Tải bản đầy đủ

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN – TỈNH QUẢNG NAM

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ KIỀU TRINH

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRONG BỐI CẢNH
CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN – TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ KIỀU TRINH

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRONG BỐI CẢNH
CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA TRÊN ĐỊA BÀN

THỊ XÃ ĐIỆN BÀN – TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số

: 8 34 04 10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. BÙI VĂN HUYỀN

HÀ NỘI, năm 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả

LÊ THỊ KIỀU TRINH


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRONG BỐI CẢNH

CÔNG

NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ............................................................................7
1.1. Khái niệm cơ bản và vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế...............................7
1.2. Quản lý của chính quyền cấp Huyện nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ..................15
1.3. Kinh nghiệm của địa phương về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ............................24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TẠI THỊ
XÃ ĐIỆN BÀN TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI
HÓA ..........................................................................................................................29
2.1. Khái quát về Thị xã Điện Bàn ............................................................................29
2.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Thị xã Điện Bàn, giai đoạn
2011 – 2017 ...............................................................................................................39
2.3. Đánh giá chung thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thị xã Điện


Bàn, giai đoạn từ năm 2011 – 2017 ..........................................................................50
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CHUYỂN
DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TẠI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN 2030
...................................................................................................................................56
3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ............................................................56
3.2. Quan điểm phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thị xã Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam ................................................................................................68
3.3. Phương hướng, mục tiêu phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn
thị xã Điện Bàn trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đến năm 2020, tầm
nhìn đến năm 2030 ....................................................................................................69
3.4. Các nhóm giải pháp chủ yếu ..............................................................................71
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

STT

Nghĩa đầy đủ

1

CNH-HĐH

Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

2

b/q

Bình quân


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
2.1
2.2

Tên bảng
Dân số thị xã Điện Bàn giai đoạn 2011 – 2017
Lao động đang làm việc trong các khu vực kinh tế trên địa bàn thị
xã Điện Bàn giai đoạn 2011 - 2017

Trang
35
37

2.3

Tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2011 - 2017

41

3.1

Dự báo phát triển nguồn nhân lực đến năm 2025 và 2030

66


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (tháng 01/2016) tiếp tục
khẳng định đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới và quá trình
đô thị hóa một cách hợp lý, nâng cao chất lượng dịch vụ và kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, thu hẹp khoảng cách về phát triển giữa đô thị và nông thôn, tăng cường kết
nối giữa nông thôn với đô thị, phối hợp các chương trình phát triển nông nghiệp,
nông thôn với phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị.
Từ nền nông nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp, Việt Nam chuyển sang nền kinh
tế thị trường nên trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,
HĐH) phải lấy phát triển nông nghiệp nông thôn làm tiền đề. Mục tiêu chính của
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản
xuất hàng hóa lớn, đẩy mạnh cơ cấu nghành nông nghiệp, xây dựng nền nông
nghiệp sinh thái, phát triển toàn diện, đáp ứng các chuẩn mực hiện đại và bền vững.
Hiện nay, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam còn chậm; nền
kinh tế vẫn còn phát triển theo chiều rộng, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc nhiều
vào nhiều yếu tố như: vốn, tài nguyên, trình độ lao động, chưa đưa các thành tựu
khoa học và công nghệ vào hoạt động sản xuất, nguồn lao động có kỹ năng chưa
cao. Năng suất lao động chưa được cải thiện, chưa cạnh tranh được với một số nước
trong khu vực. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn còn nhiều mặt bất cập… Do
vậy nội dung trong giai đoạn phát triển tiếp theo là đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, đặc biệt tập trung đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn theo hướng CNH, HĐH, tăng tỷ trọng giá trị hàng hóa, gắn công nghiệp chế
biến với thị trường; đưa các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất như: công
nghệ sinh học; nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm; tăng tỷ trọng ngành
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại,dịch vụ; giảm tỷ trọng ngành nông
nghiệp trong cơ cấu GDP. Đẩy mạnh sức cạnh tranh của nền kinh tế; đổi mới mô

1


hình tăng trưởng, tái cơ cấu lại nền kinh tế, khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh của
Đất nước, của từng vùng, từng địa phương. Đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công
nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất và quản lý…
Thị xã Điện Bàn là vùng đồng bằng ven biển phía Bắc của tỉnh Quảng Nam,
nơi đây có diện tích tự nhiên là 21.471 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là
10.046 ha. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của các địa phương trên
địa bản tỉnh Quảng Nam, thị xã Điện Bàn đã chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá
trình CNH, HĐH; là một trong những địa phương có tốc độ chuyển dịch nhanh của
tỉnh Quảng Nam và thu được nhiều kết quả. Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn thị xã Điện Bàn cũng nảy
sinh nhiều vấn đề. Xuất phát từ lý do đó, tôi lựa chọn đề tài: “Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn thị xã Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam”, để thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên nghành Quản lý kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề cơ cấu
kinh tế. Các công trình nghiên cứu được tiến hành dưới dạng đề tài khoa học với
các cấp độ và quy mô khác nhau. Đáng chú ý là cuốn sách: “Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam” do PGS.TS Phạm Thị Khanh
chủ biên được nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2010. Theo đánh giá
của các tác giả, cơ cấu kinh tế nước ta bộc lộ nhiều bất cập và phát triển thiếu bền
vững. Đó là cơ cấu kinh tế ngành chuyển dịch chậm theo hướng hiện đại, cơ cấu
vùng, lãnh thổ kinh tế phát triển còn mất cân đối, các vùng kinh tế trọng điểm chưa
thể là đầu tàu, động lực mạnh để tạo sức lan tỏa, dẫn dắt các vùng, miền khác phát
triển. Trước thực trạng trên, các tác giả cũng đề ra định hướng cơ bản và những giải
pháp chủ yếu như: đổi mới và hoàn thiện công tác quy hoạch nhằm khai thác tốt
tiềm năng, thế mạnh của ngành, vùng, lãnh thổ và thành phần kinh tế; huy động và
sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư; đổi mới và hoàn thiện các chính sách điều tiết
vĩ mô…
Gần đây cũng có một số công trình nghiên cứu thực tiễn về cơ cấu kinh tế cả

2


nước và cơ cấu kinh tế các vùng kinh tế - lãnh thổ. Cuốn sách “Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế công - nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng- Thực trạng và triển vọng”,
NXB Chính trị Quốc gia, năm 2003, đã phác họa quá trình chuyển dịch cơ cấu
công- nông nghiệp, phân tích thực trạng quá trình chuyển dịch này, đồng thời kiến
nghị những giải pháp thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp
vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về chủ đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
đã phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tế về chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tuy nhiên, do cách tiếp cận khác nhau nên còn nhiều ý kiến chưa thống nhất. Nhìn
chung, các công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn một số hạn chế
sau đây:
+ Hầu hết các tác giả mới dừng lại ở việc dựa trên số liệu thống kê và một số
tài liệu để phân tích và lập luận cho các luận điểm khoa học của mình, có ít công
trình đi sâu nghiên cứu, khảo sát thực tế nhất là khảo sát các mô hình chuyển đổi cơ
cấu kinh tế tại các địa phương để từ đó phát hiện các vấn đề.
+ Chưa phân tích một cách sâu sắc vấn đề hội nhập kinh tế tác động như thế
nào đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
+ Chưa phân tích mối tương quan giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tăng
trưởng kinh tế.
+ Chưa phân tích sâu sắc chỉ ra những hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và những tác động đến kinh tế, xã hội, đến xóa đói giảm nghèo và phát
triển bền vững.
Từ các góc độ khác nhau, những bài viết này đã góp phần làm sáng tỏ một số
khía cạnh của vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta trong những năm qua,
như: phân tích tình hình chuyển đổi ngành nghề của hộ gia đình trong điều kiện
kinh tế thị trường, phân tich mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với xóa
đói giảm nghèo... Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu
về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa
bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

3


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2011 –
2017, đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn thị xã Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam đến năm 2030.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát tình hình phát triển kinh tế và thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của thị xã Điện Bàn giai đoạn từ năm 2011 – 2017.
- Phân tích, nhận xét và tìm hiểu nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế
trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thị xã Điện Bàn từ năm 2011 – 2017.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở
thị xã Điện Bàn trong thời gian đến.`
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong bối cảnh CNH, HĐH
trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
mối quan hệ của những tác động trong quá trình CNH, HĐH.
+ Phạm vi về không gian: thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
+ Phạm vi về thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong bối cảnh CNH, HĐH trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam,
tập trung vào giai đoạn từ năm 2011 – 2017. Đề xuất giải pháp, góp phần thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong bối cảnh CNH, HĐH trong thời gian đến.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Theo đó, việc đánh giá,

4


nhận xét các vấn đề kinh tế - xã hội được xem xét trong mối quan hệ hữu cơ, tác
động qua lại và ràng buộc lẫn nhau. Luận văn nghiên cứu cơ cấu kinh tế, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, nghiên cứu các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế trên địa
bàn nghiên cứu, theo dõi quá trình thay đổi và tác động với nhau như thế nào trong
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ đó tìm ra một cơ cấu hợp lý, phù hợp với
điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê kinh tế: bằng phương pháp điều tra, thu thập số liệu,
trên cơ sở quan sát số lớn hiện tượng; xử lý, hệ thống hóa tài liệu thu thập được trên
cơ sở phân tổ thống kê; tiến hành phân tích thực trạng cơ cấu kinh tế và tình hình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ đó đưa ra kết luận.
- Phương pháp xử lý số liệu, thông tin: Hệ thống hóa các dữ liệu, thông tin
thu thập được, sau đó tiến hành xử lý, phân tích, tính toán các chỉ tiêu liên quan đến
nội dung nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích kinh tế và các phương pháp khác:
+ Phương pháp so sánh, được dùng để đánh giá tăng trưởng kinh tế chung;
phương pháp này dùng để xem xét mức độ đạt được giữ các vùng, các hộ.
+ Phương pháp cân đối, phương pháp này để đưa ra phương hướng, chỉ tiêu,
và giải pháp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
+ Phương pháp chuyên gia: Trên cơ sở tham khảo ý kiến của các chuyên gia
về lĩnh vực nghiên cứu, từ đó kết quả đánh giá, nhận xét của luận văn được chính
xác hơn, khách quan hơn.
+ Phương pháp dự báo: Sau khi tổng hợp, phân tích dữ liệu, phân tích thực
trạng cơ cấu và tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, căn cứ vào mục tiêu phát triển
chung, mục tiêu cụ thể, từ đó đưa ra các dự báo, các mục tiêu phát triển kinh tế và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thị xã trong thời gian đến.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá
trình CNH, HĐH trên địa bàn thị xã Điện Bàn.

5


- Phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thị xã
Điện Bàn giai đoạn từ năm 2011 – 2017.
- Từ quá trình nghiên cứu đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm thúc đẩy
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở thị xã Điện Bàn trong những năm tiếp theo.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu
thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại thị xã Điện Bàn trong
bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn từ năm 2011 – 2017.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
tại thị xã Điện Bàn trong quá trình đô thị hóa đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

6


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRONG BỐI CẢNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Khái niệm cơ bản và vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1.1. Khái niệm về cơ cấu kinh tế
`

Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan, do sự phát triển của

lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, cơ cấu kinh tế luôn luôn biến đổi
theo hướng chuyên môn hóa, kết hợp với đa dạng hóa sản xuất hàng hóa. Đây chính
là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội. Do sự
phân công lao động xã hội, các ngành kinh tế được hình thành và phát triển tương
đối độc lập với nhau, nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau. Trong từng ngành lại
phân thành lại phân thành những phân ngành. Việc hình thành các mối quan hệ và
tỷ lệ giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ có ý nghĩa rất quan trọng
trọng việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế và xã hội.
Từ nhiều góc độ khác nhau, cơ cấu các ngành kinh tế được đánh giá thông
qua các chỉ tiêu như: Cơ cấu giá trị sản lượng, cơ cấu sản phẩm cuối cùng, cơ cấu
theo quy mô vốn đầu tư và cơ cấu lao động... Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu ngành
chỉ mang tính thời điểm, vì cơ cấu ngành luôn thay đổi để phù hợp với sự phát triển
của lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội; đó là quá trình chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế.
1.1.2. Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Phát triển kinh tế với tốc độ cao, bền vững là mục tiêu phấn đấu của tất cả
các quốc gia. Để thực hiện được mục tiêu đó, cần thiết phải xây dựng một cơ cấu
kinh tế hợp lý. Trong đó cần phải xác vai trò, tỷ trọng và mối quan hệ hợp thành
giưã các ngành kinh tế quốc dân, giữa các vùng, lãnh thổ và giữa các thành phần
kinh tế. Các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế phải được thể hiện cả về mặt số lượng
cũng như về mặt chất lượng và được xác định trong những giai đoạn nhất định, phù

7


hợp với những đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội cụ thể của mỗi quốc gia qua từng
thời kỳ.
Cơ cấu kinh tế có thể được hiểu là một tổng thể các bộ phận hợp thành kết
cấu (hay cấu trúc) của nền kinh tế, trong quá trình tăng trưởng sản xuất xã hội. Các
bộ phận đó được gắn bó với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, biểu hiện ở các quan
hệ tỷ lệ về số lượng và tương quan về chất lượng trong những không gian, thời gian
nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định nhằm đạt được
hiệu quả kinh tế xã hội cao.
Cơ cấu kinh tế không phải là một hệ thống bất biến mà luôn ở trạng thái vận
động và không ngừng biến đổi. Chính vì vậy, cần phải nghiên cứu các qui luật
khách quan, thấy được sự vận động phát triển của lực lượng sản xuất xã hội để xây
dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với những mục tiêu chiến lược kinh tế xã hội
của từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Một cơ cấu kinh tế hợp lý là phải có các bộ phận kết hợp một cách hài hoà,
cho phép khai thác tối đa các nguồn lực của mỗi quốc gia một cách có hiệu quả,
đảm bảo sự tăng trưởng cuả nền kinh tế với nhịp độ cao và phát triển ổn định,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần cho người dân.
1.1.3. Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là đòi hỏi khách quan của sự phát triển
lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội của mỗi đất nước. Đây là biện pháp
cơ bản để giải quyết việc làm, sản xuất ra nhiều của cải vật chất, nâng cao thu nhập
góp phần cải thiện đời sống nhân dân, làm tăng thêm giá trị hàng hóa xuất khẩu,
đồng thời qua đó góp phần đẩy nhanh CNH – HĐH Đất nước.
Cơ cấu kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển, bởi các yếu tố hợp
thành cơ cấu ngành kinh tế không cố định. Đó là sự biến đổi về số lượng các ngành,
hay sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, do sự xuất hiện hoặc biến mất của
một số ngành, tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế là không
đồng đều. Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác theo
xu hướng phù hợp với môi trường, điều kiện phát triển được gọi là sự chuyển dịch

8


cơ cấu ngành kinh tế. Đây không chỉ đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là sự thay
đổi cả về chất lẫn về lượng trong nội bộ cơ cấu. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
phải được dựa trên cơ cở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ
cấu là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hay chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu kinh tế mới
tiên tiến hơn, hoàn thiện hơn, bổ sung cho cơ cấu cũ, nhằm biến đổi cơ cấu cũ thành
cơ cấu mới hiện đại và phù hợp. Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là
sự điều chỉnh cơ cấu trên ba mặt gồm: Cơ cấu các ngành, thành phần, vùng; nhằm
hướng tới sự phát triển của nền kinh tế theo mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định
cho từng thời kỳ phát triển.
Tóm lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghĩa là sự biến đổi cả về số lượng lẫn
chất lượng của các ngành hay sự thay đổi về quan hệ giữa các ngành, sự thay đổi về
tốc độ tăng trưởng giữa các ngành kinh tế, theo xu hướng phù hợp với môi trường
và điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.4. Sự cần thiết và vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1.4.1. Sự cần thiết của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Có nhiều nguyên nhận khiến cho chuyến dịch cơ cấu kinh tế trở thành xu
hướng tất yếu, trong đó có ba nguyên nhân chính:
Thứ nhất, cơ cấu kinh tế là biểu hiện của phân công lao động xã hội theo
ngành, theo vùng và theo thành phần kinh tế. Phân công lao động xã hội phụ thuộc
vào sự phát triển của lực lượng sản xuất trong xã hội. Với tác động của các quan hệ
trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là của quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh,
lực lượng sản xuất luôn thay đổi và phát triển gắn liền với sự phát triển của khoa
học kĩ thuật. Do vậy cơ cấu kinh thế phải luôn thay đổi từ một cơ cấu kinh tế này
sáng một cơ cấu kinh tế mới phụ hợp với quá trình phát triển và tạo ra được một cơ
cấu hợp lí mới. Do đó, một cơ cấu ngành phải tạo ra sự ổn định tăng trường, phát
triển cho nền kinh tế và đời sống xã hội.
Thứ hai, do sự thay đổi của thị trường, sản xuất hàng hóa là sản xuất theo
nhu cầu của thị trường, đồng thời đáp ứng các đòi hỏi của thị trường. Nhu cầu của
thị trường lại luôn luôn thay đổi, do sự phát triển của xã hội và sự thay đổi phạm vi,

9


quy mô, tính chất thị trường…
Thứ ba, yêu cầu của sự phát triển nền kinh tế theo hướng CNH, HĐH đòi hỏi
phải thay đổi cơ cấu ngành kinh tế, để từ đó tạo ra động lực cho tăng trưởng. Các
quốc gia đang phát triển phải thay đổi căn bản cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp và
dịch vụ; đặc biệt vai trò của công nghiệp và dịch vụ được tăng lên và có xu hướng
giảm mạnh tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP. Do đó, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hương công nghiệp hóa, đô thị hóa là một đòi hỏi tất yếu.
1.1.4.2. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một nội dung quan trọng, của quá
trình CNH, HĐH đất nước. Nếu xác định được phương hướng, giải phát chuyển
dịch đúng trong quá trình phát triển thì sẽ đảm bảo được hiệu quả kinh tế - xã hội
cao. Vai trò quan trọng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với sự phát triển kinh tế xã hội thể hiện ở các phương diện sau đây.
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả
các yếu tố lợi thế của nền kinh tế, vùng hay địa phương. Các yếu tố đó như: nguồn
lực tài nguyên, nguồn lao động; các yếu tố lợi thế so sánh như chi phí sản xuất.
Thông qua quá trình tổ chức khai thác có hiệu quả các yếu tố lợi thế, trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh thế sẽ tìm ra các ngành kinh tế mũi nhọn, tạo khả năng
tăng trưởng mạnh cho đất nước, vùng hay địa phương; đồng thời giải quyết mỗi
quan hệ tác động lẫn nhau giữa tăng trưởng kinh tế và bảo tồn tài nguyên thiên
nhiên, cùng với phát triển nguồn nhân lực.
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh
tế. Trước hết, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm nâng cao vai trò, thiết lập mối quan
hệ chặt chẽ giữa các ngành với nhau, tạo đà cho sự tăng trưởng và phát triển của các
ngành.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo ddiều kiện cho các ngành có điều kiện áp
dụng những thành tựu khoa học công nghệ, thúc đẩy quá trình CNH, HĐH.
Đồng thời, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ nâng cao tính hiệu quả, mở rộng

10


quá trình hợp tác kinh tế giữa những vùng trong nước, cũng như với thị trường quốc
tế.
Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ tạo ra sự thay đổi trong cơ cấu xã hội.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ tác động đến cơ cấu dân cư, mà còn
tạo điều kiện để nâng cao trình độ cho người lao động, mức sống của người dân, từ
đó góp phần làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng trong nhân dân.
Trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, cơ cấu kinh tế chuyển dịch
theo hướng từng bước tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông
nghiệp. Việc phát triển mạnh các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như:
sản xuất vật liệu xây dựng, dệt may, chế biến nông – lâm – thủy sản…đã, đang và
sẽ thu hút lực lượng lao động lớn từ các khu vực nông nghiệp và nông thôn. Bên
cạnh đó, hiện nay mức thu nhập của dân cư ở khu vực thành thị thường cao hơn ở
nông thôn, dẫn đến một bộ phận dân cư di chuyển từ nông thôn ra thành thị làm
thay đổi cơ cấu dân cư.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đối với khu vực nông nghiệp
và nông thôn, gắn với việc xây dựng nông thôn mới là việc chuyển dịch cơ cấu sản
xuất theo hướng phát triển các ngành đem lại hiệu quả kinh tế cao, phát triển các
lĩnh vực phi nông nghiệp; làm cho thu nhập và đời sống của người lao động trong
những khu vực này được cải thiện, làm cho cơ cấu tiêu dùng của người dân cũng
thay đổi. Nếu trước đây người dân chỉ tiêu dùng những hàng hóa thông thường thì
ngày nay khi thu nhập tăng lên, người ta sẽ chuyển sang dùng hàng hóa xa xỉ, hàng
hóa thứ cấp.
Vậy nên, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi đát nước, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế có vai trò hết sức quan trọng. Vì vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu
kinh tế là một trong những yêu cầu bức thiết nhằm đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH
đất nước.
1.1.5. Tác động của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đến chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
1.1.5.1. Khái niệm công nghiệp hóa - hiện đại hóa

11


Từ cuối thế kỷ thứ XVIII đến nay, trong lịch sử đã diễn ra nhiều loại công
nghiệp hoá khác nhau như: Công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa và công nghiệp hoá
xã hội chủ nghĩa. Các loại công nghiệp hoá này, xét về mặt lực lượng sản xuất, khoa
học công nghệ là giống nhau. Tuy nhiên, chúng có sự khác nhau về mục đích,
phương thức tiến hành, sự chi phối của quan hệ sản xuất thống trị. Công nghiệp hoá
diễn ra ở các nước cũng khác nhau, vào những thời điểm lịch sử khác nhau, trong
những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, vậy nên nội dung khái niệm có sự khác nhau.
Tuy nhiên, theo nghĩa chung, khái quát nhất, công nghiệp hoá là quá trình
biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành một nước công nghiệp.
Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại, về
công nghiệp hoá vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta hiện nay, Đảng ta nêu ra
quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử
dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên
tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ,
tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Quan niệm nêu trên cho thấy, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước
ta phải kết hợp chặt chẽ giữa nội dung công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong quá
trình phát triển. Quá trình ấy, không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp, mà còn
phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực, toàn bộ nền
kinh tế quốc dân theo hướng kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Quá trình ấy không chỉ
tuần tự trải qua những bước cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, mà còn sử dụng
kết hợp kỹ thuật thủ công truyền thống, với công nghệ hiện đại, tranh thủ tiến nhanh
vào hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định.
Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới cùng với điều kiện cụ thể của đất
nước. Qúa trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta có những đặc điểm chủ
yếu sau đây:
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện

12


mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với sự phát triển nền kinh tế tri thức.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện cơ chế thị trường chịu sự
điều tiết của Nhà nước.
- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế và Việt
Nam là quốc gia tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.5.2. Tác động, ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tính tất yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định có một cơ sở vật chất - kỹ thuật
tương ứng. Cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố
vật chất của lực lượng sản xuất xã hội, phù hợp với trình độ kỹ thuật, công nghệ
tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất,
nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội.
Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội
là sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất; sự phát triển khoa học - kỹ thuật;
tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội; đặc biệt là quan hệ sản xuất thống trị.
Nói cơ sở vật chất - kỹ thuật của một phương thức sản xuất nào đó là nói cơ
sở vật chất - kỹ thuật đó đã đạt đến một trình độ nhất định làm đặc trưng cho
phương thức sản xuất đó.
Đặc trưng của cơ sở vật chất - kỹ thuật của các phương thức sản xuất trước chủ
nghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu. Đặc trưng của cơ sở vật
chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là nền đại công nghiệp cơ khí hoá.
Chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp của phương thức sản xuất mới cao hơn chủ
nghĩa tư bản - đòi hỏi một cơ sở vật chất - kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt: trình độ
kỹ thuật và cơ cấu sản xuất, gắn với thành tựu của cách mạng khoa học và công
nghệ hiện đại.
Do vậy, có thể hiểu, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền
công nghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựa

13


trên trình độ khoa học và công nghệ hiện đại được hình thành một cách có kế hoạch
và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Từ chủ nghĩa tư bản hay từ trước chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây
dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan, một
quy luật kinh tế mang tính phổ biến và được thực hiện thông qua công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
Đối với các nước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, dù đã có
công nghiệp, có cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản tiến bộ đến đâu cũng
chỉ là những tiền đề vật chất chứ chưa phải là cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội. Muốn có cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, các nước này
phải thực hiện quy luật nói trên bằng cách tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa về
quan hệ sản xuất; tiếp thu vận dụng và phát triển cao hơn những thành tựu khoa học
và công nghệ vào sản xuất; hình thành cơ cấu kinh tế mới xã hội chủ nghĩa có trình
độ cao và tổ chức, sắp xếp lại nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa một cách hợp
lý, hiệu quả hơn.
Tác dụng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thực hiện đúng đắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ có những tác
dụng to lớn về nhiều mặt trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước:
- Tạo điều kiện thay đổi về chất nền sản xuất xã hội, tăng năng suất lao động,
tăng sức chế ngự của con người đối với thiên nhiên, tăng trưởng và phát triển kinh
tế, nâng cao đời sống nhân dân, ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, góp phần
quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.
- Tạo điều kiện cho việc củng cố, tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước về
vật chất; nâng cao năng lực quản lý, khả năng tích luỹ và phát triển sản xuất, nhằm
giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần vào sự phát triển tự do, toàn diện
của con người trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học và công nghệ phát triển, nhằm đạt
trình độ tiên tiến hiện đại. Tăng cường lực lượng vật chất và kỹ thuật cho quốc
phòng an ninh; đảm baỏ ngày càng cải thiện đời sống kinh tế, chính trị - xã hội của

14


đất nước; nhằm đảm bảo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ, đủ sức thực hiện sự phân công hợp tác quốc tế.
Sự phân tích trên cho thấy mối quan hệ gắn bó trực tiếp giữa công nghiệp
hóa, hiện đại hóa với lực lượng sản xuất. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là để thực
hiện xã hội hóa sản xuất về mặt kinh tế - kỹ thuật theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nó có tác dụng, ý nghĩa quan trọng và toàn diện. Vì vậy, Đảng ta xác định: "Phát
triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại ... là nhiệm
vụ trung tâm"
1.2. Quản lý của chính quyền cấp Huyện nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2.1. Khái niệm quản lý của chính quyền cấp Huyện
Khái niệm quản lý nhà nước: Là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, thể hiện
của quyền lực nhà nước và pháp luật nhà nước là công cụ dùng để điều chỉnh hành
vi hoạt động của con người, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; hoạt động
này do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp
pháp của con người, nhằm duy trì sự ổn định và phát triển cho xã hội.
Khái niệm quản lý hành chính nhà nước: đây là hoạt động thực thi quyền
hành pháp của Nhà nước, đây là sự tác động có tổ chức được điều chỉnh bằng quyền
lực của pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con
người do các cơ quan trong hệ thống Chính phủ, từ Trung ương đến cơ sở tiến hành
để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, để duy trì và phát triển
các mối quan hệ trong xã hội, trật tự pháp luật, góp phần thỏa mãn các nhu cầu hợp
pháp của con người, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quản lý là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý, lên
khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Quản lý bao gồm các chức năng:
lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, điều hành, nhân sự, kiểm tra, tài chính.
1.2.2. Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi đất nước, cơ cấu kinh thế luôn có
sự biến đổi. Sự biến đổi của một cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái
khác, sao cho phù hợp với môi trường phát triển chung gọi là chuyển dịch cơ cấu

15


kinh tế.
Đây không chỉ là sự thay đổi về vị trí, mà còn là sự thay đổi cả về lượng lẫn
về chất trong nội bộ cơ cấu. Chuyển dịch cơ cấu thực chất là sự điều chỉnh cơ cấu,
nhằm làm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển hướng theo mục tiêu kinh tế - xã hội đã
định cho từng thời kỳ.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là “biến đổi cơ cấu bao gồm sự tích lũy vốn, vật
chất, con người và sự biến đổi về nhu cầu, sản xuất, buôn bán và việc làm. Ngoài ra,
còn có sự thay đổi về các quá trình kinh tế xã hội kèm theo như đô thị hóa, thay đổi
dân số, thay đổi về phân phối thu nhập” và thông thường người ta hiểu sự thay đổi
cơ cấu là các sự thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần cho sự tăng trưởng GDP.
Các bộ phận đó gắn bó, tương tác chặt chẽ với nhau; nhằm đạt được hiệu quả cao
nhất; biểu hiện ở các mối quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong
những không gian - thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã
hội. Đặc trưng của cơ cấu là không cố định mà luôn vận động, thay đổi. Sự tồn tại
của nó mang tính khách quan, phụ thuộc vào trình độ của lực lượng sản xuất và
phân công lao động trong xã hội. Ở mỗi nơi và mỗi giai đoạn cụ thể thì xu thế
chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội
và các thể chế khác nhau. Quá trình CNH,HĐH liên kết với quá trình đô thị hóa là
quá trình phát triển mạnh của lực lượng sản xuất, là quá trình tạo ra những công
nghệ mới, những tiến bộ kỹ thuật mới, giúp làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy
sự tăng trưởng. Vì thế CNH, HĐH là qúa trình chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế,
mối quan hệ của việc chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế; CNH - HĐH mang tính
nhân quả, không tách rời nhau.
Tóm lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi cơ cấu theo cả chỉ tiêu
tuyệt đối và chỉ tiêu tương đối, qua thời gian. Phân tích ảnh hướng kết cấu là phân
tích ảnh hưởng của sự thay đổi kết cấu đến các chỉ tiêu khác như: các chỉ tiêu bình
quân và các chỉ tiêu tổng mức có liên quan. Cần phân tích chuyển dịch kết cầu và
ảnh hưởng kết cấu theo các chỉ tiêu khác nhau (sản lượng, giá trị sản xuất, lao
động…). Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này của luận văn, nội dung chuyển dịch

16


cơ cấu kinh tế được tập trung chủ yếu vào chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
1.2.2.1. Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành kinh tế cơ bản của nền kinh tế mỗi quốc gia, nó
vừa gắn bó chặt chẽ với các ngành khác trên địa bàn, vừa chịu sự chi phối chung
của nền kinh tế quốc dân; đồng thời lại phản ánh những nét riêng biệt, mang tính
đặc thù của một ngành mà đối tượng sản xuất là những cây trồng, vật nuôi…
Xét về mặt kinh tế, xã hội và môi trường thì nông nghiệp có vị trí hết sức
quan trọng trong việc phát triển; bởi vì nông nghiệp là ngành sản xuất lương thực,
thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp gắn liền với quá trình tồn
tại và phát triển của nhân loại. Đây luôn là vấn đề cơ bản thiết yếu, xét trên phạm vi
mỗi quốc gia và quốc tế. Thực tế, chứng minh rằng những nền kinh tế có những
bước phát triển đều có nền nông nghiệp phát triển vững chắc. Nhìn tổng thể, nội
dung của chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp được biểu hiện ở kết quả của sự
tăng trưởng GDP của mỗi quốc gia hay một địa phương cụ thể; biểu hiện qua sự
thay đổi về vai trò thực tế, về giá trị sản lượng của các phân ngành trồng trọt, chăn
nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp. Và nếu nhìn sâu hơn, còn có thể “bóc tách” sự
chuyển dịch của những “tiểu ngành” như trồng trọt cây lương thực, cây công
nghiệp, cây ăn quả…hay chăn nuôi đại gia sức, chăn nuôi gia cầm,… ở những quy
mô nào, theo mô hình nào (các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa lớn, kinh tế
trang trại, kinh tế hộ gia đình…). Các chính sách đất đai nông nghiệp, chính sách
giá nông nghiệp; chính sách đầu tư xây dưng cơ sở hạ tầng nông thôn; chính sách
tín dụng nông thôn; chính sách khuyến nông và thị trường đầu ra cho các nông sản
hàng hóa… tác động trực tiếp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp,
trong quá trình Công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
1.2.2.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp
Công nghiệp là một cấu phần quan trọng của nền kinh tế quốc dân, đồng thời
đây cũng là một bộ phận cấu thành kinh tế của các vùng lãnh thổ. Việc mở rộng các
ngành nghề, các hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp có tính chất công nghiệp là
phát triển công nghiệp. Tóm lại, công nghiệp bao gồm: hoạt động của các thợ thủ

17


công chuyên nghiệp - không chuyên nghiệp, các doanh nghiệp tư nhân, các công ty
trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác xã và tổ hợp, tổ sản xuất công nghiệp và thủ công
nghiệp, các xí nghiệp vừa và nhỏ nhưng hoạt động trực tiếp gắn với phát triển kinh
tế - xã hội trên địa bàn. Một đòi hỏi khách quan, một quá trình có tính quy luật để
phát triển kinh tế - xã hội là sự phát triển của công nghiệp.
Ngành công nghiệp được phân thành ba nhóm ngành gồm công nghiệp khai
thác, công nghiệp chế tạo – chế biến và công nghiệp điện – khí – nước; sự phân chia
này dựa theo tính chất của sản phẩm. Trong đó, ngành công nghiệp khai thác có
nhiệm vụ khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho sản xuất và đời sống, bao
gồm khai thác các nguồn năng lượng như dầu mỏ, khí đót, than, khai thác quặng
kim loại như sắt, thiếc, bô xít,… khai thác vật liệu xây dựng (đá, cát, sỏi..). Sản
phẩm của công nghiệp khai thác cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho công nghiệp
chế biến. Công nghiệp chế biến cũng bao gồm ba nhóm ngành: một là, công nghiệp
chế tạo công cụ sản xuất gồm có: cơ khí chế tạo máy, kỹ thuật điện, điện tử; xét
theo công dụng của sản phẩm đầu ra. Những ngành sản xuất này có vai trò quan
trọng hàng đầu. Hai là, công nghiệp hóa chất, hóa dầu, luyện kim và vật liệu xây
dựng. Ba là, công nghiệp sản xuất vật phẩm tiêu dùng như sản phẩm dệt may, da
giày, chế biến thực phẩm, đồ uống, chế biến gỗ, giấy, chế biến thủy tinh, sành,
sứ…Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, ngành công nghiệp có vai trò chủ đạo.
Vai trò đó thể hiện ở chỗ nó là ngành cung cấp tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền kinh
tế; nó là động lực chính thúc đẩy phát triển nông nghiệp; nó còn cung cấp hàng hóa
tiêu dùng cho xã hội; là nơi thu hút lao động nông nghiệp, góp phần giải quyết việc
làm…, vì thế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong một nước, phải đặc biệt chú ý
đến tỷ trọng của các ngành công nghiệp trong GDP của quốc gia…
Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp gắn chặt với công nghiệp. Ở vị trí đứng
trước sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp sử dụng các công cụ và điều kiện tiến
hành các quy trình sản xuất nông nghiệp, do Công nghiệp chế tạo ra. Ở vị trí song
song với sản xuất nông nghiệp, công nghiệp cung cấp các máy móc công cụ làm đất
và chăm sóc, thuốc trừ sâu, các máy móc phục vụ thu hoạch, phơi sấy, bảo quản, sơ

18


chế, chế biến, vận chuyển nông sản,…phụ vụ quá trình sản xuất nông nghiệp.
Thứ hai, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp gắn bó chặt chẽ,
tác động qua lại với nông nghiệp. Trong quá trình công nghiệp hóa thì phát triển
công nghiệp là một nội dung; công nghiệp tác động tích cực và có hiệu quả tới toàn
bộ sự phân công lao động và tác động đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển sản xuất hàng loạt. Trong điều kiện
phát triển kinh tế hiện nay, công nghiệp chế biến nông sản vừa có vai trò trực tiếp;
vừa có vai trò gián tiếp tới sự phát triển nông nghiệp hàng hóa, tạo ra cầu nối giữa
công nghiệp và nông nghiệp; đây là khâu đột phá để công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để nông nghiệp hàng hóa phát triển mạnh mẽ
hơn.
1.2.2.3. Chuyển dịch cơ cấu ngành dịch vụ
Dịch vụ là một lĩnh vực bao gồm nhiều ngành, nhiều bộ phận trong nền kinh
tế quốc dân, xét từ góc độ cơ cấu tổ chức của nền kinh tế. Dịch vụ giúp cho các thủ
thể sản xuất thực hiện quá trình sản xuất, tái sản xuất một cách thuận lợi hơn, đạt
hiệu quả kinh tế cao hơn; nhằm đáp ứng tốt hơn những nhu cầu sinh hoạt ngày càng
phong phú của con người.
Có thể định nghĩa một cách chung nhất, dịch vụ là những hoạt động lao động
mang tính chất xã hội, nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình
thái vật thể, kịp thời thỏa mãn, thuận lợi và hiệu quả hơn các nhu cầu sản xuất và
đời sống của con người. Đây là lĩnh vực “mở”, biến đổi, phát triển tùy thuộc vào sự
phát triển, phân bố sâu rộng của phân công lao động xã hội, của những thành tựu
khoa học, công nghệ phục vụ cho sản xuất và đời sống của con người. Dịch vụ là
hình thức không bao gồm những hoạt động nhằm mục đích tự phục vụ cho quá trình
sản xuất của chủ thể sản xuất hay tự phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của một người
nào đó.
Dịch vụ bao gồm rất nhiều loại: ngân hàng, tín dụng, bưu điện, thông tin liên
lạc, vận tải, cung cấp điện, thủy lợi, sửa chữa máy móc, công cụ sản xuất, xây dựng
nhà ở, xây dựng các công trình công cộng, các hoạt động dịch vụ du lịch, dịch vụ

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×