công trình nghiên cứu về
chính sách giải quyết việc làm đầu tiên kể từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi
mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI khởi xướng năm 1986. Công trình đã
tập trung vào trình bày tổng quát về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận
về chính sách lao động việc làm. Làm rõ thực trạng vấn đề việc làm tại Việt Nam
trong những năm cuối của thế kỷ 20. Trên cơ sở đó đưa ra những định hướng về
chính sách việc làm trong quá trình CNH, HĐH đất nước.
- Phan Thế Công, Chính sách tạo việc làm cho lao động Việt Nam trong
giai đoạn khủng hoảng kinh tế hiện nay [35]. Tác giả trình bày những tác động
của khủng hoảng kinh tế tới việc điều chỉnh chính sách việc làm ở nước ta.
Khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế nước nhà cả ở đô
thị và nông thôn. Hàng loạt doanh nghiệp phá sản hoặc đình đốn sản xuất, người
lao động sa vào tình trạng thất nghiệp hoặc thất nghiệp ẩn hình, thiếu việc làm,
việc làm thu nhập thấp không đủ đảm bảo đời sống gia đình. Mặc dù Việt Nam


17

đã duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP trong giai đoạn suy thoái kinh tế, nhưng
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đối với sinh kế và đời sống của nhiều người
Việt Nam là rất lớn. Việc làm ở các khu vực sản xuất hàng xuất khẩu và ở các
làng nghề thủ công bị thu hẹp và nhiều công nhân nhập cư buộc phải trở về quê
hương. Công việc không ổn định và thu nhập thấp đã ảnh hưởng tới nhiều hộ gia
đình, trong khi giá cả thực phẩm và các hàng hoá thiết yếu khác vẫn ở mức cao.
Kéo theo đó là hàng loạt hệ luỵ xã hội tiêu cực. Đó là những thách thức cần phải
chú trọng trong chiến lược tạo việc làm.
- Nguyễn Minh Phong, Chính sách lao động - việc làm nhìn từ góc độ
kinh tế vĩ mô: Những bài học của giai đoạn 2006 - 2010 [54]. Nhìn từ góc độ
kinh tế vĩ mô, thực tế xây dựng và triển khai chính sách lao động việc làm giai
đoạn 2006 - 2010, tác giả rút ra những bài học đáng lưu ý sau: Thứ nhất, cần
"nâng cấp" và thống nhất cao về quan điểm, nhận thức chung của các các nhà
hoạch định chính sách và doanh nghiệp cũng như của bản thân người lao động là
phải thực sự coi chính sách lao động - việc làm không chỉ là dạng chính sách an
sinh xã hội, mà là một bộ phận hợp thành, có vai trò quan trọng và ngày càng
tích cực, năng động nhất trong tổng thể chính sách kinh tế vĩ mô. Thứ hai, cần
phát triển thị trường lao động chất lương cao. Thứ ba, cần quy định và thực thi
linh hoạt các công cụ kinh tế phù hợp nhằm bảo vệ quyền lợi người lao động,
bảo đảm hiệu lực và hiệu quả chính sách lao động - việc làm trên thực tế. Thứ tư,
chính sách lao động - việc làm cần được đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
- Trần Việt Tiến với bài ''Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và
định hướng hoàn thiện'' [74]. Chính sách việc làm là một trong chính sách cơ bản
của mỗi quốc gia. Thông qua tạo thêm việc làm và đảm bảo việc làm cho người
lao động, chính sách việc làm có mục tiêu xã hội là nâng cao phúc lợi cho người
dân, thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo cho người dân hoà nhập xã hội, giảm
dần sự tách biệt xã hội. Chính sách việc làm ở nước ta thời gian qua đã từng
bước thực hiện được mục tiêu đó, tuy vậy, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần
khắc phục.
- "Chính sách tài chính thúc đẩy phát triển tam nông" của tác giả Đỗ Đức


18

Minh, Hà Thị Hương Lan [46]. Bài viết phân tích một số chính sách tài chính
thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân như: chính sách thuế,
chính sách thuỷ lợi, phí hỗ trợ sản xuất, thành tựu và những hạn chế của chính
sách đó.
1.2.2. Các công trình nghiên cứu vè phương thức tạo việc làm và các
giải pháp phát triển việc làm cho nữ thanh niên nông thôn
- Việc làm ở nông thôn: Thực trạng và giải pháp, tác giả Chu Tiến Quang
[55]. Về cơ bản, cuốn sách cho thấy một bức tranh chung về một số vấn đề lý
luận về việc làm, thực trạng việc làm ở nông thôn và một số giải pháp giải quyết
việc làm nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, số liệu của cuốn sách đã cũ và các
chính sách không được tác giả phân tích đầy đủ.
- Bài viết "Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam" của Phạm Đức Thành
[65]. Trong bài viết tác giả đã đánh giá được hiện trạng thất nghiệp và giải quyết
việc làm ở Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra những quan điểm và biện pháp nhằm
giải quyết việc làm cho người lao động.
- Tác giả Nguyễn Sinh Cúc có bài viết "Giải quyết việc làm ở nông thôn
và những vấn đề đặt ra" [34]. Trong bài viết tác giả đã đề cập những biến động
của dân số nông thôn, những xu hướng mới tạo việc làm ở nông thôn như: khôi
phục và phát triển các làng nghề truyền thống, kinh tế trang trại, các dự án,
chương trình quốc gia về việc làm.
- "Giải quyết việc làm cho thanh niên trong độ tuổi lao động ở một số
thành phố miền bắc Việt Nam" của tác giả Tống Văn Đường [43]. Tác giả đã
trình bày về nhu cầu việc làm của lứa tuổi thanh niên và vai trò của họ trong sản
xuất. Tác giả đã khẳng định TNNT là một bộ phận quan trọng của nguồn lao
động. Nhu cầu được làm việc, được học tập là nhu cầu chính đáng của thanh
niên từ 16 đến 30 tuổi, do đó đòi hỏi các tổ chức xã hội, chính quyền đoàn thể và
mọi người lao động phải quan tâm. Bên cạnh đó, tác giả đã nêu lên sự hình thành
và kết cấu nguồn lao động của thanh niên ở các thành phố. Phân tích thực trạng
tạo việc làm cho thanh niên, đề xuất những phương hướng và biện pháp chủ yếu
tạo việc làm cho thanh niên trong độ tuổi lao động.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×