Tải bản đầy đủ

KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2014 TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH DUY KHÁNH

KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO
LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2014 TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH DUY KHÁNH

KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO
LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2014 TỰ THỰC TIỄN

TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN ĐỨC MINH

HÀ NỘI, NĂM 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
theo Luật thi hành án dân sự năm 2014 từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” là
công trình nghiên cứu độc lập của tôi, không có sự sao chép từ người khác.
Tất cả những số liệu được đưa vào sử dụng trong Luận văn này đều là
những số liệu trên thực tế trong lĩnh vực thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh do Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh đã cung cấp cho tôi.
Trong luận văn của mình tôi cũng có tham khảo nhiều bài viết, sách, tạp chí
của các tác giả có nguồn gốc rõ ràng và có sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy
Nguyễn Đức Minh.
Tôi xin cam đoan và tự chịu trách nhiệm nếu có vấn đề gì xảy ra với bài
luận văn của mình.
Đồng thời qua đây tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Cục thi hành án dân
sự tỉnh Quảng Ninh, các Chi cục thi hành án thành phố Hạ Long, thành phố
Cẩm Phả, thành phố Uông Bí đã giúp đỡ tôi thông qua việc cung cấp số liệu
phục vụ cho bài viết của tôi được thực tế. Tôi cảm ơn thầy Nguyễn Đức Minh
là người đã nhiệt tình hướng dẫn tôi để tôi có thể hoàn thiện luận văn này.
Cảm ơn tất cả những người thân đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi hoàn
thành nhiệm vụ của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN
TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ............................................... 5
1.1 Khái niệm kê biên tài sản trong thi hành án dân sự. ............................. 5
1.2. Vai trò của biện pháp kê biên tài sản trong thi hành án dân sự ......... 14


1.3. Nội dung chế định pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án
dân sự ........................................................................................................ 17
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở
TỈNH QUẢNG NINH ................................................................................... 33
2.1. Thực trạng pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự ..... 33
2.2. Thực tiễn áp dụng biện pháp kê biên tài sản đảm bảo thi hành án .... 45
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN
DÂN SỰ .......................................................................................................... 58
3.1 Quan điểm, yêu cầu, định hướng hoàn thiện pháp luật về kê biên
tài sản trong thi hành án dân sự................................................................. 58
3.2. Giải pháp hoàn thiện và thực hiện pháp luật về kê biên tài sản
trong thi hành án dân sự ............................................................................ 60
3.3. Kiến nghị sửa đổi một số nội dung trong Luật THADS năm 2014 ... 66
KẾT LUẬN .................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 73


BẢNG CHỮ VIÊT TẮT:
BA

Bản án

CHV

Chấp hành viên

ĐBTHA

Đảm bảo thi hành án

ĐKTHA

Điều kiện thi hành án

QSDĐ

Quyền sử dụng đất

THA

Thi hành án

THADS

Thi hành án dân sự


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, song song với
đó là những giá trị vật chất được tạo ra ngày một tăng đáng kể, Đảng và nhà
nước đang dần xây dựng và kiện toàn bộ máy chính trị theo định hướng xã
hội chủ nghĩa theo mục tiêu đã đặt ra. Nhân dân dần được làm chủ trong các
hoạt động của mình để xây dựng nhà nước pháp quyền.
Với chính sách đổi mới toàn diện về kinh tế chính trị, văn hóa xã hội, lấy
đổi mới kinh tế trước tiên sau đó dần dần từng bước đổi mới về chính trị,
trong quá trình phát triển kinh tế theo nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Chính vì lẽ đó trong các quan hệ pháp luật dân
sự tăng lên một cách nhanh chóng, đi cùng với đổi mới là sự tăng lên của các
vụ, việc tranh chấp dân sự, kéo theo sự tăng lên của của các việc THADS, để
thi hành triệt để các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực, các cơ quan
THADS phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, trong đó có biện
pháp cưỡng chế kê biên tài sản được sử dụng nhằm giải quyết dứt điểm những
bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án cần phải thi hành.
Chúng ta cũng biết rằng, kê biên tài sản là một hình thức cưỡng chế kê
biên phức tạp đòi hỏi chấp hành viên phụ trách hồ sơ thi hành án phải có kỹ
năng toàn diện mới có thể thực hiện được công việc này. Mặt khác việc áp
dụng biện pháp cưỡng chế cần phải có sự phối hợp của các ngành các cấp,
nếu thiếu một thành phần theo quy định thì khó mà thành công được.
Đây là một đề tài không mới nhưng rất ít có công trình nghiên cứu được
xây dựng bài bản, rõ nét, chủ yếu tập trung ở các tạp chí luật học của các thầy
cô là giảng viên các trường đại học lớn trên toàn quốc, gần đây đã có một số
trường Đại học đưa đề tài này vào làm đề tài luận văn cho chương trình đào
tạo sau đại học, tuy nhiên những bài viết liên quan tới đề tài này thì chủ yếu
tập trung vào một hoặc một số vấn đề riêng lẻ trong các biện pháp kê biên tài
1


sản, hoặc tập trung vào phân tích từng loại tài sản được kê biên, ví dụ như tài
sản là quyền sử dụng đất…Rất ít đề tài đi sâu phân tích tất cả các loại tài sản
cần phải kê biên trong quá trình thi hành án dân sự, đặc biệt là kể từ khi Luật
thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước những vấn đề cấp thiết của đề tài, những đòi hỏi khách quan của
công tác thi hành án dân sự, trong những năm qua đã có một số công trình
khoa học nghiên cứu về vấn đề thi hành án dân sự, cụ thể là: Đề tài: “Thi hành
án dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện của Dự án VIE/98/001” do Bộ tư
pháp chủ trì thực hiện dự án. Một số luận văn và công trình nghiên cứu khác
như: Luận văn thạc sĩ Luật học “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự,
thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Công Long; Luận
văn thạc sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự” của tác giả
Nguyễn Thanh Thủy; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Xuân Hồng về
“Xã hội hóa thi hành án dân sự ở Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ luật học của
tác giả Nguyễn Quang Thái về “Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án
dân sự ở Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Anh Tuấn với đề
tài “Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam”, ngoài ra còn các bài viết
đăng trên tạp chí luật học, dân chủ và pháp luật…
Nhìn chung các công trình nghiện cứu nói trên đã một phần nào đó
đánh giá, nghiên cứu ở những khía cạnh và góc độ khác nhau của vấn đề kê
biên tài sản trong thi hành án. Ở đề tài của tác giả trong luận văn này, tác giả
sẽ tập trung đi sâu phân tích những vẫn đề lý luận về kê biên tài sản trong thi
hành án dân sự kể từ thời điểm Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung
năm 2014, đồng thời tác giả đưa vào bài viết những số liệu thực tế phản án
tình hình thực hiện biện pháp kê biên tài sản trong thi hành án dân sự trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh, để thấy được những thành quả đạt được cũng như
những mặt hạn chế mà công tác thi hành án trên địa bàn tỉnh nhà còn tồn
đọng.
2


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đây là đề tài mà tác giả rất tâm huyết để thực hiện và mong muốn bài
viết của mình được ghi nhận rộng rãi hơn. Trong bài viết tác giả hướng tới
phân tích những vấn đề lý luận về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự, và
tác giả tập trung chủ yếu tới lĩnh vực THA dân sự. Về lĩnh vực THA hình sự,
nếu có điều kiện tác giả sẽ thực hiện bằng một công trình nghiên cứu khoa
học khác.
Mục đích của việc thực hiện đề tài này, tác giả tập trung phân tích toàn
bộ những vấn đề liên quan tới lĩnh vực kê biên tài sản trong thi hành án dân
sự, đặc biệt kể từ sau khi Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm
2014. Qua đó tác giả sẽ cho người đọc thấy được những thành quả đạt được
của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh trong quá trình áp dụng Luật thi
hành án dân sự sửa đổi, đồng thời cũng rút ra được những hạn chế còn tồn
đọng để có giải pháp khắc phục sớm nhất góp phần nâng cao hiệu quả công
tác kê biên
Xuất phát từ mục đích của việc nghiên cứu đề tài nêu trên, việc nghiên
cứu đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề lý luận về kê biên tài sản,
các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê biên tài sản và thực tiễn
thực hiện.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Do thời gian cũng như giới hạn của luận văn nên trong toàn bộ bài viết
này tôi chỉ tập trung hướng tới phân tích về lĩnh vực kê biên tài sản đảm bảo
thi hành án dân sự. Trong đó tập trung đi sâu vào những vấn đề lý luận về kê
biên tài sản THADS, các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và thực
tiễn thực hiện các quy định đó trên địa bản tỉnh Quảng Ninh.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác Lê Nin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
3


về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Quá trình nghiên cứu luận văn tác giả cũng đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống như phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh và một số phương pháp liên quan để thực hiện đề tài một cách
hoàn chỉnh hơn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về lý luận: Luận văn đã đi sâu và phân tích được khái quát những vấn
đề về khái niệm, trong đó có khái niệm chung nhất là kê biên tài sản, phân
tích được những đặc điểm của vấn đề kê biên tài sản trong thi hành án dân sự,
góp thêm một Luận văn nghiên cứu vào kho tài liệu về kê biên tài sản.
- Về thực tiễn: Qua nghiên cứu tổng thể về lý luận thi hành án, có thể
thấy được thực trạng vấn đề kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án dân sự tại
địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Từ đó rút ra được những kinh nghiệm trong quá
trình làm việc và tìm ra được những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong
công tác kê biên tài sản thi hành án.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được xây dựng với cơ cấu 03 chương.
- Chương 1: Khái quát lý luận và pháp luật về kê biên tài sản trong thi
hành án dân sự;
- Chương 2: Thực trạng về tình hình kê biên tài sản trong thi hành án dân
sự qua thực tiễn thực hiện ở tỉnh Quảng Ninh;
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về kê
biên tài sản trong thi hành án dân sự.

4


Chương 1
KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm kê biên tài sản trong thi hành án dân sự.
1.1.1. Định nghĩa kê biên tài sản trong thi hành án dân sự:
Theo từ điển bách khoa toàn thư thì định nghĩa kê biên tài sản được giải
thích rất ngắn gọn: kê biên tài sản là biện pháp cưỡng chế của nhà nước đối
với tài sản của người vi phạm để đảm bảo thi hành án.
Nếu chỉ dừng lại ở định nghĩa kê biên tài sản thì định nghĩa kê biên tài
sản được hiểu cả trong lĩnh vực hình sự. Đó là một biện pháp cưỡng chế nhà
nước được áp dụng đối với bị can, bị cáo mà theo quy định của pháp luật có
thể bị phạt tiền. Đây là cách hiểu và giải thích gói gọn trong lĩnh vực kê biên
tài sản thi hành án hình sự.
Những năm trước đây, khoảng từ năm 1989 trở về trước, trong pháp luật
tố tụng dân sự chưa có sự phân biệt và định nghĩa rõ ràng về khái niệm kê
biên tài sản và tịch biên tài sản. Tài sản bị kê biên thường được xử lý để đảm
bảo thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án còn tài sản trong biện pháp
tịch biên sẽ được xung công quỹ Nhà nước. Sau này theo quá trình phát triển
của xã hội, pháp luật cũng được chú trọng để sửa đổi cho hợp lý hơn thì khái
niệm kê biên tài sản đã được hiểu đúng bản chất. Kê biên tài sản luôn gắn với
một chủ thể nhất định, nhân danh cho quyền lực Nhà nước, không phải ai
cũng có quyền kê biên tài sản của người khác, mà quá trình kê biên tài sản đòi
hỏi phải được thực hiện thông qua những bước nghiêm ngặt, thể hiện quyền
lực của Nhà nước thể hiện qua hành động của chấp hành viên được phân công
thực hiện.
Như vậy kê biên tài sản của người phải thi hành án dân sự là một biện
pháp cưỡng chế thi hành án do cơ quan thi hành án dân sự áp dụng khi người
phải thi hành án có nghĩa vụ thanh toán tiền theo bản án, quyết định của tòa

5


án được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án
chuyển dịch tài sản cho người khác tẩu tán hoặc hủy hoại tài sản.
1.1.2. Đặc điểm của kê biên tài sản trong thi hành án dân sự.
Bất cứ một khái niệm thuật học nào cũng đều mang trong nó những đặc
điểm để phân biệt giữa khái niệm này với khái niệm khác. Kê biên tài sản
trong thi hành án dân sự cũng vậy, khái niệm kê biên luôn đi cùng với khái
niệm cưỡng chế. Kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế hữu hiện để Nhà
nước thực hiện quyền lực nhà nước của mình. Kê biên tài sản được Nhà nước
trao chocác cơ quan khác nhau thực hiện như: Thủ trưởng cơ quan điều tra
công an, Thẩm phán tòa án nhân các cấp … trong đó có chấp hành viên cơ
quan THADS. Sự khác biệt này được thể hiện ở những khía cạnh chính là chủ
thể áp dụng kê biên và mục đích kê biên. Ví dụ chủ thể thực hiện kê biên
trong giai đoạn xét xử là thẩm phán giải quyết vụ việc, chủ thể thực hiện kê
biên trong giai đoạn thi hành án là do chấp hành viên. Về mục đích kê biên
của các cơ quan điều tra và cơ quan tòa án nhằm bảo đảm việc thi hành
án, tránh việc tẩu tán, hủy hoại tài sản của bị can, bị cáo, đương sự. Nhưng
mục đích áp dụng biện pháp kê biên của các cơ quan hành chính và cơ quan
THADS là ngoài mục đích như trên còn mục đích xử lý tài sản thanh toán trả
tiền cho khoản tiền phạt, khoản thu cho ngân sách nhà nước và chủ nợ. Một
số đặc điểm chính của Kê biên tài sản trong thi hành án dân sự có thể nêu ra
như sau:
Một là, biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản trong thi hành án dân sự thể
hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được thực hiện cũng bằng sức
mạnh đặc biệt của Nhà nước. Trên thực tế cũng như quy định của pháp luật,
việc cưỡng chế thi hành án phải do cơ quan nhà nước có thểm quyền thực
hiện. Theo đó, người được thi hành án không có quyền tự mình dùng sức
mạnh để buộc người có nghĩa vụ thi hành án (người phải thi hành án) thực
hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định của Tòa án.

6


Theo quy định trong Luật thi hành án dân sự thì Nhà nước ta trao quyền
năng này cho Chấp hành viên, người của cơ quan thi hành án dân sự. Do đó,
khi cần thiết phải sử dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thì chỉ có CHV
mới có quyền ban hành những quyết định có liên quan tới việc thi hành án,
lựa chọn biện pháp để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án.
Hai là, biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án dân sự được
Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự
nguyện thi hành án hoặc buộc họ thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án,
quyết định của Tòa án.
Dân sự luôn ưu tiên sự thỏa thuận của các đương sự, do vậy trong thi
hành án dân sự, các bên có quyền tự định đoạt nên nhà nước luôn ưu tiền cho
các bên tự nguyện thi hành án trước khi người được thi hành án có đơn yêu
cầu cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc áp dụng các biện pháp để thi
hành được bản án, quyêt định đó.
Tuy nhiên trên thực tế, việc người phải thi hành án tự nguyện thi hành
bản án, quyết định là rất ít khi xảy ra. Do vậy mới có biện pháp cưỡng chế kê
biên tài sản trong thi hành án, để áp dụng cho những người không tự nguyện
thi hành án. Đây được xem là bước đi cuối cùng để có thể đảm bảo thi hành
án được theo đúng bản án, quyết định đã tuyên, bước cuối cùng nhưng đem
lại được sự hài hòa và lợi ích chính đáng cho người được thi hành án.
Ba là, đối tượng của biện pháp kê biên tài sản thi hành án dân sự chính là
tài sản của người phải thi hành án. Khác với hình sự mục đích của các biện
pháp hình sự mang tính trừng phạt là chủ yếu, nhưng với dân sự, trong thi
hành án việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản chỉ hướng tới mục đích yêu
cầu hay buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người được thi
hành án.
Bốn là, khia áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án dân
sự thì người phải thi hành án ngoài việc phải thực hiện nghĩa vụ theo bản án,

7


quyết định của Tòa án thì còn phải chịu những chi phí khác phát sinh trong
quá trình cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án.
Những chi phí nêu trên có thể kể tới như chi phí để trả cho các cơ quan
liên quan trong quá trình cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án, trong đó có ủy
ban cấp xã, cơ quan công an thực hiện việc đảm bảo an ninh cho công tác thi
hành án, hoặc chi phí để bảo vệ tài sản, chi phí định giá tài sản, xác minh
những vấn đề liên quan tới tài sản thi hành án…
Năm là, biện pháp kê biên tài sản trong THADS thể hiện quyền năng đặc
biệt của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước.
Biện pháp kê biên tài sản THADS được CHV quyết định áp dụng không
chỉ có hiệu lực đối với người phải thi hành án, người được thi hành án mà còn
tác động tới các cơ quan, cá nhân, tổ chức có liên quan khác. Đây là biện pháp
thể hiện quyền lực của Nhà nước nên mọi quyết định của CHV đều phải được
các chủ thể liên quan nghiêm túc chấp hành để đảm bảo tính thượng tôn pháp
luật và công tác thi hành án được thực hiện đúng, đủ, nhanh chóng.
1.1.3. Phân loại kê biên tài sản trong THADS.
Theo quy định của pháp luật thì CHV chỉ được kê biên tài sản của người
phải THA tương ứng với phần nghĩa vụ của họ đối với nghĩa vụ THA và các
chi phí hợp lý phát sinh khác trong quá trình tố tụng.
Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản sẽ có những tác động
trực tiếp vào những người sau: Người được THA, người phải THA và người
có quyền và nghĩa vụ liên quan. Trong các đối tượng trên, đối tượng liên quan
mật thiết, chặt chẽ tới hoạt động THA phải kể tới đó là tài sản bảo đảm kê
biên. Tài sản này có thể là động sản hoặc bất động sản, nhưng nó buộc phải
đảm bảo điều kiện về sở hữu của người phải thi hành án, không phụ thuộc vào
thực tế ai đang là người quản lý sử dụng. Miễn tài sản đó là của người phải thi
hành án. Việc này đảm bảo được nguyên tắc người phải thi hành án phải thực
hiện nghĩa vụ bằng chính tài sản của mình. Tài sản kê biên phải tương ứng với
nghĩa vụ phải thi hành và các chi phí có liên quan. Trong trường hợp đặc biệt
8


mà tài sản kê biên lớn hơn nghĩa vụ phải thi hành án thì phải xác định rõ phần
nghĩa vụ cụ thể, phần còn lại nằm ngoài nghĩa vụ thì phải xem xét trao trả cho
người phải thi hành án.
Pháp luật về THADS liệt kê các loại tài sản kê biên như sau:
- Một là kê biên tài sản thuộc sở hữu chung: Luật THADS sửa đổi bổ
sung năm 2014 quy định: “1. Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở
hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối
tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người
phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản,
quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu
cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.”
Điểm mới trong quy định của Luật THADS năm 2014 là phân định rõ
trường hợp sở hữu chung thành hai loại: Sở hữu chung của vợ chồng; và sở
hữu chung ở hình thức khác, từ đó chấp hành viên dễ dàng lựa chọn cách thức
giải quyết việc kê biên tài sản. Đồng thời Luật còn cho phép chủ sở hữu
chung được quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho mình,
điều này thể hiện tính dân chủ trong quá trình giải quyết, bảo vệ quyền lợi của
các đồng sở hữu. Mặc dù đây là một điểm tiến bộ khi bảo vệ được những
người liên quan, nhưng lại phát sinh vấn đề tốn thời gian cho người được thi
hành án. Bởi vì quá trình khởi kiện để xác định tài sản chung mất không ít
thời gian, đến lúc có sự phân xử của Tòa án có hiệu lực thì liệu giá trị tài sản
đảm bảo thi hành có còn được giữ nguyên vẹn hay không?
Bên cạnh đó là trường hợp kê biên tài sản trong trường hợp sở hữu
chung hợp nhất của vợ chồng. Trong trường hợp này CHV chỉ được kê biên
tài sản thuộc sở hữu riêng của người có nghĩa vụ phải thi hành án (vợ hoặc
chồng). Nếu trong trường hợp tài sản riêng đó không đảm bảo nghĩa vụ phải
thi hành án thì CHV hướng dẫn và giải thích cho người còn lại có quyền ưu
tiên mua phần tài sản của người kia. Nếu vợ hoặc chồng không mua thì sau
khi bán tài sản CHV phải thanh toán lại cho họ phần giá trị tài sản mà họ
9


được hưởng. Sau đó trích lại cho người phải THA số tiền nhất định dùng cho
việc trợ cấp nuôi con chưa thành niên hoặc tàn tật hoặc người mà người phải
THA có trách nhiệm nuôi dưỡng. Đây là việc làm thể hiện tính nhân đạo rất
lớn, đảm bảo được nhu cầu tối thiểu nhất của một con người.
Giả sử trường hợp tài sản chung của vợ chồng gồm nhiều loại thì CHV
căn cứ vào giá trị của từng tài sản để kê biên loại tài sản tương ứng với nghĩa
vụ và chi phí để đảm bảo THA. Quy định này nhằm ngăn chặn tình trạng vượt
quyền của CHV bởi nếu không quy định như vậy thì CHV sẽ cưỡng chế kê
biên theo hiểu biết chủ quan của mình, ảnh hưởng tới lợi ích của người còn lại
và CHV có thể kê biên bất cứ tài sản nào kể cả trường hợp tài sản thực tế lớn
hơn nghĩa vụ phải THA (Khoản 2 Điều 74 Luật THADS sửa đổi năm 2014
quy định rất rõ vấn đề này). Việc quy định rõ ràng vừa đảm bảo lợi ích của
người phải thi hành án, cho đồng sở hữu chung và cho người được THA.
Đối với trường hợp nghĩa vụ thi hành án chung của hai vợ chồng nhỏ
hơn giá trị tài sản chung thì CHV có thể xem xét kê biên tài sản tương ứng
với phần giá trị phải thi hành án mà không phải kê biên toàn bộ tài sản chung
đó. Việc kê biên toàn bộ tài sản sẽ rất tốn kém kinh phí, thời gian thi hành án.
Ví dụ: Anh Trần Văn Sơn và vợ là chị Lường Thị Hòa có tài sản chung
gồm 01 ngôi nhà trị giá 1 tỷ đồng, 02 chiếc xe ô tô trị giá 950.000.000đồng
01 chiếc xe môtô trị giá 28.000.000 đồng. Bản án của tòa án tuyên buộc anh
Sơn và chị Hòa phải có nghĩa vụ thi hành án trả lại cho chị Nguyễn Minh Tâm
số tiền 800.000.000đồng tiền vay, trong trường hợp này Chấp hành viên có
thể xem xét việc kê biên 02 chiếc xe ô tô của hai vợ chồng để đảm bảo thi
hành án cho chị Tâm, mà không phải kê biên tất cả các loại tài sản của vợ
chồng anh Sơn chị Hòa.
- Hai là việc kê biên tài sản đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ.
Việc kê biên tài sản là những tài sản hữu hình đã khó, lĩnh vực sở hữu
trí tuệ lại là tài sản vô hình thì việc kê biên còn gặp vô vàn khó khăn. Nắm bắt
được tình hình đó nên pháp luật THADS sửa đổi đã quy định rất cụ thể những
10


trường hợp xảy ra trong quá trình kê biên tài sản SHTT. Ngay cả trong trường
hợp quyền SHTT được chuyển giao cho cơ quan nhà nước khác thì quyền
SHTT đó vẫn bị kê biên. Bởi vì người chuyển quyền SHTT chỉ là chuyển giao
quyền sử dụng, khai thác. Còn quyền chiếm hữu, định đoạt vẫn nằm trong tay
chủ sở hữu ban đầu. Do vậy đây vẫn là tài sản có thể kê biên được. (Điều 84
Luật THADS 2014 sửa đổi, bổ sung).
- Ba là việc kê biên tài sản đối với trường hợp tài sản là quyền sử dụng
đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu.
Điều 89 Luật THADS 2014 quy định: “1.Trước khi kê biên tài sản là
quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch
bảo đảm theo quy định của pháp luật, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng
ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký.
2. Sau khi kê biên, Chấp hành viên thông báo bằng văn bản cho cơ quan
đăng ký về việc kê biên tài sản đó để xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 178
của Luật này.”
Để đảm bảo việc kê biên tài sản đúng mục đích, đúng nghĩa vụ thì đối
với những tài sản như QSDĐ và tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, thì CHV
phải có nghĩa vụ yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản đó.
Để xác minh rõ tài sản được thi hành hiện trạng như thế nào, có thuộc quyền
sở hữu của người phải thi hành án hay không? Giá trị của tài sản đó là bao
nhiêu so với nghĩa vụ phải thi hành án? Đồng thời sau khi xác định rõ những
vấn đề liên quan và đã kê biên tài sản đó thì CHV có trách nhiệm thông tin lại
cho cơ quan đăng ký quyền sở hữu biết về tình trạng của tài sản kê biên, tránh
tình trạng tài sản đó lại được đem ra giao dịch bất hợp pháp để hòng trốn
tránh nghĩa vụ.
Đây là những trường hợp kê biên tài sản nổi bật và gây nhiều tranh cãi
cũng như những vấn đề liên quan phát sinh nhất. Những trường hợp kê biên
tài sản còn lại như:
- Kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp;
11


- Kê biên tài sản do người thứ ba đang nắm giữ;
- Kê biên tài sản là vốn góp;
- Kê biên tài sản là phương tiện giao thông;
Trên đây là việc phân loại các biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản đảm
bảo thi hành án theo quy định của pháp luật hiện nay, được thể hiện rất cụ thể
trong Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
1.1.4. Cơ sở của việc quy định biện pháp kê biên tài sản của người phải thi
hành án trong pháp luật thi hành án dân sự
1.1.4.1: Cơ sở lý luận
Thứ nhất, trong bất cứ một hoạt động nào liên quan đến bộ máy nhà
nước cũng cần phải có một chế tài nhất định, điều đó thể hiện tính nghiêm
minh của pháp luật và đảm bảo được tính thượng tôn pháp luật, để bù lại việc
tự nguyện thi hành án không đạt được.
Khi một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành, người phải
thi hành án vẫn có sự lựa chọn của mình để thực hiện nghĩa vụ đó là việc tự
nguyện THA trong một thời gian nhất định. Tuy nhiên sau khoảng thời gian
đó mà người phải THA không tự nguyện thi hành thì buộc cơ quan THA, đại
diện là CHV trực tiếp phụ trách vụ án phải có bước cưỡng chế kê biên tài sản
để đảm bảo thực hiện được bản án, pháp luật được thực thi và quyền lợi của
người được THA được bảo đảm. Thời hạn tự nguyện THA được quy định rõ
nét tại điều 45 luật THADS năm 2014: “Thời hạn tự nguyện THA là mười
ngày, kể từ ngày người phải THA nhận được quyết định THA hoặc được
thông báo hợp lệ quyết đinh THA”
Như vậy để thực hiện được việc kê biên tài sản, cơ sở đầu tiên CHV cần
xét đến là người phải THA phải có điều kiện để THA. Điều này được hiểu rất
đơn giản, “có điều kiện thi hành án” nghĩa là người đó có những tài sản đảm
bảo cho nghĩa vụ THA được thi hành đúng luật. Tài sản đó có thể là động sản,
là bất động sản…Để xác định được người phải THA có đủ điều kiện THA thì
buộc CHV phải có bước xác minh điều kiện THA. Việc này phải làm chính
12


xác và nghiêm minh, tránh xảy ra trường hợp xác minh không khách quan,
không chính xác dẫn tới bản án không được thi hành hoặc thi hành không
đảm bảo quyền lợi của người được thi hành án.
Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở việc đảm bảo có điều kiện để THA thì chưa
đủ, mà phải có một điều kiện đi kèm là: đã hết thời hiệu tự nguyện thi hành
án. Bởi lẽ, nếu đang còn trong thời hiệu tự nguyện THA thì cơ quan THA
không được quyền ra quyết định cưỡng chế THA, mà nếu đã không thể ra
quyết định cưỡng chế THA thì không được phép kê biên tài sản. Trường hợp
này loại trừ đối với việc CHV có cơ sở cho rằng nếu không kê biên tài sản kịp
thời thì người phải thi hành án sẽ tẩu tán tài sản đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ
đối với người được THA.
Trong hai điều kiện nói trên, CHV không được xem nhẹ bất cứ điều kiện
nào bởi hai điều kiện này làm tiền đề cho nhau, là hai điều kiện bắt buộc và
phải thỏa mãn đủ. Đã có rất nhiều trường hợp xảy ra khi CHV coi nhẹ một
điều kiện nào đó, ở đây chằng hạn việc xem nhẹ bước thông báo quyết định
THA cho người phải THA, sau khi cưỡng chế người phải THA đã làm đơn
khiếu nại vì không được nhận thông báo của cơ quan THA nên không nắm
được thời hạ tự nguyện THA là bao lâu.
1.1.4.2. Cơ sở thực tiễn
Trong thực tiễn hoạt động THADS, khi người phải THA không tự
nguyện THA và biện pháp bảo đảm THADS chỉ mang tính tạm thời thì thực
tiễn đòi hỏi cần phải có biện pháp cưỡng chế THA. Từ thực tế đó mà buộc
phải có biện pháp cưỡng chế bằng hình thức kê biên tài sản. Thực tiễn chứng
minh biện pháp kê biên tài sản là biện pháp được CHV áp dụng nhiều nhất
trong quá trình THADS.
Do vậy biện pháp kê biên tài sản để THA là biện pháp cần thiết, vừa đảm
bảo quyền lợi của người được THA, đảm bảo tính khách quan của cơ quan
nhà nước, góp phần giáo dục nâng cao ý thức pháp luật cho người dân trong
công tác THADS.
13


1.2. Vai trò của biện pháp kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Kê biên tài sản là một biện pháp được quy định tại Điều 71 Luật THADS
sửa đổi bổ sung năm 2014, những trường hợp không thuộc phải kê biên tài
sản có thể hiểu là những trường hợp tự nguyên THA. Như vậy, có thể nói kê
biên tài sản là sự đánh giá rõ nét nhất về vai trò và tầm quan trọng của cơ
quan THADS. Điều đó được thể hiện như sau:
- Thể hiện tính nghiêm minh, thượng tôn pháp luật, đúng bản chất pháp
quyền của Nhà nước XHCN, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người được thi
hành án. Một bản án,quyết định của Tòa án phải được thi hành nhanh chóng
và đúng luật. Nếu người phải THA không tự nguyện THA thì cơ quan được
Nhà nước giao thẩm quyền có quyền áp dụng biện pháp kê biên tài sản. Nếu
bản án, quyết định đó không được thi hành đúng luật, không đảm bảo được
quyền lợi của người được THA thì sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng.
Trước mắt là quyền lợi của người được THA không được đảm bảo, làm cho
người dân mất niềm tin vào pháp luật. Thứ hai, tính nghiêm minh của pháp
luật không còn ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của những cơ quan liên
quan khác, trong đó gần nhất là là Tòa án, viện kiểm sát.
- Thứ hai, THADS góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cho người
dân. Đây là đặc thù riêng của lĩnh vực THA. Bởi vì việc THADS không phải
là việc làm của duy nhất của CQTHA mà nó là sự kết hợp của nhiều ban
ngành tại địa phương. Thông qua việc THA thì ý thức pháp luật của dân được
nâng cao và tuyên truyền rộng rãi ra toàn xã hội.
- Thứ ba, kê biên tài sản trong THADS là khâu cuối cùng giải quyết và
thể hiện kết quả của bản án, quyết định của Tòa án. Một vụ án có thể kéo dài
rất nhiều năm gây tốn kém cho người tham gia tố tụng, cho những người liên
quan khác. Sau khi bản án, quyết định được tuyên mà trường hợp người phải
THA lại không tuân thủ việc THA mặc dù có đủ điều kiện để thi hành án thì
buộc cơ quan THADS phải áp dụng ngay biện pháp kê biên tài sản. Có như

14


vậy mới giải quyết dứt điểm được những nội dung đã được tuyên trong bản
án, quyết định của Tòa án.
- Thứ tư, kê biên tài sản ngoài đảm bảo lợi ích cho công dân còn thể hiện
tính thượng tôn pháp luật của Nhà nước ta. Thông qua việc kê biên tài sản xử
lý thi hành án góp phần vào việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật thi hành án
dân sự. Hiện nay công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật thi hành án dân sự
còn nhiều hạn chế và chưa được chú trọng. Nhiều trường hợp xảy ra điển hình
như việc người được thi hành án không biết rằng để bản án được thi hành thì
người được thi hành án phải có đơn yêu cầu thi hành án gửi tới cơ quan
THADS. Điều này dẫn tới việc đã quá thời hạn để yêu cầu thi hành án nhưng
người được THA không có đơn nên mất quyền của mình.
Việc kê biên tài sản thi hành án thể hiện rõ nét nhất vai trò của Chấp
hành viên. Thông qua đó thấy được rằng CHV có tuân thủ đúng pháp luật về
THA hay không? Đánh giá được trình độ chuyên môn của CHV, đồng thời
xác định được nguyên nhân của việc chậm trễ THA hoặc không thi hành án
được. Từ đó khắc phục và sữa chữa những sai lầm không đáng có.
Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 có nhiều thay đổi, bổ
sung quan trọng, trong đó khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án khi
có đủ điều kiện thi hành án. Đây là sự tôn trọng quyền lợi của đương sự trong
quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên để đảm bảo thi hành án trong trường
hợp người phải THA không tự nguyện thi hành sau thời gian 10 ngày mà
pháp luật cho phép, thì CHV được quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê
biên tài sản để thi hành án.
Việc kê biên tài sản để thi hành án dân sự do CHV thực hiện nhưng phải
tuân thủ quy định chặt chẽ của pháp luật thi hành án. Cơ quan có trách nhiệm
quản lý việc thi hành án dân sự là Bộ tư pháp, đây là cơ quan chủ quản trong
vấn đề quản lý việc thi hành án. Cơ quan thi hành án dân sự bao gồm cơ quan
thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung
là cơ quan thi hành án cấp tỉnh); cơ quan thi hành án dân sự cấp quận, huyện,
15


thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi là cơ quan là cơ quan thi hành
án dân sự cấp huyện).
Lần đầu tiên hệ thống cơ quan quản lý thi hành án từ trung ương tới địa
phương được đưa cụ thể hóa vào Luật thi hành án dân sự năm 2008, kể từ
ngày 01 tháng 11 năm 2009, vị trí và tên gọi của hệ thống tổ chức thi hành án
dân sự bao gồm ở trung ương có Tổng cục thi hành án dân sự trực thuộc Bộ
Tư pháp; ở địa phương có Cục thi hành án dân sự tỉnh trực thuộc Tổng cục thi
hành án dân sự và Chi cục thi hành án dân sự huyện trực thuộc Cục thi hành
án dân sự tỉnh. Tổng cục thi hành án dân sự trực thuộc Bộ tư pháp được đổi
tên từ Cục thi hành án dân sự nhằm đảm bảo chức năng quản lý thi hành án
được tốt hơn. Việc thi hành án phải được quản lý và kiểm tra thường xuyên,
minh bạch để không xảy ra sai sót trong quá trình thi hành án.
Có thể lấy một ví dụ điển hình cho việc sai sót trong quá trình thi hành
án, mà trách nhiệm lớn do sự quản lý không chặt chẽ của cơ quan quản lý thi
hành án.
“Năm 2002 bà Trần Thị Hà và ông Hà Văn Hòa (Nguyễn Thiên Hòa)
góp vốn thành lập Công ty TNHH xây dựng, thương mại và kinh doanh nhà
Thành Phát (Công ty Thành Phát), địa chỉ trụ sở chính tại số 10, khu phố 2,
đường HT 25, phường Hiệp Thành, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2005 sau khi kí Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp để vay vốn
kinh doanh với số lượng 3 ngàn lượng vàng và 18 tỉ đồng của Ngân hàng
Nông nghiệp phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn, thành phố
Hồ Chí Minh, bà Hà, ông Hòa và một số người liên quan bị bắt và truy tố về
tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Đưa hối lộ”.. Sau khi bị xét xử với tội
danh đưa hối lộ, bản án số 375/2013/HSST ngày 28/8/2013 và Bản án số
206/2014/HSPT ngày 16 và 17/4/2014 bà Hà bị buộc cùng với ông Hà Văn
Hòa (Nguyễn Thiên Hòa) liên đới bồi thường cho Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi Nhánh Chợ Lớn 3.000 (ba ngàn) lượng
vàng SJC và 18 tỉ đồng, phân định mỗi người chịu trách nhiệm bồi thường ½.
16


Trong thời gian bà Hà chấp hành án tại trại giam, Cục Thi hành án
dân sự thành phố Hồ Chí Minh (Cục THA) đã thụ lí yêu cầu thi hành án của
Nguyên đơn dân sự Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam – Chi nhánh Chợ Lớn và phân công Chấp hành viên Hà Quốc Dũng trực
tiếp thi hành. Tuy nhiên quá trình thi hành án, CHV đã vi phạm nghiêm trọng
những điều khoản quan trọng như: Vi phạm về thông báo thi hành án (tiến
hành đấu giá tài sản nhưng không một lần thông báo tới người phải thi hành
án); Kê biên tài sản hiện đang có tranh chấp; Cục trưởng Cục THADS không
thực hiện việc giải quyết khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật…Hiện
nay người đại diện theo ủy quyền của bà Hà sau khi thực hiện quyền khiếu
nại của mình, toàn bộ yêu cầu trong đơn khiếu nại đều được chấp thuận và bà
Hà cũng đang thực hiện những việc làm tiếp theo để đảm bảo quyền lợi cho
mình.”
Qua ví dụ ngắn gọn nêu trên, có thể thấy tầm quan trọng của công tác
quản lý thi hành án, chỉ một sơ suất nhỏ trong quá trình thi hành án đã làm
ảnh hưởng nghiêm trọng và kéo theo tất cả những cá nhân, cơ quan liên quan
chịu hậu quả.
1.3. Nội dung chế định pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
1.3.1. Lịch sử phát triển của chế định kê biên tài sản trong thi hành án dân
sự được thể hiện qua nhiều thời kỳ khác nhau
Giai đoạn bắt đầu từ năm 1945 đến năm 1960: đây là thời điểm cách
mạng tháng Tám vừa thành công, miền bắc hoàn toàn dược giải phóng, nhà
nước ta bắt tay vào xây dựng hệ thống pháp luật, tuy nhiên chưa thể đưa ra
được một văn bản pháp luật bao quát cụ thể vấn đề thi hành án nên Chủ tịch
Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 với mục đích tạm thời
giữ nguyên các luật lệ hiện có của chế độ cũ, với điều kiện các luật lệ đó
không được trái với nguyên tắc của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Thời
điểm này, hai lực lượng được quyền thi hành án là Thừa phát lại và Ban tư
pháp xã, vai trò của hai chủ thể này là cao nhất trong quá trình thi hành án.
17


Tới thời điểm năm 1950, Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về “cải cách
bộ máy tư pháp và tố tụng” thì công tác thi hành án dân sự lại được giao cho
Tòa án đảm nhiệm, cụ thể hóa hơn nữa là cho Thẩm phán TAND cấp huyện.
Ở thời điểm này, vai trò của Thẩm phán được mở rộng sang cả giai đoạn sau
khi bản án, quyêt định đã có hiệu lực.
Đến năm 1955, theo Thông tư số 19.VHH/HS ngày 30/6/1955 của Bộ tư
pháp và Chỉ thị 772/TATC ngày 10/07/1957 của TANDTC thì từ đó trở đi
Tòa án không đươch áp dụng pháp luật của chế độ cũ nữa mà thay vào đó tại
Thông tư 4176-HCTP ngày 28/11/1957 của Bộ tư pháp đã đưa ra nguyên tắc
trong thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành án nhưng chưa có quy định cụ
thể về cưỡng chế thi hành án dân sự.
Cho tới năm 1960, khi Luật tổ chức TAND ra đời thì chế định cưỡng chế
THA nói chung và cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án nói riêng mới có căn
cứ pháp lý để thực hiện.
Giai đoạn thứ hai từ 1960 đến năm 1989: Ở giai đoạn này, nội dung
biện pháp cưỡng chế tài sản kê biên được áp dụng theo Thông tư số 04/TTNCPL ngày 14/04/1966 của TANDTC hướng dẫn áp dụng biện pháp kê biên
tài sản như sau: Những tài sản có thể kê biên là tài sản của người mắc nợ, kể
cả những tài sản mà họ gửi giữ ở nơi khác, cho người khác mượn, cho vay
hoặc đang sửa chữa. Trường hợp người phải thi hành án đang ở tù thì cũng có
thể kê biên những tài sản đang giữ của họ như đồng hồ, trang sức…nhằm
phục vụ công tác thi hành án. Bên cạnh đó thông tư cũng quy định rõ những
tài sản không được kê biên để thi hành án bao gồm: Giường, chiếu…vật dụng
tối cần thiết nhất cho người đó và gia đình họ; Lương thực, đồ dùng vào việc
thờ cúng…Nhận xét chung ở giai đoạn này tuy trong nội dung của pháp luật
đã thể hiện rõ các bước để kê biên tài sản thi hành án, về điều kiện và những
nội dung liên quan tới việc thi hành án. Tuy nhiên về giá trị của văn bản thì
chỉ mới dừng lại ở Thông tư, Chỉ thị, quyết định…những văn bản này có tính
pháp lý chưa cao.
18


Phải cho tới ngày 28/08/1989 Nhà nước ta mới ban hành Pháp lệnh thi
hành án dân sự, đánh dấu sự phát triển vượt bậc của các nhà lập pháp, thể
hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong pháp luật nước nhà.
Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1993: Ngày 28/8/1989 Pháp lệnh
THADS đầu tiên đã được ban hành tạo cơ sở pháp lý cho việc hoàn thiện
pháp luật, tạo bước tiến mới trong công tác THADS. Lần đầu tiên trong lịch
sử, tất cả các vấn đề liên quan tới thi hành án như: nguyên tắc, trình tự, thủ
tục, các biện pháp cưỡng chế thi hành án được cụ thể hóa thành pháp lệnh.
Nếu trước kia Thẩm phán vừa đảm nhiệm vai trò xét xử, lại vừa là cơ
quan thực hiện tiếp nhiệm vụ thi hành án, thì nay THA đã được tổ chức và
xây dựng bằng một hệ thống cơ quan riêng, có chức năng nhiệm vụ nhất định
để thực hiện các phán quyết của Tòa án được chính xác và nhanh chóng.
Vấn đề cưỡng chế kê biên tài sản THA được quy định thành một chế
định riêng, chứng tỏ được vai trò và sự cần thiết của các biện pháp cưỡng chế
trong THADS. Tuy nhiên sau một thời gian áp dụng triển khai thì Pháp lệnh
cũng gặp phải những hạn chế, chủ yếu nhất nổi cộm lên vấn đề Thẩm phán
vẫn còn quen công việc cũ khi áp đặt tư tưởng giải quyết của mình cho chấp
hành viên. Theo đó CHV thì cũng dựa vào Thẩm phán do CHV mới được tiếp
cận công việc nên chưa thể thực hiện theo đúng tinh thần của pháp lệnh, dẫn
tới việc nhiều bản án, quyết định không được thực hiện đảm bảo trên thực tế.
Trước tình hình đó, Quốc hội khóa IX đã họp và có Nghị quyết chính
thức bàn giao công tác thi hành án cho cơ quan thuộc Chính phủ. Cũng thời
điểm này Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 được ra đời.
Giai đoạn 1993 đến 2004: Thời điểm này Pháp lệnh THADS là văn bản
pháp lý cao nhất về lĩnh vực thi hành án. Phấp lệnh được xây dựng nên đã tạo
cơ sở pháp lý cho việc xây dựng hệ thống cơ quan THA tách ra khỏi hệ thống
tòa án để thực hiện nhiệm vụ được tốt nhất.
Mặc dù vậy nhưng do Pháp lệnh được ban hành ở thời điểm phải khẩn
trường để thực hiện Nghị quyết về bàn giao công tác THADS từ Tòa án sang
19


Chính phủ cho nên Pháp lệnh cũng còn những hạn chế nhất định. Nhiều vấn
đề trong pháp lệnh năm 1989 được giữ nguyên tới pháp lệnh năm 1993, do
vậy không đảm bảo theo kịp với nền kinh tế đất nước dẫn tới nhiều vấn đề
mới xảy ra nhưng lại không có luật áp dụng.
Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2008:
Nhìn qua chặng đường phát triển của chế định pháp luật về kê biên tài
sản thi hành án mới thấy được dấu mốc vượt bậc khi các quy định được cụ thể
hóa lên thành Luật, đảm bảo được tính nghiêm minh, thượng tôn pháp luật và
vấn đề kê biên tài sản được luật hóa sẽ đảm bảo quyền lợi cho người được thi
hành án trong các bản án dân sự. Ngoài Luật thi hành án dân sự thì vấn đề kê
biên tài sản thi hành án còn được điều chỉnh ở nhiều văn bản pháp luật liên
quan đến từng loại tài sản như: Luật đất đai, Luật nhà ở liên quan đến tài sản
là nhà và đất; Luật sở hữu trí tuệ liên quan tới tài sản sở hữu trí tuệ…
Ở Việt Nam cơ quan thi hành án là một cơ quan riêng biệt, tách khỏi Tòa
án và Viện kiểm sát, là một cơ quan quan trọng cuối cùng quyết định việc có
hay không bản án được thi hành trên thực tế.
Ở một số nước trên thế giới việc thi hành án không do cơ quan riêng biệt
thực hiện mà lại gắn liền với một cơ quan khác.
- Ở Mỹ: Bản án, quyết định dân sự được thi hành theo lệnh thi hành án
của tòa án. Pháp luật về tòa án ở Mỹ, kể cả pháp luật của từng bang hay pháp
luật liên bang đều quy định về việc tòa án sẽ hỗ trợ và bảo đảm cho việc xác
minh điều kiện thi hành án. Điểm nỏi bật trong pháp luật của Mỹ là xem hoạt
động xác minh điều kiện thi hành án giống như việc xác minh thu thập chứng cứ
ở giai đoạn tòa án trong tố tụng dân sự. Bởi vậy, người được thi hành án sẽ sử
dụng các biện pháp thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật dân sự
để đảm bảo việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, và
đồng thời Tòa án cũng có chức năng hỗ trợ trong việc xác minh đó.
Theo quy định tại khoản 2 quy tắc số 69 trong bộ quy tắc tố tụng dân sự
của liên bang Mỹ do tòa án tối cao Mỹ ban hành, để hỗ trợ cho việc thi hành
20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×